Thiên Long Bát Bộ - Bản Tân Tu (mới nhất)
Hồi 18 : Ân oán giữa người Hán và người Hồ, khiến anh hùng phải rơi lệ
Hai người nhắm đường chạy về phía thành Vô Tích.
Đi được vài dặm, bỗng thấy nơi cây tùng bên vệ đường có một xác người treo lủng
lẳng nhìn phục sắc thì là một võ sĩ Tây Hạ. Đi thêm mấy trượng nữa, nơi sườn đồi
lại thấy hai võ sĩ Tây Hạ nằm còng queo, vết thương trên người máu còn chưa khô
xem ra chết cũng chưa lâu. Đoàn Dự nói:
- Bọn Tây Hạ gặp phải kẻ đối đầu rồi. Vương cô
nương, cô thử nghĩ xem ai đã giết họ?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Người này võ công cực kỳ cao cường, giơ tay là
giết được người không tốn hơi sức gì, quả thật ghê gớm. Ồ, đằng kia có ai tới
kìa?
Chỉ thấy trên đường lớn hai người cưỡi ngựa song
song chạy đến, trên lưng một người áo đỏ, một người áo xanh chính là hai nàng
Châu Bích. Đoàn Dự mừng quá kêu to:
- A Châu cô nương, A Bích tiểu… cô nương, các cô
thoát hiểm rồi ư? Hay lắm! Hay thật là hay.
Bốn người liền cùng giục ngựa chạy đi, ai nấy
vui không để đâu cho hết. A Châu nói:
- Vương cô nương, Đoàn công tử, sao hai vị lại
quay trở lại làm gì? Tiểu nữ và A Bích muội tử đang định đi tìm hai người đây.
Đoàn Dự đáp:
- Chúng ta cũng đang định đi tìm hai cô đây.
Chàng vừa nói vừa liếc Vương Ngữ Yên để dọ ý xem
nàng có chịu để cho gộp chung thành “chúng ta” thì quả thật là vinh dự. Vương
Ngữ Yên hỏi:
- Các ngươi làm sao mà thoát thân được? Đã ngửi
cái bình thuốc thối chưa?
A Châu cười nói:
- Quả thực thối đến chết người, cô nương cũng phải
ngửi rồi phải không? Cũng do Kiều bang chủ cứu hay sao?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Không phải. Đoàn công tử cứu ta đó. Các ngươi
được Kiều bang chủ cứu hay sao?
Đoàn Dự nghe nàng chính miệng nói ra “Đoàn công
tử cứu ta đó” sung sướng như bay bổng tận mây xanh, đầu óc choáng váng tưởng chừng
như muốn rơi khỏi lưng ngựa. A Châu nói:
- Đúng thế! Tiểu nữ và A Bích trúng độc rồi, mơ
mơ màng màng không sao cử động được, cùng với cả bọn người trong Cái Bang bị bọn
man tử Tây Hạ trói lại, vứt lên yên ngựa. Đi được một quãng, trời đổ mưa rào, cả
bọn liền phải tản ra, chia nhau tìm chỗ trú mưa. Tiểu nữ và A Bích bị mấy tên
Tây Hạ dẫn vào đụt tại một tòa lương đình, đến lúc tạnh mưa mới ra đi. Vừa ngay
lúc đó, đằng sau có người cưỡi ngựa chạy đến, chính là Kiều bang chủ. Ông ta thấy
chúng tôi bị bọn Tây Hạ bắt giữ, rất là ngạc nhiên, chưa kịp mở mồm hỏi chúng
tôi đã kêu lên: “Kiều bang chủ, cứu tôi với!”. Bọn võ sĩ Tây Hạ nghe thấy ba tiếng
“Kiều bang chủ”, lập tức rút binh khí ra vây đánh ông ta. Kết quả là có đứa thì
bị treo lên cây tùng, có đứa chết nơi sườn núi, có kẻ lại lọt xuống sông.
Vương Ngữ Yên cười nói:
- Đó là chuyện mới xảy ra, phải không?
A Châu đáp:
- Đúng thế! Tiểu nữ nói: “Kiều bang chủ, chị em
chúng tôi bị trúng độc, phiền ông một chút, tìm trên người bọn man tử Tây Hạ
xem có giải dược không?’. Kiều bang chủ lục nơi người một võ sĩ Tây Hạ tìm được
chiếc bình nhỏ, thơm hay thối thì chẳng cần nói cũng biết.
Vương Ngữ Yên hỏi thêm:
- Thế Kiều bang chủ đâu?
A Châu đáp:
- Ông ta nghe nói mọi người trong Cái Bang đều
trúng độc bị bắt cả rồi nói là muốn đi cứu bọn họ, lật đật đi ngay. Ông ta cũng
hỏi thăm Đoàn công tử xem ra rất là lo lắng.
