Tuyết Sơn Phi Hồ

Hồi 05

trước
tiếp

Bảo Thụ đã kể xong câu chuyện, cả gian đại sảnh im phăng phắc. Quần hào tuy đều là những người lòng dạ sắt đá, nhưng nghe kể về cái chết khảng khái của vợ chồng Hồ Nhất Ðao thì đều cảm thấy thương cảm.

Bỗng giọng của một thiếu nữ cất lên:

– Bảo Thụ đại sư! Tại sao câu chuyện tiểu nữ được nghe lại khác chút ít với lời kể của đại sư?

Mọi người cùng quay lại nhìn, thì thấy Miêu Nhược Lan. Ai nấy đều chăm chú lắng nghe Bảo Thụ kể chuyện, nên không để ý nàng đã ra đại sảnh từ lúc nào.

Bảo Thụ nói:

– Thời gian trôi qua đã lâu, e rằng có những chỗ lão nạp đã nhớ nhầm. Không rõ lệnh tôn đã kể lại thế nào?

Miêu Nhược Lan nói:

– Mọi điều phần đầu câu chuyện gia phụ kể cho tiểu nữ nghe đều đúng như đại sư vừa kể, chỉ khác về các tình tiết quanh cái chết của Hồ bá bá và Hồ bá mẫu thôi.

Bảo Thụ hơi đổi sắc mặt, chỉ “ừ ” một tiếng mà không hỏi han gì thêm. Ðiền Thanh Văn nói:

– Miêu cô nương, lệnh tôn đã kể như thế nào?

Miêu Nhược Lan mở chiếc hộp bọc gấm đeo bên người, lấy ra một nén hương màu tro nhạt, châm lửa rồi cho vào lư hương. Mọi người đều ngửi thấy mùi hương dịu lan tỏa thoang thoảng. Vẻ mặt Miêu Nhược Lan trang nghiêm trịnh trọng, nói:

– Từ hồi còn nhỏ, mỗi khi mùa đông tới là tiểu nữ thấy gia phụ có vẻ buồn bã không vui. Tiểu nữ cố trêu chọc thế nào gia phụ vẫn cứ như vậy, khó mà làm gia phụ cười lên được. Mỗi năm cứ gần đến tết, gia phụ đều vào gian phòng nhỏ thắp hương cúng kiến hai bài vị: một bài vị viết rằng “Nghĩa huynh Hồ công Nhất Ðao đại hiệp, chi linh vị”, bài vị kia viết “Nghĩa tẩu Hồ phu nhân chi linh vị”. Bên cạnh bài vị, còn đặt một thanh đao đã hoen gỉ nhiều, không có gì đặc biệt. Gia phụ thường bảo nhà bếp làm một mâm cỗ đầy, rót mười mấy bát, từ ngày hăm hai tháng chạp trở đi, liền năm ngày, tối nào gia phụ cũng uống mười mấy bát rượu bên cạnh bàn thờ. Uống xong thường bưng mặt khóc thảm thiết.

Lúc đầu, tiểu nữ hay hỏi gia phụ “Hồ bá bá” ghi trên bài vị là ai, gia phụ thường lắc đầu không nói. Đến một năm gia phụ bảo là tiểu nữ đã lớn, hiểu việc đời rồi, thế là gia phụ bèn kể cho tiểu nữ nghe câu chuyện gia phụ và Hồ bá bá tỉ thí võ nghệ với nhau. Cả quá trình tỉ võ, Bảo Thụ đại sư đã kể tường tận rồi.

Gia phụ và Hồ bá bá tỉ võ bốn ngày liền, cả hai người càng đấu càng thấy hợp tính nhau, không ai nỡ làm đối phương bị thương. Ðến ngày thứ năm, Hồ bá mẫu nhìn ra chỗ sơ hở phía sau lưng gia phụ, bèn ho lên một tiếng. Hồ bá bá lập tức xuất chiêu “Bát phương tàng đao” khống chế gia phụ. Bảo Thụ đại sư nói là gia phụ bỗng giở quái chiêu đánh thắng Hồ bá bá, nhưng theo gia phụ kể thì không phải như thế. Lúc ấy, Hồ bá bá đã ra tay trước, gia phụ chỉ đành bó tay chịu chết. Nhưng Hồ bá bá bỗng nhảy lùi lại, nói rằng:

– Miêu huynh! Đệ có điều này không hiểu.

Gia phụ nói:

– Đệ đã thua rồi mà. Huynh còn hỏi điều gì nữa?

Hồ bá bá hỏi:

– Kiếm pháp của huynh có đến mấy ngàn chiêu, tuyệt không chút sơ hở. Tại sao trước lúc xuất chiêu “Ðề liêu bạch hạc thư sí” thì lưng huynh lại hơi nhô lên để chuyết kinh phát hiện được?

Gia phụ thở dài:

– Khi tiên phụ dạy kiếm pháp cho đệ, người rất nghiêm khắc. Năm đệ mười một tuổi, lúc tiên phụ đang truyền cho đệ chiêu thức này, bỗng có một con rận cắn lưng đệ, rất ngứa ngáy khó chịu. Nhưng đệ không dám thò tay gãi, đành gồng lưng lên thì càng ngứa, càng khó chịu. Tiên phụ thấy đệ có cử chỉ khác lạ, cho rằng đệ học kiếm không chuyên tâm, mới nện cho đệ một trận nhừ tử. Chuyện này đệ nhớ mãi, cũng từ đó mỗi lần dùng đến chiêu kiếm này, thì tuy lưng không ngứa gì cả, nhưng đệ đã thành thói quen, cứ gồng lưng lên một cái. Phu nhân thật là tinh mắt.

Hồ bá bá cười nói:

– Đệ có chuyết kinh trợ giúp, nên không thể coi là thắng được. Hãy bắt lấy!

Nói rồi liền tung thanh đao sang cho gia phụ. Gia phụ cầm thanh đao mà không hiểu dụng ý của Hồ bá bá ra sao. Hồ bá bá lại cầm thanh trường kiếm của gia phụ, nói:

– Đã bốn ngày quần thảo, hai ta hầu như đã quá biết võ công của nhau rồi. Thế này vậy, đệ sẽ dùng Miêu gia kiếm pháp, còn huynh hãy dùng Hồ gia đao pháp, chúng ta lại quyết tranh thắng bại. Dù ai thắng ai thua cũng đều không tổn hại gì đến uy danh cả.

Nghe Hồ bá bá nói, gia phụ liền hiểu tâm ý của bá bá. Hai họ Miêu, Hồ thù oán truyền đời, bắt nguồn từ tổ tông cách đây hơn trăm năm. Gia phụ và Hồ bá bá xưa nay chưa từng gặp mặt nhau, cũng chẳng có thù hằn cá nhân gì cả. Lời đồn đại trên giang hồ thì lung tung, họ nói nội tổ của tiếu nữ và thân phụ của Ðiền Quy Nông thúc thúc đột nhiên cùng mất tích, ngay cả hài cốt chẳng đưa về quê được, đều do Hồ Nhất Ðao bá bá hạ độc thủ cả. Gia phụ nửa tin nửa ngờ, vì xưa nay vẫn nghe nói Hồ bá bá hành hiệp trượng nghĩa, việc làm của Hồ bá bá khiến nhiều người cảm phục, không đến nỗi ra tay ám hại người. Có điều, nhiều lần gia phụ tìm cách gặp mặt mà vẫn không được. Ðiền thúc thúc và Phạm bang chủ đã từng mời gia phụ cùng đi Liêu Ðông tìm kẻ thù. Gia phụ vốn rất thân tình với Phạm bang chủ, nhưng lâu nay lại xem thường tư cách của Ðiền thúc thúc. Ôi chà! Xin lỗi Ðiền tiểu thư nhé! Tiểu thư đừng quở trách, đó là gia phụ nói vậy mà! Gia phụ bảo là chẳng thà gia phụ tự mình làm việc đó, chứ không muốn liên thủ với Ðiền thúc thúc. Lần đó nghe nói Hồ bá bá vào Trung Nguyên, gia phụ mới nhận lời mời của hai nhà Phạm, Ðiền đi Thương Châu giữ Hồ bá bá lại để tỉ võ. Nhưng trước hết phải hỏi rõ Hồ bá bá một chuyện.

Sau đó, thì biết rằng nội tổ tiểu nữ và phụ thân của Ðiền thúc thúc đúng là bị Hồ bá bá sát hại. Gia phụ tuy có kính trọng khí phách anh hùng của bá bá thật, nhưng vẫn không thể không báo thù cho cha. Có điều gia phụ thực tình không muốn để cho mối thù giữa bốn nhà cứ truyền mãi từ đời này sang đời khác, và rất muốn chính tay mình sẽ kết thúc mối thù oán truyền đời đó. Nghe Hồ bá bá muốn đổi đao kiếm cho nhau để tiếp tục tỉ thí, gia phụ thấy hợp ý với mình. Vì nếu gia phụ thắng, cũng chỉ là dùng đao họ Hồ đánh bại kiếm họ Miêu mà thôi. Nếu ngược lại, Hồ bá bá thắng thì cũng chẳng qua là kiếm họ Miêu đánh bại đao họ Hồ. Việc thắng hay thua chỉ liên quan đến cá nhân, không ảnh hưởng gì đến uy danh võ công hai họ Miêu, Hồ cả.

Thế là hai người đổi binh khí rồi giao đấu tiếp. Trận kịch chiến này có khác với các trận đấu bốn ngày trước. Vì hai người tuy đều là cao thủ, nhưng binh khí và các chiêu thức đều trái với sở trường, hơn nữa mỗi chiêu thức tung ra đối phương đều thuộc lòng từ lâu rồi. Muốn dựa vào những võ công mới học của đối phương trong bốn ngày qua để khống chế đánh bại đối phương, đâu có dễ? Gia phụ nói, ngày hôm ấy là trận chiến ác liệt nhất trong đời mình. Hồ bá bá trông bộ dạng thô kệch nhưng cực kì thông minh, đã thi triển Miêu gia kiếm pháp giống như từng khổ luyện mấy năm trời vậy. Chỉ riêng việc bá bá dùng Miêu gia kiếm pháp để phá Bát quái đao của Thương Kiếm Minh là một cao thủ ở Sơn Ðông cũng quá đủ nói lên điều ấy. Gia phụ không được nhanh nhạy như Hồ bá bá, nhưng nhờ tinh thông thập bát ban võ nghệ nên tuy mới biết qua đao pháp của Hồ gia nhưng cũng không đến nỗi, vì lúc niên thiếu đã từng luyện tập đơn đao rồi. Bởi vậy, gia phụ vẫn đấu ngang với Hồ bá bá. Ðấu đến quá ngọ, cả hai đều đi những đường đao, kiếm một cách chắc chắn thận trọng, xuất thủ càng lúc càng chậm dần. Hồ bá bá bỗng nói:

– Miêu huynh! Chiêu “Bế môn thiết phiến đao” vừa rồi huynh đã ra tay quá nhanh nên kình lực không dài.

