Thần Điêu Hiệp Lữ - Bản tân tu (Mới nhất)
Hồi 42: Phụ Lục Kinh Dịch, Âm Dương cùng Thuật Số
“KINH DỊCH” “ÂM DƯƠNG”
CÙNG “THUẬT SỐ”
(Nên biết "Dịch
Truyện" và "Kinh Dịch" là hai thứ khác nhau.)
Theo ý kiến của đa số
giới học thuật trong nước, “Kinh Dịch” hình thành vào cuối triều Đại Ân và đầu
triều Đại Chu, ra đời từ rất sớm, ban đầu có công dụng chính là bói toán để dự
đoán may rủi, làm chỉ dẫn cho hành vi. Người xưa mê tín, đối với các vấn đề lớn
như tự nhiên, vận mệnh, kết quả của chiến tranh, hôn nhân, xây dựng nhà cửa.
đều không hiểu rõ, cảm thấy bất an, bèn dựa vào việc bói toán để ra quyết định.
Đạo lý cơ bản của “Kinh Dịch” là do các nhà triết học cổ đại rút ra từ việc
quan sát sự việc và kinh nghiệm sống, dạy con người về Vạn vật đều biến đổi
không ngừng, không thể cố định, vật cực tất phản, hành động không nên đi cùng
với sự cực đoan. Ngay cả khi xét theo triết học hiện đại, điều này vẫn là rất
hợp lý. Đại đa số cho rằng "Kinh Dịch" đã hình thành từ đầu triều đại
Tây Chu. Xưa nay đều cho rằng nó được biên soạn bởi Chu Văn Vương, tuy nhiên
điều này chưa hẳn là sự thật, nhưng rất có thể Chu Văn Vương dựa vào tài liệu
truyền thống, chỉnh lý và biên soạn lại.
“Kinh Dịch” sử dụng
Bát Quái để biểu thị, trong đó dùng “nhất” hiệu biểu thị cho Dương, còn “nhất
nhất” lại biểu thị cho Âm (theo khoa học tự nhiên phương Tây hiện đại, lấy
“mười” biểu thị cho Dương, “một” biểu thị cho Âm, ý nghĩa cũng tương đồng với
nhau). Khái niệm căn bản của “Kinh Dịch” là Âm Dương, đây vốn là một quan niệm
của Đạo giáo, sau này được Nho giáo áp dụng.
Khổng Tử rất bội phục
“Kinh Dịch”, nhưng dường như tiếc nuối vì không có cơ hội học thật sâu về nó.
Trong Luận Ngữ, có một câu nói của ông: "Tử nói: ‘Cho ta vài năm nữa, đến
năm 50 tuổi học Dịch thì có thể không phạm phải sai lầm lớn rồi.’" Sau các
hào từ (ngôn từ bằng vạch trên quẻ bói) trong “Kinh Dịch”, có mười chương giải
thích về văn tự trên kinh văn và hào từ, gọi là “Dịch truyện”, hay còn gọi là
Thập Dực. Nho gia truyền lại đều cho rằng đó là tác phẩm của Khổng Tử, nhưng
đến thời Tống, Âu Dương Tu đã bắt đầu nghi ngờ điều này. Các học giả hiện đại
như Phùng Hữu Lan, Tiền Mục, Lý Kính Trì, Đới Quân Nhân, Trần Cổ Ứng và nhiều
tiên sinh khác đã cung cấp chứng cứ đầy đủ để chứng minh rằng đây không phải là
tác phẩm của Khổng Tử, mà có thể là do các học giả vào cuối thời Chiến Quốc
thêm vào. Kinh thư quan trọng nhất Nho giáo là Luận Ngữ, cũng không nhắc chút
nào tới âm dương, Khổng Tử cơ hồ cũng chẳng hề bàn luận chuyện âm dương bao
giờ.
Âm và Dương là một
quan niệm xuất hiện rất sớm trong tư tưởng của người Trung Quốc. Ban đầu, chúng
chỉ ám chỉ hướng ánh sáng mặt trời chiếu tới và khu vực bóng tối. Phía đối diện
với ánh mặt trời gọi là Dương, phía không có ánh sáng mặt trời gọi là Âm. Trong
các tên địa danh của Trung Quốc, âm dương là hai từ rất phổ biến. Một địa
phương nằm gần núi cao hoặc dòng sông, phía có ánh sáng mặt trời chiếu tới thì
gọi là Dương (ví dụ: phía bắc của sông, phía nam của núi); còn phía bóng tối,
không có ánh mặt trời thì gọi là Âm (ví dụ: phía nam của sông, phía bắc của
núi).