Đoàn Dự thở dài:
- Vị nghĩa huynh của ta quả là nghĩa khí thâm trọng
biết chừng nào.
Chàng liếc A Bích một cái, cảm thấy không thể cứu
chữa cho nàng, thấy thật có lỗi, nghĩ thầm: “Kết bái huynh đệ hay kết bái huynh
muội, phải có nghĩa khí mới thành”.
A Châu nói:
- Người của Cái Bang chẳng biết hay dở, một vị
bang chủ tài giỏi như thế mà đem đuổi đi, bây giờ mình làm mình chịu, thật là
đáng kiếp. Tôi thấy là vị nghĩa huynh đó tình nghĩa mặn nồng, thà để người phụ
mình chứ nhất định không chịu phụ người.
A Bích nói:
- Vương cô nương, bây giờ chúng mình đi đâu?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Ta và Đoàn công tử đã bàn nhau phải đi cứu hai
đứa ngươi trước. Bây giờ cả bốn người mình bình an cả rồi, thật là hay không
đâu cho hết. Chuyện của Cái Bang không liên can gì đến mình, cứ như ý ta, chúng
ta đến chùa Thiếu Lâm tìm công tử các ngươi là hơn cả.
Chu Bích hai nàng quan tâm nhất chính là Mộ Dung
công tử, nghe nàng nói thế đều vỗ tay reo lên. Đoàn Dự trong lòng chua xót nhưng
cũng phải ra vẻ thản nhiên nói:
- Vị công tử của các cô, tôi vẫn có bụng kính phục
lắm, mong được gặp một lần. Hiện nay không có việc gì làm, tôi đi theo các cô đến
chùa Thiếu Lâm một chuyến cũng hay.
Bốn người quay đầu ngựa đi về hướng bắc. Vương
Ngữ Yên và hai nàng Châu Bích nói cười vui vẻ, đem chuyện gặp nguy hiểm thế nào
ở nhà máy xay lúa, Đoàn Dự nghinh địch ra sao, võ sĩ Tây Hạ Lý Diên Tông tha mạng
lại cho thuốc giải tất cả kể lại rành mạch rõ ràng, khiến cho A Châu, A Bích
hai nàng cực kỳ kinh ngạc.
Ba cô gái mỗi khi đến đoạn nào vui lại cười khúc
khích, thỉnh thoảng lại quay đầu nhìn Đoàn Dự, lấy tay áo che miệng nhưng không
dám cười một cách lộ liễu. Đoàn Dự biết các cô đang bàn tán với nhau về chuyện
ngốc nghếch của mình nhưng tự nghĩ mặc dầu mình lộ đủ mọi thứ vụng dại nhưng cuối
cùng cũng bảo vệ được Vương cô nương chu toàn nên vừa thấy sượng sùng nhưng
cũng lại đầy tự hào. Chàng lại thấy ba cô gái thân mật tíu tít bỏ mặc mình
không lý gì đến, bây giờ đã vậy, đến khi gặp được Mộ Dung công tử rồi thì chàng
quả không có đất dung thân. Mộ Dung Phục chắc cũng như Bao Bất Đồng, không nể
nang gì đuổi cổ mình đi, cho dù không đuổi mình đi, mình ở đó cũng phải tránh
ra một chỗ, nghĩ đến thật là vô vị, nhưng lại không biết làm thế nào.
Đi được mấy dặm, qua khỏi một khu vườn dâu thật
lớn, bỗng nghe ở bìa rừng có tiếng hai thiếu niên đang khóc. Bốn người giục ngựa
chạy lên thấy đó là hai chú tiểu tuổi chừng mười bốn, mười lăm, trên tăng bào lấm
tấm những máu, một trong hai người còn bị thương nơi trán. A Bích dịu dàng hỏi:
- Này các tiểu sư phụ, ai hiếp đáp các chú đó?
Sao lại bị thương?
Chú tiểu không bị thương vừa khóc vừa trả lời:
- Có vô số ác nhân phiên bang đến chùa giết chết
thầy chúng tôi rồi đuổi hai đứa chúng tôi ra ngoài.
Bốn người nghe thấy nói đến “ác nhân phiên bang”
liền đưa mắt nhìn nhau cùng nghĩ: “Hay là bọn Tây Hạ chăng?”. A Châu hỏi thêm:
- Thế chùa của các chú ở nơi nào? Bọn kẻ ác
phiên bang là bọn nào thế?
Chú tiểu đáp:
- Chúng tôi ở chùa Thiên Ninh, ở phía bên kia...
Vừa nói y vừa chỉ về phía đông bắc:
- Bọn người phiên kia bắt đâu khoảng hơn một
trăm ăn mày đi đến chùa trú mưa, đòi rượu đòi thịt, lại định giết gà giết bò.