Gia phụ đáp:

– Cảm ơn huynh đã chỉ giáo, đệ cứ tưởng như thế là đủ chậm rồi chứ.

Hai người dốc hết sức lực đấu với nhau, nhưng hễ thấy chiêu nào của đối phương đánh không đạt thì đều thành thực chỉ bảo cho nhau, không hề giấu giếm. Ðánh qua đỡ lại mãi đến mấy trăm hiệp, hai người đều thấy thuần thục mọi chiêu thức. Gia phụ thấy Hồ bá bá càng đấu càng tỏ ra tinh thông Miêu gia kiếm pháp, thầm kinh ngạc, nghĩ thầm:

– Tài học kiếm của y còn hơn cả tài học đao của mình. Nếu đấu kéo dài thì căn cơ đao pháp mình đã luyện lúc thiếu niên sẽ chẳng còn nghĩa lí gì nữa, phải lập tức biến chiêu, nếu không cầm chắc phần thua mất.

Thế là gia phụ bèn xuất chiêu “Sa âu lược ba”, chiêu này vốn là chém xuống trước, rồi chém ngược lên sau, nhưng gia phụ lại cố ý biến chiêu, chém ngược lên trước rồi chém xuống sau.

Hồ bá bá sửng sốt, mới nói:

– Không đúng!

Gia phụ la lên:

– Xem đao đây!

Rồi bỗng lật ngược lưỡi đao chém lên luôn. Lần thứ hai lẽ ra chém xuống thì lại biến thành chém ngược lên. Ðó là đao pháp do gia phụ tự sáng tạo ra. Tuy xuất phát từ đao pháp Hồ gia nhưng mới lạ biến hóa huyền ảo làm đối phương bất ngờ. Nếu là một cao thủ khác đấu với gia phụ hẳn sẽ tránh được chiêu đao này; còn riêng Hồ bá bá thì quá quen thuộc với đao pháp họ Hồ, nên không ngờ gia phụ biến chiêu đột xuất tạo thành chiêu thức mới, nên Hồ bá bá không kịp trở tay. Mũi đao của gia phụ đã rạch một đường trên cánh tay trái Hồ bá bá.

Mọi người đều kinh ngạc ré lên, Hồ bá bá bất thần nhảy lên tung chân đá một cước, gia phụ ngã vật ngay xuống đất không gượng đứng lên được nữa. Hoá ra gia phụ đã bị đá trúng huyệt “Kinh mô” ở vùng thắt lưng. Phạm bang chủ, Ðiền tướng công và đám thuộc hạ của họ tề nhất xông tới. Hồ bá bá ném thanh trường kiếm trong tay, song thủ chợt co chợt duỗi, chộp từng người một ném ra xa, rồi lập tức đỡ gia phụ dậy, giải huyệt đạo cho gia phụ, cười nói:

– Miêu huynh! Huynh tự sáng tạo ra chiêu mới, quả nhiên rất lợi hại! Có điều là mỗi một chiêu thức trong Hồ gia đao pháp của đệ đều có thế phòng ngự. Huynh chém lên liền hai nhát thì không tránh khỏi bị sơ hở ở vùng thắt lưng.

Gia phụ im lặng, vùng thắt lưng bị co thắt từng hồi nên chẳng thốt ra lời. Hồ bá bá lại nói:

– Nếu huynh chẳng nể tình nhẹ tay cho thì đệ đã bị mất cánh tay trái rồi còn gì! Hôm nay coi như chúng ta vẫn hoà. Huynh về nghỉ cho khoẻ, ngày mai ta đấu tiếp, được chứ?

Gia phụ nén đau, nói:

– Hồ huynh! Đệ xuất chiêu đao ấy cố nhiên là có nhân nhượng. Nhưng dù có chém đứt tay trái của huynh thì một cước của huynh vẫn có thể lấy mạng đệ như chơi. Con người của huynh như thế quyết không thể là người ám hại gia phụ được. Huynh hãy nói thẳng cho đệ biết, thực ra cái chết của gia phụ là thế nào?

Nét mặt Hồ bá bá lộ rõ vẻ kinh ngạc:

– Chẳng phải là tiểu đệ đã nói rõ ràng với huynh rồi ư? Huynh không tin, cứ quyết đòi tỉ võ nên tiểu đệ đành liều phải mạng để bồi tiếp bậc quân tử.

Gia phụ quá ngạc nhiên, hỏi lại:

– Huynh đã nói với tiểu đệ rồi ư? Nói bao giờ?

Hồ bá bá quay đầu lại chỉ một người đứng bên, nói:

– Ngươi… ngươi…

Chỉ nói được có thế, Hồ bá bá bỗng khuỵu hai chân rồi rũ người ngã xuống đất. Gia phụ hoảng quá, vội giơ tay đỡ dậy thì thấy Hồ bá bá mặt mày biến sắc, kêu lên:

– Ðược, được lắm! Ngươi…

Rồi ngục đầu xuống, chết luôn.

Gia phụ vô cùng kinh ngạc, nghĩ rằng Hồ bá bá tráng kiện như vậy, chỉ bị một vết thương xoàng ở cánh tay, sao có thể dẫn đến cái chết được? Gia phụ ôm lấy Hồ bá bá, miệng kêu liên hồi:

– Hồ huynh! Hồ huynh!

Nhưng thấy sắc mặt Hồ bá bá chuyển dần sang màu tím, thì biết bá bá đã bị trúng độc cực mạnh rồi. Gia phụ vội xé ống tay áo của bá bá ra xem sao, thấy cánh tay đã sưng to lên gấp bội, chỗ vết thương rỉ ra toàn máu đen.

Hồ bá mẫu vừa kinh ngạc vừa bi thương, đặt đứa con xuống, cầm thanh đơn đao lên nhìn kĩ. Lúc ấy, gia phụ cũng đã biết lưỡi đao đã bị bôi thuốc cực độc. Hồ bá mẫu nhìn gia phụ trầm ngâm không nói gì, thì nói:

– Miêu đại hiệp! Thanh đao này là Hồ đại ca mượn của bạn huynh. Chuyết phu đương nhiên không biết lưỡi đao đã tẩm thuốc độc. Tiện thiếp cho rằng huynh cũng không biết việc này, nếu không thì hai người đâu thèm dùng thứ binh khí hèn hạ như vậy? Âu cũng là số phận đó thôi, chẳng trách ai được! Tiện thiếp vốn dĩ đã hứa với phu quân là tự mình sẽ nuôi nấng con cho trưởng thành, nhưng trải qua năm ngày vừa rồi, chính mắt chứng kiến Miêu đại hiệp lòng dạ hơn người, nghĩa khí nặng như sơn. Huynh đã chấp nhận chăm sóc khuyển tử rồi, thì cho phép tiện thiếp lười biếng, khỏi phải chịu đựng cảnh hai mươi năm vất vả ấy nữa.

Nói rồi, phu nhân cầm ngang thanh đao cứa cổ mình, chết ngay lập tức.

Tiểu nữ đã trực tiếp nghe gia phụ kể lại tình hình Hồ Nhất Ðao bá bá qua đời như thế. Những lời kể của Bảo Thụ đại sư lại khác quá xa. Tuy câu chuyện xảy ra đã hơn hai mươi năm, có thể có chỗ không nhớ được đầy đủ, nhưng thiết nghĩ không thể khác nhau quá xa như vậy. Không biết tại sao lại như thế?

Bảo Thụ lắc đầu thở dài, nói:

– Lúc ấy, lệnh tôn là người trong cuộc, đang dồn tâm trí để tỉ võ, e rằng lệnh tôn chưa chắc đã thấy rõ bằng người đứng ngoài.

Miêu Nhược Lan “vâng” một tiếng, cúi đầu im lặng.

Bỗng bên cạnh có một giọng khàn đục nói:

– Hai vị kể có chỗ khác nhau, vì một trong hai vị đã cố ý nói dối!

Mọi người nghe câu nói bất ngờ đó thì cùng ngoái lại nhìn. Thì thấy người nói câu ấy chính là người đầy tớ có vết sẹo bị đao chém trên mặt.

Bảo Thụ và Miêu Nhược Lan đều là khách bên ngoài đến nên tuy nghe người ấy nói năng vô lễ cũng không tiện phản ứng. Tào Vân Kỳ là người thô lỗ hơn cả, xía vào hỏi ngay:

– Ai đã nói dối?

Người đầy tớ nói:

– Tiểu nhân là kẻ thấp hèn, sao dám nói ra?

Miêu Nhược Lan nói:

– Nếu tiểu nữ nói không đúng thì đại thúc cứ nói cho rõ, đừng ngại.

Nàng nói với một thái độ bình thản, tựa như chẳng ngại gì cả.

Người hầu ấy đáp:

– Câu chuyện mà đại sư và cô nương vừa kể, lúc ấy tiểu nhân cũng được chứng kiến. Nếu các vị không hiềm chướng tai, thì tiểu nhân xin nói.

Bảo Thụ quát:

– Lúc đó ngươi cũng đích thân chứng kiến ư? Ngươi là ai?

Người hầu ấy đáp:

– Tiểu nhân nhận ra đại sư, còn đại sư thì không nhận ra tiểu nhân đấy thôi!

Bảo Thụ mặt xạm lại, trầm giọng hỏi:

– Ngươi là ai?