Vào thời Tây Chu, sử
gia Chu Thái Sử Bá Dương Phụ đã dùng âm dương nhị khí để giải thích nguyên nhân
xảy ra động đất, cho rằng đó là do nhị khí âm dương không thể hòa hợp, va chạm
lẫn nhau, từ đó gây ra động đất. Trong Hồng Lâu Mộng, Sử Tương Vân đã giải
thích khái niệm âm dương cho người hầu của mình là Thúy Lâu, vừa dễ hiểu vừa
thú vị.
Nói chung, người ta
đều cho rằng trong vũ trụ, mọi sự vật đều có âm dương, vì vậy điện cũng có âm
điện và dương điện, con người cũng phân biệt âm (nữ) và dương (nam). Mặt trời
là dương, mặt trăng là âm. Lão Tử đã nói: "Vạn vật mang Âm mà ôm Dương,
khí đối lập tạo ra sự hòa hợp." Trang Tử còn cho rằng, âm dương nhị khí là
căn nguyên trực tiếp của con người và vạn vật. Trong Trang Tử, đoạn "Điền
Tử Phương" viết: "Âm cực kỳ tĩnh lặng, Dương cực kỳ rực rỡ, Âm tĩnh
lặng phát ra từ trời, Dương rực rỡ phát ra từ đất, hai khí giao hòa sinh ra sự
hòa hợp, và từ đó mọi vật sinh ra."
“Kinh Dịch” nguyên bản
rất chú trọng đến âm dương, nhưng các bản “Kinh Dịch” sau này lại không bàn
nhiều về âm dương. Điều này có thể là do các học giả Nho giáo sau này, với tư
tưởng “tôn dương lên, hạ thấp âm”, đã cải biên các bản “Kinh Dịch” lại hiện nay.
Bản “Kinh Dịch” bằng lụa khai quật từ mộ Hán Mã Vương Đôi ở Trường Sa, với niên
đại cổ hơn so với bản truyền lại hiện nay, lại có những lời bàn luận về quy
luật âm dương nhiều và tốt hơn. Trong cuốn sách "Chu Dịch Kinh Truyền Tố
Nguyên" của tiên sinh Lý Học Cẩn, ông đưa ra những nhận xét sắc sảo, trong
đó có nói: "Quẻ từ trong “Kinh Dịch” được cấu thành bởi hai hào âm dương,
vốn dĩ đã chứa đựng triết lý của thuyết âm dương, vì vậy Hệ từ cũ có nói: ‘Một
âm một dương gọi là đạo.’ Tuy nhiên, trong các quái từ của bản "Kinh Dịch"
lại, rất khó tìm thấy quy luật âm dương rõ ràng. Về điểm này, bản lụa khai quật
rõ ràng vượt trội hơn so với bản truyền lại hiện nay."
Trong “Kinh Dịch” có
tám quẻ, dùng “nhất” để biểu thị cho Dương, và dùng “nhất nhất” để biểu thị cho
Âm. Do kỹ thuật viết và in ấn thời cổ đại không như ngày nay, khi viết hoặc in
các quẻ Bát Quái chồng lên nhau, đôi khi sẽ dễ bị mờ hoặc không rõ ràng. Việc
sử dụng số để biểu thị sẽ tránh được hiểu nhầm và cũng thuận tiện hơn cho việc
trích dẫn sau này. Mỗi quẻ trong Bát Quái được cấu thành từ hai quẻ chồng lên
nhau, mỗi vạch gọi là một hào, được đếm từ dưới lên trên. Ví dụ, quẻ Thái là
quẻ Càn ở dưới và quẻ Khôn ở trên, vẽ ra thành hình. Nếu dùng số để biểu thị,
Dương sẽ dùng số chín, Âm sẽ dùng số sáu. Vạch đầu tiên gọi là "Sơ",
vạch thứ hai gọi là "Nhị", cuối cùng vạch thứ sáu gọi là "Thượng".
Như vậy, quẻ Thái sẽ được viết là: Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Tam, Lục Tứ, Lục Ngũ,
Thượng Lục. Quẻ Tòng Nhân là quẻ Ly ở dưới và quẻ Càn ở trên, nếu viết bằng chữ
sẽ là: Sơ Cửu, Lục Nhị, Cửu Tam, Cửu Tứ, Cửu Ngũ, Thượng Cửu.
