Thiên Long Bát Bộ

Hồi 05: Lăng ba vi bộ

trước
tiếp

Trời sáng rõ, nàng chép miệng thở dài: “Anh chàng bạc hạnh vô tình có đến hay không cũng mặc, Mộc Uyển Thanh đành chết tại đây”. Đang lúc sầu khổ giày vò, bất thình lình nàng nghe cách chừng vài chục trượng một tiếng “bịch”, có vật gì đó rơi xuống bụi rậm.

Nàng giật mình, không biết là cái gì liền nằm phục xuống để nghe ngóng. Hồi lâu không thấy động tĩnh gì nữa, nàng từ từ đi tới xem.

Nàng đến bên bụi rậm, vạch đám cỏ cao nhìn vào. Khiếp quá! Sáu cái xác trẻ con, cái nằm ngang, cái nằm ngửa, quay ra đó. Mộc Uyển Thanh sợ quá, lưng toát mồ hôi lạnh ngắt. Trong đám xác chết này có cả đứa con trai mà hôm trước Diệp Nhị Nương bồng trên tay. Nàng nhớ lại lời Nam Hải Ngạc Thần, lẩm bẩm một mình:“Con mụ Vô ác bất tác Diệp Nhị Nương này quả nhiên mỗi ngày giết một đứa hài nhi, không hiểu để làm gì. Trong sáu ngày qua, mụ đã giết sáu đứa nhỏ rồi.”

Trong sáu cái thi hài trẻ con này, chỉ có một đứa quần áo sạch sẽ diêm dúa, còn năm đứa kia toàn áo vải quê mùa thô kệch, ra kiểu con nhà làm ruộng, chắc là mụ bắt trộm trong các nông gia trên núi Vô Lượng. Mộc Uyển Thanh cũng vào hạng đa sát nhưng chỉ giết toàn bọn hào khách giang hồ toan xâm phạm đến nàng. Hành động tàn sát trẻ con này làm cho nàng vừa căm giận, vừa sợ hãi, bất giác run lên bần bật.

Đột nhiên trước mặt Mộc Uyển Thanh bóng xanh thấp thoáng, một người đi nhanh như bay xuống núi, cứ liên tiếp nhô lên hạ xuống như ma quỷ ẩn hiện. Đó chính là Diệp Nhị Nương, Mộc Uyển Thanh thấy khinh công của mụ mà giật mình nghĩ thầm: sư phụ ta cũng không tài nào đuổi kịp mụ. Rồi đột nhiên hai chân nàng bủn rủn, ngồi phệt xuống đất.

Mộc Uyển Thanh ngẩn người ra một lúc rồi đem đặt sáu cái xác hài nhi vào một chỗ. Nàng lấy đá và đất cát lấp lên để làm cái mộ. Bỗng phía sau một luồng gió thổi đến mát rơi. Nàng ứng biến rất mau lẹ, nhún chân trái lên một chút, đưa người về phía trước tránh khỏi. Chợt nghe phía sau nối lên một trận cười the thé như tiếng kim khí cọ xát vào nhau, kế đến tiếng gọi: “Tiểu cô nương! Chồng cô bỏ cô rồi, còn mơ tưởng làm chi nữa? Hay là cô theo ta có hơn không?”

Chính là lão Cùng hung cực ác Vân Trung Hạc. Thanh âm vừa đến người đã đến theo, bàn tay vươn ra toan chụp lấy vai Mộc Uyển Thanh. Bỗng một luồng chưởng phong từ mé bên phóng đến gạt phắt tay Vân Trung Hạc, đó là Nam Hải Ngạc Thần nổi hung oang oang quát: “Lão tứ! Phải Nam Hải ta không cho mi càn rỡ thế đâu!” Vân Trung Hạc không nắm được Mộc Uyển Thanh, nhảy ra xa đến ngoài mười trượng rồi vừa cười vừa nói: “Tam ca có thu được chồng thị làm đồ đệ đâu mà nhận thị là người của phái Nam Hải?” Mộc Uyển Thanh nhìn Vân Trung Hạc người cao lêu nghêu, lại gầy như que củi, toàn thân trông như cây tre, bộ mặt dài ngoằng trông mà phát khiếp.

Nam Hải Ngạc Thần gầm lên: “Sao mi biết đồ đệ ta không tới? Phải chăng mi giết chết đồ đệ ta rồi? Chắc là mi thấy y có tư cách đặc biệt hơn đời, cũng muốn thu y làm đồ đệ. Mi bức bách song y không chịu nên mi giết đi, thế là mi phá tan sự nghiệp của ta rồi! Ta phải đập chết mi trước rồi sau sẽ hỏi tội.” Nam Hải Ngạc Thần ngang ngược hết chỗ nói, lão chẳng thèm hỏi Vân Trung Hạc xem có thật vậy hay không, cứ hùng hùng hổ hổ nhảy xổ vào.

Vân Trung Hạc kêu lên: “Đồ đệ lão mặt tròn hay méo ta đã biết đâu mà nói chuyện thu nạp hay không?” Y vừa nói vừa lẹ làng tránh khỏi hai đòn Nam Hải Ngạc Thần đánh tới nhanh như chớp. Nam Hải Ngạc Thần vẫn chửi mắng thậm tệ: “Quân chó đẻ! Ai mà tin miệng mi được? Mi đánh nhau với kẻ khác bị thua, rồi đem nỗi căm hờn trút lên đầu đồ đệ ta.” Vân Trung Hạc hỏi: “Đồ đệ lão huynh là trai hay gái?” Nam Hải Ngạc Thần đáp: “Mi còn hỏi vẩn vơ, ta thu nữ đồ đệ về làm gì?” Vân Trung Hạc nói: “Vân Trung Hạc này chỉ bắt đàn bà con gái, chưa bắt con trai bao giờ. Lão huynh không biết sao?”

Nam Hải Ngạc Thần đang nhảy lên trên không, nghe y nói có lý vội vàng dùng thế Thiên Cân Trụy trầm người rơi xuống, chân phải đạp lên một tảng đá, quát lớn: “Thế thì đồ đệ ta đi đâu? Sao đến giờ này chưa lên đây bái sư?” Vân Trung Hạc cười nói: “Ha ha! Chuyện của phái Nam Hải ta đâu cần biết làm gì.” Nam Hải Ngạc Thần ngóng đợi Đoàn Dự đã sốt ruột bực dọc lắm rồi, cáu tiết quát lên: “Ngươi dám nói móc ta phải không?”.

Mộc Uyển Thanh đứng ngoài nghĩ thầm: ta nhận cơ hội này chọc cho hai lão đánh nhau chí mạng thì hay quá. Nàng bèn nói xen vào: “Đúng đó, ắt là gã Vân Trung Hạc này hại học trò của tiền bối rồi, nếu không chàng ở trên đỉnh núi cao như thế, làm sao xuống được? Gã Vân Trung Hạc này khinh công ghê gớm, chắc là lẻn lên trên đó đem học trò của tiền bối đến chỗ nào khuất nẻo giết đi, để phái Nam Hải mất đi một nhân tài lợi hại. Nếu không thì sao thi thể cũng không tìm thấy?”

Nam Hải Ngạc Thần vỗ trán quát hỏi Vân Trung Hạc: “Lão tứ! Mi có nghe vợ đồ đệ ta nói đó không? Mi còn kêu oan nữa thôi?”

Mộc Uyển Thanh vừa khóc vừa nói tiếp: “Đoàn lang có bảo tiểu nữ rằng: chàng gặp được một nhân vật như sư phụ thu nạp làm đồ đệ thật là đã tu mấy kiếp. Chàng sẽ cố công rèn luyện võ nghệ, làm rạng rỡ phái Nam Hải, để cái tên Nam Hải Ngạc Thần của sư phụ càng thêm nổi tiếng, để bọn Ác quán mãn doanh, Vô ác bất tác trông thấy phải thèm nhỏ dãi. Ai ngờ tên Vân Trung Hạc sinh lòng độc ác đang tay giết mất. Rồi sư phụ tìm đâu ra tên đồ đệ giống mình đến thế nữa?” Mỗi câu Mộc Uyển Thanh nói ra là Nam Hải Ngạc Thần lại vỗ trán gật đầu. Nàng tiếp: “Xương hậu chấm Đoàn lang giống hệt như sư phụ, thiên tư chàng cũng thông minh chẳng kém gì sư phụ. Nếu chàng không bị hại thì trên thế gian này quyết không còn người thứ hai thập phần hoàn hảo như chàng. Sau này phái Nam Hải tất nhiên phải nhảy lên hàng đầu võ lâm. Lão Vân Trung Hạc này vì lòng ghen tức, ngấm ngầm theo dõi để phá đại cuộc của sư phụ. Thế mà sư phụ không báo thù cho đồ đệ, tiểu nữ e rằng thiên hạ sẽ phỉ nhổ sư phụ là người hèn nhát để kẻ khác giết học trò mình, phá hoại môn phái nhà mình cũng không dám làm gì.”

Nam Hải Ngạc Thần nghe tới đây, mặt đỏ bừng, mắt nẩy lửa, hét lên một tiếng thật to, nhảy xổ vào Vân Trung Hạc. Vân Trung Hạc biết mình võ công không bằng Nam Hải Ngạc Thần. Lão lại biết rõ Nam Hải Ngạc Thần bị Mộc Uyển Thanh khiêu khích, không thể phân trần ngay được, thôi thì tránh voi chẳng xấu mặt nào. Thấy Nam Hải Ngạc Thần xô tới, lão không kháng cự chi hết, cắm đầu chạy dài. Nam Hải Ngạc Thần hai chân nhún một cái cũng đuổi theo ngay.

Mộc Uyển Thanh kêu lên: “Lão tứ có tật giật mình bỏ chạy rồi! Nếu y không giết đồ đệ của lão gia, sao không đứng lại mà cãi?” Nam Hải Ngạc Thần kêu rống lên: “Đúng lắm! Nghe cũng có lý! Mi phải đền mạng cho đồ đệ ta.” Hai người một chạy trước, một đuổi sau, chớp mắt đã quanh ra phía sau núi. Mộc Uyển Thanh mừng thầm. Chốc lát lại nghe tiếng Nam Hải Ngạc Thần gầm lên mỗi lúc một gần. Hai người đuổi nhau vòng mé sau núi quanh về.

Khinh công Vân Trung Hạc cao hơn Nam Hải Ngạc Thần nhiều. Cái thân hình cao lêu nghêu tựa như bay loang loáng trên không, chân không chấm đất. Nam Hải Ngạc Thần đuổi sau lão một quãng khá xa, không tài nào kịp. Hai người chỉ thoáng qua trước mặt Mộc Uyển Thanh chớp mắt đã lại chuyển qua mé sau núi. Vân Trung Hạc chạy trở lại lần thứ hai thấy Nam Hải Ngạc Thần vẫn còn ở đằng xa, liền xòe bàn tay chụp lấy Mộc Uyển Thanh. Mộc Uyển Thanh thất kinh vẫy tay phải một cái nghe đánh “vút”, mũi tên độc phóng ra. Vân Trung Hạc né qua bên trái nửa thước tránh khỏi. Không hiểu lão chuyển mình thế nào mà quờ tay đến trước mặt Mộc Uyển Thanh. Nàng né tránh chậm một chút thấy gió thổi vào má mát rợi, thì ra tấm khăn che mặt đã bị lão giật mất.

Vân Trung Hạc thấy Mộc Uyển Thanh dung nhan tuyệt thế, ngây người ra mà nhìn, chép miệng ra vẻ thèm thuồng rồi khen bằng một giọng the thé rất khả ố: “Đẹp quá! Cô em thật là xinh, giả như lẳng lơ thêm một tí thì thật thập toàn thập mỹ…”

Chưa dứt lời, Nam Hải Ngạc Thần đuổi đến nơi, phóng ra một chưởng đánh vào phía sau, Vân Trung Hạc dừng chân, vận nội công, đánh lại một chưởng. Hai luồng điện lực chạm nhau phát ra tiếng nổ rùng rợn, sức ép của không khí làm Mộc Uyển Thanh ngạt thở. Một vùng đường kính rộng chừng hơn mười trượng đất cát bay lên mù mịt. Vân Trung Hạc mượn sức của Nam Hải Ngạc Thần nhảy vọt ra xa hơn hai trượng. Nam Hải Ngạc Thần thét lên: “Đỡ thêm ba chưởng nữa xem nào?” Vân Trung Hạc cười nói: “Lão huynh đuổi không kịp ta, mà ta đánh cũng không lại huynh, dù một ngày đêm nữa cũng chả ai làm gì được ai.”

Hai người đuổi nhau đã xa mà cát bụi vẫn còn mù mịt. Mộc Uyển Thanh nghĩ bụng: ta phải tìm cách cản đường Vân Trung Hạc, nếu cứ để mặc họ thế này thì vĩnh viễn Nam Hải Ngạc Thần không đuổi kịp. Nàng chờ cho Vân Trung Hạc vòng trở lại gần tới nơi, xông ra đón đường, phất tay phải luôn mấy cái, sáu bảy mũi tên nhằm Vân Trung Hạc phóng tới, quát to: “Đền mạng cho lang quân ta!” Vân Trung Hạc nghe trên không vang lên những tiếng “vút vút vút”, ám tiễn bay đến rất là ghê gớm, lão phải liên tiếp nhô lên cúi xuống để tránh, Mộc Uyển Thanh tuốt kiếm “soát” một cái, nhằm Vân Trung Hạc đâm luôn hai nhát, Vân Trung Hạc hiểu rõ tâm lý nàng, không rút khí giới ra đối địch, chỉ lạng người né tránh. Dù mau lẹ tới đâu Vân Trung Hạc cũng phải dừng lại giây lát đối phó với Mộc Uyển Thanh. Nhân thế mà Nam Hải Ngạc Thần đuổi tới nơi, phóng luôn cả hai bàn tay dồn dập chưởng lực chụp lấy Vân Trung Hạc.

Vân Trung Học cười gằn nói: “Lão tam! Ta nhường nhịn ngươi mấy lần là để khỏi tổn thương hòa khí của Tứ Đại Ác Nhân mà thôi, chứ ta sợ gì ngươi?” Nói rồi lão thò tay về phía sau rút cương trảo ra, hai tay cầm hai cây. Cương trảo dài ba thước, trên ngọn có bàn tay giống như tay người, ngón tay xoè ra, đầu ngón tay đều có ánh sáng lập lòe. Vân Trung Hạc cầm song trảo gác chéo che trước mình dường như để giữ thế thủ, chứ không ra kiểu tấn công.

Nam Hải Ngạc Thần hớn hở nói: “Hay lắm, bảy năm không gặp, hóa ra ngươi đã luyện thành một món binh khí cổ quái. Xem lão tử đây!” Nói rồi rút khí giới trong bọc đeo trên lưng ra.

Mộc Uyển Thanh biết mình có xông vào vòng chiến cũng chỉ vô ích, liền lui về phía sau mấy bước. Nam Hải Ngạc Thần tay phải cầm một thanh đao hai lưỡi như cái kéo, lưỡi dài có răng sáng loáng giống hàm răng cá sấu nên gọi là Ngạc chủy tiên, tay trái sử cây roi có răng cưa giống như đuôi cá sấu nên gọi là Ngạc vĩ tiên.

Vân Trung Hạc liếc mắt nhìn hai thứ khí giới khác thường của Nam Hải Ngạc Thần rồi đột nhiên giơ cây cương trảo bên hữu lên quay về phía Nam Hải Ngạc Thần bổ xuống. Nam Hải Ngạc Thần vung cây Ngạc vĩ tiên cầm nơi tay trái lên gạt đánh “chát” một tiếng. Vân Trung Hạc nhanh như chớp, trảo phải chưa về, trảo trái đã bổ theo. Bỗng nghe đánh choang một tiếng, Nam Hải Ngạc Thần đã vung cây ngạc chủy tiên lên cho răng cắn vào cây cương trảo của Vân Trung Hạc. Cương trảo này rèn toàn bằng thép tốt, cứng rắn vô cùng. Thế mà cây ngạc chủy tiên không biết đúc bằng thứ gì mà nghiến đứt được hai trong năm ngón tay ở cây cương trảo. Ấy là nhờ Vân Trung Hạc lẹ tay rút cương trảo về nhanh nên mới còn lại ba ngón. Tuy nhiên y đã luyện rất thành thục phép đánh cương trảo, cả mười ngón tay ở hai cây thì mỗi ngón có một tác dụng riêng, cụt mất hai ngón uy lực giảm hẳn. Nam Hải Ngạc Thần vừa cười vừa khoa cây ngạc vĩ tiên quất ngược lên.