Người ấy im lặng không đáp, mà quay sang nói với Miêu Nhược Lan:

– Cô nương! E rằng câu chuyện tiểu nhân định kể khó mà kể hết được.

Miêu Nhược Lan hỏi lại:

– Vì sao vậy?

Người đầy tớ ấy nói:

– Tiểu nhân sợ mới nói ra được nửa chừng thì đã mất mạng rồi.

Miêu Nhược Lan nói với Bảo Thụ:

– Đại sư, trên đỉnh núi giờ khắc này, mọi việc đại sư hãy làm chủ cho. Ðại sư là bậc tiền bối võ lâm, đức cao vọng trọng, chỉ cần một lời của đại sư thì không ai dám động đến tính mạng của vị đại thúc này.

Bảo Thụ cười nhạt:

– Miêu cô nương! Cô nương khích lão nạp đấy ư?

Người hầu kia xen vào, nói:

– Tiểu nhân sống hay chết, thực cũng chẳng đáng bận tâm, nhưng chỉ e là chưa kịp nói hết những điều mình biết mà thôi.

Miêu Nhược Lan hơi trầm ngâm, rồi chỉ vào vế sau của câu đối khắc trên ván gỗ, nói:

– Phiền đại thúc hạ nó xuống cho.

Người hầu kia tuy không rõ dụng ý của Miêu Nhược Lan, nhưng cũng cứ hạ tấm ván khắc vế đối ấy xuống để trước mặt nàng.

Miêu Nhược Lan nói:

– Đại thúc cứ nhìn cho rõ đi, ở đây có khắc tên gia phụ, đại thúc cứ việc ôm tấm ván này trong tay rồi tha hồ mà nói. Nếu có ai dám động đến một sợi tóc của đại thúc, tức là y cố ý gây chuyện với gia phụ.

Mọi người đưa mắt nhìn nhau, nghĩ rằng đã có Kim Diện Phật làm bùa hộ mệnh rồi, còn ai dám hại gã nữa? Người hầu tỏ vẻ vui mừng, hơi mỉm cười. Có điều cái cười làm căng vết sẹo trên mặt nên trông gã càng kì dị hơn. Gã bèn ôm chặt lấy tấm ván.

Bảo Thụ lại ngồi xuống ghế, nhìn người hầu kia chằm chằm, cố nhớ lại câu chuyện cách đây hai mươi bảy năm, nhưng vẫn không nhớ ra được người này là ai.

Miêu Nhược Lan nói:

– Đại thúc cứ ngồi xuống mà nói.

Người hầu ấy đáp:

– Tiểu nhân xin đứng nói cũng được ạ. Xin hỏi cô nương, đứa con mà Hồ Nhất Ðao đại gia để lại sau này thế nào?

Miêu Nhược Lan khẽ thở dài, nói:

– Gia phụ thấy Hồ bá bá, Hồ bá mẫu đều đã chết thì lòng buồn vô hạn, lặng nhìn thi thể hai người cả nửa ngày, rồi quỳ xuống lạy tám lạy và nói:

– Hồ huynh! Ðại tẩu! Cả hai vị hãy yên tâm, đệ nhất định sẽ nuôi nấng lệnh lang trưởng thành.

Rồi đứng dậy quay người lại định bế đứa trẻ, chẳng ngờ không thấy nó đâu nữa. Gia phụ thất kinh, rối rít hỏi mọi người. Nhưng vì ai cũng mãi nhìn cái chết của vợ chồng Hồ Nhất Ðao bá bá, nên không để ý đến đứa trẻ. Gia phụ vội bảo mọi người mau mau tìm kiếm. Còn lão thân gia thì cố nhịn đau ở thắt lưng, đích thân dò hỏi quanh khu khách điếm. Bỗng nghe tiếng trẻ con khóc rất to phía sau nhà. Gia phụ cả mừng, vội chạy tới hướng đó, nào ngờ thắt lưng trúng một cước của Hồ bá bá đã bị thương khá nặng, cử động mạnh một cái là ngã lăn xuống đất không sao dậy nổi.

Đợi khi có người đỡ gia phụ dậy, rồi đi ra phía sau nhà thì chỉ thấy một vũng máu tươi, một cái mũ trẻ con, còn đứa trẻ thì đâu mất rồi.

Phía sau khách điếm là một con sông, nước chảy rất xiết. Mọi người thấy vết máu rơi vãi ra đến tận bờ sông, chắc là đứa bé đã bị người ta giết, ném xác xuống sông, nước sông đã cuốn đi rồi. Gia phụ vừa kinh hoàng vừa tức giận, triệu tập mọi người đến để tra hỏi kĩ, nhưng không tìm ra được hung thủ.

Sự việc ấy làm gia phụ ngày nào cũng canh cánh trong lòng, lão nhân gia lập lời thề sẽ tìm cho ra kẻ giết đứa bé. Cái năm mà tiểu nữ chứng kiến gia phụ mài kiếm, ông nói là cần phải giết một người, đó chính là tên hung thủ đó. Tiểu nữ nói với gia phụ, chưa biết chừng đứa bé ấy đã được người ta cứu vớt, vẫn còn sống cũng nên. Gia phụ nói, cầu cho được như vậy, tuy thế trong lòng lão nhân gia vẫn không thật tin. Ôi! Ðứa bé đáng thương đó, tiểu nữ mong sao nó vẫn còn sống. Có một lần, gia phụ bảo tiểu nữ rằng: “Hài tử! Ta thương yêu con còn hơn tính mạng mình. Nhưng nếu ông trời kia cho ta được đem con đi đánh đổi lấy đứa con của Hồ bá bá thì ta đành để con chết để đứa con của Hồ bá bá được sống”.

Người hầu đó bỗng mắt đỏ hoe, giọng nói nghẹn ngào như khóc:

– Cô nương! Hồ Nhất Ðao đại gia và phu nhân ở dưới suối vàng có linh thiêng hẳn sẽ rất cảm kích trước nghĩa cử cao đẹp của hai cha con cô nương.

Vu quản gia vốn tưởng người ấy là đầy tớ do Miêu Nhược Lan dẫn theo, nhưng nhìn thái độ, nghe cách hắn nói năng, thì cảm thấy là không phải. Vừa định hỏi, thì nghe người ấy cất tiếng kể câu chuyện, mọi người ngồi yên lắng nghe, nên Vu quản gia không tiện ngắt lời.

Người ấy kể:

– Hai mươi bảy năm trước, tiểu nhân làm công chuyên phụ trách đun bếp trong nhà bếp khách điếm ở tiểu trấn nọ của Thương Châu. Mùa đông năm đó, gia đình tiểu nhân gặp đại hoạ. Ba năm trước đó, phụ thân của tiểu nhân nợ Triệu tài chủ ở vùng ấy năm lạng bạc, tiền lãi ngày một chồng chất, mỗi năm tăng gấp đôi, sau ba năm số nợ thành bốn mươi lạng. Triệu tài chủ bèn bắt gia gia tiểu nhân lôi đi, ép lão nhân gia lập văn tự bán má má tiểu nhân cho hắn làm vợ bé.

Tất nhiên gia gia không chịu, thế là bị bọn thuộc hạ của Triệu tài chủ đánh đập chết đi sống lại. Lão nhân gia bò về nhà; bàn bạc với má má. Món nợ bốn mươi lạng bạc đó nếu khất thêm một năm nữa thì sẽ thành tám mươi lạng. Thế thì cả đời cũng không sao trả nổi. Gia gia má má tiểu nhân muốn tự vẫn chết cho rồi, nhưng không nỡ bỏ tiểu nhân lại. Cả nhà cùng ôm nhau khóc. Hàng ngày tiểu nhân trông coi lò bếp ở khách điếm, tối về canh chừng hai người, trong bụng phập phồng lo sợ, e hai người tự tử thật, sẽ bỏ lại tiểu nhân trơ trọi một mình trên đời này.

Một bữa tối nọ có rất nhiều người bị thương đến trọ, việc bếp núc bận rộn, ông chủ khách điếm không cho tiểu nhân về nhà đêm ấy. Hôm sau thì Hồ Nhất Ðao đại gia đến, rồi phu nhân của Hồ đại gia sinh hạ được một cháu trai nên cần đun nước nấu nướng bận rộn hơn. Thế là ông chủ khách điếm càng không cho phép tiểu nhân về. Vì nhớ và lo cho cha mẹ, tiểu nhân lóng cóng tay chân đánh vỡ luôn mấy cái bát, bị ăn mấy cái tát của ông chủ. Tiểu nhân mới đứng nép bên lò lén đứng khóc một mình. Tình cờ Hồ đại gia đi ngang qua bếp, nghe tiếng khóc bèn vào hỏi tiểu nhân bị chuyện gì. Tiểu nhân thấy lão nhân gia mặt mũi hung dữ nên sợ không dám nói. Hồ đại gia càng hỏi tới thì tiểu nhân càng khóc dữ hơn. Sau đấy, lão nhân gia ôn tồn gặng hỏi mãi, tiểu nhân mới kể lại chuyện gia đình mình.

Hồ đại gia rất tức giận, nói:

– Cái tên họ Triệu này hoành hành bá đạo như thế, thật là quá quắt. Lẽ ra phải cho nó một đao mới được, nhưng hiện giờ ta còn đang bận việc nên không có thì giờ tính sổ với hắn. Ta cho tiểu huynh đệ một trăm lạng bạc về đưa cho gia gia để trả nợ. Số bạc thừa giữ lấy liệu mà sống qua ngày. Chớ bao giờ đi vay của các tài chủ nữa, nghe chưa?

Tiểu nhân tưởng lão nhân gia nói đùa để dỗ tiểu nhân, ai đè ngài đưa cho tiểu nhân năm đĩnh bạc Ðại nguyên bảo thật. Tiểu nhân khi nào dám lấy? Hồ đại gia mới nói:

– Hôm nay, ta sinh được đứa con trai, ta yêu quý nó lắm, ta nghĩ rằng gia gia và má má tiểu huynh đệ cũng thương tiểu huynh đệ như vậy. Hãy mau về đi. Ta sẽ nói với chủ quán là ta bảo tiểu huynh đệ về nhà, ông ta không dám làm gì đâu.