Việc dùng số để đại
diện cho ký hiệu là chỉ xuất hiện trong các “Dịch truyện” vào cuối thời Chiến
Quốc, vì vậy việc dùng số chín để đại diện cho Dương và số sáu để đại diện cho
Âm. Theo suy nghĩ cá nhân của tôi, vào thời điểm đó, khi giấy và mực vẫn chưa
được phát minh ra, người dân thời Chiến Quốc viết sách thường dùng dao khắc lên
các thẻ tre hoặc thẻ gỗ để vẽ Bát Quái. Hai ký hiệu này rất dễ bị nhầm lẫn, nên
việc sử dụng số chín và sáu để đại diện cho chúng sẽ dễ hiểu và tránh sự nhầm
lẫn khi viết trong văn bản.
Có người cho rằng
Dương nhất định phải dùng số chín, không thể dùng số khác, còn Âm nhất định
phải dùng số sáu, không thể dùng số khác. Đây là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm
khác nhau, tương đương với việc nói rằng điện Dương phải dùng số mười, điện Âm
phải dùng số một. Khi tính toán điện Dương và điện Âm, chỉ có thể cộng (mười)
và trừ (một), không thể nhân (×) và chia (÷), vì phép nhân và phép chia không
thể đại diện cho điện Âm và Dương.
Thực tế, người Trung
Quốc truyền thống không quá câu nệ như vậy. Ví dụ, khi chúc Tết, người ta
thường nói "Tam Dương khai Thái" chứ không phải "Cửu Dương khai
Thái". Y học cổ truyền cho rằng đầu là nơi gặp gỡ của ba kinh Dương ở tay
và ba kinh Dương ở chân, tức là "Lục Dương hội đầu", chứ không gọi là
"Cửu Dương hội đầu". "Lục Dương Chính Khí Hoàn" là một loại
thuốc phổ biến trong Đông y, mà không cần phải thay đổi tên thành "Cửu
Dương Chính Khí Hoàn".
Theo quan điểm của
những người thời Chiến Quốc, việc cứng nhắc áp dụng các lý thuyết của “Kinh
Dịch” từ thời Ân, Chu hay Tây Chu là một sự áp đặt không phù hợp với bối cảnh
thời đại sau. Trong Hồng Lâu Mộng, Lâm Đại Ngọc mắc bệnh lao phổi, mà đến tận
thời hiện đại mới có thuốc đặc hiệu chữa lao phổi, người ta chỉ trích rằng: "Tại
sao không dùng thuốc đặc hiệu như Rifampicin hoặc Isoniazid để chữa cho Lâm
muội?" Tiết Bảo Thoa gửi tặng cô tổ yến, có tác dụng gì đâu? Vưu nhị tỷ
chịu đựng đau đớn vì chứng bệnh khó chữa, cuối cùng chết vì nuốt phải vàng,
người đọc hiện đại chỉ trích: "Vưu nhị tỷ thiếu kiến thức, sao không uống
thuốc an thần, thì nỗi đau đã giảm đi rất nhiều?"
Triết lý Đạo giáo luôn
cho rằng âm dương phải được coi trọng ngang nhau. Trong hình Thái Cực, hai con
cá đối xứng, khi âm thịnh thì dương suy, khi dương thịnh thì âm suy, âm dương
hoàn toàn tương xứng với nhau, vật cực tất phản. Âm từ ít dần tới nhiều, từ thiếu
âm phát triển thành lão âm, âm thịnh cực thì bắt đầu suy giảm, chuyển sang
thiếu dương, dương minh rồi đến lão dương, đây là một quá trình chuyển hóa tuần
hoàn. Việc coi trọng dương cương và hạ thấp âm nhu là quan điểm của một phái
trong Nho giáo (có người cho rằng có thể là học trò của Tử Chương). Đổng Trọng
Thư còn áp dụng thuyết âm dương vào các vấn đề nhân sự, tôn trọng dương và hạ
thấp âm, dùng để tôn vinh vua và hạ thấp bề tôi, trọng nam khinh nữ. Đổng Trọng
Thư trong Phồn Lộ có viết: "Quy tắc giữa vua và tôi, cha và con, chồng và
vợ, đều lấy từ đạo âm dương. Vua là dương, tôi là âm; cha là dương, con là âm;
chồng là dương, vợ là âm." Nho giáo nhấn mạnh mối quan hệ đạo đức giữa con
người, trong đó ba mối quan hệ quan trọng nhất là: vua đối với tôi, cha đối với
con, chồng đối với vợ. Nho giáo, để duy trì cấu trúc xã hội phong kiến, đã dùng
lý thuyết âm dương như một cách lý giải thuận tiện. Học thuyết của Đổng Trọng
Thư thịnh hành vào thời Tây Hán, và trong “Dịch truyện”, việc sử dụng các ký hiệu
cửu dương và lục âm còn được dùng để thể hiện sự tôn trọng dương và coi thường
âm, nhưng thực tế chính “Dịch truyện” cũng chưa chắc đã cho rằng số chín quan
trọng hơn số sáu.