Đột nhiên một bóng xanh ở đâu lẹ làng len vào giữa hai bên, té ra là Diệp Nhị Nương. Tay trái mụ khẽ đẩy cây ngạc vĩ tiên cho Vân Trung Hạc nhảy ra ngoài. Diệp Nhị Nương hỏi: “Lão tam! Lão tứ! Tại sao người trong một nhà lại đánh nhau?” Mụ liếc qua nhìn Mộc Uyển Thanh, thấy nhan sắc nàng lập tức sắc mặt đổi hẳn.

Mộc Uyển Thanh thấy Diệp Nhị Nương lại bồng trên tay một đứa con trai nhỏ chừng ba bốn tuổi, áo mũ đều may bằng gấm, mắt sáng môi hồng trông thật dễ thương. Nàng biết ngay lúc nãy mụ xuống núi là để đi bắt trẻ con về chơi. Mắt mụ phóng ra những tia sáng kỳ dị, Mộc Uyển Thanh phải quay đi chỗ khác, không dám nhìn thẳng vào mặt mụ nữa. Đứa nhỏ bỗng la inh ỏi: “Cha ơi! Sơn Sơn muốn về với cha!” Diệp Nhị Nương lại giở giọng hiền từ ra dỗ nó: “Sơn Sơn ngoan! Nín ngay đi! Chờ chút xíu nữa cha con sẽ đến mà.” Mộc Uyển Thanh nhớ đến sáu cái xác trẻ con quăng trong bụi rậm lúc nãy, giờ lại nghe cái giọng từ ái thân thiết của mụ vỗ về đứa nhỏ, chợt thấy sởn gai ốc.

Vân Trung Hạc vừa cười vừa hỏi Diệp Nhị Nương: “Nhị tỷ! Lão tam vừa luyện được thanh ngạc chủy tiên và cây ngạc vĩ tiên cực kỳ lợi hại. Ta vừa cùng lão chơi thử mấy đường, không thể nào địch lại được hai thứ khí giới ghê gớm của lão. Còn nhị tỷ trong bảy năm nay có gì mới lạ không? E rằng nhị tỷ cũng không địch lại hai thứ khí giới mới của lão đâu.” Vân Trung Hạc tuyệt không đả động gì đến chuyện Nam Hải Ngạc Thần ngờ oan cho mình đã giết đồ đệ của lão, mà chỉ nói mấy câu cốt để dụ Diệp Nhị Nương và lão Nam Hải Ngạc Thần đánh nhau.

Nhưng từ lúc đang đi lên núi, Diệp Nhị Nương đã nhìn thấy rõ hai lão đánh nhau chí mạng, đâu phải cuộc luyện võ bình thường? Mụ cười ruồi đáp: “Bảy năm nay ta chỉ luyện nội công thôi, chểnh mảng các món binh khí quyền cước, nhất định không địch nổi lão tam nữa.”

Đột nhiên từ lưng chừng núi có tiếng người quát lớn: “Bớ yêu phụ! Mi cướp con ta làm chi? Phải trả lại cho ta mau!” Thanh âm chưa dứt, người đã đến đỉnh núi, thân pháp thật là nhanh nhẹn. Người đó chừng độ trên dưới bốn mươi, mặc áo gấm đoạn màu xanh lục, tay cầm trường kiếm.

Nam Hải Ngạc Thần quát lớn: “Ngươi là đứa nào? Sao dám lên đây la lối om sòm? Đồ đệ ta có phải ngươi bắt không?” Diệp Nhị Nương cười đáp: “Vị lão sư này là chưởng môn Đông tông Vô Lượng Kiếm Tả Tử Mục tiên sinh, kiếm pháp tinh diệu đã đành mà đẻ được đứa con cũng mập mạp dễ thương quá.”

Mộc Uyển Thanh lúc này mới hiểu ra: “Thì ra Diệp Nhị Nương không kiếm được đứa trẻ con nào trong núi Vô Lượng nên bắt luôn con nhỏ của chưởng môn Vô Lượng Kiếm”.

Diệp Nhị Nương nói: “Tả tiên sinh! Ta thấy lệnh lang kháu khỉnh, mượn về chơi một bữa. Sáng mai ta sẽ đem trả mà, hà tất phải nóng nảy?” Mụ vừa nói vừa hôn hít, vuốt ve Sơn Sơn. Tả Sơn Sơn thấy cha đến vừa khóc vừa gọi to: “Cha! Cha ơi!” Tả Tử Mục bước lại gần chìa tay trái ra nói: “Tiểu nhi ngỗ nghịch lắm, chẳng có gì dễ thương đâu, xin mau đưa trả lại, tại hạ thật là cảm kích.” Y trông thấy con rồi giọng điệu đổi ra khách khí, chỉ sợ người đàn bà kia nhả kình lực giết chết con y.

Nam Hải Ngạc Thần cười nói: “Đã vào tay Hung thần ác sát Diệp Tam Nương thì đến ngay thái tử hay công chúa con hoàng đế cũng đừng hòng trả lại nữa.” Tả Tử Mục rùng mình hỏi: “Ông nói Diệp… Diệp Tam Nương nào đó? Bà ta có họ hàng thân thích gì với Diệp Nhị Nương không?” Tả Tử Mục thường nghe trong Tứ Đại Ác Nhân có Diệp Nhị Nương mỗi ngày bắt một đứa trẻ về chơi đùa, đến tối giết chết, sợ ngay Diệp Tam Nương cũng là chị em gì với Diệp Nhị Nương, nếu tính cách giống nhau thì thật là hỏng bét.

Diệp Nhị Nương hớn hở, cười tươi đáp: “Lão tam này nói chuyện tào lao chứ trên cõi đời này có ai là Diệp Tam Nương đâu? Chỉ có Diệp Nhị Nương là ta đây.”

Tả Tử Mục mặt cắt không còn hột máu. Từ lúc con lão bị bắt, lão cố sức đuổi theo mụ, trên đường đã nhận ra võ công mụ hơn mình nhiều lắm. Ban đầu lão chỉ tưởng mụ là một người đàn bà nào chưa quen biết, lại không thù oán thì dù con mình có bị bắt cũng chả đến nỗi nào. Bây giờ biết ra chính mụ là người thứ hai trong Tứ Ác, tên gọi Diệp Nhị Nương thì chẳng còn hồn vía nào nữa. Lão chẳng biết nên quát tháo hay nên năn nỉ, dường như có vật gì chẹn họng nghẹn lời không thốt ra được.

Diệp Nhị Nương tiếp: “Các người trông đây! Đứa nhỏ này nhuận da thắm thịt, huyết sắc hồng hào, da mịn óng ánh. Quả là con nhà võ học danh gia, so với bọn nông phu điền tốt thật khác nhau một trời một vực.” Mụ vừa giơ đứa nhỏ ra ánh mặt trời để ngắm nghía vừa tấm tắc khen hoài, tựa hồ như các bà đi chợ mua gà vịt chọn giống tốt, miếng ngon.

Tả Tử Mục trông thấy mụ thèm nhỏ dãi, tưởng chừng đem con mình làm thịt ăn tới nới, không khỏi vừa sợ vừa tức. Dẫu biết không thể nào địch lại nhưng y cũng thí mạng, lập tức sử chiêu Bạch Hồng Quán Nhật, mũi kiếm nhắm ngay yết hầu mụ ta đâm tới.

Diệp Nhị Nương cười khan một tiếng, nhẹ nhàng đưa Sơn Sơn ra, nhát kiếm kia của Tả Tử Mục nếu như tiếp tục đâm vào thì trúng con mình trước. Cũng may y kiếm thuật tinh thông, chiêu số chưa hoàn tất đã lập tức thu về biến chiêu, mũi kiếm ở trên không hơi rung một cái thành một đóa kiếm hoa đâm xéo xuống đầu vai Diệp Nhị Nương. Mụ cũng không thèm né tránh, lại đưa Sơn Sơn ra chặn ngay trước mặt. Chỉ trong nháy mắt, Tả Tử Mục đã đâm luôn trên dưới trái phải bốn thế liền, Diệp Nhị Nương chỉ nhàn nhã di chuyển Sơn Sơn khiến cho bốn chiêu kiếm lợi hại của Tả Tử Mục đều chỉ ra được nửa chừng rồi phải ngừng lại. Sơn Sơn sợ quá khóc òa lên.

Vân Trung Hạc bị Nam Hải Ngạc Thần đuổi mấy vòng, lại bị gãy mất hai ngón tay cương trảo, đang tức mình chưa có chỗ trút hận, đột nhiên nhảy xổ tới, tay trái cầm cương trảo bổ xuống đầu Tả Tử Mục. Tả Tử Mục hoa ngược kiếm lên, dùng thế Vạn Hủy Tranh Diễm, ánh kiếm vây bọc lấy thượng bàn để chống đỡ. Hai thứ binh khí chạm vào nhau bật ra những tiếng loảng choảng ghê người. Tả Tử Mục chuyển sang thế Thuận Thủy Thôi Chu toan đưa mũi kiếm đâm vào yết hầu địch nhân, thì bỗng nhiên bàn tay cương trảo khép lại, giữ chặt lấy lưỡi kiếm.

Tả Tử Mục không chịu buông kiếm, vội vận nội công gắng sức giật mạnh một cái, lạng hẳn người đi. Vân Trung Hạc nhanh như cắt chụp ngay cây cương trảo ở tay phải xuống, trúng ngay vai lão. Cũng may mà cây cương trảo này có năm ngón, Nam Hải Ngạc Thần đã cắt mất hai nên Tả Tử Mục mới bị thương nhẹ đi một chút nhưng cũng máu chảy đầm đìa. Ba ngón tay cây cương trào cắm vào xương vai lão. Vân Trung Hạc tiến lại, bồi thêm cho một cước, Tả Tử Mục ngã lăn xuống đất. Thế là mới mấy chiếu, một vị chưởng môn nổi tiếng đã bị loại ra ngoài vòng chiến.

Nam Hải Ngạc Thần khen ngợi: “Lão tứ giỏi đấy! Hai cây đồ chơi của ngươi vẫn còn tốt chán.”

Diệp Nhị Nương cười hỏi Tả Tử Mục: “Tả đại chưởng môn! Ngươi có gặp đại ca bọn ta không?” Vai bên hữu Tả Tử Mục bị cương trảo quặp chặt, không nhúc nhích được. Lão cố nhịn đau đáp: “Đại ca các vị là ai? Ta chưa được gặp bao giờ.” Nam Hải Ngạc Thần cũng hỏi lão: “Ngươi có gặp đồ đệ ta không?” Tả Tử Mục đáp: “Đồ đệ ngươi là ai? Ta cũng chưa gặp.” Nam Hải Ngạc Thần giận dữ nói: “Ngươi đã bảo không biết đồ đệ ta, sao biết chưa gặp y? Quân chó đẻ này thật là khả ố. Tam muội, đem con y ra làm thịt ăn đi.” Diệp Nhị Nương đáp: “Nhị tỉ của ngươi đâu có ăn thịt trẻ con. Tả đại chưởng môn, ngươi đi đi, bọn ta không giết ngươi đâu.”

Tả Tử Mục ấp úng: “Diệp… Diệp Nhị Nương! Nếu bà tha tôi, thì trả luôn cả con lại cho tôi, tôi sẽ kiếm ba bốn đứa nhỏ khác đem đến đánh đổi. Tạ mỗ vĩnh viễn cảm tạ đại đức.” Diệp Nhị Nương cười hì hì đáp: “Vậy càng hay! Ngươi tìm tám đứa nhỏ đến đây ta đổi cho! Bọn ta đây bốn người, mỗi người bồng hai đứa, đủ dùng cho ta tám ngày. Lão tứ! Tha cho y về!”

Vân Trung Hạc mỉm cười, nhả cơ quan cho các ngón tay cương trảo mở ra. Tả Tử Mục được buông tha, nghiến răng đứng dậy vái dài Diệp Nhị Nương rồi thò tay ra toan bế con. Diệp Nhị Nương cười nói: “Ngươi cũng là nhân vật giang hồ mà sao không hiểu lề luật chi cả. Ngươi phải đem tám đứa nhỏ lại đây, ta mới đổi cho chứ?”

Tả Tử Mục thấy con mình bị Diệp Nhị Nương ôm giữ, rất lấy làm khó chịu nhưng ở vào tình thế này đành gật đầu nói: “Tôi về kiếm tám đứa nhỏ mập mạp đem đến, mong rằng Nhị Nương chăm sóc con tôi cho.”

Diệp Nhị Nương không thèm để ý gì đến y nữa, miệng ậm ừ ru: “Cháu nội ngoan ơi, bà cưng cháu lắm.” Nguyên vì Tả Tử Mục đứng ngay trước mặt, mụ ta không thể gọi đứa bé là “con” được.

Họ Tả nghe mụ gọi như thế có khác nào tự coi là mẹ mình, dở khóc dở cười, quay sang nói với con: “Sơn Sơn con ơi! Con ngoan lắm! Hãy ở đây chờ cha! Lát nữa cha trở lại ngay để đón con về.” Sơn Sơn cứ khóc ầm lên, giãy tưng tưng đòi ra với cha. Tả Tử Mục xiết bao bịn rịn, cố nhìn con thêm mấy cái, tay trái nắm lấy chỗ vai bị thương toan trở gót quay đi.

Đột nhiên từ phía sau đỉnh núi vang đến một hồi còi sắt lanh lảnh liên miên bất tuyệt. Nam Hải Ngạc Thần cùng Vân Trung Hạc đều hớn hở vui mừng reo lên: “Đại ca đến rồi!” Hai người vội vã vùng dậy nhằm phía có tiếng hú chạy nhanh như khói tỏa, chớp mắt đã khuất vào phía sau núi.

Diệp Nhị Nương coi như không thấy gì, thản nhiên dỗ dành đứa nhỏ, rồi quay sang liếc nhìn Mộc Uyển Thanh, tươi cười bảo: “Mộc cô nương, khuôn mặt xinh xắn của cô lại có đôi mắt đẹp như thế càng nhìn càng thấy tuyệt vời. Tả đại chưởng môn, người giúp ta một việc, đến móc tròng mắt của cô bé đó ra.”

Thực ra Tả Tử Mục cũng chẳng muốn sinh sự với Mộc Uyển Thanh nhưng bị Diệp Nhị Nương giữ mất đứa Con bảo bối, bất đắc dĩ phải vâng lời mụ. Lão cầm thanh trường kiếm quát lên: “Mộc cô nương! Cô nghe lời Diệp Nhị Nương đi là hơn, để khỏi bị đau đớn thêm.” Nói rồi đâm Mộc Uyển Thanh một nhát, Mộc Uyển Thanh thét lên: “Mi thật là đồ tiểu nhân vô sỉ.” Nàng vung kiếm lên chém lại. Hai thanh kiếm chạm vào nhau choang choảng. Trao đổi ba chiêu, nàng xoay mình qua mé tả rồi đột nhiên khẽ phất tay trái. “Vút vút vút” ba mũi tên bất ngờ nhằm Diệp Nhị Nương bay tới. Tả Tử Mục thoáng thấy vội kêu lên: “Đừng làm chết con ta!”

Không ngờ Diệp Nhị Nương chỉ phất tay áo một cái cuốn gọn cả ba mũi tên, hất ra một bên, tiện tay rút chiếc giày nhỏ ở chân Tả Sơn Sơn, nhằm phía Mộc Uyển Thanh liệng tới. Mộc Uyển Thanh nghe tiếng gió, quay lại vung kiếm gạt. Nàng mới bị trọng thương chưa khỏi hẳn, ra chiêu không chính xác, chiếc giày sượt qua mũi kiếm, bắn trúng vào hông nàng đánh bịch một tiếng. Phải vận nội công lên chống đỡ lại sức mạnh của cái giày ném vào, nàng đau ê cả người, thanh kiếm rời khỏi tay rớt xuống đất đánh choang một tiếng. Ngay lúc ấy, Diệp Nhị Nương rút nốt chiếc giày thứ hai ở chân Tả Sơn Sơn phóng tới, trúng vào lưng Mộc Uyển Thanh. Mắt nàng hoa lên, chân tay bủn rủn, quỵ xuống đất. Tả Tử Mục chĩa mũi kiếm vào ngực nàng, tay trái đưa ra toan móc mắt bên phải.