Tiểu nhân đứng ngây người hồi lâu nhìn lão nhân gia, tim cứ đập thình thịch không ngớt, lúng túng không biết nên làm gì. Hồ đại gia lấy một túi vải gói gọn năm đĩnh bạc ấy buộc lên lưng tiểu nhân. Rồi Hồ đại gia đá nhẹ vào mông tiểu nhân một cái, cười nói: “Tiểu tử ngốc! Còn chưa chịu cuốn xéo nhanh cho à!”

Tiểu nhân cuống cuồng chạy về nhà, kể lại mọi chuyện cho gia gia má má cùng nghe. Cả nhà tiểu nhân vui sướng phát điên, khó mà tin rằng trên đời lại có người tốt bụng đến thế. Nói ra giống như đang nằm mơ, nhưng rõ ràng năm đĩnh bạc Ðại nguyên bảo sáng trắng còn đang nằm trên mặt bàn. Tiểu nhân cùng với má má dìu gia gia đến khách điếm muốn khấu đầu tạ ơn Hồ đại gia. Nhưng lão nhân gia cứ xua tay nói rằng bình sinh không thích người khác cám ơn mình, rồi đẩy cả nhà tiểu nhân ra.

Tiểu nhân cùng gia gia và má má vừa định đi, bỗng nghe tiếng vó ngựa, có mấy chục người kéo đến khách điếm. Thì ra đó là những kẻ địch của Hồ đại gia. Tiểu nhân không yên tâm, bèn để cho gia gia và má má về trước, còn mình ở lại xem ra sao. Tiểu nhân nghĩ Hồ đại gia đã cứu ba mạng người của cả nhà tiểu nhân, chỉ cần lão nhân gia sai bảo tiểu nhân bất cứ việc gì dù là nhảy xuống nước hay nhảy vào lửa tiểu nhân cũng quyết không nhíu mày.

Kim Diện Phật đại hiệp ngồi đối ẩm với Hồ đại gia. Hồ đại gia thấy không yên tâm về đứa con, chuyện này thì Bảo Thụ đại sư kể đúng cả rồi. Có điều đại sư không biết, vị đại phu chữa thương ở phòng bên nghe lỏm chuyện của vợ chồng Hồ đại gia bị đứa bé phụ bếp của khách điếm nhìn thấy tất cả.

Người hầu nọ kể đến đây, thì Bảo Thụ đứng bật đậy, chỉ tay quát:

– Mi là ai? Ai khiến ngươi đến nói nhăng nói cuội ở đây?

Người hầu này vẫn thản nhiên, nhẹ nhàng nói:

– Tiểu nhân là Bình A Tứ. Tiểu nhân nhận ra Diêm Cơ là vị đại phu chữa thương năm xưa ấy, còn vị Diêm đại phu tất nhiên là không nhận ra thằng phụ bếp A Tứ đầu chốc lở năm xưa rồi!

Bảo Thụ nghe người ấy nhắc đến hai chữ “Diêm Cơ” thì mặt mày lập tức biến sắc, thoáng nhớ lại khách điếm năm xưa quả thật có thằng bé phụ việc đầu chốc, có điều lúc bấy giờ Bảo Thụ không hề để ý gì đến mặt mũi của nó nên bây giờ chẳng nhớ gì cả. Bảo Thụ trợn mắt nhìn vào tấm ván gỗ khắc vế đối mà Bình A Tứ đang ôm, miệng “xì” một tiếng.

Bình A Tứ kể tiếp:

– Lúc nửa đêm, nghe tiếng khóc của Hồ đại gia, quả tình là tiểu nhân không yên tâm, bèn đến gần gian phòng của ông ta, thì thấy trên cửa sổ ở phòng bên có bóng một người đang ngồi im không động đậy phục ở đó. Tiểu nhân lại gần nhìn qua khe cửa sổ thì ra là Diêm đại phu đang áp tai sát vách gỗ nghe lỏm câu chuyện của vợ chồng Hồ đại gia. Tiểu nhân đang định đi báo cho Hồ đại gia biết, thì bỗng Hồ đại gia lại đi sang phòng của Diêm đại phu, họ nói chuyện rất lâu. Nội dung cuộc trò chuyện ấy, không rõ vì sao Bảo Thụ đại sư không hề kể cho các vị biết một chút nào?

Hồ đại gia nói rất nhiều, tất nhiên có nhiều chỗ tiểu nhân không hiểu nhưng tiểu nhân biết rằng Hồ đại gia sai Diêm đại phu hôm sau đi giải thích với Kim Diện Phật mấy điều gì đó. Mà những chuyện ấy rất hệ trọng, vốn không nên để cho người ngoài không liên quan được biết. Chỉ vì Hồ phu nhân mới sinh con không đi được nên đành nhờ người khác. Hồ đại gia tính tình nóng nảy, nếu tự mình đi nói chuyện với kẻ đối đầu tất sẽ dẫn tới chuyện tranh chấp với các vị Phạm bang chủ, Ðiền tướng công. Một khi không thể nói cho rõ ràng được, lại có thể xảy ra việc động đến đao thương thì có đi cũng bằng không! Bởi thế lão nhân gia đành nhờ Diêm Cơ đi hộ. Còn như Bảo Thụ đại sư vừa kể là Hồ đại gia sai ông ta đi đưa thư, xong việc sẽ hậu tạ thì không đúng. Chỉ là đưa một phong thư mỏng dính thì có gì phải hậu tạ? Việc gì hai vợ chồng Hồ đại gia phải bàn bạc lâu thế? Có lẽ Bảo Thụ đại sư đã quên những lời của Hồ đại gia nói lúc đó chăng, chứ tiểu nhân không quên một câu nào.

Mọi người nghe đến đây, mới biết trước khi xuất gia Bảo Thụ có tên tục là Diêm Cơ. Nhìn vẻ mặt của Bảo Thụ và Bình A Tứ lúc này, mọi người đoán, hẳn là Bảo Thụ có dinh líu đáng kể đến cái chết của Hồ Nhất Ðao, còn những lời kể của Bảo Thụ vừa rồi có nhiều chỗ không hết, không đúng sự thật. Ai ai đều cảm thấy hiếu kì, ngóng nhìn Bình A Tứ chờ giải toả thắc mắc. Nhưng cũng lại sợ nếu Bình A Tứ nói toạc ra một bí mật hệ trọng nào đó, làm Bảo Thụ vì thẹn quá hóa cuồng mà ra tay hạ độc thủ, thì trên đỉnh Tuyết sơn này chẳng có ai là đối thủ của lão, khó mà ngăn cản được. Dù sau này Kim Diện Phật có tìm Bảo Thụ để tính sổ đi nữa thì Bình A Tứ cũng đã chết, e rằng cái bí mật ấy cũng vĩnh viễn bị chôn vùi đi mất.

Mọi người đều lo giùm cho Bình A Tứ, nhưng thần sắc y vẫn thản nhiên, không chút sợ hãi. Dương như y cậy thế sẽ được che chở nên kể luôn:

– Khi Hồ đại gia nói chuyện với Diêm Cơ, tiểu nhân đứng ngoài cửa sổ phòng ông ta. Tiểu nhân không hề có ý nghe lỏm xem Hồ đại gia nói gì, có điều là tiểu nhân vốn biết Diêm Cơ đã từng hùa theo Triệu tài chủ hà hiếp cha mẹ tiểu nhân. Thực sự y không phải là người tốt, tiểu nhân chỉ lo Hồ đại gia sẽ mắc lừa Diêm Cơ. Lúc bấy giờ tiểu nhân còn nhỏ tuổi nông cạn, thật không hiểu rõ những lời Hồ đại gia nói, nhưng tiểu nhân vẫn ghi nhớ từng chữ, từng câu, sau này lớn khôn lên tiểu nhân đã dần dần hiểu hết.

Ðêm ấy, Hồ đại gia dặn Diêm Cơ đi nói hộ ba chuyện. Chuyện thứ nhất là nguyên nhân nảy sinh thù oán từ đời trước của bốn họ Hồ, Miêu, Phạm, Ðiền. Chuyện thứ hai là nguyên nhân cái chết của phụ thân Kim Diện Phật và phụ thân Ðiền tướng quân. Chuyện thứ ba là liên quan đến thanh quân đao của Sấm Vương.

Mọi người đều quay đầu lại nhìn thanh quân đao đặt trên bàn, lòng càng háo hức muốn biết hơn.

Bình A Tứ kể tiếp:

– Tại sao bốn nhà họ Hồ, Miêu, Phạm, Ðiền, đời trước lại thù oán nhau? Ðiều này Miêu cô nương đã kể rồi. Có điều là bên trong còn một bí mật trọng đại, không những người ngoài không biết, mà đến nay ngay cả Miêu đại hiệp cũng chưa biết. Bí mật này bắt đầu từ năm thứ hai Vĩnh Xương Ðại Thuận của Sấm Vương. Ðó là năm Ất Dậu, cũng chính là năm thứ hai đời Thuận Trị nhà Ðại Thanh. Lúc bấy giờ, các vị tổ tông của bốn nhà họ Hồ, Miêu, Phạm, Ðiền đã nói rõ, nếu nhà Thanh không diệt vong, thì hãy đợi đến một trăm năm sau, tức năm Ất Sửu, mới được tiết lộ bí mật trọng đại đó ra. Năm Ất Sửu tức là năm Càn Long thứ mười, cách đây đã hơn ba mươi năm. Cho nên cách đây hai mươi bảy năm, lúc Hồ đại gia nói chuyện với Diêm Cơ, thì đã quá cái hạn một trăm năm đó rồi, không cần giấu mãi điều bí mật đó nữa.

Ðiều bí mật đó quả là hệ trọng. Thì ra năm mà Sấm Vương bại trận ở núi Cửu Cung, ông ta không hề chết!

Ðiều này vừa nói ra, mọi người đều giật mình, đều đứng bật cả lên, không ai bảo ai, cùng hỏi:

– Người bảo sao?

Chỉ có Bảo Thụ là vẫn ngồi yên, không nhúc nhích. Rõ ràng là ông ta đã sớm biết rồi, nên không ngạc nhiên.