Sư phụ bảo là “tội lắm” không chịu cho chúng giết bò ở trong chùa, bọn chúng liền
bắt cả sư phụ lẫn hơn một chục sư huynh giết sạch, hu hu, hu hu.
A Châu hỏi tiếp:
- Thế bọn chúng đã đi chưa?
Chú tiểu chỉ về phía làn khói đang lững lờ bay
lên sau khu rừng dâu nói:
- Chúng nó đang nấu thịt bò kìa, thật là tội lắm,
xin bồ tát phù hộ bắt bọn phiên nhân kia bỏ xuống a tì địa ngục.
A Châu nói:
- Thôi hai chú chạy cho xa chứ nếu như bọn người
phiên bắt được, không chừng chúng nó mổ ra ăn thịt đó.
Hai chú tiểu nghe nói thế kinh hãi, lật đật bỏ
chạy ngay. A Bích nói:
- Nếu như người trong Cái Bang đang bị nhốt
trong chủa Thiên Ninh, Kiều bang chủ lại chạy về thành Vô Tích thì đúng là
không nên cơm cháo gì.
Đoàn Dự nói:
- Chúng ta đi cứu bọn người Cái Bang ra, cho bọn
họ một phen xấu hổ, cũng là không sai.
A Châu cảm kích đã được Kiều Phong cứu giúp, đột
nhiên nghĩ ra một kế thật lạ liền nói:
- Vương cô nương, tôi muốn cải trang làm Kiều
bang chủ trà trộn vào trong chùa, đem chiếc bình thuốc thối kia cho bọn ăn mày
ngửi, sau khi bọn chúng thoát hiểm rồi thể nào cũng cảm kích tấm lòng của Kiều
bang chủ.
Vương Ngữ Yên mỉm cười nói:
- Kiều bang chủ thân thể cao to, làm sao ngươi
hóa trang thành ông ta cho được.
A Châu cười nói:
- Càng khó chừng nào thì càng biết tay A Châu
này.
Vương Ngữ Yên cười:
- Ngươi giả trang giống Kiều bang chủ chăng nữa
nhưng làm sao bắt chước được tuyệt thế thần công của ông ta. Trong chùa Thiên
Ninh đầy những cao thủ Nhất Phẩm Đường của Tây Hạ, đâu có để cho ngươi vào ra
thong thả. Cứ như ý ta, giả làm một tên đầu bếp hay một bà già bán rau trà trộn
vào chùa còn dễ hơn.
A Châu nói:
- Bảo tiểu nữ giả làm bà già bán rau thì có gì
là thú. Thôi không đi nữa là hơn.
Vương Ngữ Yên nhìn Đoàn Dự, mấp máy đôi môi muốn
nói rồi lại thôi. Đoàn Dự hỏi:
- Cô nương định nói gì thế?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Ta vốn định nhờ công tử hóa trang thành một
người đi cùng với A Châu đến Thiên Ninh Tự, nhưng nghĩ kỹ lại thấy không xong.
Đoàn Dự hỏi:
- Cô muốn tôi giả trang thành ai vậy?
Vương Ngữ Yên nói:
- Các anh hùng trong Cái Bang có bụng nghi ngờ rất
nặng, vu oan cho Kiều bang chủ cùng biểu ca ta ngầm cấu kết với nhau giết hại
Mã phó bang chủ, nếu như... nếu như... biểu ca ta cùng Kiều bang chủ đến cứu họ
ra khỏi chỗ nguy nan, bọn họ chắc không còn nghi tâm nữa.
Đoàn Dự trong lòng chua xót nói:
- Cô nương muốn ta giả làm biểu ca cô ư?
Vương Ngữ Yên bẽn lẽn nói:
- Trong chùa Thiên Ninh kẻ địch quá mạnh, hai
người đến đó cực kỳ nguy hiểm, chi bằng không đi là hơn.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Cô bảo tôi làm gì tôi cũng
làm, dù phải tan xương nát thịt cũng quyết chẳng từ nan”. Chàng đột nhiên nghĩ
thêm: “Nếu như mình hóa trang thành Mộ Dung Phục, không chừng lời ăn tiếng nói
nàng sẽ đổi khác ngay, nàng sẽ dịu dàng chiều chuộng mình trong giây lát thì
cũng hay”, lại nghĩ: “Đoàn Dự ơi là Đoàn Dự, ngươi là kẻ tiêu nhân vô sỉ, muốn
mượn vẻ ngoài của người khác để kiếm chút ôn nhu, diễm phúc, chẳng phải đê tiện
sao? Nhưng Vương cô nương muốn ta đóng vai biểu ca của nàng, giai nhân có lệnh,
chẳng nhẽ không làm?”, chàng nói:
- Thế có gì nguy hiểm đâu? Cái gì chứ trò chạy
cong đuôi là món sở trường của Đoàn Dự này.