Mộc Uyển Thanh khẽ gọi lên một tiếng: “Đoàn lang…” rồi rướn người tới trước đón mũi kiếm của Tả Tử Mục, thà chết còn hơn chịu cái nhục bị móc mắt.

Tả Tử Mục rụt kiếm về, nhưng bỗng thấy cổ tay bị giật mạnh, trường kiếm bay lên trên không, lão lùi về phía sau hai bước. Cả ba người giật nảy mình, chẳng ai bảo ai đều nhìn lên thanh kiếm. Thì ra nó bị một sợi dây câu cuốn đi, đầu kia sợi dây là một chiếc cần sắt do một viên võ quan mặc áo vàng cầm trong tay. Người đó tuổi chừng trên dưới ba mươi, mặt đầy vẻ anh hào, miệng đang cười mỉm. Diệp Nhị Nương nhận ra ngay y là kẻ đã đấu với Vân Trung Hạc bảy hôm trước, võ công xem ra còn kém mình một chút nên không sợ hãi, có điều không biết đồng bọn của y có tới hay không. Mụ ta liền liếc mắt ngó qua, quả nhiên đã thấy một viên võ quan áo vàng khác đứng ở bên trái, bên hông đeo một đôi búa.

Mụ đang định mở lời bỗng nghe có tiếng động sau lưng, vội vàng quay lại thấy ở hai góc đông nam và tây nam đều có một người đứng đó, mặc áo vàng, đầu quấn khăn theo lối võ quan giống hệt hai người kia. Người ở phía đông nam cầm một đôi phán quan bút, còn người ở phía tây nam thì tay cầm một cây thục đồng tề mi côn, bốn người chia ra bốn góc, thành thế bao vây. Tả Tử Mục lớn tiếng nói: “Thì ra bốn vị Tứ đại hộ vệ Chử, Cổ, Phó, Chu trong cung cùng đến. Tại hạ Vô Lượng Tả Tử Mục xin kính chào. Nói xong hướng về bốn người vái một vài thật dài. Người hộ vệ tay cầm phán quan bút tên gọi Chu Đan Thần ôm quyền hành lễ, còn ba người kia không lý gì đến.

Người đến đầu tiên tên Chử Vạn Lý vẫy chiếc cần câu, thanh trường kiếm rung động trên không, lấp loáng phát quang dưới ánh nắng. Gã cười nhạt hỏi Tả Tử Mục: “Vô Lượng kiếm là một phái võ có danh trong nước Đại Lý, không ngờ chưởng môn lại đốn mạt đến thế! Đoàn công tử hiện giờ ở đâu?”.

Mộc Uyển Thanh đã quyết chịu chết, ngờ đâu gặp được cứu tinh, mừng rỡ không biết để đâu cho hết, lại nghe họ hỏi đến Đoàn công tử nàng càng chăm chú theo dõi.

Tả Tử Mục ấp úng đáp: “Đoàn… Đoàn công tử? À, mấy hôm trước tôi có gặp Đoàn công tử vài lần… bây giờ thì không biết… không biết ở đâu.”

Mộc Uyển Thanh nói: “Đoàn công tử bị đồng bọn của mụ này giết chết rồi.” Nàng vừa nói vừa trỏ vào Diệp Nhị Nương, nói tiếp: “Gã tên là Cùng hung cực ác Vân Trung Hạc, thân thể gầy nhom, cao lêu nghêu như cây tre.”.

Chử Vạn Lý kinh hoàng, quát hỏi: “Có thật không? Là đứa nào?” Hộ vệ tay cầm thục đồng côn tên Phó Tư Qui nghe nói Đoàn Dự đã chết, vừa đau lòng vừa tức tối, quát lớn: “Ta phải báo thù cho Đoàn công tử.” Y vung côn nhắm ngay Diệp Nhị Nương đập xuống.

Diệp Nhị Nương nghiêng người tránh ra, gào lên: “Ối trời ôi, Tứ đại hộ vệ Chử Cổ Phó Chu của nước Đại Lý các con ơi, các con sắp chết non làm cho mẹ xót xa trong dạ! Bốn đứa con yêu quí chết non kia, các con xuống suối vàng sớm thế các con ơi!” Chử, Cổ, Phó, Chu bốn người tuổi tác chỉ kém mụ vài năm mà mụ tự xưng là mẹ, cứ rền rĩ “Các con ơi!”, “Bốn đứa yêu quí chết non ơi!”.

Phó Tư Qui giận quá, thanh thục đồng côn múa lên vù vù, chỉ giây lát đã biến thành một vầng khói màu vàng, vây chặt mụ vào trong. Diệp Nhị Nương tay bồng đứa con nhỏ của Tả Tử Mục, tránh qua né lại giữa những đường côn, thủy chung vẫn không trúng đòn nào. Đứa trẻ sợ khóc ré lên, Tả Tử Mục vội kêu: “Hai vị ngừng tay! Hai vị ngừng tay!”

Người hộ vệ đeo búa ở lưng quát lên: “Vô ác bất tác Diệp Nhị Nương quả nhiên đanh bất hư truyền. Để Cổ Đốc Thành này lãnh giáo cao chiêu.” Tiếng nói chưa dứt y đã xông vào vòng chiến, ra tuyệt chiêu Bàn Căn Thác Tiết Thập Bát Phủ, chém bên phải một nhát, bên trái một nhát toàn vào hạ bàn. Diệp Nhị Nương cười nói: “Thằng bé này vướng chân vướng tay, ngươi chém chết nó giúp ta.” Mụ hạ đứa bé trên tay xuống, đỡ ngay đầu búa. Cổ Đốc Thành giật mình thu búa về, ngờ đâu Diệp Nhị Nương phóng cước đá theo, trúng ngay đầu vai y. Cũng may thân thể y tráng kiện, trúng cước chỉ hơi lảo đảo, lại tiếp tục xông lên đánh nữa. Diệp Nhị Nương lấy đứa bé làm lá chắn hộ mạng, khiến cho Cổ Đốc Thành và Phó Tư Qui bị kiềm chế rất nhiều.

Tả Tử Mục hốt hoảng kêu lên: “Coi chừng thằng bé! Cẩn thận… Phó huynh, côn đó đánh hơi cao; Cổ huynh, đừng để đầu búa… đừng để đầu búa chạm vào con tôi.”

Đang lúc hỗn loạn, đằng sau núi đột nhiên vọng tới tiếng sáo vi vu réo rắt, chỉ giây lát đã đến gần. Từ sau triền núi bước ra một người đàn ông trung niên cao nhã mặc áo thụng, râu ba chòm, đang ghé môi thổi một ống sáo bằng sắt. Chu Đan Thần vội vàng bước tới bên cạnh y, hạ giọng nói mấy câu. Người kia vẫn tiếp tục thổi sáo, khúc điệu nhàn nhã, chậm rãi đi thẳng vào chỗ ba người đang đánh nhau kịch liệt. Bỗng nhiên tiếng sáo đổi sang gấp rút khiến cho ai nấy nhức cả tai, người kia dùng cả mười đầu ngón tay bịt các lỗ sáo thổi mạnh, đầu ống sáo phụt ra một làn kình phong bắn thẳng vào mặt Diệp Nhị Nương. Diệp Nhị Nương kinh hãi vội quay đầu qua né tránh, đầu sáo liền đâm ngay vào yết hầu.

Biến cố đó nhanh đến kinh người, tuy Diệp Nhị Nương ứng biến thần tốc nhưng chân tay cũng không khỏi loạng quạng, trong cơn nguy cấp nửa người trên ngửa về đằng sau hơn một thước đồng thời ném luôn Tả Sơn Sơn xuống đất, vung tay chộp luôn vào ống sáo. Người áo thụng không để thằng bé rơi xuống, tay áo phất một cái, cuốn lấy đứa trẻ. Diệp Nhị Nương tuy nắm được chiếc sáo nhưng thấy nóng bỏng như cục than hồng, kinh hãi nghĩ thầm: “Có bôi thuốc độc chăng?” rồi vội vàng buông tay, nhảy ra ngoài mấy bước. Người nọ phất tay áo, nhẹ nhàng ném Sơn Sơn cho Tả Tử Mục.

Diệp Nhị Nương thoáng thấy bàn tay phải người áo thụng đỏ chót như son, kinh hãi: “Thì ra y đem nội lực thượng thừa truyền vào ống sáo chứ không phải chất độc, chẳng khác nào vừa lấy ở trong lò đúc ra”. Mụ ta không tự chủ nổi vội lui về sau mấy bước, cười nói: “Các hạ võ công ghê gớm. Ta không ngờ trong nước Đại Lý có nhiều cao nhân đến thế! Xin cho biết tôn tính đại danh!”

Người áo thụng mỉm cười nói: “Diệp Nhị Nương giá lâm tệ xứ, ta không kịp ra xa nghênh tiếp, mong thứ lỗi! Đại Lý tuy nước nhỏ dân nghèo cũng gắng đủ nghi lễ làm chủ nhân tiếp khách.” Tả Tử Mục ôm được con rồi, vừa mừng vừa sợ, xen vào: “Phải chăng các hạ là Cao Quân Hầu?” Người lạ mặt không trả lời, quay sang hỏi Diệp Nhị Nương: “Đoàn công tử đang ở đâu, mong được cho biết!”.

Diệp Nhị Nương cười nhạt đáp: “Ta không biết, mà dù có biết cũng không thèm nói.” Chưa dứt lời, mụ đột nhiên nhảy vọt lên cao rồi phóng như bay về phía đỉnh núi. Người lạ mặt kêu lên: “Hãy đợi đấy!” rồi vùn vụt đuổi theo. Bỗng ánh vàng lấp loáng, trên không nổi lên những tiếng vi vu, bảy tám thứ ám khí bay tới tấp, nhằm những huyệt trọng yếu trước mặt phóng tới. Người áo thụng vung ống sáo gạt đi, thấy hổ khẩu tay mình đau ê ẩm thì nghĩ thầm: Mụ này gớm thật! Trông theo thấy mụ nhô lên hạ xuống thấp thoáng như ma quỷ ẩn hiện, người lạ mặt liệu chừng có đuổi cũng không kịp, nhìn lại những thứ ám khí rơi xuống đất thì toàn là những đồ vòng chân vòng tay trang sức của trẻ con. Ông lẩm bẩm: đây là những đồ vật của trẻ con bị mụ giết, nếu không trừ được thì không biết còn bao nhiêu trẻ Đại Lý bị hại về tay mụ.

Chử Vạn Lý hất chiếc cần, giật thanh trường kiếm đang nằm dưới đất bay vọt lên, xoay cán kiếm lại nhắm ngay Tả Tử Mục phóng tới, Tả Tử Mục giơ tay bắt lấy, hổ thẹn không nói được lời nào. Chử Vạn Lý quay sang hỏi Mộc Uyển Thanh: “Đoàn công tử nay ở đâu? Có thực là bị Vân Trung Hạc giết hại không?”

Mộc Uyển Thanh nghĩ thầm: bọn này võ nghệ tuyệt luân mà xem ra đều là thân hữu với Đoàn lang, chi bằng ta thuật rõ đầu đuôi để họ kéo nhau qua đỉnh núi bên kia tìm kiếm. Nàng toan cất lời, bỗng lưng chừng sườn núi có tiếng gọi to: “Mộc cô nương… Mộc cô nương… cô đang ở đâu? Nam Hải Ngạc Thần, ta đến đây, ngươi không được làm hại Mộc cô nương! Bái sư hay không, từ từ rồi tính… Mộc cô nương! Mộc cô nương! Cô không sao chứ?” Bọn người áo thụng cùng reo lên: “Công tử đây rồi!”

Mộc Uyển Thanh đã chờ chàng ròng rã bảy ngày bảy đêm, vừa giật mình vừa mừng quá độ. Nàng xúc động mạnh, bỗng tối tăm mặt mũi rồi ngất đi. Trong lúc mê man, chợt nghe bên tai có tiếng khẽ gọi: “Mộc cô nương! Mộc cô nương! Tỉnh lại mau!” Mộc Uyển Thanh dần dần hồi phục thần trí, thấy mình nằm trong lòng một người, hai vai bị ôm chặt, muốn vùng dậy đẩy ra song chợt nhớ “Đoàn lang đã đến rồi”, từ từ mở mắt. Trước mắt nàng hiện ra cặp mắt trong như nước mùa thu, chẳng phải Đoàn lang thì còn ai vào đây nữa? Đoàn Dự cả mừng reo lên: “A ha, nàng đã hồi tỉnh.” Mộc Uyển Thanh nước mắt lã chã, giơ tay tát một cái thật mạnh vào mặt Đoàn Dự nhưng người vẫn nằm gọn trong lòng chàng không muốn vùng ra. Đoàn Dự xoa xoa má cười nói: “Động một tí là đánh người! Trên đời sao lại có hạng đàn bà con gái dữ như nàng?” Rồi chàng lại hỏi: “Nam Hải Ngạc Thần đâu rồi? Lão không ở đây đợi ta à?” Mộc Uyển Thanh đáp: “Người ta chờ ròng rã bảy ngày bảy đêm rồi chưa đủ hay sao? Lão mới đi rồi.” Đoàn Dự thở phào, hớn hở nói: “Hay lắm! Ta đang lo lão cứ bức bách ta phải thờ lão làm sư phụ thì không biết nói sao.”

Mộc Uyển Thanh nói: “Chàng không chịu làm đồ đệ lão thì đến đây làm gì?” Đoàn Dự xuống giọng nói: “Ối, nàng rơi vào tay lão, nếu ta không đến tất lão sẽ gia hại nàng. Ta bỏ nàng lại sao đành?” Mộc Uyển Thanh nghe vậy đã thấy mát ruột, nhưng vẫn chưa hết trách móc: “Chàng thật là tệ, thiếp chỉ tiếc sao lúc trước không phóng cho một mũi tên. Chàng chờ lão bỏ đi mới vác mặt đến rồi ngọt nhạt dỗ dành. Ròng rã bảy ngày bảy đêm chàng ở đâu mà không đến?”

Đoàn Dự thở dài nói: “Ta cũng bị người bắt giữ, không sao trốn ra được. Suốt ngày đêm ta lo cho nàng, lòng nóng như lửa đốt. Vừa trốn thoát là ta lập tức chạy đến đây.”

***

Hôm đó Nam Hải Ngạc Thần xách Mộc Uyển Thanh đi rồi, Đoàn Dự một mình ngồi trên đỉnh núi, băn khoăn vô cùng: “Nếu như ta không qua bên đó cầu tên ác nhân này thu làm đồ đệ, tính mạng Mộc cô nương khó mà giữ được. Thế nhưng nếu nhận gã làm thầy, học cái ngón bẻ cổ người ta kêu lách cách thì còn ra gì nữa. Y dạy ta công phu đó thể nào chẳng đi bắt người về cho ta thử, cứ giết hết người này qua người khác quả là ô hô ai tai! Cũng may tên ác nhân này ít nhiều còn biết phải quấy, ta phải tìm cách lý luận để y chịu thả Mộc cô nương mà không đặt điều kiện bắt ta phải bái y làm sư phụ”.

Chàng ngồi trên bờ vực nghĩ hoài, bụng lại ngâm ngẩm đau, đột nhiên nhớ ra: “Chao ôi, không xong rồi, ta hồ đồ quên khuấy đi mất. Khi ở trong sơn động ta đã từng bái thần tiên tỉ tỉ làm thầy, như vậy ta đã là môn đồ phái Tiêu Dao. Môn đồ phái Tiêu Dao làm sao đổi qua làm môn đồ của Nam Hải Ngạc Thần được? Đúng đó, ta phải nói làm sao cho đanh thép, cho tên ác nhân đó phải công nhận: Nghe cũng có lý.”