Bình A Tứ kể tiếp:

– Ðúng thế! Lúc đó Sấm Vương không chết! Có điều là Sấm Vương bị quân Thanh vây khốn vòng trong vòng ngoài, khó bề thoát thân. Ba vệ sĩ họ Miêu, Phạm, Ðiền xông xuống núi đi cầu viện binh, mãi không thấy viện binh tới, mà quân địch ngày càng khép chặt vòng vây. Thấy các tướng sĩ thuộc hạ kẻ chết người bị thương khó lòng chống đỡ nổi, Sấm Vương thối chí nản lòng, bèn giơ thanh quân đao lên, định tự vẫn. Nhưng người vệ sĩ họ Hồ có ngoại hiệu là Phi Thiên Hồ Ly ngăn lại. Trong lúc nguy cấp, người vệ sĩ họ Hồ ấy nảy ra một kế. Y chọn trong những xác của tướng sĩ hi sinh một thi thể na ná vóc người Sấm Vương, thay hoàng bào và áo giáp của Sấm Vương vào, lại đeo thêm ấn vàng vào cổ nữa. Y còn lấy đao băm nát mặt của tử thi để cho người khác khó nhận ra rồi tự mình vác cái xác đó đến doanh trại của quân Thanh xin đầu hàng. Y khai là đã giết chết Sấm Vương, xin đến ghi công lĩnh thưởng. Ðó là một đại công, tướng bên địch mà trình báo lên cấp trên ắt sẽ được thăng quan phong tước, nên không hề đắn đo nghi ngờ gì. Mà dù có hoài nghi thì cũng ra sức che đậy lờ đi để còn lãnh thưởng thăng quan chứ!

Sấm Vương giả chết, ngay đêm đó quân Thanh ngừng vây hãm núi Cửu Cung. Còn Sấm Vương thật đã sớm cải trang làm một người bình thường mà xuống núi, thoát hiểm một cách dễ dàng. Ôi! Sấm Vương thoát khỏi hiểm nguy, nhưng vị Phi Thiên Hồ Ly kia thì đại họa sắp giáng xuống đầu.

Phi Thiên Hồ Ly dùng mưu kế ấy, dụng tâm thực quá ư đau khổ. Anh hùng hảo hán trên giang hồ vì hai chữ “hiệp nghĩa” mà chịu kiếm đâm đao chém để giúp bạn, không phải là điều khó làm. Nhưng vệ sĩ họ Hồ vì muốn Sấm Vương thoát nạn, không những phải nhẫn nhục đầu hàng quân địch mà còn cam tâm mang tiếng bán chúa cầu vinh. Phi Thiên Hồ Ly vốn có uy danh vang dội trong thiên hạ, nhân vật võ lâm mỗi khi nhắc tới tên y, ai cũng giơ ngón tay cái lên mà tấm tắc: “Đúng là hảo hán!”. Thế mà giờ đây lại tự bôi nhọ tên tuổi một đời của mình, thật còn khó hơn gấp hàng vạn lần việc khẳng khái hi sinh vì đại nghĩa.

Sau khi y đầu hàng Ngô Tam Quế, rồi làm quan dưới quyền tên Hán gian ấy. Phi Thiên Hò Ly là người trí dũng song toàn, thông minh tài cán, nên rất được Ngô Tam Quế tín nhiệm. Y nghĩ, thiên hạ nhà Ðại Thuận của Sấm Vương đã bị đổ vỡ bởi tay Ngô Tam Quế, nếu không báo được thù này thì không xứng là kẻ trượng phu. Y lại nghĩ, nếu đâm chết Ngô Tam Quế thì chẳng nhọc nhằn gì, nhưng Phi Thiên Hồ Ly vốn túc trí đa mưu đâu có chịu xong việc dễ dàng như vậy?

Trong mấy năm trời, vị vệ sĩ kia giữ kín tung tích, dùng nhiều mưu kế khôn khéo, bày ra nhiều kế hoạch để vừa làm cho Hoàng đế Mãn Thanh nghi ngờ Ngô Tam Quế, mặt khác lại vừa làm cho Ngô Tam Quế cảm thấy không thể không dấy binh làm phản. Y lại ngầm báo cho triều đình nhà Thanh mọi hành vi chiêu tập binh mã, ngông nghênh kiêu ngạo của Ngô Tam Quế. Ngược lại, y lại báo cho Ngô Tam Quế biết những thủ đoạn xét nét đề phòng của triều đình nhà Thanh đối với Ngô Tam Quế mà y đã dò la được.

Cứ như vậy chừng mấy năm, Ngô Tam Quế tất phải ở vào thế làm phản. Lúc đó thiên hạ sẽ đại loạn, nhà Ðại Thanh sẽ tổn hao lực lượng, sẽ là thời cơ tốt để cho Sấm Vương phục quốc. Dù cuộc nổi loạn của Ngô Tam Quế nhanh chóng bị dập tắt, Sấm Vương phục quốc chẳng thành công, thì Ngô Tam Quế cũng không thể không mắc họa diệt tộc. Cho nên kế hoạch này có giá trị hơn nhiều so với việc đâm chết một mình hắn.

Lúc ba huynh đệ kết nghĩa họ Miêu, Phạm, Ðiền đến Côn Minh hành thích Ngô Tam Quế, thì mọi kế sách của Phi Thiên Hồ Ly đang dần dần có hiệu quả. Vì vậy, trong lúc nguy cấp, ông đã xông ra ngăn cản kẻo ba người sẽ làm hỏng đại sự.

Rằm tháng ba năm ấy, ông cùng uống rượu với ba huynh đệ Miêu, Phạm, Ðiền ở Ðiền Trì, chính lúc sắp sửa nói ra tất cả mọi chuyện, từ việc Sấm Vương chưa chết, đến chuyện Ngô Tam Quế sắp làm phản, thì không ngờ ba vị này lại e ngại võ công của nghĩa huynh cao cường, không nên trò chuyện dài dòng, thừa lúc y sơ ý mà giết luôn. Trước khi chết, Phi Thiên Hồ Ly khóc nói: “Ta tiếc cho đại sự chưa thành” chính là nói những kế hoạch đó. Y còn nói: “Nguyên soái gia ở khe núi Thạch Môn” thực chất là Sấm Vương đang xuất gia tại chùa Phổ Từ, núi Giáp Sơn, sống đến tháng hai năm Giáp Thìn đời Khang Hi, thọ bảy mươi tuổi. Khi Sấm Vương khởi sự, xưng hiệu là “Phụng Thiên Xướng Nghĩa đại nguyên soái”. Lúc xuất gia, pháp danh vốn là Phụng Thiên Vương, để giữ cho kín đáo, mới thêm một dấu “chấm” bên cạnh chữ “Vương” thành ra “Phụng Thiên Ngọc”.

Lúc nãy mọi người nghe Miêu Nhược Lan kể chuyện, chỉ hình dung Phi Thiên Hồ Ly là người gian hiểm vô cùng, đâu ngờ bên trong còn có những bí mật ghê gớm thế này, có điều vì quá lạ lùng nên nhất thời họ chưa thể tin ngay được.

Bình A Tứ thấy mọi người còn nghi ngờ, Miêu Nhược Lan cũng tỏ ra ngạc nhiên, bèn nói tiếp:

– Miêu cô nương! Lúc nãy cô nương kể đến đoạn hôm rằm tháng ba, con trai của Phi Thiên Hồ Ly tìm đến nhà ba vị thúc thúc kia, rồi cùng họ bí mật nói chuyện ở nhà trong. Chuyện trò xong, ba vị ấy ra tự vẫn trước mặt mọi người. Cô nương thử nghĩ xem trong cuộc nói chuyện bí mật đó, bốn người đã nói những gì?

Miêu Nhược Lan đáp:

– Hẳn người con trai ấy đã nói với ba vị thúc thúc kia những điều tâm sự của Phi Thiên Hồ Ly.

Bình A Tứ nói:

– Ðúng vậy! Nếu ba người ấy chẳng phải vì hối hận đã giết nhầm người huynh trưởng kết nghĩa của mình, thì sao phải tự vẫn trước đám đông?

Có điều thời kì ấy, Sấm Vương đang còn sống, nên điều bí mật ấy tuyệt đối không được tiết lộ ra. Cũng tiếc thay cho ba vị huynh đệ kết nghĩa ấy! Họ vốn đều có lòng trung nghĩa, nhưng tính tình quá lỗ mãng. Giết nghĩa huynh đã là sai rồi, lại tự vẫn quá sớm trước đám đông, chẳng hề dặn dò con cháu là không được tìm đến con cháu họ Hồ để báo thù. Chắc lúc ấy họ quá đỗi xót xa và hối hận, không nghĩ ngợi hậu quả sau này, nên hai lần liên tiếp phạm sai lầm. Từ đây, bốn nhà Hồ, Miêu, Phạm, Ðiền đời này sang đời khác càng oán thù nhau sâu nặng hơn.

Những lời giải thích trong phòng kín của người con trai họ Hồ với ba vị thúc thúc kia phải đợi sau một trăm năm tức năm Ất Sửu mới được công bố. Ðến lúc đó, dù Sấm Vương có thọ lắm đi nữa, ắt cũng qua đời rồi. Nếu bị tiết lộ sớm hơn, chắc chắn triều đình nhà Thanh sẽ săn lùng gắt gao, làm nguy hiểm đến tính mạng của Sấm Vương. Các đời sau họ Hồ đều biết rõ bí mật đó, nhưng ba nhà Miêu, Phạm, Ðiền thì đều không hay biết. Khi điều bí mật được truyền đến đời Hồ đại gia, thì đã quá thời hạn trăm năm. Cho nên ông mới nhờ Diêm đại phu đi nói rõ với Kim Diện Phật.

Về việc thứ hai, nói về nguyên nhân cái chết của phụ thân Kim Diện Phật và phụ thân Ðiền tướng công. Hơn mười năm trước lúc hai vị Miêu, Hồ kịch chiến, thì hai vị tiền bối Miêu, Ðiền cùng đi ra quan ngoại, từ đấy biệt tăm. Hai người này đều võ nghệ cao cường, tên tuổi lừng lẫy giang hồ, mà lại chết một cách không rõ ràng như vậy, thì kẻ giết hại hai vị hẳn là rất ghê gớm. Hồ đại gia lâu nay vẫn ở quan ngoại. Họ Hồ và hai họ Miêu, Ðiền có oán thù lâu đời nên ai cũng cho rằng chắc là Hồ đại gia đã hạ độc thủ. Kim Diện Phật và Ðiền tướng công chia nhau đi dò la hơn mười năm trời, mà không tìm ra manh mối gì, cũng chẳng gặp mặt Hồ đại gia lần nào.