Vương Ngữ Yên nói:
- Tôi thấy không ổn là vì biểu ca tôi giết địch
dễ như trở bàn tay, xưa nay chưa bao giờ bỏ chạy cả.
Đoàn Dự nghe nói thế một làn hơi lạnh chạy dài từ
đầu xuống chân, nghĩ thầm: “Biểu ca cô là một đại anh hùng, đại hào kiệt, ta
đâu có xứng đáng giả làm y. Giả mạo mà để cho lộ cái xấu ra trước mặt mọi người
thì có phải là làm ô nhục thanh danh của y hay không?”.
A Bích thấy chàng buồn bã không vui liền lên tiếng
an ủi:
- Địch đông ta ít, tạm thời thoái nhượng thì có
gì không phải đâu? Chúng ta chỉ cốt cứu được người chứ nào có phải tỉ võ để được
giương danh.
Đôi mắt tinh anh của A Châu nhìn Đoàn Dự một lượt
từ đầu đến chân như để đánh giá xem thế nào, gật đầu nói:
- Đoàn công tử, muốn cải trang thành công tử
chúng tôi quả không phải dễ. Cũng may là bọn Cái Bang xưa nay chưa biết công tử
chúng tôi thế nào, giọng nói vẻ mặt ra sao cũng chỉ biết đại khái thôi.
Đoàn Dự nói:
- Tài nghệ của cô ghê gớm lắm, giả làm Kiều bang
chủ thật thích hợp, nếu không Kiều bang chủ đối với người của Cái Bang sớm hôm
gặp gỡ, nếu có sơ hở là họ biết ngay.
A Châu mỉm cười nói:
- Kiều bang chủ là một đấng trượng phu cao lớn vậy
mà tôi giả làm ông ta lại dễ dàng. Công tử chúng tôi tầm vóc không khác công tử
bao nhiêu, tuổi tác cũng chẳng hơn nhiều, cả hai đều là hạng con nhà gia thế,
ham học hành vậy mà Đoàn công tử phải bỏ bản lai diện mục của mình để biến
thành Mộ Dung công tử thì lại thật khó khăn.
Đoàn Dự thở dài:
- Mộ Dung công tử là rồng phượng trong loài người,
người khác dễ gì bắt chước cho giống được? Theo ta thì nếu cải trang không giống
cũng tốt, để đến khi cúp đuôi bỏ chạy cũng không tổn thương đến thanh danh của
Mộ Dung công tử.
Vương Ngữ Yên mặt hơi đỏ lên, nói khẽ:
- Đoàn công tử, ta lỡ lời công tử có giận ta
không?
Đoàn Dự vội đáp:
- Không, không! Đâu có, ta làm gì dám giận cô?
Vương Ngữ Yên mặt tươi cười nói:
- A Châu tỉ tỉ, hai người đi đâu cải trang đây?
A Châu đáp:
- Chắc phải đến một tiểu thị trấn mới có thể mua
được những thứ cần dùng.
Bốn người quay ngựa chạy về hướng tây. Đi chừng
bảy tám dặm đến một thị trấn tên là Mã Lang Kiều. Thị trấn này thật nhỏ bé,
không có khách điếm, A Châu nghĩ ra một cách, thuê một chiếc thuyền neo tại giữa
sông rồi sau đó đi xuống phố mua vật dụng, quần áo đem lên cải trang ngay trên
thuyền. Đất Giang Nam đâu đâu cũng đầy sông rạch, thuyền bè nhiều vô kể chẳng
khác gì gia súc ở miền bắc.
Nàng bảo Đoàn Dự thay đổi y phục trước, để chàng
mặc một chiếc áo dài màu xanh, tay phải cầm quạt xếp, ngón tay trái đeo nhẫn. A
Châu nói:
- Công tử chúng tôi đeo nhẫn ngọc đời Hán, ở đây
mua ở đâu ra? Thôi đành dùng tạm đá Thanh Điền nhập nhoạng, cũng được rồi.
Đoàn Dự chỉ đành gượng cười, bụng bảo dạ: “Mộ
Dung Phục là thứ ngọc quý, còn ta chỉ là hạng đá xoàng, trong lòng ba cô gái
này thân phận hai người cách nhau xa”. A Châu trét bột mì lên mặt chàng, nặn
mũi cho cao lên, sửa cho mặt hơi mập thêm một chút, lấy bút vẽ lông mày, khóe mắt,
hóa trang xong cười hỏi Vương Ngữ Yên:
- Cô nương xem thử còn chỗ nào không giống nữa
chăng?