Chàng lại nghĩ: “Thể nào hắn cũng bắt ta phải biểu diễn võ công phái Tiêu Dao cho y xem, nhưng ta có biết gì đâu, làm sao y tin được? Thần tiên tỉ tỉ đã dặn là mỗi ngày sáng trưa chiều ba lần phải luyện thần công trong cuộn lụa, mấy hôm nay chưa luyện được chút nào, quả thật có lỗi với tỉ tỉ”. Chàng trong bụng hổ thẹn, đang định cho tay vào bọc lấy cuộn sách ra, bỗng nghe đằng sau có tiếng chân người, quay đầu nhìn lại thì giật mình thấy từ ghềnh đá lục tục kéo ra đến mấy chục người.

Bang chủ Thần Nông Bang Tư Không Huyền đi đầu, phía sau là chưởng môn Đông tông Vô Lượng Kiếm Tả Tử Mục, chưởng môn Tây tông Tân Song Thanh, ngoài ra là bang chúng bang Thần Nông và các đệ tử của hai tông Vô Lượng Kiếm xen lẫn nhau. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Té ra hai bên đổi thù thành bạn, thật là tốt quá.” Mọi người đứng làm hai hàng, cung kính khom lưng ra vẻ đang chờ đợi người nào đó. Chỉ giây lát có bóng xanh thấp thoáng, từ triền núi đi ra tám cô gái, người nào cũng mang áo khoác ngoài màu xanh biếc, trên thêu một con chim thứu đen. Đoàn Dự trong bụng kêu khổ: “Đời ta tàn rồi.” Tám người con gái đó chia thành hai hàng, tiếp theo lại có một người cũng mang áo khoác màu lục khác đi tới. Người con gái đó chừng khoảng hai mươi, dung mạo thanh tú nhưng trong đầu mày cuối mắt có ẩn sát khí, đưa mắt nhìn Đoàn Dự hỏi: “Ngươi là ai? Ở đây làm gì?”

Đoàn Dự nghe hỏi thế trong bụng mừng rỡ: “Họ chưa biết mình và Mộc cô nương giết bốn người chị em đồng bọn, lại mạo xưng sứ giả của Linh Thứu Cung. Cũng may cái áo choàng của mình đã trùm lên người mụ mập Bình bà bà, còn áo choàng của Mộc cô nương thì bay xuống sông Lan Thương rồi. Bốn cô kia tử vô đối chứng, ta cứ chối phắt đi là xong.” Chàng bèn nói: “Tại hạ là Đoàn Dự người Đại Lý, theo người ta đến Vô Lượng Cung làm khách của vị Tả tiên sinh đây…”

Tả Tử Mục xen vào: “Đoàn bằng hữu, Vô Lượng Kiếm đã qui thuộc về Thiên Sơn Linh Thứu Cung, Vô Lượng Cung nay đổi thành Vô Lượng Động, xin đừng nhắc đến ba chữ Vô Lượng Cung nữa.”

Đoàn Dự nghĩ thầm: “Thì ra ngươi đánh không lại nên đầu hàng rồi, kể cũng khôn ngoan lắm”. Chàng bèn nói: “Tả tiên sinh bỏ chỗ tối tìm về chỗ sáng, thật đáng cung hỉ.”

Tả Tử Mục nghĩ thầm: “Trước đây ta có làm gì đâu mà bảo là tối? Còn bây giờ có gì là sáng?”. Y tuy nghĩ thế nhưng đời nào dám nói ra, chỉ gượng cười. Đoàn Dự nói tiếp: “Tại hạ thấy Tư Không bang chủ và Tả tiên sinh có điểm hiểu lầm nhau nên cố khuyên giải, ngờ đâu lại gây thêm rắc rối. Tại hạ phụng mệnh Tư Không bang chủ đi tìm giải dược, ngờ đâu lại gặp một tên đại ác nhân, tên là Nam Hải Ngạc Thần Nhạc lão tam. Y bảo tại hạ tư chất khá, nhất định thu làm đồ đệ, tại hạ nói tôi không thích học võ công, nhưng gã Nam Hải Ngạc Thần không hiểu lý lẽ, bỏ tại hạ trên đây để ép bái y làm thầy. Tại hạ trói gà không chặt…” Nói tới đây chàng giang tay ra làm bộ vô vọng, nói tiếp: “Đỉnh núi cao, vách đá hiểm trở thế này, tại hạ làm sao mà xuống được. Cô nương hỏi ta ở đây làm chi ư? Ở đây chờ chết chứ còn làm gì nữa.” Những câu chàng nói không có chút nào giả dối, đoạn đầu cũng đúng, đoạn sau cũng không sai, nhưng có điều khúc giữa chàng bỏ hết. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Khổng phu tử viết Xuân Thu, chỉ thuật lại mà không thêm vào, ta cắt bỏ chỗ này một khúc chỗ kia một khúc cũng đâu có vi phạm cái đạo của thánh nhân, không nói láo thì vẫn có thể là người quân tử.”.

Cô gái kia “Ồ” một tiếng nói: “Tứ Đại Ác Nhân quả đã đến Đại Lý thật rồi. Nhưng tư chất ngươi có gì đáng kể mà Nhạc lão tam muốn thu người làm đồ đệ?” Nàng không đợi Đoàn Dự trả lời, đảo mắt qua hỏi Tư Không Huyền và Tả Tử Mục: “Y không nói dối chứ?” Tả Tử Mục đáp: “Dạ, không.” Còn Tư Không Huyền trả lời: “Khải bấm thánh sứ, tiểu tử này không biết chút võ công nào nhưng làm bậy làm bạ hỏng hết mọi việc.”

Cô gái nói: “Các ngươi nói là trông thấy hai đứa tiện nhân mạo xưng bọn ta chạy về phía ngọn núi này, nay ở đâu? Đoàn tướng công, tướng công có thấy hai người phụ nữ mặc áo khoác màu xanh giống như bọn ta không?” Đoàn Dự đáp: “Không thấy, ta không thấy hai người phụ nữ ăn mặc giống như tỉ tỉ.” Chàng nghĩ thầm: “Chỉ có một nam một nữ mặc áo khoác màu xanh mạo xưng các ngươi. Ta chưa soi gương thì làm sao thấy mình được; còn Mộc cô nương thì là một người phụ nữ chứ nào phải là hai người phụ nữ.”

Cô gái gật đầu, quay sang hỏi Tư Không Huyền: “Ngươi làm thuộc hạ Linh Thứu Cung lâu rồi đấy nhỉ?” Tư Không Huyền lập cập đáp: “Đã… đã tám năm.” Cô gái kia nói: “Đến chị em bọn ta ngươi cũng không nhận ra. Hồ đồ đến thế còn làm được việc gì cho Đồng Mỗ lão nhân gia? Ngươi đừng trông mong gì thuốc giải Sinh Tử Phù năm nay nữa.” Tư Không Huyền mặt xám ngoét, quì xuống đất, liên tiếp dập đầu van xin: “Thánh sứ khai ân, thánh sứ khai ân!”

Đoàn Dự nghĩ thầm: “Gã râu dê này chưa chết, không lẽ thuốc giải Mộc cô nương cho y lại công hiệu sao, Hay là Linh Thứu Cung cho y linh đan diệu dược gì khác? Sinh Tử Phù là cái món gì đây?”

Cô gái đó không thèm ngó đến Tư Không Huyền nữa, nói với Tân Song Thanh: “Đưa Đoàn tướng công xuống núi. Nếu Tứ Đại Ác Nhân đến quấy rối thì bảo chúng lên Linh Thứu Cung núi Phiêu Diểu kiếm ta. Bây giờ Vô Lượng Động chịu trách nhiệm đi bắt hai đứa lớn mật mạo danh. Còn nữa, hai đứa phản đồ Can Quang Hào, Cát Quang Bội phải bắt về giết đi. Khi nào gặp bốn chị em của bọn ta thì bảo là ta ra lệnh trở về Linh Thứu Cung ngay, ta không đợi nữa.” Cô ta nói tới đâu, Tân Song Thanh dạ dạ tới đó nhưng không dám nhìn thẳng vào mặt. Cô gái nói xong, không thèm ngó ngàng gì thêm, lập tức xuống núi, tám cô thuộc hạ lẽo đẽo đi theo.

Tư Không Huyền từ nãy giờ vẫn quì dưới đất, thấy chín cô gái xuống núi rồi, vội vàng đứng lên chạy ra bờ vách kêu lên: “Phù thánh sứ, xin người về bẩm lại với Đồng Mỗ, Tư Không Huyền thật có lỗi với lão nhân gia.” Y tung mình nhảy xuống dòng sông Lan Thương sâu tít bên dưới.

Mọi người kinh hãi kêu lên, bang chúng Thần Nông Bang hối hả chạy tới bờ vách, chỉ thấy sống nổi cuồn cuộn ào ào chảy qua, không còn thấy bang chủ đâu. Có tên đấm ngực khóc òa lên. Bọn Vô Lượng Kiếm thấy số phận Tư Không Huyền bi thảm đến thế, ai nấy mặt mày ngơ ngẩn, thần sắc bàng hoàng.

Đoàn Dự nghĩ thầm: “Cái chết của vị bang chủ Tư Không Huyền này, thật liên hệ với ta không ít”. Chàng thấy hối hận trong lòng.

Tân Song Thanh chỉ vào hai nam đệ tử bên Đông tông nói: “Hai ngươi đưa Đoàn tướng công xuống núi.” Hai người đó một người tên Úc Quang Tiêu, một người tên Ngô Quang Thắng cùng khom lưng vâng dạ.

Đoàn Dự nhờ có hai gã Úc Ngô đỡ xuống được chân núi không mấy khó khăn, thở phào một cái, quay sang Tả Tử Mục và Tân Song Thanh chắp tay nói: “Đa tạ đưa xuống núi, tại hạ xin từ biệt.” Chàng nhìn lên ngọn núi Nam Hải Ngạc Thần đã chỉ, nghĩ thầm: “Lên được ngọn núi này còn gian nan gấp mấy lần xuống núi. Xem ra bọn Vô Lượng Kiếm chẳng tử tế đến mức giúp ta thêm, đành trèo lên một mình vậy.”

Ai ngờ Tân Song Thanh nói: “Ngươi không được đi, phải theo ta về Vô Lượng Động.” Đoàn Dự vội chối từ: “Không, không? Tại hạ có việc cần phải đi gấp, không tuân mệnh được. Xin thứ lỗi.” Tân Song Thanh hừ một tiếng, vẫy tay ra hiệu. Úc Ngô hai người hai bên giữ chặt Đoàn Dự, lôi đi xềnh xệch. Đoàn Dự kêu lên: “Tân chưởng môn, Tả chưởng môn, Đoàn Dự này có làm gì đắc tội với quí vị đâu. Lúc nãy vị thánh sứ tỉ tỉ chỉ bảo đưa ta xuống chân núi, nay đến nơi rồi, các vị còn muốn gì nữa?”

Tân Song Thanh và Tả Tử Mục không thèm trả lời. Đoàn Dự bị hai gã Úc Ngô áp tải không kháng cự được, đành phải theo chúng về Vô Lượng Động. Hai gã Úc Ngô dẫn Đoàn Dự đi qua năm gian phòng rồi lại qua một vườn hoa lớn, đến trước một căn nhà ba gian. Ngô Quang Thắng mở cửa phòng, Úc Quang Tiêu đẩy Đoàn Dự nhào vào trong nhà rồi lập tức đóng cửa lại, chỉ nghe lạch cạch, bọn chúng đã khóa ở bên ngoài.

Đoàn Dự kêu lớn: “Vô Lượng Kiếm các ngươi có biết phải quấy gì không? Thế này thì ta có khác gì phạm nhân đâu? Vô Lượng Kiếm nào có phải quan phủ sao dám tự tiện bắt người?” Bên ngoài không nghe động tĩnh, dẫu chàng có gào thét cách mấy cũng chẳng ai thèm ngó ngàng gì đến.

Đoàn Dự thở dài nghĩ thầm: “Thôi thì đến đâu hay đó, mặc cho số mệnh”. Đi xuống núi rồi về đến đây chàng đã mỏi mệt lắm rồi, thấy trong phòng có giường có bàn, chàng liền trèo lên giường nằm ngủ.

Ngủ chưa bao lâu thì có người bộc dịch đem cơm đến, ăn uống cũng không tệ lắm. Đoàn Dự nói: “Nhờ ông lên bẩm với Tả Tân hai vị chưởng môn, tôi có chuyện…” Chàng nói chưa dứt câu đã nghe Úc Quang Tiêu quát tháo bên ngoài: “Họ Đoàn kia, ta cho phép ngươi nằm ngồi thoải mái, nhưng nếu còn léo nhéo, đừng trách chúng ta không lịch sự. Ngươi mà mở mồm nói một câu, ta sẽ cho ngươi một bạt tai, nói hai câu, hai bạt tai, ba câu ba cái. Ngươi biết đếm đấy chứ?”

Đoàn Dự ngậm miệng lại, nghĩ thầm: “Thằng cha côn đồ này nói sao làm vậy. Ta tuy bị Mộc cô nương tát mấy cái thật, tuy đau trên má nhưng trong bụng lại vui vui. Còn như lần này bị ăn bạt tai của tên côn đồ kia chắc chẳng vui gì!” Chàng ăn ba bát đầy rồi lại leo lên giường nằm ngủ, nghĩ thầm: “Mộc cô nương không biết ra sao rồi? Tốt nhất là nàng rình phóng tên độc giết được Nam Hải Ngạc Thần, chạy đến đây cứu mình. Ôi! Sao ta lại muốn nàng giết người?” Chàng nghĩ ngợi vẩn vơ một hồi rồi lại ngủ tiếp.

Lần này chàng ngủ mãi đến sáng hôm sau mới dậy. Căn phòng bài trí giản dị, các cửa sổ đều có song sắt, xem ra là chỗ để Vô Lượng Kiếm giam người nhưng được cái thoáng mát rộng rãi, cũng không đến nỗi tù túng. Chuyện đầu tiên chàng tính đến là tập luyện Bắc Minh thần công theo lời dặn dò của thần tiên tỉ tỉ. Chàng mở trong bọc ra quyển trục, đặt trên bàn, vừa nghĩ đến hình người khỏa thân trong cuốn lụa, tim chàng không khỏi đập thình thình, đỏ mặt tía tai, vội vàng ngồi ngay ngắn, khấn thầm: “Thần tiên tỉ tỉ, đệ tử tuân hành lời tỉ tỉ dặn dò tu tập thần công chứ không phải cốt nhìn trộm quí thể, xin đừng trách cứ.”

Chàng từ từ mở cuộn lụa ra, đọc kỹ những chữ nhỏ viết bên cạnh đồ hình thứ nhất vài lần. Chữ nghĩa ghi trên đó chàng đọc dễ như ăn cháo, chỉ lướt qua là hiểu ngay, đọc đến lần thứ hai thì đã thuộc, đọc đến lần thứ ba thì đã thông hiểu kỹ càng. Chàng không dám nhìn lâu hình vẽ người đàn bà, chỉ ghi nhớ kinh mạch và vị trí huyệt đạo rồi theo những ghi chú trong cuộn lụa mà tập luyện.

Trong văn có viết rằng: “Nội công bản môn ngược với các môn phái khác, những ai từng tu tập nội công thì phải quên hết những gì đã học để chuyên tâm tu tập công phu mới, nếu như lẫn lộn với nhau thì hai công phu chống chọi mà lập tức thổ huyết điên cuồng, các kinh mạch bị phế, cực kỳ hung hiểm.” Kinh văn nhắc đi nhắc lại điểm này, coi đây là vấn đề trọng đại nhất. Đoàn Dự trước nay chưa hề tập qua nội công nên điểm tối gian nan này chàng khỏi quan tâm, khởi đầu thật là trôi chảy.