Kim Diện Phật không còn cách nào khác, bèn tuyên bố ngoại hiệu của mình là “Đả biến thiên hạ vô địch thủ”, để khích Hồ đại gia vào Trung Nguyên. Hồ đại gia cũng hiểu dụng ý đó, nhưng chẳng lý tới, một mặt cũng đi tìm hai vị tiền bối họ Miêu, Ðiền ở khắp nơi. Hồ đại gia nghĩ rằng chỉ khi nào tìm ra tung tích của họ thì mới có thể gặp mặt Kim Diện Phật để rửa sạch nỗi oan cho mình. Ông trời kia chẳng phụ người có tấm lòng! Hồ đại gia đi tìm suốt mấy năm trời, cuối cùng đã biết được tin tức của hai vị ấy. Lúc đó, Hồ phu nhân có thai. Phu nhân là người Giang Nam, sắp đến kỳ sinh nở, bỗng nhớ quê nhà da diết. Hồ đại gia chiều ý phu nhân, bèn đưa phu nhân trở về miền nam. Ði đến đồn Ðường Quan, ông chạm trán hai vị Phạm, Ðiền, rồi sau đấy là Kim Diện Phật. Hồ đại gia bảo Diêm Cơ đi nói chuyện với Kim Diện Phật, đợi khi ông đưa phu nhân về Giang Nam xong, sẽ đích thân dẫn Kim Diện Phật đi mang hài cốt của cha về. Còn về nguyên nhân cái chết, Kim Diện Phật khi đến nơi xem xét sẽ hiểu.

Có điều cái chết của hai vị tiền bối họ Miêu, Ðiền ấy cũng không được vẻ vang cho lắm, nên Hồ đại gia không tiện kể ngay trước mặt họ, mà chỉ muốn đưa hai vị Miêu, Ðiền đi để tự xem xét thôi. Việc thứ ba là chuyện liên quan đến thanh quân đao của Sấm Vương. Thanh quân đao ấy ẩn giấu một kho tàng cực lớn, vàng bạc châu báu thì không cần phải nói, kỳ trân dị bảo thì không sao đếm xuể.

Mọi người đều rất kinh ngạc, nghĩ rằng thanh đao này chẳng chứa nổi lấy một thỏi bạc nhỏ, nói gì đến chuyện kỳ trân dị bảo thì không sao đếm xuể.

Bình A Tứ kể tiếp:

– Tối hôm đó, Hồ đại gia đã nói nguồn cơn của chuyện này cho Diêm đại phu. Nghe xong, hẳn các vị cũng sẽ không lấy làm lạ nữa.

Sau khi Sấm Vương phá Bắc Kinh, thì các hoàng thân, quốc thích, các đại thần đại tướng của nhà Minh đều đầu hàng cả. Không ai trong bọn họ là không giàu có. Các bộ hạ của Sấm Vương bắt bọn họ phải bỏ vàng bạc châu báu để chuộc mạng. Chỉ trong vài ngày, tiền của châu báu chất cao như núi, không sao đếm xuể. Về sau, Sấm Vương phải rút khỏi Bắc Kinh, Sấm Vương sai các tướng lĩnh thân tín áp tải những của cải đó đem giấu ở một nơi cực kỳ an toàn, để sau này khi đem binh quay lại đánh trả, sẽ chi dùng vào việc quân lương. Sấm Vương có bản đồ cất giấu kho tàng, mấu chốt xem bản đồ để tìm kho tàng thì đặt trong thanh quân đao.

Khi bại trận phải trốn khỏi Cửu Cung, Sấm Vương giao cả bản đồ và thanh quân đao cho Phi Thiên Hồ Ly giữ. Về sau, Phi Thiên Hồ Ly bị giết hại, thanh quân đao và bản đồ rơi vào tay ba vị huynh đệ kết nghĩa kia, chẳng bao lâu, lại bị con trai của Phi Thiên Hồ Ly cướp lại. Sau khi tranh giành qua lại suốt một trăm năm, thanh quân đao ấy đã rơi vào tay họ Ðiền của phái Thiên Long môn, còn tấm bản đồ bảo tàng do họ Miêu truyền đời cất giữ. Có điều là hậu nhân của cả hai họ Miêu, Ðiền đều không biết điều bí mật trọng đại ấy, vì thế mà không đi tìm để khai quật. Ðiều bí mật ấy chỉ có họ Hồ truyền lại cho con cháu biết, nhưng nhà họ Hồ lại không có bản đồ và thanh quân đao nên cũng đành chịu không cách gì đi tìm được. Hồ đại gia đã nói chuyện này với Kim Diện Phật, đề nghị Miêu đại hiệp đi tìm kho tàng để trợ giúp người nghèo trong thiên hạ, thậm chí có thể dùng số của cải ấy vào việc lớn, đánh đuổi người Mãn đi, đòi lại giang sơn cho người Hán chúng ta.

Cả ba việc mà Hồ đại gia nói đến, đều vô cùng hệ trọng. Nhưng sau khi Kim Diện Phật biết chuyện rồi, tại sao còn cứ đòi tỉ võ để quyết đấu một phen sống mái, thì cho đến lúc chết, Hồ đại gia cũng không hiểu được. Chỉ e rằng Kim Diện Phật mang danh đại hiệp mà không phân biệt được phải trái đúng sai. Hoặc giả ba việc ấy đều quá ư khó tin, không hợp tình hợp lý nên Kim Diện Phật chẳng hề tin một việc nào hết cũng chưa biết chừng.

Nói đến đây, Bình A Tứ bất giác thở dài.

Ðào Bách Tuế từ đầu đến giờ chỉ im lặng lắng nghe, lúc này bỗng lên tiếng:

– Tôi biết rõ tại sao Kim Diện Phật vẫn muốn tìm Hồ Nhất Ðao để tỉ thí. Chuyện này tạm thời khoan nói tới. Ta hỏi ngươi, ngươi lên đỉnh núi này làm gì?

Ðiều này mọi người cũng đều muốn biết, Bình A Tứ nghiêm nét mặt, nói:

– Tiểu nhân đến để báo thù cho Hồ đại gia.

Ðào Bách Tuế hỏi:

– Báo thù ư? Tìm ai để báo thù?

Bình A Tứ cười nhạt một tiếng, nói:

– Tìm kẻ đã hại Hồ đại gia.

Miêu Nhược Lan sắc mặt nhợt nhạt, hạ giọng hỏi:

– Đại thúc đi tìm gia phụ ư?

Bình A Tứ nói:

– Người sát hại Hồ đại gia không phải là Kim Diện Phật, mà là lão đại phu chữa thương Diêm Cơ năm xưa, hiện giờ đã xuất gia làm hoà thượng, gọi là Bảo Thụ đó!

Mọi người vô cùng ngạc nhiên, nghĩ bụng:

– Tại sao Hồ Nhất Ðao lại bị Bảo Thụ sát hại?

Bảo Thụ đứng thẳng lên, cười ha hả, nói:

– Ðược lắm! Ngươi có bản lãnh thì hãy xông vào giết ta đi! Mau động thủ đi nào!

Bình A Tứ nói:

– Tôi đã ra tay rồi. Kể từ hôm nay, ta chỉ cho ngươi sống không quá bảy ngày đêm nữa!

Ai nấy thất kinh, đều nghĩ không biết Bình A Tứ đã ngầm hạ độc ra sao? Bảo Thụ không khỏi ngầm hoảng sợ, nhưng vẫn nói cứng, mắng:

– Ngươi có bản lãnh cóc khô gì mà đòi giết ta?

Bình A Tứ gay gắt nói:

– Không chỉ một mình ngươi, mà tất cả lớn bé già trẻ trên núi này sẽ không có ai sống quá bảy ngày đêm nữa đâu.

Mọi người đều giật mình, người thì hoảng hốt đứng dậy, kẻ thì trợn mắt nhổm lên. Từ sau khi lên đỉnh Tuyết sơn này, ai cũng thấp thỏm không yên. Tuy lời Bình A Tứ có vẻ vô lý, nhưng nghe vào lúc này không ai không cảm thấy giật mình lo sợ.

Bảo Thụ gằn giọng, nói:

– Chắc là ngươi bỏ thuốc độc vào thức ăn và nước trà?

Bình A Tứ lạnh lùng, trả lời:

– Nếu đầu độc ngươi, hóa ra là để ngươi chết quá nhanh chóng ư? Ðâu có sướng thế? Ta muốn ngươi phải chế đói từ từ kia!

Tào Vân Kỳ, Ðào Bách Tuế, Trịnh Tam Nương cùng kêu lên:

– Chết đói à?

Bình A Tứ thản nhiên trả lời:

– Ðúng vậy! Trên núi này chỉ còn lương thực cho mười ngày nhưng bây giờ thì chẳng còn chút nào nữa rồi. Tôi đã đổ tất cả xuống chân núi rồi.

Trong lúc mọi người la hoảng thì Bảo Thụ bỗng vung tay xuất chiêu cầm nã thủ chộp lấy tay trái của Bình A Tứ. Bình A Tứ vốn đã cụt tay phải, không hề kháng cự, chỉ hơi mỉm miệng cười nhạt. Tào Vân Kỳ và Chu Vân Dương cùng giơ quyền áp trước người Bình A Tứ, chỉ cần Bình A Tứ có ý động võ là lập tức giáng đòn luôn.

Vu quản gia vội chạy vào nhà trong một lát, rồi quay ra đại sảnh, mặt trắng bệch, giọng run run:

– Lương thực của sơn trang, thịt bò, thịt dê, gà, vịt, rau cỏ, quả thực… không còn chút gì… đúng là….đều bị tên này… đổ xuống núi hết rồi.