Trong các dân tộc trên
thế giới, con số đại thể không mang ý nghĩa đặc biệt. Người phương Tây cho rằng
con số bảy là may mắn, mười ba là không may, và số 666 là ma quỷ, tất cả đều là
những mê tín sau này. Người Trung Quốc và Nhật Bản không thích số "bốn",
vì nó đồng âm với từ "tử" (chết), nhưng điều này không phải là tục lệ
cổ xưa. Người dân Quảng Đông hiện nay thích số "tám", vì âm của nó
gần với "phát" (phát tài), gần đây người dân Thượng Hải lại coi số "bốn"
là may mắn, vì trong hệ thống nhạc phổ đơn giản, "Do, Re, Mi, Fa" có
âm số bốn "Fa", tức là "phát", biểu thị sự phát đạt, phát
tài.
Ban đầu, việc bói toán
sử dụng mai rùa hoặc xương bò làm công cụ, nhưng vì việc bói bằng xương mai khá
khó khăn, sau này người ta chuyển sang phương pháp đơn giản hơn là dùng cỏ thi.
Cỏ thi thường được đếm theo kiểu "một năm, một mười", và trong lý
thuyết của các thầy bói, con số năm và mười mang một ý nghĩa đặc thù. “Dịch
truyện” viết: “Trời một, đất hai, trời ba, đất bốn, trời năm, đất sáu, trời
bảy, đất tám, trời chín, đất mười.” Càn Tạc Độ viết: “Dương chuyển động tiến,
âm chuyển động lùi. Vì vậy, dương dùng số bảy, âm dùng số tám để làm quẻ hào.
Dịch có một âm một dương, hợp lại thành mười lăm, gọi là đạo. Ngũ âm, lục luật,
thất biến, từ đây mà ra. Vì vậy, số Đại Diễn là năm mươi, dùng để tạo ra biến
hóa và làm việc với quỷ thần. Mười ngày can là ngũ âm. Mười hai canh là lục
luật. Hai mươi tám sao là thất tú. Tất cả năm mươi là dùng để điều khiển vạn
vật mà sinh ra.” Khổng Tử nói: "Dương ba, âm bốn, đó là quy tắc chính."
Chú giải của Trịnh Khang Thành nói: "Số năm tượng trưng cho trời, là số
lẻ; mười tượng trưng cho đất, là số chẵn. Kết hợp số trời đất lại, gọi là đạo."
Đến thời Tống, Lưu Mục có "Hà đồ", Chu Hi có "Lạc thư", tất
cả đều là một đống con số. Tiên sinh Phùng Hữu Lan trong cuốn Lịch sử triết học
Trung Quốc nói: “Học thuyết tượng số, nhìn qua có vẻ là một đống mê tín, nhưng
mục đích của nó là nhằm giải thích có hệ thống các sự vật trong vũ trụ và các
khía cạnh của nó." Sau này, lịch pháp, phương hướng, ngày tháng, sao trời,
mùa xuân hạ thu đông, ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, âm luật ngũ cung, chính
trị, hung cát, hành quân đánh trận, sinh thần bát tự, hôn nhân, phong thủy. tất
cả đều liên quan đến thuật số.
Người xưa khi nói về
thuật số không được chính xác như ngày nay. Trong cuốn Lữ Thị Xuân Thu phần Hữu
Thủy có viết: "Thiên có chín vùng, địa có chín châu, thổ có chín núi, núi
có chín ải, đầm có chín rừng, gió có tám loại, nước có sáu dòng." Đúng là
địa có chín châu, nhưng "thiên có chín vùng" là chỉ những "vùng"
nào thì không nói rõ, điều này đã gần giống với quan niệm của các nhà âm dương
ngũ hành.
Bạn tôi, anh Diệp Hồng
Sinh ở Đài Loan có viết sách "Luận Kiếm", trong đó dựa vào lý thuyết
của “Dịch truyện” mà khẳng định cái tên "Cửu Âm Chân Kinh" là không
hợp lý. Bởi vì “Dịch truyện” cho rằng dương là số chín, âm là số sáu, nên theo
lý thuyết đó, cái tên này phải được sửa thành "Lục Âm Chân Kinh". Anh
ấy nói: "Đạo gia không có câu chuyện kỳ quái về 'Cửu Âm' (Phật giáo cũng
không có)." Thực ra, Hoàng Thường ở thời Tống đã viết "Cửu Âm Chân
Kinh", đây vốn là một sản phẩm tưởng tượng, và ông chỉ nghiên cứu sách
đạo, không hề quan tâm đến “Kinh Dịch” mà Nho gia tôn sùng, mà trong “Dịch
truyện”, đa phần không phải là do Khổng Tử viết (Theo Quách Nghi sở truyền, có
thể một phần trong “Dịch truyện” được Khổng Tử chỉnh lý). Những tác phẩm này có
thể là do các học giả vào cuối thời Chiến Quốc thuộc Nho gia (hoặc không phải
Nho gia) sáng tác, mặc dù nội dung rất tốt, nhưng ông Hoàng Thường hoàn toàn có
thể nói "Đạo của ta bất đồng", không cần để tâm. Ông ấy cứ muốn viết "Cửu
Âm Chân Kinh", thì người khác cũng không thể làm gì được (liệu bạn có thể
đánh bại ông ta không?).