Chỉ khoảng nửa giờ chàng đã làm được y như đồ hình, nhớ hết các kinh mạch huyệt đạo trong Thủ Thái Âm Phế Kinh, có điều trong người không có chút nội lực nào nên không sao vận chuyển chân khí trong kinh mạch. Tiếp theo chàng luyện sang Nhâm Mạch, mạch này khởi đầu từ huyệt Hội Âm nằm ở trước hậu môn, theo các huyện Khúc Cốt, Trung Cực, Quan Nguyên, Thạch Môn… đi thẳng lên qua bụng, ngực, yết hầu đến huyệt Ngân Cơ ở hàm dưới, Nhâm Mạch rất nhiều huyệt đạo nhưng mạch chạy thẳng từ dưới lên trên rất là giản dị, chỉ giây lát Đoàn Dự đã nhớ hết những vị trí và tên huyệt đạo, giơ tay sờ thử tất cả những huyệt trên người mình. Mạch này cùng luyện chiều nghịch đi từ Ngân Cơ, Thừa Tương, Liêm Tuyền, Thiên Đột chạy xuống tới Hội Âm thì ngừng.

Trong hình vẽ có ghi: “Thủ Thái Âm Phế Kinh và Nhâm Mạch là cơ sở của Bắc Minh thần công, trong đó huyệt Thiếu Thương ở ngón tay cái và huyệt Đản Trung ở giữa hai vú là hai nơi quan trọng nhất, một đằng thu vào một đằng chứa lấy. Con người có tứ hải: dạ dày là biển chứa nước và thức ăn, Xung Mạch là biển của mười hai kinh, Đản Trung là biển chứa khí, còn óc não là biển chứa tủy. Ăn uống chứa vào dạ dày, trẻ sơ sinh cũng biết nhưng người ta ăn uống chỉ không quá một ngày đã phải thải ra ngoài. Ta thu nội lực nhiều ít đều giữ lại không hề tiết ra, càng tích trữ càng nhiều, chẳng khác gì ao trời Bắc Minh đủ cho cá côn dài nghìn dặm vùng vẫy.”

Đoàn Dự cuộn trục lại nghĩ thầm: “Môn công phu này theo đường lối hại người lợi mình, đem nội lực người khác mất bao công phu luyện được thu vào tích trữ tại thân thể mình, khác nào ăn thịt uống máu người ta? Thế có khác gì kẻ tham lam vơ vét tiền tài người ta lấy làm của mình? Ta đã nhận lời thần tiên tỉ tỉ không luyện không xong, nhưng ta nhất định không đi hút nội lực của người khác”.

Nhưng rồi chàng lại nghĩ: “Bá phụ thường dạy rằng con người sống trên đời, nếu không ăn không mặc thì không thể sống được. Thế nhưng một bát cháo, một mảnh khăn cũng đều là lấy của người khác. Lấy của người khác là chuyện không thể tránh được, có điều phải báo đáp như thế nào? Nếu thu vào ít mà trả ra nhiều thì được. Nếu lấy của kẻ giàu có bất nhân để đem cho kẻ không cơm áo thì cũng không đáng thẹn, nhà nho nhân nghĩa hay nhà Phật từ bi cũng đều như thế. Bòn khố rách sắm dù sơn kiệu thì là bạo ngược; còn như buôn bán làm giàu rồi làm điều thiện cả thiên hạ, bố thí khắp mọi người thì là Phật sống. Thành thử không phải ở chuyện thu hay không thu, mà tại cách dùng thiện hay ác”. Chàng nghĩ cho rõ ràng rồi thấy việc tập luyện môn công phu này không có gì còn đáng chê trách nữa.

Chàng thấy thoải mái trong lòng, nghĩ tiếp: “Nói đúng ra, ta từ bé chỉ muốn làm điều hay, không muốn làm điều dở. Nhưng con voi to lớn mang được nghìn cân, còn con kiến nhỏ bé kia chỉ mang được một hạt cải. Sức có lớn mới làm được chuyện lớn. Bản lãnh như Nam Hải Ngạc Thần mà biết chuyên tâm làm điều tốt, há chẳng tạo phúc nhiều lắm hay sao?” Chàng nghĩ như thế rồi tự nhủ nếu phải bái Nam Hải Ngạc Thần làm thầy thì sẽ chỉ bẻ cổ những kẻ xấu, xem ra “Nghe cũng có lý”.

Trong quyển trục này còn rất nhiều phương pháp tập luyện những kinh mạch khác, tất cả đều dạy phép làm sao thu được nội lực của người khác. Đoàn Dự tuy đã hơi thông trong lòng nhưng vẫn cảm thấy việc tham lam dường như ngược lại với bản tính của mình, nên gác qua một bên chưa luyện đến vội.

Chàng giờ đến cuối cuốn trục lại gặp bốn chữ Lăng Ba Vi Bộ, liền nghĩ ngay đến bài Lạc Thần Phú của Tào Thực có mấy câu: “Bước đi uyển chuyển đùa trên sóng, Thấp thoáng xiêm y phủ gót hài” (Lăng ba vi bộ, La miệt sinh trần) quả là tuyệt diệu. Chàng nghĩ thầm: “Ta luyện môn Lăng Ba Vi Bộ này trước, đây là phép chạy trốn không hại người, xem ra có hàng trăm điều lợi mà không có gì hại cả”.

Trên quyển trục vẽ rõ ràng bộ pháp, lại ghi chú rõ sáu mươi tư phương vị của Dịch Kinh. Chàng vốn rất rành Dịch lý nên cũng đỡ phần lý thuyết. Tuy nhiên trong cuốn trục có nhiều bộ pháp thật kỳ lạ, đi một bước rồi người vặn vẹo không làm sao bước được qua bước thứ hai, mãi đến khi chàng nghĩ ra phải nhảy lên trên không xoay người lại, lúc đó mới hợp với vị thế bước kế tiếp. Cũng có khi phải nhảy về trước rồi búng mình ra sau, đầu lao bên trái lắc mông qua phải mới hợp với bộ pháp trong cuộn lụa. Đoàn Dự vốn là con mọt sách, mỗi khi gặp chuyện gì khó đều ngồi suy nghĩ cho bằng được, đến khi hiểu ra rồi thì càng khó càng thấy sướng không bút nào tả xiết. Đến giờ chàng mới thấy rằng trong võ học cũng có những vấn đề thú vị vô cùng, không kém gì đọc sách tụng kinh.

Một ngày trôi qua, bộ pháp trên cuốn trục chàng đã học được hai ba thành, sau khi ăn cơm chiều lại học thêm được mươi bước rồi mới lên giường. Chàng mơ hồ nửa thức nửa ngủ, trong đầu lẩn quẩn nào là Thiếu Thương, Đản Trung, Quan Nguyên, Trung Cực các huyệt đạo rồi tới Đồng Nhân, Đại Hữu, Qui Muội, Vị Tế các quẻ Dịch.

Đoàn Dự ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe mấy tiếng oang oang như ễnh ương kêu thật lớn, lập tức tỉnh dậy. Chẳng bao lâu, lại nghe thêm mấy tiếng oang oang nữa, to như bò rống nhưng lại có phần dữ tợn, không biết là tiếng con gì. Chàng biết trong dãy núi Vô Lượng này có nhiều độc trùng quái thú, thấy tiếng rống kia ngưng rồi nên cũng không để tâm, toan ngủ tiếp.

Bỗng nghe văng vẳng phía bên kia có người nói: “Con Mãng Cổ Chu Cáp (ễnh ương màu đỏ rống to như bò) lâu lắm không xuất hiện, tối qua bỗng dưng kêu, không biết là điềm lành dữ ra sao?” Lại một người khác nói: “Đông tông chúng ta rơi vào cảnh ngộ này, làm sao bảo là điềm lành được, chỉ mong đại họa không tới cũng đã tạ ơn trời đất rồi.”

Đoàn Dự nhận ra tiếng hai tên Úc Quang Tiêu và Ngô Quang Thắng, hẳn chúng ngủ ở bên kia vách, canh chừng không cho mình trốn. Gã Ngô Quang Thắng nói tiếp: “Vô Lượng Kiếm chúng ta đầu hàng Linh Thứu Cung, tuy rằng từ nay bị chế ngự mất tự do nhưng lại được quả núi lớn này, kể ra nửa xấu nửa tốt. Chỉ tức là rõ ràng Tây tông kém Đông tông mình, tại sao vị Phù thánh sứ kia lại cho Tân sư thúc làm chủ Vô Lượng Động, sư phụ chúng ta lại phải chịu dưới quyền.” Úc Quang Tiêu đáp: “Linh Thứu Cung từ Đồng Mỗ trở xuống toàn là phái nữ cả. Họ cho rằng nam nhân trong thiên hạ chẳng ai ra gì. Vì thế mà vị Phù thánh sứ kia có bụng nâng đỡ để Tân sư thúc đứng đầu, Vô Lượng Động cũng đỡ khổ. Ngươi xem đó, Phù thánh sứ ra tay độc ác với Tư Không Huyền của Thần Nông Bang biết bao.” Ngô Quang Thắng nói: “Úc sư ca giải thích không thông. Phù thánh sứ khinh đàn ông mà sao lại lịch sự với tên tiểu tử ở vách bên kia thế? Gì mà Đoàn tướng công, Đoàn tướng công, nghe ngứa cả tai.” Đoàn Dự nghe bọn chúng nói đến mình càng cố gắng lắng tai.

Úc Quang Tiêu cười nói: “Mấy câu đó chỉ nên thì thầm ở đây thôi. Một cô gái trẻ nói chuyện ngọt ngào với một gã mặt trắng, một Đoàn tướng công, hai Đoàn tướng công…” Y nói tới ba chữ “Đoàn tướng công” cố nhái giọng con gái yểu điệu, lại thêm mấy phần õng ẹo: “… thì ngươi đoán thử là vì đâu?” Ngô Quang Thắng nói: “Không lẽ Phù thánh sứ để mắt xanh vào tên mặt trắng kia?” Úc Quang Tiêu đáp: “Nói khẽ chứ, đừng để thằng lỏi mặt trắng nghe được.” Y cười nói tiếp: “Ta đâu có ở trong bụng Phù thánh sứ, làm sao rõ thánh ý của lão nhân gia? Nhưng chắc Tân sư thúc cũng nghĩ vậy nên mới bảo bọn mình chăm sóc cho kỹ càng, đừng để y chạy mất.” Ngô Quang Thắng nói: “Thế thì phải giam y đến chừng nào?” Úc Quang Tiêu đáp: “Phù thánh sứ ở trên đỉnh núi đã dặn: Tân Song Thanh đưa Đoàn tướng công xuống núi, Tứ Đại Ác Nhân mà đến quấy rồi thì bảo họ lên Linh Thứu Cung núi Phiêu Diểu tìm ta…” Mấy câu đó y học điệu bộ của cô gái áo xanh “Thế thì đem Đoàn tướng công xuống núi để làm gì? Lão nhân gia không nói, người ngoài ai dám hỏi. Lỡ như mai mốt Phù thánh sứ sai người tới bảo là: Tân Song Thanh đưa Đoàn tướng công lên Linh Thứu Cung gặp ta, mà lúc đó mình đã đem gã họ Đoàn giết mất hay thả ra rồi thì thật là ô hô ai tai!” Ngô Quang Thắng nói: “Nếu như Phù thánh sứ không nói năng gì cả, chẳng lẽ mình cứ giữ thằng lỏi mặt trắng này, chờ tới khi nào có hiệu lệnh của Phù thánh sứ mới thôi ư?” Úc Quang Tiêu cười: “Chứ còn gì nữa?”

Đoàn Dự trong bụng than thầm: “Hỡi ôi! Phù thánh sứ tỉ tỉ gọi mình một câu Đoàn tướng công chẳng qua nể nang kẻ nho sinh vài phần, bọn chúng sợ bóng sợ gió nghĩ ra thành chuyện nọ kia. Vị Phù thánh sứ kia có ngờ đâu bọn chúng định nhốt mình cho tới khi râu tóc bạc phơ, thằng lỏi mặt trắng biến thành thằng già mặt trắng.”

Chàng còn đang rầu rĩ bỗng nghe Ngô Quang Thắng nói: “Hóa ra hai đứa mình là…” Không biết y định nói gì, đột nhiên lại nghe oang oang ba tiếng lớn, con Mãng Cổ Chu Cáp kia lại kêu lên, Ngô Quang Thắng lập tức nín bặt. Một lúc sau không thấy Mãng Cổ Chu Cáp kêu thêm nữa, y mới nói: “Mỗi khi Mãng Cổ Chu Cáp kêu thì tiểu đệ lạnh ớn xương sống, không biết lần này nó sẽ lấy bao nhiêu mạng người đây?” Úc Quang Tiêu nói: “Người ta vẫn bảo Văn Thù bồ tát cưỡi thanh sư, Phổ Hiền bồ tát cưỡi bạch tượng, Thái Thượng lão quân cưỡi trâu, còn con Mãng Cổ Chu Cáp là vua của mọi loại độc, thần thông quảng đại, độc tính rất ghê gớm, thiên hạ mới đồn nó là vật cưỡi của ôn thần nhưng chắc gì đã đúng.”

Ngô Quang Thắng nói: “Úc sư huynh đoán thử xem con Mãng Cổ Chu Cáp này là giống gì?” Úc Quang Tiêu cười đáp: “Ngươi có muốn đi xem chăng?” Ngô Quang Thắng cười: “Sư huynh đi xem trước rồi về kể cho tiểu đệ nghe.”Úc Quang Tiêu nói: “Ta vừa trông thấy Mãng Cổ Chu Cáp là độc khí xông lên mù mắt ngay, sau đó lan vào óc, e rằng không còn được về để kể cho ngươi nghe Vạn Độc Chi Vương giống như con gì. Cả hai đứa mình cùng đi có hay hơn không?” Bỗng nghe thấy bước chân người rồi tiếng mở then cửa. Y run rẩy tiến ra đóng cửa lại. Úc Quang Tiêu cười: “Ha ha, ta không dám ra xem đâu. Có người sợ đến mất vía.”Ngô Quang Thắng lập cập nói: “Thôi đừng có giỡn kiểu này, lỡ có chuyện gì thật thì sao? Thôi đi ngủ cho yên.”

Úc Quang Tiêu đột nhiên đổi đề tài: “Ngươi nghĩ xem hai đứa chó má Can Quang Hào và Cát Quang Bội chạy có thoát không?” Ngô Quang Thắng nói: “Lâu thế mà không thấy tăm hơi, chắc là chúng chạy thoát rồi.” Úc Quang Tiêu nói: “Can Quang Hào tài cán chẳng bao nhiêu, bọn ta biết rõ mà. Gã đó lười biếng hiếu sắc, luyện kiếm thì chểnh mảng, chỉ được cái tài nói ngon nói ngọt đi dụ gái. Bọn mình đã kiếm khắp nơi đông tây nam bắc, ngay cả bốn thánh sứ của Linh Thứu Cung cũng đích thân tìm, ta không tin bọn chúng thoát được.” Ngô Quang Thắng nói: “Sư ca không tin cũng phải tin.”

Úc Quang Tiêu nói: “Ta đoán chừng đôi trai gái chó má này trốn vào trong núi sâu gặp phải Mãng Cổ Chu Cáp.” Ngô Quang Thắng kêu “A” lên một tiếng, tỏ vẻ sợ hãi, Úc Quang Tiêu tiếp: “Chắc là chúng tìm những nơi thật vắng vẻ mà đi, gặp phải Mãng Cổ Chu Cáp độc khí ăn lên óc, toàn thân tan ra thành vũng máu bầy nhầy, thành thử chẳng để lại dấu vết gì.” Ngô Quang Thắng nói: “Sư ca đoán thế cũng hơi có lý.” Úc Quang Tiêu hỏi lại: “Sao lại hơi có lý? Ngoài gặp phải Mãng Cổ Chu Cáp còn có lý do gì chắc hơn nữa chăng?” Ngô Quang Thắng nói: “Không chừng hai đứa đó không biết nhịn thèm, ở nơi hoang sơn dã lãnh hứng lên, ôm nhau luyện chiêu “Lý Ngư Phiên Thân” đến trời đất quay cuồng, hí hí, không gượng được lăn xuống vực.” Hai tên cùng cười khoái chí.

Đoàn Dự nghĩ thầm: “Mộc cô nương bắn chết Can Cát hai người ở quán ăn, không lẽ phái Vô Lượng không biết? Đúng rồi, chắc là chủ quán sợ rắc rối nên lật đật đem chôn. Dù phái Vô Lượng có đến tra hỏi, dân buôn bán thấy chúng cầm binh khí, mặt mày hầm hầm như hung thần ác sát, ai mà dám nói gì.”