Vương Ngữ Yên không trả lời chỉ ngây ngất nhìn
chàng, trong ánh mắt chứa đầy tình ý, hiển nhiên hồn đang bay bổng, tâm thần
miên man. Đoàn Dự thấy ánh mắt mê mẩn của nàng cũng thấy lòng lâng lâng nhưng
chợt nghĩ ra: “Nàng nhìn đây là nhìn Mộ Dung Phục chứ nào có phải Đoàn Dự ta
đâu?”. Chàng lại nghĩ thêm: “Không biết gã Mộ Dung Phục này anh tuấn cỡ nào, làm
sao hơn ta gấp trăm lần, tiếc thay ta không thấy được mình bây giờ ra sao”.
Lòng chàng khi thì vui, khi thì đổi ra giận dữ.
Hai người nhìn nhau, mỗi người theo đuổi một ý
nghĩ không biết A Châu, A Bích đã ra ngoài sau khoang cải trang từ hồi nào. Một
hồi sau, bỗng nghe giọng một người đàn ông ồm ồm nói:
- A, thì ra ngươi ở đây, làm cho người anh này
đi kiếm ngươi muốn chết được.
Đoàn Dự thất kinh, quay đầu lại thấy người vừa
nói chính là Kiều Phong, không khỏi vui mừng kêu lên:
- Đại ca đấy ư? Thế thì hay lắm. Bọn chúng tôi
đang định cải trang thành huynh để đi cứu người, bây giờ huynh lại đến đây, A
Châu tỉ tỉ không cần gì phải hóa trang nữa.
Kiều Phong nói:
- Người của Cái Bang đã trục xuất ta ra khỏi
bang rồi, bọn họ chết sống gì, Kiều mỗ cũng mặc kệ không coi vào đâu. Hảo huynh
đệ, đi mau, anh em mình lên bờ đi kiếm rượu uống thi với nhau hai chục bát xem
nào.
Đoàn Dự vội đáp:
- Đại ca, người trong Cái Bang đều là bạn bè cũ
của huynh, huynh làm ơn cứu họ một lần.
Kiều Phong giận dữ đáp:
- Thứ đồ gàn như ngươi biết gì? Thôi đi uống rượu
với ta nào!
Nói xong ông ta liền nắm tay Đoàn Dự. Đoàn Dự
không biết làm sao chỉ đành nói:
- Thôi được, để tiểu đệ hầu rượu đại ca, uống
xong rồi sẽ đi cứu người cũng được.
Bỗng thấy tay ông rất nhỏ, lòng bàn tay da thịt
mềm mại, trong lòng kinh ngạc. Kiều Phong đột nhiên cười khanh khách, giọng
trong trẻo uyển chuyển, một đại hán cao to lại nghe tiếng cười như một thiếu nữ
còn xuân, quả thực quái lạ. Đoàn Dự ngạc nhiên, lập tức hiểu ra, cười nói:
- A Châu tỉ tỉ, thuật cải trang của tỉ tỉ quả là
thần kỹ, đến cả cách ăn nói cũng y hệt không khác chút nào.
A Châu lại đổi qua giọng Kiều Phong nói:
- Hảo huynh đệ, thôi mình đi, ngươi nhớ mang
theo cái bình thuốc thối nhé.
Nàng quay sang nói với Vương Ngữ Yên và A Bích:
- Hai vị cô nương ở đây chờ tiện hơn.
Nói xong dắt tay Đoàn Dự, hăng hái bước lên bờ.
Không biết nàng đắp cái gì lên tay mà một bàn tay nhỏ nhắn mềm mại lúc giơ ra lại
đen sì, tuy không to như bàn tay Kiều Phong nhưng người ngoài thoáng nhìn thật
khó mà phân biệt.
Vương Ngữ Yên nhìn theo bóng Đoàn Dự, nghĩ thầm:
“Nếu anh chàng là biểu ca thật thì hay biết mấy. Biểu ca, giờ phút này chàng có
nhớ đến thiếp hay không?”.
A Châu và Đoàn Dự cưỡi ngựa chạy đến cách chùa
Thiên Ninh chừng năm dặm, ngại rằng bọn võ sĩ Tây Hạ ở trong chùa có thể nghe
được tiếng chân ngựa, đem ngựa buộc vào một chuồng bò nơi nhà một nông gia, đi
bộ tới.
A Châu nói:
- Mộ Dung huynh đệ, đi đến chùa rồi, ta sẽ đại
ngôn đàm luận, phét lác dọa cho chúng một mẻ, ngươi thừa cơ dùng bình thuốc thối
giải độc cho bang chúng Cái Bang.
Nàng nói mấy câu đó gọng thô hào, nghe y hệt Kiều
Phong. Đoàn Dự cười đáp lời. Hai người hùng dũng tiến về phía Thiên Ninh Tự, thấy
trước cửa chùa có độ mươi võ sĩ Tây Hạ, tay cầm trường đao, mặt mày hung ác. A
Châu và Đoàn Dự vừa trông thấy chúng tim đập thình thình không khỏi hoảng sợ. A
Châu nói nhỏ:
- Nếu có chuyện gì thì công tử dắt tôi chạy cho
nhanh, nếu không bọn chúng níu lại đòi tỉ võ thì thật khó mà đối phó.