Bạn tôi, anh Dương
Hưng An có chú thích trong phần cuối của bài viết về tác phẩm "Nguyệt Vân":
"Bạn tôi Diệp Hồng Sinh trong cuốn sách chuyên luận 'Luận Kiếm' có nói:
'Dương hào dùng số chín là cao nhất (chí dương), âm hào dùng số sáu là cao nhất
(chí âm)', do đó không có 'Cửu Âm'." Bạn tôi Diêm Tiểu Hành đã tìm thấy
trong các sách đạo giáo có cuốn 'Đế Quân Cửu Âm Kinh'.
Từ "Cửu Âm"
lần đầu tiên xuất hiện trong Sơn Hải Kinh, trong phần Đại Hoang Bắc Kinh. Trong
cuốn "Đạo Đức Kinh" của Cát Hiên thời Tam Quốc có câu: "Họa diệt
cửu âm, phúc sinh thập phương." “Dịch truyện” là học thuyết của Nho gia và
các nhà Âm Dương, họ cho rằng dương quan trọng hơn âm, vì vậy, dương là chín,
âm là sáu. Đến thời Tây Hán, để tôn trọng vua, cha, và chồng, Nho gia càng làm
mạnh mẽ sự tôn vinh dương và giảm bớt âm, điều này phản ánh nhu cầu chính trị
và ý thức hệ, chứ không phải là lý thuyết triết học phù hợp.
Cửu Âm Chân Kinh là võ
học Đạo gia, chủ trương nhu có thể khắc cương, âm có thể khắc dương, vì vậy mới
gọi là "Cửu Âm". Còn "Hàng Long Thập Bát Chưởng" đặc biệt
chú trọng đến quẻ Càn, tức là dương cương trong võ học, vì vậy là một môn võ
dương cương, hoàn toàn khác biệt với "Cửu Âm Chân Kinh".
Anh Diệp Hồng Sinh
nghiên cứu tiểu thuyết võ hiệp hiện đại có công lực rất thâm hậu, tuy nhiên lại
đem những suy nghĩ bay bổng trong tác phẩm tiểu thuyết của tôi ra mà nghiêm túc
khảo cứu một trận (Cửu âm chân kinh nói về võ học, hoàn toàn không liên quan gì
đến âm dương bát quái hay lý thuyết thuật số về "lão âm, lão dương").
Việc này có phần giống như phong thái của Đại sư Giác Viễn, rất nghiêm túc
nghiên cứu, khiến người ta phải khâm phục. Tuy nhiên, những ý tưởng ngẫu hứng
của tôi lại không phải là học thuật.
Hai anh Dương Hưng An
và Nghiêm Hiểu Tinh đã vất vả tra cứu Đạo tạng (các tài liệu cổ về Đạo giáo) để
giải quyết vấn đề nhỏ này, tôi rất cảm kích. Thực ra, Nho gia và Âm dương gia
đều là các trường phái triết học trong thời kỳ tiền Tần. “Kinh Dịch” là sự pha
trộn giữa các học thuyết của Nho gia, Đạo gia và Âm dương gia. Âm dương gia
phát triển mạnh ở Kỳ Đông, nhưng họ thường có xu hướng khoa trương, huyền bí,
và các học giả thời tiền Tần gọi đó là "Kỳ Đông dã ngữ". Vì vậy,
không phải mọi điều họ nói đều có thể coi là căn cứ quyền uy cho tất cả các học
thuyết.
Tuy nhiên, lý thuyết
thuật số của Âm dương gia có ảnh hưởng rất lớn đến Nho gia trong các thời kỳ
sau này. Vào thời Hán, Kinh học chủ yếu dựa vào học thuyết của Âm dương gia để
giải thích kinh điển. Vương Mảng (hoàng đế nhà Hán) ưa chuộng các phù mệnh (bùa
chú, thần lệnh) và Hán Quang Vũ cũng tin vào Vĩ sấm. Tất cả đều có mục đích
chính trị và tuyên truyền, với thông điệp chủ yếu là "Chúa công phải làm
hoàng đế".