Nghe “binh” một tiếng, Tào Vân Kỳ đã đấm vào ngực Bình A Tứ. Cú đấm quá mạnh, Bình A Tứ “hự” lên một tiếng, miệng ọc máu tươi. Nhưng vẻ mặt y vẫn hơi cười nhạt, chẳng hề có chút sợ hãi.

Bảo Thụ hỏi:

– Thế không có ai trông coi lương thực trong nhà bếp à?

Vu quản gia đáp:

– Có ba người làm việc vặt ở đó đều bị tên này trói lại cả rồi. Ôi! Lúc hai tên tiểu đồng quỷ quái gây chuyện ầm ĩ ở trên này, mọi người kéo cả lên xem. Ai ngờ đó chính là kế điệu hổ li sơn của Tuyết Sơn Phi Hồ. Miêu cô nương! Tại hạ cứ ngỡ tên này là người hầu của cô nương dẫn theo.

Miêu Nhược Lan lắc đầu, nói:

– Không phải! Tiểu nữ lại tưởng hắn cũng là quản gia ở sơn trang này.

Bảo Thụ nói:

– Không còn sót tí gì ăn được à?

Vu quản gia lắc đầu, vẻ mặt ra chiều thảm não.

Tào Vân Kỳ lại giơ nắm đấm toan giáng một quyền nữa vào Bình A Tứ thì Miêu Nhược Lan nói:

– Khoan! Tào đại gia đã quên lời tiểu nữ nói rồi ư?

Tào Vân Kỳ ngạc nhiên không hiểu, nắm đấm vẫn đang giơ nửa chừng, không hạ xuống. Miêu Nhược Lan giải thích:

– Người này đang ôm trong tay danh hiệu của gia phụ, tiểu nữ đã nói rồi, không cho phép ai đụng đến y.

Tào Vân Kỳ nói:

– Tất cả chúng ta đều mất mạng bởi tay hắn, cô nương… cô nương còn…

Miêu Nhược Lan lắc đầu, nói:

– Sống hay chết là một chuyện, nhưng lời đã nói ra thì phải giữ. Người này đã đổ hết lương thực, thức ăn đi, đương nhiên là mọi người sẽ chết đói, cả gã cũng vậy. Một người dám liều mình chỉ để làm việc này thì hẳn phải có nguyên nhân rất quan trọng. Bảo Thụ đại sư, Tào đại gia! Sống chết có số cả, có cuống lên cũng vô dụng. Hãy cứ để y nói xem, có phải chúng ta rốt cuộc sẽ phải chết thật hay không?

Miêu Nhược Lan nói ôn tồn nhẹ nhàng, nhưng không hiểu sao lại có sức mạnh lớn lao làm Bảo Thụ phải buông cánh tay Bình A Tứ ra, Tào Vân Kỳ cũng hậm hực trở về chỗ ngồi. Miêu Nhược Lan nói:

– Bình gia! Hãy nói cho tiểu nữ biết vì sao đại thúc muốn mọi người chết đói cả? Đại thúc muốn báo thù cho Hồ Nhất Ðao bá bá phải không?

Bình A Tứ đáp:

– Cô nương gọi tiểu nhân là Bình gia, tiểu nhân không dám nhận đâu. Cả đời tiểu nhân chỉ có quyền gọi người khác là đại gia thôi, tiểu nhân không có cái phúc được ngưòi khác gọi mình như vậy. Miêu cô nương, năm xưa Hồ đại gia đã cho tiểu nhân bạc, cứu ba mạng gia đình tiểu nhân, tiểu nhân vô cùng cảm kích. Nhưng tiểu nhân còn rất cảm kích một chuyện khác nữa, cô nương biết là chuyện gì không? Mọi người lúc bấy giờ đều gọi tiểu nhân là “A Tứ đầu chốc”, rất khinh miệt tiểu nhân. Nhưng Hồ đại gia lại gọi tiểu nhân là “tiểu huynh đệ”, còn nhất định bảo tiểu nhân gọi ông là “đại ca”. Cả đời Bình A Tứ này toàn là bị thiên hạ quát tháo sai bảo, chỉ một mình Hồ đại gia thì lại nói với tiểu nhân rằng, người sống trên đời không có phân biệt cao thấp sang hèn, vì trong con mắt của ông trời, ai cũng như ai mà thôi. Nghe những lời ấy, tiểu nhân thấy mình như một người bị mù suốt mười mấy năm, bỗng lại được nhìn thấy ánh sáng. Tiểu nhân chỉ được gặp Hồ đại gia có một ngày trời thôi, nhưng lòng tiểu nhân đã coi lão nhân gia là người thân nhất, kính yêu lão nhân gia như cha mẹ mình.

Hồ đại gia tỉ võ với Kim Diện Phật liền mấy ngày mà không phân thắng bại, đương nhiên tiểu nhân rất lo lắng cho lão nhân gia. Ðến ngày cuối cùng, Hồ đại gia bị thương bởi lưỡi đao tẩm thuốc độc rồi chết, phu nhân cũng tự vẫn theo chồng, tình hình đúng như lời Miêu cô nương nói. Tiểu nhân đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng ấy, không quên một chi tiết nào. Diêm đại phu! Hôm đó, tay trái lão xách hòm thuốc, lưng đeo cái túi vải dựng hơn một chục đĩnh bạc, đúng không nào? Hôm đó lão mặc áo lông cừu cũ lót vải xanh, đầu đội mũ lông màu vàng ố bị thủng mấy chỗ, đúng không nào?

Bảo Thụ tím mặt, tay phải cầm chuỗi hạt khẽ rung rung, hai mắt trợn trừng, không nói năng gì.

Bình A Tứ lại nói tiếp:

– Tối hôm trước đó, Hồ đại gia cùng nằm chung giường trò chyện với Kim Diện Phật, lão đứng ngoài cửa sổ nghe trộm, rồi bị Kim Diện Phật đứng trong cửa sổ thoi cho một quyền sưng vù mắt mũi, máu chảy đầy mặt. Y kể sau khi bị đánh thì đi ngủ luôn, nhưng tiểu nhân nhìn thấy trước khi đi ngủ, y còn làm một việc. Hai vị Hồ đại gia và Kim Diện Phật đi nằm, hai người quang minh lỗi lạc, đều để binh khí ở đại sảnh. Diêm đại phu lấy một lọ thuốc cao trong hòm thuốc ra, rón rén đến bôi lên đao kiếm của họ. Bấy giờ tiểu nhân chỉ là đứa trẻ lên mười, nên không ngờ y đang thi hành quỷ kế. Mãi đến hôm sau, khi Hồ đại gia bị thương rồi trúng độc, tiểu nhân mới nghĩ ra Diêm đại phu đã bôi thuốc độc lên binh khí của họ. Y muốn cả hai vị Miêu, Hồ cùng đi đời hết.

Ôi! Diêm đại phu ơi là Diêm đại phu! Lòng dạ ngươi thật độc địa! Ngươi muốn Kim Diện Phật chết là để trả thù việc mình bị thoi một quả. Nhưng Hồ đại gia vốn không oán thù gì với y, sao y cũng bôi thuốc độc lên kiếm Kim Diện Phật để làm gì? Lúc đó tiểu nhân không hiểu được. Sau này đã có tuổi, tiểu nhân mới đoán được thâm ý của y. Hừ! Thì ra y rắp tâm chiếm đoạt cái hộp sắt của Hồ đại gia!

Diêm đại phu kể mình không biết trong hộp sắt ấy có cái gì, đó là nói láo! Y biết rất rõ! Khi Hồ đại gia trao cho phu nhân cái hộp sắt, dốc các thứ trong hộp sắt ra bàn, thì mặt bàn lấp lánh chói ngời, đều là châu ngọc quý giá cả. Hồ đại gia nói:

– Muội muội! Nàng một thân bản lĩnh, lúc nào cần dùng thì tự tay lấy vàng bạc của bọn thổ hào ác bá. Có điều hành động nhiều lần, e rằng khó tránh khỏi có lúc sơ xuất, cho nên ta… ta”…

Phu nhân nói:

– Ðại ca cứ yên tâm. Nếu đại ca có mệnh hệ gì, muội sẽ một lòng một dạ nuôi dạy con. Muội sẽ bán dần số châu báu này đi cũng đủ để hai mẹ con sống cả đời rồi. Muội sẽ không động đao động kiếm với ai nữa, cũng không thi triển trò không không diệu thủ nữa. Ðược chứ?”.

Hồ đại gia cười lớn, bảo được, rồi cầm một cuốn sách lên nói:

– Đây là Quyền kinh đao phổ do chính tay cao tổ của ta viết đó.

Phu nhân đỡ lấy, cười nói:

– Hay lắm! Bản lãnh một đời của Phi Thiên Hồ Ly đều viết ở đây! Ðại ca giấu nó kỹ thế, ngay cả muội mà cũng không cho biết!

Hồ đại gia cười nói:

– Di huấn của tổ tông là chỉ truyền lại cho con trai, không truyền cho con gái; truyền cho cháu chứ không truyền cho vợ. Ðấy mới gọi là Hồ gia đao pháp chứ.

Phu nhân cũng cười nói:

– Ðợi khi con biết chữ rồi sẽ cho nó đọc. Muội hứa không học lỏm là được rồi chứ gì?

Hồ đại gia lại thở dài, cất các thứ vào trong hộp, rồi để chiếc hộp ở dưới gối kê đầu của phu nhân. Về sau khi thấy phu nhân đã chết, tiểu nhân liền vội chạy vào phòng của bà, không ngờ Diêm đại phu đã vào đó trước rồi. Tim tiểu nhân đập thình thịch, vội nấp sau cánh cửa, thấy y tay trái ôm đứa trẻ, tay phải rút lấy chiếc hộp dưới cái gối của phu nhân, bắt chước cách mở của Hồ đại gia hôm trước mà mở hộp ra, đẩy ba lần ở bốn góc rồi ấn phía dưới đáy hộp. Y lôi châu báu trong hộp ra mân mê, mồm nhiều đầy nước dãi, rồi đặt thằng bé xuống đất, cầm quyển Quyền kinh đao phổ giở ra xem. Ðứa trẻ không có ngưòi bế liền khóc ré lên. Diêm đại phu sợ người ta nghe thấy, tiện tay kéo luôn cái chăn bông trên giường lò trùm kín đứa bé.