Ngô Quang Thắng lại tiếp: “Đông Tây tông Vô Lượng Kiếm có hai tên đệ tử đào tẩu thì có gì to tát đâu. Thế mà vua chẳng lo đi lo thái giám, thánh sứ của Linh Thứu Cung lại gấp gáp đi bắt hai đứa về, chẳng hiểu tại sao?” Úc Quang Tiêu đáp: “Ngươi thử vắt óc ra nghĩ xem tại sao nào?” Ngô Quang Thắng trầm ngâm một hồi nói: “Sư ca biết rồi, tiểu đệ đầu óc chậm chạp, nghĩ tới nghĩ lui cũng chẳng được gì.”

Úc Quang Tiêu nói: “Ta hỏi ngươi: Linh Thứu Cung muốn chiếm Vô Lượng Cung của bọn ta là vì cớ gì?” Ngô Quang Thắng đáp: “Nghe Đường sư ca nói có lẽ là vì Vô Lượng Ngọc Bích ở hậu Sơn, Phù thánh sứ vừa đến, đã năm lần bảy lượt tra vấn chuyện tiên ảnh trên vách núi kiếm pháp như thế nào.” Úc Quang Tiêu nói: “Đúng thế! Chúng mình ai cũng phải thề độc theo lệnh của thánh sứ rằng không được tiết lậu việc tiên ảnh trên ngọc bích. Can Quang Hào và Cát Quang Bội hai đứa đó đã trốn đi trước, làm sao bắt chúng thề được?” Ngô Quang Thắng vỗ đùi kêu lên: “Đúng rồi! Đúng rồi! Linh Thứu Cung muốn giết hai người đó diệt khẩu.”

Úc Quang Tiêu quát khẽ: “Khẽ thôi, ngươi quên vách bên kia có người sao?” Ngô Quang Thắng vội đáp: “Dạ! Dạ!” Y ngừng một chút lại nói tiếp: “Gã Can Quang Hào thật là sung sướng, vớ được em mặt rỗ Cát Quang Bội trắng trẻo ngon lành, hai đứa chắc là ôm nhau trần như nhộng, chắc là… chắc là… con mẹ nó, dẫu có phải biến thành vũng máu bầy nhầy cũng còn… cũng còn…”

Hai gã tiếp tục nói chuyện, qua lại chỉ rặt những điều thô tục, Đoàn Dự không muốn nghe những tiếng cười dâm đãng từ bên kia vách vẫn vọng qua không nghe cũng không được. Chàng cố tập trung nghĩ đến các kinh mạch huyệt đạo trong Bắc Minh thần công, chẳng bao lâu tinh thần chuyên chú, âm thanh bên ngoài không lọt vào tai nữa.

Hôm sau chàng lại luyện Lăng Ba Vi Bộ theo các bộ pháp trong cuộn trục, từng bước một mà diễn tập. Bộ pháp này ẹo qua trái, nghiêng qua phải dù tiến hay thoái cũng không có bước nào đi thẳng, tuy ở trong nhà nhưng chỉ cần tránh bàn tránh ghế là hoàn toàn có thể sử dụng được. Chàng học được mươi bước rồi nghĩ thầm: “Đợi tên đưa cơm đến đây, ta chỉ cần đi mấy bước nghiêng qua xéo lại này là lập tức thoát ra khỏi, chạy luôn ra cửa chưa chắc y đã bắt được mình. Nếu không chạy trốn cho lẹ, không lẽ ở đây chờ trở thành thằng già mặt trắng? Nhưng ta phải luyện cho thật thuần thục chứ để sai nửa bước là bị y bắt được ngay. Nếu thế không chừng chân mình lại thêm một sợi dây xích có khóa nữa, lúc đó thì Lăng Ba Vị Bộ dẫu hay đến đâu, cũng chỉ đi qua đi lại trong vòng sợi dây xích, ta thành thằng già mặt trắng là chắc chắn rồi”. Nghĩ đến đó chàng đã có chủ ý rõ ràng.

Đoàn Dự đã học tất cả hơn trăm bước, chàng ôn lại một lượt từ đầu chí cuối, nghĩ thầm: “Ta phải làm cách nào không cần suy nghĩ, cứ bước là đúng. Ôi, Đoàn Dự này quả là đàn ông chẳng ra đàn ông, học theo cái lối Lạc thần Mật Phi ưỡn ẹo đùa trên mặt sóng. Ta làm gì có cái điệu thấp thoáng xiêm y phủ gót hài? Rách hết xiêm y hở cả đùi thì có.” Chàng bật cười ha hả, chân trái bước vào vị trí Trung Phu, chuyển qua Ký Tế. Ngờ đâu khi vừa bước lên vị trí quẻ Thái, xoay chân phải đạp vào vị trí Cổ, trong Đan Điền bỗng có một làn nhiệt khí xông lên, người tê đi, ngã nhào về trước, nằm gục xuống bàn không sao gượng được.

Chàng kinh hãi vô cùng giơ tay vịn vào bàn toàn đứng lên, ngờ đâu cử động không còn như ý, muốn nhúc nhích một ngón tay cũng không được, giống như người ngủ bị bóng đè, càng hoảng hốt càng bất động. Chàng đâu biết rằng Lăng Ba Vi Bộ là một môn võ công thượng thừa, sở dĩ để ở cuối quyến trục vì muốn người ta luyện xong Bắc Minh thần công, khi nội lực đã thâm hậu mới luyện tới bộ pháp này. Mỗi bước Lăng Ba Vi Bộ, cử động và nội lực có liên quan chặt chẽ, không phải cứ dẻo chân là đủ. Đoàn Dự hoàn toàn không có căn bản nội lực, trước đây cứ đi một bước lại suy nghĩ một hồi, lùi một bước lại ngưng lại một chút thành ra huyết mạch dù có trở ngại nhưng chưa đến nỗi thành chuyện lớn. Đến khi chàng tập bước nhanh, lại đột nhiên há miệng cười, chân khí trong người tán loạn, lập tức tê liệt như bị tẩu hỏa nhập ma. Cũng may chàng chỉ mới đi mấy bước nên chưa rơi vào nguy cơ đoạn tuyệt kinh mạch.

Chàng kinh hoàng cố gắng vùng vẫy, nhưng càng ra sức càng thấy khó thở, dường như muốn nôn ra mà không được. Chàng thở dài đành nằm yên phó mặc tới đâu hay đó, sức ép trên ngực lại giảm đi. Chàng nằm gục trên bàn không nhúc nhích, quyển trục mở ra ngay trước mắt, không còn nghĩ ngợi gì, nhìn đến ngay những phần chưa học, trong đầu tưởng tượng ra bộ pháp, duyệt qua một lượt từng bước một. Đến hơn nửa giờ sau, chàng đã thông suốt hơn hai chục bước sau cùng, lại gần như đã hết tức ngực khó thở.

Cho đến gần trưa, chàng ôn lại hết lượt bộ pháp, bắt đầu lại tất cả sáu mươi tư quẻ, khởi thủy từ Minh Di qua đến Bí, Ký Tế, Gia Nhân đủ hết rồi đi một vòng trở về Vô Vọng. Biết là bộ pháp mình học đã xong, chàng mừng rỡ trong lòng, nhảy nhổm lên vỗ tay kêu: “Hay quá! Hay quá!” Bốn tiếng để thốt ra chàng mới hiểu mình đã cử động lại được rồi. Thì ra nội tức của chàng theo ý nghĩ mà vận chuyển, đã đi đủ một vòng tròn nên những tắc nghẽn trong kinh mạch đều thông suốt.

Chàng vừa mừng vừa sợ, đem bộ pháp của sáu mươi tư quẻ đó ôn đi ôn lại mấy lần, sợ rằng lại theo vết xe cũ nên chậm rãi đi từng bước một, cứ mỗi bước lại nghỉ lấy hơi. Sau khi đi đủ sáu mươi tư quẻ chân cũng đi thành một vòng tròn, đầu óc khoan khoái, toàn thân đầy rẫy sinh lực, chàng không còn nhịn nổi kêu to: “Hay quá! Hay quá! Hay thật là hay!”

Úc Quang Tiêu ở ngoài cửa hầm hè quát: “Người la lối gì đó? Ta đã nói rồi, không phải giỡn chơi. Ngươi nói một câu là ăn một cái tát.” Y mở khóa bước vào nói tiếp: “Hồi nãy ngươi nói ba câu, đáng ăn ba cái bạt tai. Thế nhưng vi phạm lần đầu xử nhẹ, bợp tai ngươi một cái.” Y nói rồi bước tới giơ tay tát lên mặt Đoàn Dự.

Cái tát đó chẳng phải chưởng pháp gì tinh diệu nhưng Đoàn Dự đâu có biết chống đỡ, đầu hơi nghiêng qua, chân tự nhiên đi xéo theo bộ pháp từ quẻ Tỉnh qua quẻ Tụng, tránh được. Úc Quang Tiêu giận quá, quyền bên trái tống ra. Đoàn Dự bộ pháp chưa thuần thục, đang định chuyển bước thì bình một cái, ngực đã bị trúng một quyền ngay tại huyệt Đản Trung.

Đản Trung là đại huyệt, Úc Quang Tiêu đánh trúng một quyền bỗng thấy hối hận, sợ mình ra tay nặng quá gây nên đại họa, ngờ đâu đánh trúng Đoàn Dự rồi, cánh tay lập tức mềm nhũn vô lực, trong bụng lại thấy thót lên. Y hơi ngạc nhiên nhưng trấn tĩnh lại ngay, thấy Đoàn Dự không bị thương mới yên tâm nói: “Ngươi né được cái tát nhưng lại bị một đám cũng được rồi, coi như đủ số.” Y quay người đi ra, khóa cửa phòng lại.

Đoàn Dự bị trúng một quyền nghe thật kêu, nhưng nơi bị đấm trên ngực lại không thấy đau, trong bụng không khỏi ngạc nhiên. Chàng có biết đâu, trong quyền của Úc Quang Tiêu có bao nhiêu nội lực đều tống vào khí hải, bắt đầu tích trữ trong huyệt Đản Trung.

Thật là vừa khéo, nếu quyền đó trúng phải nơi khác thì dẫu chàng không bị thương cũng đau đến tim gan phèo phổi, còn huyệt Đản Trung chính là nơi chất chứa Bắc Minh chân khí. Chàng tu tập thần cộng chưa có chút căn cơ nào, nếu như đúng kiểu dùng huyệt Thiếu Thương trên ngón tay cái để hút nội lực người khác, theo Thủ Thái Dương Phế Kinh dẫn vào huyệt Thiên Đột trong Nhâm Mạch, rồi tích trữ ở huyệt Đản Trung, chàng hoàn toàn chưa có khả năng. Mà dù có tu tập thành công thì chưa chắc chàng chịu hấp thu nội lực người khác. Thế nhưng đối phương tự ý đem nội lực trút vào huyệt Đản Trung, Đoàn Dự không có khả năng kháng cự, quyền vừa đụng phải người nội lực liền xâm nhập vào, đúng là của trên trời rơi xuống. Thế nhưng chàng ngơ ngẩn nào có biết trời trăng gì, chỉ nghĩ: “Gã này quả là ngang ngược, ta nói mấy câu có đụng chạm gì đến y đâu? Tự nhiên lại đấm mình một quả”.

Nội lực từ cú đấm đó xoay vần trong khí hải của chàng, Đoàn Dự thấy tức ngực khó thở, liền thử vận hành Nhâm Mạch và Thủ Thái Âm Phế Kinh hai kinh lạc, thấy có một làn hơi ấm nhẹ nhàng chạy theo hai mạch này rồi lại quay về huyệt Đản Trung, bao nhiêu khó chịu liền biến mất. Thì ra chỉ một vòng vận hành ngắn ngủi kia, chút nội lực đó sẽ được giữ lại trong thân thể chàng không mất nữa. Từ một quyền Úc Quang Tiêu đấm chàng mà Đoàn Dự từ chỗ không có chút nội lực nào trở thành có một chút xíu nội lực.

Cũng may là Úc Quang Tiêu nội lực bình thường, cũng chưa ra tay hết sức, chứ nếu như Nam Hải Ngạc Thần mà đấm vào huyệt Đản Trung thì Đoàn Dự chưa có cơ sở nội lực, khí hải không kịp dung nạp, thể nào kinh mạch cũng đứt đoạn, hộc máu chết ngay. Về phần Úc Quang Tiêu thì nội lực mất chẳng bao nhiêu nên y cũng không phát giác.

Sau bữa cơm trưa, Đoàn Dự lại luyện Lăng Ba Vi Bộ, đi một bước lại hít vào, đi qua bước thứ hai thì thở ra, đi hết sáu mươi tư quẻ, chân tay không thấy bị tê mỏi, biết rằng nếu mình hô hấp điều hòa thì không có gì hại. Qua lần thứ hai chàng đi hai bước mới hít một hơi, hai bước nữa mới thở ra. Pho Lăng Ba Vi Bộ này có thể dùng bộ pháp để tu tập nội công, chân bước đủ sáu mươi tư quẻ thành một chu thiên thì nội tức cũng xoay đúng một vòng. Thành thử mỗi khi chàng đi hết một vòng thì nội công lại tiến bộ thêm một chút.

Thế nhưng Đoàn Dự không hề biết mình đang luyện nội công, chỉ mong bước đi thành thục, càng đi càng nhanh. Chàng nghĩ thầm: “Lúc đó lão Úc tát ta ngay mặt, ta từ vị trí quẻ Tỉnh sang vị trí quẻ Tụng, bước đó quả không sai nên đã tránh được cái tát, kế đó phải đi xéo qua vị trí quẻ Cổ, cũng có thể tránh được quyền đánh vào ngực. Thế nhưng ta vừa mới nghĩ đến chưa kịp bước đi thì đối phương đã đánh trúng rồi. Đó là do công phu còn chưa thuần thục. Nếu muốn dùng bộ pháp này để đối phương không túm được thì phải xuất bộ nhanh, không cần suy nghĩ gì hết. Quan trọng là ở chỗ không cần suy nghĩ mà vẫn bước đúng”.

Nghĩ như thế chàng càng ra sức luyện tập bộ pháp, ngày ngày từ sáng đến tối, trừ lúc ăn ngủ đại tiểu tiện ra, không lúc nào ngừng chân. Cũng có khi chàng nghĩ: “Ta nỗ lực luyện bộ pháp này chẳng qua chỉ nhằm trốn đi cứu Mộc cô nương, nào phải tuân theo lời dặn của thần tiên tỉ tỉ mà luyện Bắc Minh thần công?”

Chàng đâm ra áy náy lại luyện Thủ Thái Âm Phế Kinh và Nhâm Mạch, nhưng cũng chỉ tới mức cho yên tâm, còn những kinh mạch khác vẫn gác qua một bên chưa ngó ngàng gì đến.

Chàng luyện như thế được mấy ngày, Lăng Ba Vi Bộ tương đối đã thuần thục, dẫu có đi thật nhanh hơi thở cũng không có chỗ nào bế tắc. Bước chân càng nhịp nhàng, chàng vừa đi vừa nghĩ đến mấy câu có liên quan đến Lăng Ba Vi Bộ trong bài Lạc Thần Phú: Động không phép tắc, tưởng nguy mà an, tiến dừng khó biết, tưởng tới lại về (Động vô thường tắc, nhược nguy nhược an; Tiến chỉ nan kỳ, nhược vãng nhược hoàn).

Chàng thấy dường như mười sáu chữ sau cùng này là yếu chỉ của bộ pháp. Dù đã lãnh ngộ nhưng đạt tới mức đó thì còn phải khổ luyện không biết tới bao giờ. Còn như hiện tại, nếu như địch nhân giơ tay ra chộp thì cũng chưa biết có tránh được hay không, phải luyện thêm mươi bữa nửa tháng thì chắc ăn hơn. Thế nhưng chàng bấm ngón tay thấy chia tay Mộc cô nương đã đủ bảy ngày, nghĩ đến nàng chờ đợi ngày dài đằng đẵng, nên chàng quyết tâm hôm nay phải trốn. Đoàn Dự nghĩ thầm gã bộc dịch đưa cơm không biết võ công, việc lách qua người y mà đi chắc không lấy gì làm khó.