Đoàn Dự đáp:
- Được!
Thế nhưng chàng nói giọng run run, trong bụng quả
là khiếp sợ. Hai người còn đang thì thầm bàn tính, nhìn quanh quất thăm dò thì
một tên võ sĩ đứng ngoài cửa đã trông thấy, lớn tiếng quát:
- Hai thằng chết tiệt kia, thập thò làm gì thế?
Các ngươi là gian tế chăng?
Tiếng quát chưa dứt đã có thêm bốn tên võ sĩ
khác ùa ra. A Châu không còn biết làm sao hơn, chỉ đành ưỡn ngực, hung hăng bước
tới, cất giọng ồm ồm:
- Mau báo cho tướng quân nhà các ngươi hay là Kiều
Phong của Cái Bang và Mộ Dung Phục đất Giang Nam đến xin gặp Hách Liên đại tướng
quân nước Tây Hạ.
Gã võ sĩ đứng đầu nghe thế giật nảy mình, vội
vàng vòng tay khom lưng nói:
- Thì ra là Kiều bang chủ của Cái Bang quang
giáng, quả là thất lễ, tiểu nhân xin vào bẩm báo.
Y lập tức quay vào trong chùa, những kẻ còn lại
cung kính thõng tay đứng hầu. Chẳng mấy chốc đã nghe tiếng tù và vang dội, cửa
chùa mở toang, đường chủ Nhất Phẩm Đường nước Tây Hạ là Hách Liên Thiết Thụ
cùng bọn Nỗ Nhi Hải các cao thủ, đi ra nghinh tiếp. Diệp Nhị Nương, Nam Hải Ngạc
Thần, Vân Trung Hạc cũng có mặt trong số đó.
Đoàn Dự hồi hộp tim đập thình thình, cúi đầu
không dám nhìn thẳng vào bọn họ. Hách Liên Thiết Thụ nói:
- Đã ngưỡng mộ đại danh của Cô Tô Mộ Dung từ lâu
với môn “gậy ông đập lưng ông”, hôm nay được gặp cao hiền thực quả là vinh hạnh.
Nói xong y vòng tay ôm quyền hướng về phía Đoàn
Dự hành lễ. Y nghĩ bụng Tây Hạ Nhất Phẩm Đường với Cái Bang nay đã thành thù
nghịch nên không tỏ vẻ gì nể nang Kiều Phong cả.
Đoàn Dự vội vàng hoàn lễ nói:
- Uy danh Hách Liên tướng quân vang dậy ra ngoài
biên ải, tại hạ vốn đã mong có dịp gặp được các vị anh hùng hào kiệt trong Nhất
Phẩm Đường một phen, hôm nay đường đột đến đây, xin rộng lòng tha thứ.
Nói mấy câu khách sáo kia đúng là chàng đã quen
mồm như cháo chẩy nên không có chút sơ hở nào. Hách Liên Thiết Thụ nói:
- Vẫn thường nghe tiếng trong võ lâm đồn rằng “Bắc
Kiều Phong, Nam Mộ Dung”, trong số anh kiệt của Trung Nguyên hai vị là đứng đầu,
hôm nay cùng giá lâm một lượt, quả là vinh hạnh xiết bao! Xin mời!
Y tránh qua một bên nhường lối mời hai người vào
trong đại điện. A Châu và Đoàn Dự gượng làm ra vẻ thản nhiên đi song song với
Hách Liên Thiết Thụ. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Cứ xem thần thái ngôn ngữ của gã tướng
quân Tây Hạ này, xem chừng y coi trọng Mộ Dung công tử hơn cả Kiều đại ca,
không lẽ gã Mộ Dung Phục kia nhân phẩm võ công còn trên đại ca ta một mức hay
sao? Ta xem ra thì đâu có thể như vậy được”.
Bỗng nghe tiếng một người thật quái lạ:
- Không thể như thế được! Không thể được!
Đoàn Dự giật mình, liếc qua xem ai vừa nói,
chính là Nam Hải Ngạc Thần. Y giương đôi mắt nhỏ như hạt đậu đánh giá Đoàn Dự,
vừa nhìn vừa lắc đầu. Đoàn Dự chột dạ, bụng bảo dạ: “Chết rồi! Chết thật rồi! Y
nhận ra mình!”. Lại nghe Nam Hải Ngạc Thần tiếp:
- Xem thân thể ngươi chưa được ba lạng xương,
làm cái quái gì được? Này, ta hỏi ngươi. Nghe người ta nói ngươi biết thuật “gậy
ông đập lưng ông”, Nhạc lão nhị này đếch tin nổi.