Tiểu nhân hoảng lên, nghĩ rằng nếu cứ trùm chăn lâu nữa, đứa bé không chết ngạt mới lạ. Nhớ lại sự tử tế của Hồ đại gia đối với tiểu nhân, tiểu nhân không thể không cứu đứa bé. Có điều tiểu nhân còn nhỏ tuổi, lại không biết võ nghệ gì, quyết không phải là đối thủ của Diêm đại phu. Thấy bên cửa sổ có một cái gióng cửa khá to, tiểu nhân khẽ cầm lên, rón rén bước tới sau lưng y giáng mạnh vào đầu.

Nhát đập ấy tiểu nhân đã dùng hết sức bình sinh, y lại không chút đề phòng nên ngã chúi xuống không kịp kêu một tiếng nào, châu báu vung vãi khắp mặt đất. Tiểu nhân vội mở ngay cái chăn bông, bế đứa bé lên, nghĩ mọi người quanh đây đều là kẻ địch của Hồ đại gia cả, bèn bế đứa bé về nhà cho cha mẹ mình nuôi. Tiểu nhân cũng biết cuốn Quyền kinh đao phổ là rất hệ trọng, không thể để lọt vào tay Diêm đại phu được. Thế là tiểu nhân giật luôn nó khỏi tay y. Chẳng ngờ, lúc y ngất đi thì hai tay nắm cuốn sách quá chặt, tiểu nhân cuống lên giật thật mạnh, thế là đứt luôn hai tờ đầu nằm dính trong tay y. Nghe có nhiều tiếng ồn ào bên ngoài cửa, biết là Miêu đại hiệp đang tìm đứa bé. Tiểu nhân bất chấp mọi sự, ôm lấy đứa bé chuồn ra cửa sau trốn về nhà.

Từ đó đến nay, tiểu nhân không gặp lại Diêm đại phu lần nào, không ngờ y đã làm hoà thượng rồi. Phải chăng y tự biết mình nhiều tội lỗi nên mới xuất gia để sám hối? Y đã lấy trộm được hai tờ đầu của cuốn sách quý kia, đương nhiên đã luyện thành một thân võ nghệ, nổi danh trên giang hồ. Y nghĩ rằng trên đời này không ai biết được lai lịch của mình, nhưng không ngờ kẻ năm xưa đã dùng gióng cửa đập vào đầu y hiện giờ lại vẫn còn sống đây!

Diêm đại phu! Đại phu hãy quay đầu lại để cho mọi người nhìn rõ vết sẹo phía sau đầu nào. Ðó là vết sẹo mà thằng bé phụ bếp năm xưa dùng gióng cửa nện vào đầu lão đấy!

Bảo Thụ từ từ đứng lên. Mọi người nín thở nhìn, nghĩ là lão tất sẽ ra tay lấy mạng Bình A Tứ. Nào ngờ lão chỉ niệm “A Di Đà Phật”, giơ tay lên xoa phía sau đầu rồi lại ngồi xuống, nói:

– Hai mươi bảy năm qua, lão nạp vẫn không biết kẻ nào đã đập nhát ấy vào đầu, nên vẫn ấm ức mãi. Bây giờ thì đã rõ cả rồi.

Mọi người hoàn toàn không ngờ ông ta thẳng thắn thừa nhận sự việc ấy, nên đều rất ngạc nhiên.

Miêu Nhược Lan nói:

– Thế còn đứa trẻ tội nghiệp kia, về sau ra sao?

Bình A Tứ kể thêm:

– Sau khi tiểu nhân bế nó chuồn ra cửa sau, mới chạy được vài bước thì thấy sau lưng có người gọi: “Ê, thằng chốc đầu! Hãy bế đứa bé lại đây”.

Tiểu nhân mặc kệ, chẳng lý tới, chạy càng nhanh. Người ấy mắng chửi luôn mấy câu, đuổi theo và tóm được tay tiểu nhân, định cướp đứa bé. Tiểu nhân cuống lên, cắn luôn vào tay hắn một phát thật mạnh, mu bàn tay hắn tóe máu…

Bỗng Tào Vân Kỳ nói chen vào:

– Ðó chính là sư phụ của ta!

Ðiền Thanh Văn đưa mắt ra hiệu, Tào Vân Kỳ hối hận, nhưng đã trót lỡ lời rồi, không còn thu lại được nữa. Tào Vân Kỳ thấy mọi người nhìn mình, thì lòng bồn chồn không yên.

Bình A Tứ nói:

– Ðúng thế! Ðó chính là Ðiền Quy Nông tướng công. Trên mu bàn tay của tướng công vẫn còn một vết sẹo do bị cắn. Tiểu nhân đoán Điền tướng công không nói cho các vị biết là bị ai cắn, lại càng không nói rõ tại sao lại bị cắn.

Ðiền Thanh Văn, Nguyễn Sĩ Trung, Tào Vân Kỳ và Chu Vân Dương cả bốn người đưa mắt nhìn nhau, đều nhớ lại vết răng cắn trên tay Ðiền Quy Nông khá sâu. Ðúng là ông ta chưa từng đá động đến nguyên nhân chuyện ấy bao giờ.

Bình A Tứ kể tiếp:

– Tiểu nhân nghiến răng liều chết mà cắn, nên dù có võ công cao nhưng Ðiền tướng công hẳn cũng đau lắm. Y bèn rút kiếm ra chém vào mặt tiểu nhân một nhát, rồi tiếp một nhát nữa chặt đứt lìa cánh tay tiểu nhân. Trong cơn thịnh nộ, y đạp tiểu nhân một cú văng xuống sông. Tuy vậy tiểu nhân vẫn ôm chặt đứa bé bằng cánh tay còn lại. Miêu Nhược Lan khẽ kêu “ôi” một tiếng.

Bình A Tứ kể tiếp:

– Tiểu nhân rơi xuống sông trong lúc người rất đau đớn, rồi không biết gì nữa. Khi mơ màng tỉnh dậy, thấy mình nằm trên một chiếc thuyền. Thì ra tiểu nhân đã được người ta cứu lên. Tiểu nhân gọi to: “Em bé ơi! Em bé ơi!”. Một đại nương trên thuyền nói: “A Di Đà Phật! Tỉnh rồi! Cháu bé đang ở đây”. Tiểu nhân ngẩng đầu lên, thấy bà đang bồng đứa bé và cho nó bú.

Sau đấy mới biết, tiểu nhân được vớt lên thuyền, sáu ngày đêm sau mới tỉnh lại được. Bây giờ tiểu nhân đã ở xa quê mình quá rồi, lại thêm nỗi sợ các kẻ địch của Hồ đại gia sát hại đứa bé, tiểu nhân không dám trở về nữa. Theo lời của Miêu cô nương kể, thì Miêu đại hiệp đã cho là đứa bé ấy chết rồi.

Miêu Nhược Lan mừng rỡ, nói:

– Ðúng thế! Hoá ra đứa bé đáng thương ấy vẫn còn sống! Phải vậy không? Nếu gia phụ biết, chắc người sẽ vui lắm. Y hiện ở đâu? Đại thúc đưa tiểu nữ đi tìm được không?

Nàng sực nhớ ra “đứa bé đáng thương” mà mình vẫn gọi, thực ra là một chàng trai hai mươi bảy, còn hơn mình những mười một tuổi! Nàng chợt đỏ mặt.

Bình A Tứ nói:

– Cô nương không thể gặp được y đâu. Mọi người ở đây sẽ chẳng có ai sống để mà xuống núi nữa.

Miêu Nhược Lan nói:

– Gia phụ nhất định sẽ lên núi cứu. Tiểu nữ chẳng lo lắng gì hết.

Bình A Tứ nói:

– Lệnh tôn đánh khắp thiên hạ không địch thủ thật, nhưng vẫn chỉ đánh người phàm thôi. Dù có võ công có cao cường đến đâu, cũng phải bó tay trước đỉnh núi cao ngàn trượng này!

Miêu Nhược Lan hỏi:

– Vậy có phải đứa trẻ năm xưa bảo đại thúc đến đây hại chết những người ở đây chăng?

Bình A Tứ lắc đầu, nói:

– Không! Không phải! Y là thiếu niên anh hùng hào hiệp, cũng giống như lệnh tôn vậy. Nếu y biết được tiểu nhân đến đây làm cái trò xấu xa này, thế nào cũng can ngăn.

Tào Vân Kỳ tức giận nói:

– Hay nhỉ! Hoá ra ngươi cũng đã biết đó là những trò xấu xa à?

Miêu Nhược Lan hỏi:

– Ðứa bé hồi ấy ra sao? Tên là gì? Võ công có giỏi không? Hiện đang làm gì? Huynh ấy cũng là người tốt chứ?

Từ nhỏ, nàng đã chứng kiến hàng năm cha nàng cúng tế vợ chồng Hồ Nhất Ðao bá bá và luôn ôm mối hận là không thể nuôi nấng đứa bé trưởng thành, vì vậy nàng rất quan tâm chuyện này.

Bình A Tứ nói:

– Nếu tiểu nhân không cho nổ hết dây thừng và trục cuốn thì hôm nay Miêu cô nương đã có thể gặp tướng công của tiểu nhân.

Tào Vân Kỳ và sáu bảy người nữa cùng giận dữ nói:

– Thì ra ngươi đã phá hủy dây thừng ư?

Bình A Tứ đáp:

– Ðúng vậy.

Miêu Nhược Lan hỏi:

– Sao hôm nay tiểu nữ lại có thể gặp được huynh ấy.

Bình A Tứ đáp:

– Tướng công có ước hẹn với chủ nhân sơn trang này, là giờ Ngọ sẽ lên đây. Sắp đến giờ Ngọ rồi, lúc này chắc tướng công đã đến chân núi rồi cũng nên.

Mọi người cùng kêu lên:

– Là Tuyết Sơn Phi Hồ ư?

Bình A Tứ Đáp:

– Ðúng thế! Chính là con trai của Hồ Nhất Ðao đại gia, tên gọi Hồ Phỉ, ngoại hiệu là Tuyết Sơn Phi Hồ!

Comments

comments


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.