Chàng ngồi trên giường ôn lại bộ pháp, kiên nhẫn ngồi chờ. Một lát có tiếng mở khóa lách cách, rồi tiếng chân người đi, người đầy tớ bưng mâm cơm vào. Đoàn Dự chậm rãi đi tới, đột nhiên giơ tay hất một cái, bao nhiêu cơm canh rau dưa đổ loảng xoảng văng lên mặt gã. Gã bộc dịch vừa kêu: “Ối…” chàng đã nhanh chân lẻn ngay ra cửa. Ngờ đâu Úc Quang Tiêu đang đứng bên ngoài, nghe tiếng kêu của gã đầy tớ vội vàng chạy tới. Cửa hẹp, hai người đâm sầm vào nhau. Đoàn Dự từ bộ vị quẻ Dự bước sang quẻ Quan, đang định lẻn ngang hông y mà ra, ngờ đâu chân trái vấp ngay vào bậc cửa.

Việc xảy ra thật ngoài dự liệu. Lăng Ba Vi Bộ không chú thích rõ “khi vấp phải bậc cửa, chân cao chân thấp thì phải làm sao?” nên chàng lỡ trớn, bộ vị kế tiếp quẻ Tỉ lại giẫm lên bàn chân Úc Quang Tiêu. Cái việc “đạp lên chân người ta, đối phương kêu lên oai oái thì phải làm sao?” cũng không ghi trong bí quyết quyển trục. Chắc hẳn là do nữ thần trên sông Lạc Thủy uyển chuyển cất bước trên mặt sóng, không phải lo gì đến chuyện vấp phải ngạch cửa, hay dẫm lên chân người khác như ở trên đất liền. Đoàn Dự chưa kịp hoảng hốt đã thấy cổ tay bị nắm chặt, Úc Quang Tiêu đã lôi chàng trở vào.

Mấy ngày dự liệu ngờ đâu khi gặp việc đều sai bét, Đoàn Dự trong bụng hỡi ôi, vội vàng ra sức vùng vẫy, giằng tay ra. Thế nhưng năm ngón tay Úc Quang Tiêu nắm chặt cổ tay chàng, làm sao mà mở ra cho được?

Đột nhiên Úc Quang Tiêu kêu “Ối” một tiếng thấy ngón tay tê đi, bàn tay lỏng ra, hắn vội vàng vận kình bóp lại cho chặt nhưng rồi mềm nhũn lại ngay. Y cất tiếng chửi: “Con bà nó!”, cố gắng ra sức một lần nữa nhưng trong chốc lát bàn tay cánh tay đều tê dại. Y có biết đâu khi Đoàn Dự giơ tay ra giằng tay y ra, khéo làm sao huyệt Thiếu Thương trên ngón tay cái chàng lại đụng ngay huyệt Thiếu Thương trên ngón tay cái y, y lại vận sức siết cổ tay Đoàn Dự khiến cho nội lực ào ào chảy vào ngón tay cái của đối phương. Mỗi lần y vận kình, nội lực lại giảm sút đi một chút.

Đoàn Dự không hiểu nguyên do, chỉ thấy tay đối phương khi chặt khi lỏng, chàng cố tìm cách luồn được ngón tay vào giữa ngón tay cái của y và cổ tay mình để nạy cho ra.

Hôm trước Úc Quang Tiêu đánh chàng một quyền, nội lực từ cú đấm đó tích vào khí hải nơi huyệt Đản Trung. Một quyền đó nội lực chẳng bao nhiêu, nhưng Đoàn Dự đã dẫn được xuôi theo Thủ Thái Âm Phế Kinh và Nhâm Mạch, đả thông hai mạch này. Bây giờ nội lực của Úc Quang Tiêu cứ theo cái thông đạo đó chầm chậm đổ vào khí hải của chàng, chính là yếu chỉ Bách Xuyên Hối Hải (trăm sông đổ vào biển) trong Bắc Minh thần công. Nếu như hai người cùng không ra sức, hai ngón tay cái chỉ nhẹ nhàng chạm vào nhau, Đoàn Dự không biết Bắc Minh thần công thì không thể nào hút nội lực của y được. Thế nhưng lúc này hai bên cùng hết sức vận kình, bao nhiêu nội lực trong người Úc Quang Tiêu đẩy vào người chàng qua huyệt Thiếu Thương, tưởng như rượu trong bình rót xuống chén, cái chén không muốn chứa cũng không được.

Lúc đầu nội lực Úc Quang Tiêu hơn xa Đoàn Dự, nếu như y biết rõ nguyên do buông tay lùi lại thì cùng lắm là Đoàn Dự chạy thoát mà thôi. Thế nhưng họ Úc nhận lệnh canh gác lẽ nào lại để cho gã mặt trắng này đào tẩu? Y thấy cánh tay tê dại lại càng thúc đẩy kinh lực, một tay nắm không xong lại vươn tay trái ra chộp luôn cánh tay chàng. Như thế nội lực lại càng tuôn ra nhanh hơn, chẳng mấy chốc đến một nửa nội lực toàn thân đã trút vào người Đoàn Dự.

Một bên tăng một bên giảm, lát sau kình lực y không bằng Đoàn Dự nữa, nội lực càng chảy càng nhanh, sau cùng chẳng khác gì để bị vỡ, nước sông ào ào như thác. Đoàn Dự tuyệt nhiên không biết gì, tay vẫn nắm chặt tay đối phương, trong bụng hoang mang, đâu có ngờ rằng việc “mình nạy tay y ra” lại trở thành “mình khư khư nắm lấy tay địch”.

Úc Quang Tiêu thấy toàn thân rã rời, sợ quá kêu lên: “Ngô sư đệ, Ngô Quang Thắng! Mau ra đây!” Lúc ấy Ngô Quang Thắng đang ở trong nhà xí, nghe thấy sư ca hoảng hốt gọi, vừa kéo quần vừa chạy ra. Úc Quang Tiêu kêu lên: “Tiểu tử này định trốn, ta… ta giữ y không nổi.” Ngô Quang Thắng buông quần định xông lên tiếp tay đè Đoàn Dự xuống. Úc Quang Tiêu kêu lên: “Ngươi kéo ta ra trước đã!”, trong giọng y dường như có chen tiếng khóc.

Ngô Quang Thắng vội đáp: “Vâng!” Y giơ tay nắm hai vai sư huynh toan nhấc y lên, đồng thời hỏi: “Sư ca bị thương ư?”, trong bụng thầm nghĩ sư huynh mình võ công cao siêu lẽ nào không giữ nổi một gã thư sinh trói gà không chặt. Y vừa mở miệng lập tức thấy hai cánh tay rã rời như không còn sức, vội vàng nhấc lên lại thấy cánh tay mềm nhũn tê dại. Thì ra lúc này Đoàn Dự đã hút hết sạch nội lực của Úc Quang Tiêu, tiếp tục hút đến Ngô Quang Thắng, thân thể Úc Quang Tiêu biến thành ống dẫn.

Đoàn Dự thấy đối phương có thêm người, bàn tay Úc Quang Tiêu nắm cổ tay mình bỗng mạnh hẳn lên, trong lòng càng hoảng, ra sức bẻ ngón tay y ra. Ngô Quang Thắng thấy chân tay uể oải, người như trôi bồng bềnh, luôn mồm kêu lên: “Lạ thật! Lạ thật!” nhưng vẫn không chịu buông tay ra.

Gã đưa cơm thấy ba người đè nhau thành một đống, hai gã Úc Ngô mặt mày kinh hoàng như gặp ma, y vội vàng chạy ra ngoài gào lên: “Có ai ra ngay đây, thằng lỏi mặt trắng họ Đoàn đang tính chạy trốn.”

Các đệ tử của Vô Lượng Kiếm nghe y hô hoán, lập tức có hai người chạy đến, kế đó lại thêm ba người khác nữa, nhao nhao hỏi dồn: “Gì thế? Tiểu tử đó đâu?” Khi đó Đoàn Dự đang bị hai gã Úc Ngô đè lên nên bọn vừa chạy đến không thấy chàng.

Úc Quang Tiêu lúc này thở không ra hơi, hết nói năng gì được, còn Ngô Quang Thắng thì nội lực mười phần đã mất hết tám, hổn hển nói: “Úc sư ca đã… đã bắt được y rồi, mau… mau đến tiếp tay.”

Lập tức có hai tên xông tới, mỗi đứa cầm một bên tay Ngô Quang Thắng, vừa nắm được cánh tay liền thấy tê đi, nội lực hai người truyền qua Ngô Quang Thắng sang Úc Quang Tiêu, rồi lại từ Úc Quang Tiêu truyền sang người Đoàn Dự. Lúc này huyệt Đản Trung của Đoàn Dự đã tích trữ nội lực của hai gã Úc Ngô nên hơn hẳn hai gã vừa tới. Hai người đó vừa thấy tay chân bải hoải nên lập tức đẩy mạnh kình lực, nhưng vừa vận sức thì nội lực lại tuôn ra ào ào truyền vào người Đoàn Dự. Trong thân thể Đoàn Dự tích trữ nội lực càng nhiều, sức hút càng nhanh, lúc trước chỉ ri rỉ như mạch nước len qua kẽ đá, nay thì cuồn cuộn như Hoàng Hà.

Ba tên còn lại thấy kỳ lạ, một gã cười hỏi: “Các ngươi chơi trò gì thế? Trồng tháp người hay sao?”, giơ tay nắm lấy, vừa đụng vào hai tay liền dính chặt, kêu lên: “Tà môn! Tà môn!” Hai gã còn lại lập tức xông lên. Ba người cùng ra sức gỡ những người kia ra những cổ tay cánh tay hoàn toàn không có chút hơi sức nào cả. Bảy tên đệ tử của Vô Lượng Kiếm đè lên nhau chặn cứng cái cửa hẹp, Đoàn Dự nằm dưới không còn thở nổi. Chàng thấy không cách gì chạy thoát nên đành đầu hàng rồi tính sau, kêu lên: “Thả ta ra, ta không chạy đâu!” Thế nhưng nội lực đối phương vẫn tiếp tục tràn vào khiến cho huyệt Đản Trung chàng như bị nghẹn cứng không thể nào chịu nổi, lồng ngực như muốn nổ tung. Chàng buông tay Úc Quang Tiêu ra nhưng khổ nỗi tháp người đè lên tay y dính vào ngón tay cái của chàng không cục cựa được, chỉ tiếp tục kêu: “Đè chết ta rồi! Đè chết ta rồi!”

Úc Quang Tiêu và Ngô Quang Thắng lúc này chỉ còn thoi thóp, năm người vừa chạy đến cũng đang tá hỏa tam tinh, càng kinh hãi lại càng gắng sức nhưng cố bao nhiêu nội lực lại tuôn ra nhiều bấy nhiêu.

Tám người dồn thành một khối, trong đó hai người im lặng, sáu người kêu gào rộn cả lên, chẳng ai nghe ai. Một lúc sau chỉ còn bốn người la hét, rồi xuống còn ba. Sau cùng chỉ còn mình Đoàn Dự kêu: “Đè chết ta mất, mau thả ta ra, ta không chạy đâu!” Chàng kêu một câu thì lại bớt tức ngực một chút, nên mồm không ngớt gào thét. Tuy bị đè nặng nhưng sức chàng không kiệt, càng lúc kêu càng to.

Đột nhiên có tiếng người quát: “Con mụ kia bắt con ta chạy mất rồi, tất cả đuổi theo. Bốn người các ngươi chặn cửa chính, ba người các ngươi nhảy lên mái nhà canh chừng, còn bốn tên kia chặn cửa đông, năm tên này chặn cửa tây. Không được để con mụ đó ôm con ta trốn thoát.” Tuy y quát tháo ra lệnh nhưng nghe giọng đầy nỗi kinh hoàng.

Đoàn Dự văng vẳng nghe thấy tiếng của Tả Tử Mục, trong đầu liền nghĩ: “Sao lại có mụ đàn bà nào vào ăn trộm con y? À, chắc là Mộc Cô nương đến cứu ta, ăn trộm con y để đổi lấy ông chồng theo kiểu dắt bò đổi lấy ngựa, cách đó quả là không dở”. Chàng bèn ngừng lại không kêu la nữa. Đoàn Dự định thần được, thấy năm ngón tay Úc Quang Tiêu nắm mình đã lỏng ra, dùng sức quẫy mấy cái. Bảy người đè lên chàng lịch bịch rơi xuống.

Đoàn Dự mừng quá nghĩ: “Mộc cô nương ăn trộm mất con của sư phụ bọn chúng, ai nấy hoảng hốt không còn nghĩ tới chuyện bắt ta nữa”. Chàng bèn chui trong đống người ra, trong bụng ngạc nhiên: “Sao chúng nằm bên dưới đất thế này? Đúng rồi, chắc họ sợ sư phụ quở phạt nên giả bộ bị thương”.

Thế nhưng chàng đâu có thì giờ mà suy luận xem giả thuyết của mình có hợp tình hợp lý không, lập tức co giò bỏ chạy, có nằm mơ cũng không ngờ được rằng đã hút hết nội lực của bảy tên đệ tử Vô Lượng Kiếm.

Đoàn Dự ba chân bốn cẳng chạy ra phía sau nhà, thật chẳng còn nhớ được đang ở phương vị Ký Tế hay Vị Tế. Những gì Khinh vân tế nguyệt, Lưu phong hồi tuyết… chẳng qua chỉ là Tào Thực vẽ vời, chứ chàng thì lúc này hớt hải như chó mất chủ, bụng vừa mừng vừa sợ như cá lọt lưới, chung quanh thấy đầy đệ tử Vô Lượng Kiếm lăm lăm trường kiếm, chạy động chạy tây kêu la: “Đừng để con mụ đó chạy thoát!” “Mau đoạt lại tiểu sư đệ!” “Ngươi đuổi bên kia, ta qua bên này!” Chàng nghĩ thầm: “Cái kế dắt bò đổi ngựa của Mộc Cô nương đã chuyển thành điệu hổ ly sơn, lại càng tuyệt diệu, Thôi thì ta cứ tẩu vị thượng sách mà làm”. Chàng chui luôn vào trong bụi cỏ rậm, bò được hơn chục trượng nghĩ thầm: “Ta dùng cả chân tay, phải gọi là Lăng Ba Vi… Bò mới đúng”.

Tiếng kêu la xa dần, chàng thấy không ai đuổi theo nên đứng thẳng lên nhắm hướng rừng rậm đằng sau núi mà chạy. Hồi lâu vẫn không thấy mỏi mệt, trong bụng thấy hơi lạ, nghĩ thầm: “Ta chớ có quá sợ hãi mà kiệt sức mất”. Chàng bèn ngồi dưới một gốc cây, nhưng chỉ thấy toàn thân sinh lực tràn trề, cần gì phải nghỉ?

Chàng lại nghĩ: “Người ta khi gặp chuyện vui thì tinh thần đâm ra sảng khoái, nhưng rồi về sau mới thấy chịu không nổi. Quẻ Chấn hào lục nhị có viết là: Vật trục, thất nhật đắc (mất đừng cố đuổi, bảy ngày lại được). Hôm nay đúng là mình bị khốn khổ bảy ngày. Hai chữ vật trục phải ghi nhớ kỹ”.

Chàng bèn đem nội lực tích trữ được trong huyệt Đản Trung từ từ đẩy vào Thủ Thái Âm Phế Kinh nhưng vì nội lực quá nhiều đưa mãi không hết, lát sau bỗng thấy sợ hãi: “Việc này xem ra kỳ lạ, cố gắng quá chắc có nguy hiểm”. Ngực đã bớt tức nên chàng ngừng lại không vận khí nữa, đứng lên đi tiếp, nghĩ thầm: “Ta phải tìm gặp Mộc cô nương để cho cô ta biết là mình đã chạy được rồi, mau mà trả con của Tả Tử Mục lại để cho y khỏi lo lắng nhớ mong”.

Đi được chừng một dặm nghe thấy mấy tiếng chít chít, trước mắt thấy bóng xám tro thấp thoáng, một con thú nhanh nhẹn dị thường vụt qua. Con vật chạy nhanh quá nên nhìn không rõ, nhưng loại thú nhỏ mà nhanh như thế thì nhất định phải là con thiểm điện điêu của Chung Linh rồi. Đoàn Dự mừng lắm nghĩ thầm: “Chung cô nương đi kiếm khắp nơi, thì ra chú mày chạy tới tận đây. Để ta bồng người đem về trả lại cho chủ, cô nàng chắc là khoái lắm.” Chàng bắt chước Chung Linh huýt sáo miệng mấy tiếng.