Sau đó, các học giả Cổ
văn bắt đầu phát triển, phản đối các học thuyết về Vĩ sấm và lý thuyết Âm dương
gia. Tuy nhiên, cho đến thời đại của học giả vĩ đại Dương Hùng, ông vẫn không
thể hoàn toàn thoát khỏi những lý thuyết về thuật số và âm dương.
Dương Hùng soạn Thái
Huyền Kinh, với nguyên lý tổng quát là "nhất huyền", chia thành ba
phần, gọi là "Tam phương", rồi mỗi phần lại chia tiếp thành ba, tổng
cộng là "Chín châu", rồi lại chia thành ba, tổng cộng là "Hai
mươi bảy bộ", chia thêm ba, thành "Tám mươi mốt gia", và kết
luận rằng: "Phương châu bộ gia, ba vị tạo thành. Phân tích chín chín, coi
như số sinh, ủng hộ các nguyên tắc, tổng kết thành danh, tám mươi mốt phần, mọi
sự đều là dự đoán."
Lý thuyết tượng số
trong Thái Huyền Kinh là: "Một và sáu cùng tông, hai và bảy cùng sáng, ba
và tám phần hữu, bốn và chín đồng đạo, năm và năm giữ gìn nhau."
Những chiêu trò với
con số này nghe có vẻ huyền bí, và có liên hệ với con đường của các phương sĩ
và tiên nhân, nhưng thật sự có ý nghĩa gì thì không ai có thể nói rõ ràng.
Dường như không cần phải quá nghiêm túc về điều này, đúng như Phùng Hữu Lan đã
nói, đó chỉ là "một đống mê tín".
Thực ra, khi chúng ta
xem “Kinh Dịch” cũng như phần “Dịch truyện” như một triết lý về cuộc sống và
quan niệm về vũ trụ, chúng ta sẽ thấy nhiều tư tưởng sâu sắc và hữu ích. “Dịch
truyện” do tiếp thu rất nhiều tư tưởng Đạo gia của Lão Tử, Trang Tử và các học
giả ở đất Kỳ Đông, đã thể hiện những quan điểm đầy triết lý về cuộc sống, con
người và sự phát triển của các sự vật. Điều này rất đáng để chúng ta suy ngẫm.
Ví như “Kinh Dịch”
nhấn mạnh sự xung đột giữa hai lực lượng mâu thuẫn là âm và dương, giống như
trong biện chứng pháp, hai lực lượng đối lập này không ngừng phát triển, mâu
thuẫn, khuếch đại, tiêu giảm và chuyển hóa lẫn nhau. Biện chứng pháp cho rằng
khi một lực lượng áp đảo lực lượng còn lại, kết quả là sự “phủ định” ra đời, và
có thể dẫn đến “phủ định của phủ định” “Kinh Dịch” lại cho rằng, âm thịnh dương
tiêu hoặc dương thịnh âm tiêu chỉ chỉ là tăng giảm một phần, khi một bên mạnh
lên thì bên đối lập tương ứng yếu đi, nhưng không nhất thiết phải triệt tiêu
hoàn toàn, mà có một quá trình phát triển ở giữa. Trong “Kinh Dịch”, có những
lúc một quẻ có lão dương và thiếu âm, khi dương cực thịnh thì âm sẽ không còn,
và khi dương đạt đến đỉnh điểm, thì lại có thể chuyển hóa thành âm. Cái gọi là
Kháng long hữu hối hay Lý sương băng chí, đều nhấn mạnh nguyên lý "vật cực
tất phản", "hai mặt tương phản cứ bất tri bất giác mà đến, với hàm ý
rằng "biến hóa từ lượng sang chất".
“Kinh Dịch” và “Dịch
truyện” đều nhấn mạnh "biến động không ngừng", trong đó “Dịch"
có nghĩa là “biến đổi”, như trong quẻ Phong: "Mặt trời lên cao rồi sẽ lặn,
mặt trăng tròn rồi sẽ khuyết, đất trời lúc đầy lúc vơi, thời gian biến chuyển,
huống chi là con người? Huống chi là quỷ thần?" Hay trong quẻ Tổn: "Giảm
bớt cứng, tăng thêm mềm, lúc nào cũng phải tăng giảm, thích ứng với sự biến
chuyển của trời đất." Quẻ Phục: "Phục, thành công, cứng cỏi, hành
động đúng đắn, vì thế vào ra đều không gặp khó khăn, bằng đến không có sai sót
gì. “Liên tục kỳ đạo. Bảy ngày đến phục“, là quy luật của trời. 'Lợi ích có chỗ
đi', cứng cỏi là cần thiết. Quẻ Phục, liệu có thấy được tâm ý của trời không?"