Đoàn Dự bấy giờ mới thở phào nghĩ thầm: “Hóa ra
y chưa nhận ra mình”. Nam Hải Ngạc Thần nói:
- Ta không cần ngươi phải ra tay, ta chỉ hỏi
ngươi, ngươi có biết Nhạc lão nhị này có môn gì đặc biệt không? Ngươi dùng cái
công phu con mẹ gì mà đối phó với ta để mà “gậy ông đập lưng ông” được?
Nói xong y đứng chống nạnh, vẻ mặt nhơn nhơn tự
đắc. Hách Liên Thiết Thụ đang toan lên tiếng chặn y lại nhưng lại nghĩ ngay, Mộ
Dung Phục tên tuổi rất lớn, danh với thực có đi đôi với nhau hay không, chi bằng
để gã Nam Hải Ngạc Thần điên điên khùng khùng này thử xem cho biết nên để yên
không can thiệp.
Trong khi nói chuyện thì cả bọn đã vào trong đại
điện rồi, Hách Liên Thiết Thụ mời Đoàn Dự ngồi ghế trên cùng nhưng Đoàn Dự nhường
thủ vị đó cho A Châu. Nam Hải Ngạc Thần lớn tiếng nói:
- Này, Mộ Dung tiểu tử, ngươi nói thử ta nghe
nào, công phu đắc ý nhất của ta là gì thế?
Đoàn Dự mỉm cười nghĩ bụng: “Người nào hỏi ta
thì ta không trả lời được chứ còn như ngươi hỏi ta thì thật là gãi đúng chỗ ngứa”.
Chàng bèn mở chiếc quạt ra, phe phẩy mấy cái nói:
- Nam Hải Ngạc Thần Nhạc lão tam, cái bản lãnh đắc
ý nhất của ngươi là lách cách một tiếng, vặn gãy cổ người ta. Mấy năm nay công
phu lại càng tiến bộ, bây giờ môn võ công tinh thục hơn cả là ngạc vĩ tiên và
ngạc chủy tiễn. Ta muốn đối phó với ngươi lẽ dĩ nhiên phải dùng roi đuôi cá sấu
và kéo hình hàm cá sấu chứ còn gì.
Chàng mở miệng nói ra hai cái tên ngạc vĩ tiên
và ngạc chủy tiễn khiến cho Nam Hải Ngạc Thần kinh ngạc đến há hốc mồm, đến
ngay cả Diệp Nhị Nương và Vân Trung Hạc cũng ngạc nhiên không kém. Hai món binh
khí đó Nam Hải Ngạc Thần mới luyện gần đây chưa từng thi triển với ai, chỉ cùng
Vân Trung Hạc động thủ một lần nơi đỉnh Vô Lượng Sơn, khi đó ngoài Mộc Uyển
Thanh ra không một ai trông thấy. Bọn họ có ngờ đâu Mộc Uyển Thanh đã kể hết đầu
đuôi cho anh chàng Mộ Dung công tử giả hiệu này nghe rồi.
Nam Hải Ngạc Thần nghiêng đầu quan sát Đoàn Dự
thật kỹ. Y tuy rất hung ác tàn nhẫn nhưng lại có bụng bội phục những người anh
hùng hảo hán, ngắm nghía một hồi giơ ngón tay cái lên nói:
- Giỏi thật!
Đoàn Dự đáp:
- Chẳng bõ cười!
Nam Hải Ngạc Thần nghĩ thầm: “Đến cả món binh
khí ta mới luyện đây y cũng nói ra được, những võ công khác còn phải hỏi làm
gì. Tiếc thay lão đại không có nơi đây, không thì sẽ một phen vặn hỏi y xem
sao. À! Có rồi!”. Y bèn lớn tiếng:
- Mộ Dung công tử, ngươi biết võ công của ta thật
chẳng có gì khó hiểu. Thế nhưng nếu như sư phụ ta đến đây, võ công của ông ấy
ngươi chẳng thể nào biết được.
Đoàn Dự mỉm cười hỏi:
- Sư phụ ngươi là ai thế? Ông ta có võ công gì đặc
biệt?
Nam Hải Ngạc Thần dương dương đắc ý đáp:
- Thụ nghiệp ân sư của ta thì qua đời đã lâu, chẳng
nói đến làm gì. Còn người thầy ta mới bái sư đây tài nghệ thật ghê gớm lắm, chẳng
phải ngoa, chỉ riêng một môn Lăng Ba Vi Bộ xem ra trên đời này không người thứ
hai nào biết được.
Đoàn Dự trầm ngâm đáp:
- Lăng Ba Vi Bộ thì quả là một môn võ công cao
siêu. Nếu bảo là Đoàn công tử nước Đại Lý thu các hạ làm đồ đệ, ta thật chẳng tin
chút nào.
Nam Hải Ngạc Thần vội đáp:
- Ta nói láo ngươi làm chi? Ở đây có bao nhiêu
người nghe thấy Đoàn công tử chính miệng gọi ta là đồ nhi mà!