Bóng xám vụt một cái, một con vật từ trên cao nhảy xuống trước mặt chàng chừng một trượng, đôi mắt long lanh chuyển động, chăm chăm nhìn chàng, quả đúng là con thiểm điện điêu. Đoàn Dự lại huýt thêm mấy tiếng nữa, con chồn tiến lên mấy bước, nằm phục trên mặt đất không động đậy.

Đoàn Dự kêu khẽ: “Chồn ngoan ơi! Để ta đem ngươi về với chủ nhé.” Chàng vừa huýt sáo vừa tiến lên, con thiểm điện điêu vẫn không cử động. Đoàn Dự biết rằng con chồn này chạy nhanh như gió, răng có chất độc, nhưng đối với chủ nhân thì mười phần dễ bảo. Đôi mắt linh hoạt của nó xoay chuyển không ngừng trông thật dễ thương. Chàng huýt sáo mấy tiếng, lại gần thêm mấy bước, chậm rãi ngồi xuống nói: “Điêu nhi ngoan quá!” rồi từ từ đưa tay ra vỗ vỗ lưng nó, con chồn vẫn nằm yên không cử động. Đoàn Dự vuốt nhẹ lên sống lưng mềm mại mượt mà của con vật, dịu dàng nói: “Chồn ngoan ơi, mình đi về nhà nhé!” Tay trái chàng lòn xuống bụng toàn bồng con thiểm điện điêu lên. Đột nhiên chàng thấy hai tay giật mạnh một cái, tiếp theo đùi trái đau nhói, bóng xám thấp thoáng, con chồn đã chạy vụt ra ngoài một trượng rồi dừng lại, đôi mắt nhỏ long lanh nhìn chàng. Đoàn Dự kinh hãi kêu lên: “Ối chao! Ngươi cắn ta rồi!” Chỉ thấy ống quần bị rách một lỗ nhỏ, vội vén quần lên thấy bên trong đùi có hai vết răng, máu tươi rướm ra.

Chàng nhớ lại cảnh Tư Không Huyền bang chủ Thần Nông Bang tự chặt cánh tay, sợ đến mất hết hồn vía, chỉ biết ấp úng: “Ngươi… ngươi… không biết phải quấy gì cả! Ta là bạn của chủ ngươi mà! Chết ta rồi!” Chàng thấy chân trái ê ẩm, quì phục xuống đất, hai tay bóp chặt bên trên vết thương để chặn cho chất độc khởi chạy lên. Tiếp theo chân phải chàng cũng tê đi, liền ngã lăn ra. Chàng kinh hoàng chống hai tay xuống đất toan đứng lên, nhưng cánh tay rồi cũng cứng đơ không còn hơi sức gì nữa. Chàng bò lết về trước mấy bước, con thiểm điện điêu vẫn đứng yên chăm chăm nhìn chàng.

Đoàn Dự thầm kêu khổ: “Ta quả là ẩu quá, con chồn này do Chung cô nương nuôi dưỡng, chỉ nghe một mình nàng thôi. Chắc là ta huýt sáo không đúng giọng. Thế… thế thì làm sao đây?”, Chàng biết rằng tốt nhất là học theo Tư Không Huyền, rút dao chặt luôn chân trái. Thế nhưng trong tay chàng không có đao kiếm, cũng không quyết đoán dũng cảm như y, lại vừa mới học xong Lăng Ba Vi Bộ, nếu như mất đi một chân thì chỉ có nước thi triển môn Lăng Ba Vi… Lò Cò, thật là vô vị.

Chàng tự oán trách một hồi, chân tay và thân mình dần dần cứng lại, biết rằng chất độc đã lan ra khắp người, sau cùng thì mắt cũng mở trừng trừng, mồm há hốc không ngậm lại được. Tuy nhiên thần trí chàng vẫn còn tỉnh táo, nghĩ thầm: “Ta chết như thế này, hình dáng thật là bất nhã khó coi, mồm mở toang hoác không biết giống như quỉ khờ hay quỉ đói? Thế nhưng trong trăm điều hại cũng được một điều hay, Mộc Cô nương nếu như thấy cái xác ta thè lưỡi trợn mắt lại quần rách hở mông, ghê tởm muốn mửa, lòng nhớ nhung ắt sẽ giảm đi nhiều. Như thế cũng có đôi chút lợi ích cho nàng.”

Bỗng nghe mấy tiếng oang oang rền vang, tiếp theo mấy tiếng bạch bạch, từ trong cỏ rậm nhảy ra một con vật khiến cho Đoàn Dự càng kinh hãi thêm: “Chao ôi, Vạn độc chi vương Mãng Cổ Chu Cáp đến rồi. Hai gã kia nói nếu nhìn thấy con này toàn thân sẽ hóa thành một đống máu bầy nhầy, biết làm thế nào?” Thế nhưng chàng lại nghĩ ngay: “Thật là dở hơi? Một đống máu với cái xác hở mông há hốc mồm có khác gì nhau, cái nào đẹp hơn cái nào? Thà là một đống máu bầy nhầy còn hơn cái xác xấu xa.”

Chàng chỉ nghe oang oang liên tiếp, con vật đã nhảy đến bên cạnh; nhưng cổ chàng cứng đơ rồi nên không sao quay đầu nhìn nó được, có muốn biến thành một đống máu ngay cũng không xong. Lại nghe mấy tiếng bạch bạch, con vật đã nhảy tới chỗ con thiểm điện điêu. Đoàn Dự kinh ngạc vạn phần, thấy đó chỉ là một con nhái nhỏ xíu, dài chừng hai tấc, toàn thân đỏ như máu, đôi mắt lấp lánh kim quang. Con nhái há mồm, làn da mỏng bên dưới cổ rung động, một tiếng oang oang như bò rống nổi lên. Con vật bé xíu mà lại kêu lớn đến vậy, nếu không chính mắt trông thấy thì chẳng ai dám tin. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Cái tên của nó nghe thật đúng, tiếng kêu thì như bò mộng, thân hình thì đỏ như son, tên Mãng Cổ Chu Cáp là phải rồi. Tuy nhiên bảo là vừa thấy nó lập tức biến thành một đống máu là sai. Mang Cổ Chu Cáp hẳn là cái tên người nào đó đã từng gặp nó đặt cho. Thế nhưng nếu đã thành một đống máu thì làm sao còn đặt tên cho nó được?”

Thiểm điện điêu dường như sợ con chu cáp, quay đầu định chạy nhưng lại không dám, đột nhiên tung mình xông tới. Con nhái há mồm oang oang một tiếng, một làn hơi màu đỏ nhạt phun thẳng vào con chồn. Thiểm điện điêu đang nhảy ở trên không bị phun trúng hơi độc liền rơi xuống, lại xông lên cố đớp vào lưng con chu cáp. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Hóa ra con chồn vẫn ghê gớm hơn”. Ngờ đâu chàng vừa nghĩ thế, con chồn đã ngã lăn ra, bốn chân giãy giây vài cái rồi không còn cử động gì nữa.

Đoàn Dự trong bụng kêu lên: “Chết rồi!”. Con chồn này tuy cắn chàng sắp chết, nhưng chàng hiểu lỗi ở mình chưa biết sai bảo con vật mà đường đột đụng vào nó, chứ bụng không oán trách gì con chồn dễ thương kia. Nay thấy con vật chết tươi, trong bụng xót xa: “Nếu như Chung cô nương biết được, nàng sẽ đau lòng đến chừng nào?”.

Chỉ thấy con chu cáp nhảy lên cái xác con thiểm điện điêu, ghé miệng hút má bên trái, xong lại hút má bên phải, Đoàn Dự nghĩ thầm: “Mãng Cổ Chu Cáp được gọi là vua của mọi loại độc, quả thật danh bất hư truyền. Răng con chồn có chất kịch độc, cắn vào người nó có khác gì tự uống thuốc độc mà chết, bây giờ con chu cáp lại đi hút túi chất độc của con điêu này. Thiểm điện điêu dĩ nhiên lanh lợi dễ thương, con chu cáp cũng thân đỏ như son, mắt vàng sáng chóe thật là đẹp đẽ. Những gì bên ngoài càng mỹ lệ, bên trong lại càng độc địa kinh hồn. Ây chết, thần tiên tỉ tỉ ơi, ta không nói tới tỉ tỉ đâu!”.

Con chu cáp nhảy từ trên mình con chồn xuống, lại oang oang mấy tiếng. Bỗng trong đám cỏ có tiếng sột soạt, chui ra một con rết lớn màu đen vằn đỏ, chân dài đến bảy tám tấc. Con nhái đỏ liền xông lên nhưng con rết kia bò thật nhanh, lập tức bỏ chạy. Chu cáp vồ luôn mấy lượt đều không trúng, liền oang oang một tiếng toan phun sương độc, con rết bỗng nhảy vọt lên rơi thẳng vào trong mồm Đoàn Dự lúc này đang há hốc.

Đoàn Dự sợ quá nhưng khổ nỗi không cử động được, ngay cả ngậm mồm lại cũng không xong, trong bụng kêu thầm: “Ôi, đây là cái miệng của ta, lão huynh lại tưởng lầm là hang rết…” Nghe sột soạt, con rết kia chẳng nể nang gì bò luôn qua lưỡi chàng chui tọt xuống. Đoàn Dự dường như muốn xỉu, chỉ thấy cổ họng rồi thực quản ngứa ngáy, con rết đã vào hẳn trong bụng chàng rồi.

Họa vô đơn chí. Mãng Cổ Chu Cáp cũng nhảy lên, ngồi chồm chỗm ngay trên lưỡi chàng, tiếp theo là cổ họng lạnh toát, con nhái cũng chui vào đuổi theo con rết. Con nhái da trơn tuột, chui xuống còn nhanh hơn. Đoàn Dự nghe như trong bụng mình có mấy tiếng oang oang, âm thanh uất nghẹn, thấy rằng trên đời này thật không còn gì bi thảm hơn, mà cũng không gì tức cười bằng, vừa muốn khóc òa lên, lại vừa muốn cười hô hố. Thế nhưng bắp thịt đã cứng đờ rồi làm gì còn phát được thanh âm? Chàng đứng yên bất động, nước mắt đầm đìa.

Chỉ trong khoảnh khắc, trong bụng chàng sôi lên sùng sục thật là khổ sở, cũng chẳng biết con nhái đã bắt được con rết chưa, chỉ biết kêu thầm: “Chu cáp nhân huynh, mau mau bắt anh chàng rết rồi chui ra đi. Ở trong bụng của tại hạ có gì vui thú đâu!” Một lúc sau, trong bụng không còn thấy lục cục gì nữa, đến tiếng oang oang cũng không nghe nhưng càng đau đớn hơn nhiều.

Thêm một lát nữa, miệng chàng bỗng ngậm lại được, răng cắn ngay phải lưỡi đau nhói, đầu lưỡi liền rụt trở vào. Chàng vừa mừng vừa sợ, kêu lên: “Chu cáp nhân huynh, xin mau mau ra cho.” Chàng há mồm cho con nhái nhảy ra, đợi một lúc lâu vẫn không nghe động tĩnh gì. Chàng lại kêu lên: “Oang oang, oang oang” dụ cho con chu cáp chui ra, nhưng không biết con nhái đó nghe mà không thèm để ý hay vì chàng lại bắt chước không đúng giọng, nó chẳng buồn trồi lên, cứ nằm yên trong bụng.

Đoàn Dự bồn chồn thò tay vào móc đi móc lại trong mồm, bỗng nhớ ra: “Té ra tay ta cử động được rồi!”. Chàng vươn vai đứng lên, cảm giác tê dại của chân tay không biết biến mất từ bao giờ. Chàng kêu lên: “Lạ thật! Lạ thật!”, lại nghĩ thầm: “Cái anh chàng vạn độc chi vương này chắc ở luôn trong bụng ta, tính chuyện sinh cơ lập nghiệp lâu dài, phải làm gì đây? Bắt buộc phải mời y dọn nhà đi nơi khác thôi”. Chàng bèn chống hai tay xuống đất, hai chân đưa lên trời tựa vào một cây to, há mồm cố sức lắc người một hồi lâu nhưng vẫn không nghe động tĩnh gì của con nhái đỏ, dường như nó đã…quyết ở lại trong bụng chàng.

Đoàn Dự không biết làm sao, đành tự nhủ: “Chắc là anh chàng vạn độc chi vương này và con rết kia đã biến thành thức ăn trong bụng ta, dĩ độc công độc, thành ra giải được chất độc của con chồn. Ta ăn phải những con vật kịch độc như thế mà không thấy đau bụng nữa, thật là lạ lùng”. Thật ra chất độc của rắn rết tan vào máu thì sẽ chết ngay, nhưng ăn vào trong bụng, nếu trong đường tiêu hóa không có vết thương thì lại không sao. Khi người ta bị rắn độc cắn vẫn có thể dùng mồm hút máu độc ra. Có điều chất độc trong thiên hạ thiên biến vạn hóa, không thể một lời mà nói hết được. Con Mãng Cổ Chu Cáp tuy là loại kỳ độc nhưng vào trong dạ dày lại bị chất dịch vị tiêu hóa. Đối với con nhái đó thì chính chất cường toan trong ruột mới thực là chất độc, biến nó thành một vùng máu bầy nhầy.

Đoàn Dự đứng lên đi tới vài bước, bỗng thấy trong bụng có một làn hơi nóng như lửa đốt, không khỏi kêu lên: “Chao ôi!” Làn hơi nóng đó chạy đông chạy tây không sao tống ra được. Chàng há miệng định nôn nhưng không được, hít một hơi dài, ra sức khạc mạnh chỉ mong chất độc con chu cáp theo đó mà ra, ngờ đâu vừa hít thì làn hơi đó biến thành một dây khí nóng, chầm chậm chui vào Nhâm Mạch. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Hay thật, thôi thì một liều ba bảy cũng liều. Chu cáp lão huynh ơi, hồn ma lão huynh quấn quít tại hạ, thôi thì khí hải nơi huyệt Đản Trung của ta chắc là nơi an nghỉ nghìn thu của lão huynh rồi. Nếu như lão huynh muốn hạ độc giết ta, Đoàn Dự này cung kính không bằng tuân mạng”. Chàng theo đúng phương pháp thổ nạp, làn hơi ấm quả nhiên theo các đường kinh mạch chạy vào khí hải ở huyệt Đản Trung, cũng không thấy gì khác lạ.

Đoàn Dự loay hoay mất cả nửa ngày mà không thấy mệt mỏi, bèn kiếm đất đá vùi xác con thiểm điện điêu lại, khấn thầm: “Thiểm điện điêu tiểu đệ ơi, lần sau ta sẽ dẫn Chung cô nương tới đây tảo mộ, bắt vài con rắn độc cúng mi. Vừa rồi mi cắn ta một cái là do vô tâm, ta không mách lại với chủ ngươi đâu. Tiểu đệ cứ an tâm, đừng sợ nàng trách.”

Chàng ra khỏi khu rừng, chẳng mấy chốc đã gặp Tả Tử Mục cầm kiếm chạy thục mạng, nghĩ thầm: “Y đang đuổi theo Mộc cô nương, ta không thể đứng ngoài được”. Nghĩ thế bèn len lén đuổi theo sau, lúc này trong người chàng đã có nội lực của bảy tên đệ tử Vô Lượng Kiếm nên không mất nhiều sức đã lên được trên núi. Tả Tử Mục lo lắng cho an nguy của đứa con nên không để ý có người đuổi theo. Đoàn Dự thì sợ y quay lại bắt mình đem đến đổi chác với Mộc Uyển Thanh nên giữ khoảng cách thật xa. Đến lưng chừng núi, chàng nghĩ mình sắp gặp lại Mộc Uyển Thanh lòng không khỏi rộn ràng, lại sợ Nam Hải Ngạc Thần đợi lâu không được đã giết nàng mất rồi, nhịn không nổi bèn gọi toáng lên.

Comments

comments


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.