“Kinh Dịch” coi "có đi có lại, đi lại luân hồi" là quy luật chính của
trời đất, và con người cũng vậy.
Trong “Dịch truyện”,
cũng có một số tư tưởng của Lão Tử như "nhu nhược thắng kiên cường", "Nhược
chi thắng cường, nhu chi thắng cường, cả thiên hạ đều biết điều này, nhưng
không ai có thể thực hiện được". Cơ bản là tôn sùng sự dương cương và xem
nhẹ sự âm nhu.
“Kinh Dịch” và “Dịch
truyện” dạy con người khiêm nhường, không tự mãn, không tham lam cầu lợi, vì
vậy quẻ Khiêm và quẻ Tổn đều là những quẻ tốt. Những người thích giải thích
“Dịch truyện” thường nói rằng: quẻ Bĩ tuy xấu nhất vẫn còn tốt hơn quẻ Thái
được coi là tốt nhất. Bởi vì khi đã đến tận cùng của sự xấu, thì sự phát triển
sau đó chỉ có thể tốt lên dần dần, còn khi đã lên đến đỉnh cao của sự tốt, thì
chỉ có thể đi xuống, đó là nguyên lý “Bĩ cực thái lai, Thái cực bĩ lai” (Qua
cơn bĩ cực sẽ đến hồi Thái lai).
Đạo gia có lý thuyết
về “Dương Cửu” và "Âm Cửu”, cả hai đều chỉ về tai ương lớn, đại họa. "Dương
cửu" ám chỉ hạn hán kéo dài chín năm, còn "âm cửu" chỉ lũ lụt
kéo dài chín năm. Trung bình mỗi tám mươi năm sẽ có một năm tai họa lớn. Trong
Vương Trung Xuân Kỳ của Tào Thực có câu: “Hội tao dương cửu, viêm quang trung
mông”, ám chỉ việc phúng viếng tang lễ. Trong bài thơ Từ Quang Tự của Tiền
Khiêm Ích có câu: “Than ôi, ba mươi năm qua đã trải qua bao thăng trầm, gần như
phải chịu đại hạn dương cửu” Việc sử dụng cụm từ Cửu dương chân kinh và Cửu âm
chân kinh trong tiểu thuyết là sự áp dụng ngược lại, nhằm ám chỉ rằng võ công
chứa đựng những tai họa lớn, vì vậy cần phải cẩn thận khi sử dụng.
Trong văn học cổ Trung
Quốc, đúng là có những thuật ngữ như "Cửu âm" và “Cửu dương",
điều này không giống như những gì Diệp Quân đã nói rằng “Cửu âm không tồn tại”
Thực ra, "Cửu âm không tồn tại" chỉ vì trong “Dịch truyện” không dùng
thuật ngữ "Cửu âm" thôi. Còn những tác phẩm của Hoàng Thường, mặc dù
ông nghiên cứu Đạo tạng, không nhất thiết phải tuân theo “Kinh Dịch” trong "Lục
Kinh" của Nho gia, ngay cả khi ông coi trọng “Kinh Dịch”, không nhất thiết
phải trọng dụng “Dịch truyền”, một tác phẩm được các đệ tử Nho gia biên soạn
vào cuối thời Chiến Quốc. Điều này càng không cần phải tôn trọng quan điểm "tôn
sùng dương" và "hạ thấp âm" của Tây Hán, cụ thể là Đổng Trọng
Thư cường điệu “Dịch Truyện” mà cho rằng cần phải tôn vinh quân vương và tôn
trọng “Tam cương” trong thời đại của ông. Các phương thức phù mệnh, vĩ sấm của
Vương Mãng và Hán Quang Vũ chỉ là công cụ chính trị tuyên truyền "thiên
mệnh là ta". Võ học đạo gia hoàn toàn có thể mặc kệ những thứ đó.
Trong văn hóa cổ Trung
Quốc, "Cửu Âm" chỉ về sự cực thịnh của âm khí. Trong Lão Tử Đạo Đức
Kinh có câu: “Tai họa chán ghét âm khí cực thịnh, phúc báo sinh ra khắp mười
phương”, nghĩa là âm khí cực thịnh mang lại tai họa, đồng thời ám chỉ vùng cực
Bắc, là nơi vắng lặng và âm u nhất. Trong Thiên Đối của Liễu Tông Nguyên có
câu: “Quay đầu về Bắc, âm khí cực minh” Trong Giới Nam Phú của Trần Nhược Thủy
có câu: “Chúc cửu âm vu xích thủy hề, địch Phùng Di chi u cung” Phùng Di chính
là thủy thần, cư ngụ ở nơi cực bắc. Cửu Dương lại chỉ về mặt trời hoặc nơi mặt
trời mọc. Trong Hậu Hán Thư của Trọng Trường Thống có câu: “Sương đương cơm,
cửu dương đại đuốc” Trong Sở Từ của Chu Tử có câu: “Triều trạc phát với canh
cốc, tịch hi dư thân hề cửu dương” Trong Cầm Phú của Kê Khang có câu: “quảng
tịch nạp cảnh với ngu uyên hề, hi làm với chín dương”
Trong tiểu thuyết Thần
Điêu và Ỷ Thiên, có chi tiết Cửu Âm Chân Kinh tôn chỉ rất nặng về âm nhu, là
học thuyết của Lão Tử; còn Cửu Dương Chân Kinh nhấn mạnh sự hòa hợp âm dương
điều hòa viện trợ, nhằm điều chỉnh sự lệch lạc trong học thuyết Đạo gia.
Các môn phái, tên nhân
vật, chiêu thức, võ công trong các tiểu thuyết võ hiệp đều do tác giả tự sáng
tạo. Mặc dù có thể chỉ trích những cái tên không đẹp, vi phạm quy ước hoặc
không hợp lý, nhưng không thể dùng tác phẩm của người sống dưới triều đại nhà
Thanh để chỉ trích những tác phẩm của người sống dưới triều đại nhà Đường.
Những cái tên như “Tịch Tà Kiếm Pháp”, “Quỳ Hoa Bảo Điển”, “Độc Cô Cửu Kiếm”,
“Hàng Long Thập Bát Chưởng”, “Lăng Ba Vi Bộ”, “Cửu Âm Chân Kinh” hay “Cửu Dương
Chân Kinh” đều là những sáng tạo của Kim Dung, tương tự như chiêu thức "Xung
Linh Kiếm Pháp" do Lệnh Hồ Xung và Nhạc Linh San sáng tạo. Đào cốc lục
tiên tuyên bố đã đặt ra cái tên “Đào cốc lục thần thông” Chỉ Kim Dung mới có
thể cho phép nó ngừng lại, còn không có tuyên bố của ông, người khác đại khái
cũng không có cách nào, không thể chỉ trích “Lục thần thông” là không hợp lý mà
cho rằng “Thất thần thông” hợp lý hơn. Nếu bạn có thể thuyết phục được sáu vị
tiên nhân kia, thay đổi ý định và chấp nhận đề xuất của bạn, thì bạn có thể gia
nhập nhóm “Đào cốc thất tiên”
Tên gọi "Cửu Âm
Chân Kinh" và "Cửu Dương Chân Kinh" được Hoàng Thường và một cao
nhân vô danh căn cứ vào đạo thư mà sáng tạo ra, không liên quan gì đến Nho gia,
cũng không liên quan gì đến Dịch Kinh, một trong Lục Kinh của Nho gia, và càng
không liên quan đến Dịch Truyện được biên soạn vào cuối thời Chiến Quốc hoặc
thậm chí là thời Tần Hán. Dịch Truyện ban đầu sáng lập lý thuyết âm dương với
“Cửu Dương” và “Lục Âm”, nhưng Hoàng Thường và cao nhân vô danh coi đó là những
quan điểm hoang tưởng. Giống như triết lý của Lão Tử có nhiều yếu tố biện chứng
sơ đẳng, không thể lấy biện chứng học của Hegel, Engels, hay Marx để chỉ trích
Lão Tử. Lão Tử có câu: “Tri kì bạch, thủ kì hắc” (Biết trắng, giữ đen), chữ
“Hắc” ở đây không phải là Hegel; công Tôn Long có câu: “Bạch mã phi mã” (Ngựa
trắng không phải là ngựa), chữ “Mã” ở đây cũng không phải là Marx.
Các bạn trẻ muốn học
Dịch Kinh có thể tham khảo các tác phẩm của các vị tiên sinh như Chu Bá Côn,
Cao Hanh, Trương Đại Niên, Tiền Mục, Hầu Ngoại Lư, Nhậm Kế Dũ, Lý Kính Trì,
Phùng Hữu Lan, Lý Học Cần, Trần Cổ Ứng. Những gì tôi nói về “Cửu Âm” hay “Nhất
Dương” trong các tiểu thuyết của mình thuộc về văn chương giải trí, không thật
sự có ý nghĩa thực tế, không cần phải nghiêm túc chú trọng vào đó.
Bình luận chương
Dưới chương này đang có gì?
Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.
Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.