Đoàn Dự trong bụng cười thầm: “Lúc đầu ngươi nhất
định thà chết không chịu lạy ta làm thầy, lúc này thì lại sợ ta không nhận là học
trò”. Chàng bèn nói:
- Ồ, nếu như thế các hạ chắc đã học được tuyệt kỹ
của sư phụ rồi? Chúc mừng! Chúc mừng!
Nam Hải Ngạc Thần lắc đầu quầy quậy nói:
- Chưa có! Chưa có! Nhà ngươi tự cho rằng võ
công trong thiên hạ cái gì cũng biết, cái gì cũng rành, nếu đi được ba bước
Lăng Ba Vi Bộ thôi thì Nhạc lão nhị này mới thực là bội phục.
Đoàn Dự mỉm cười đáp:
- Lăng Ba Vi Bộ tuy khó thật nhưng tại hạ cũng học
qua vài bước. Nhạc lão gia tử, ông thử chạy lại bắt tôi xem nào.
Nói rồi trường bào phất phới chàng đã lướt ra
chính giữa đại điện. Quần hào nước Tây Hạ trước nay chưa từng nghe nói đến Lăng
Ba Vi Bộ, nay nghe Nam Hải Ngạc Thần xưng tụng là một thần kỹ tuyệt luân, ai nấy
đều háo hức muốn xem ra thế nào, lập tức chia ra đứng chung quanh bốn góc để
xem Đoàn Dự biểu diễn.
Nam Hải Ngạc Thần gầm lên một tiếng thật ghê rợn,
tay trái vươn ra, tay phải xuyên qua bên dưới tả chưởng, chộp luôn vào Đoàn Dự.
Đoàn Dự đạp xéo qua hai bước, lui về sau nửa bước, thân hình nhẹ nhàng như gió
lướt qua tàu lá sen, khéo léo sao tránh được. Chỉ nghe bộp một tiếng, Nam Hải
Ngạc Thần thu chưởng về không kịp, năm ngón tay phải đã cắm vào cột trong đại
điện, sâu đến mấy tấc. Người đứng chung quanh thấy y công lực cao thâm như thế
ai nấy đều tái mặt. Nam Hải Ngạc Thần tấn công không trúng, lại rống lên lần nữa,
nhảy vọt tới, đem cả thân mình từ trên cao chộp xuống.
Đoàn Dự không thèm lý đến y, chỉ việc đạp theo
phương vị bát quái, tiêu sái lướt qua. Nam Hải Ngạc Thần càng tấn công nhanh
hơn, tiếng rống mỗi lúc một lớn chẳng khác gì một con mãnh thú. Đoàn Dự bỗng
nhìn thấy khuôn mặt khủng khiếp của y, trong lòng không khỏi sựng lại, vội vàng
quay đầu đi, lấy trong tay áo ra một chiếc khăn tay, buộc lên che mắt mình lại
nói:
- Nếu như ta bịt mắt lại ngươi cũng không bắt được
ta đâu.
Nam Hải Ngạc Thần cước bộ nhanh hơn, song chưởng
múa lên vù vù xông thẳng vào tấn công Đoàn Dự nhưng vẫn cách thân chàng một
chút. Người đứng xem ai nấy sợ giùm, lòng bàn tay tươm mồ hôi lạnh. A Châu quan
tâm đến Đoàn Dự nên cũng rợn cả người, đột nhiên cất giọng ồm ồm quát lên:
- Nam Hải Ngạc Thần, ngươi thấy Lăng Ba Vi Bộ của
Mộ Dung công tử so với sư phụ ngươi thì thế nào?
Nam Hải Ngạc Thần ngạc nhiên, bao nhiêu khí lực
trong người toát ra hết, lập tức dừng lại nói:
- Hay quá! Hay quá! Ngươi bịt mắt mà vẫn đi theo
bộ pháp quái dị kia được, e rằng đến sư phụ ta làm cũng không được. Gớm thật,
Cô Tô Mộ Dung quả thật danh bất hư truyền, Nam Hải Ngạc Thần này thực là bội phục.
Đoàn Dự gỡ chiếc khăn che mắt ra, quay lại chỗ
ngồi, trong đại tiếng tiếng hoan hô vang lên như sấm rền. Hách Liên Thiết Thụ đợi
hai người ngồi xuống rồi mới cầm chén trà lên nói:
- Mời dùng trà. Hai vị anh hùng quang lâm không
biết có chuyện gì muốn chỉ giáo?
A Châu đáp:
- Tệ bang có mấy anh em không biết đắc tội chỗ
nào, nghe nói tướng quân sai các cao thủ dùng võ công thượng thừa bắt họ lại
nơi đây. Tại hạ mạo muội đến xin tướng quân tha cho họ.
Nàng nhấn mạnh mấy chữ “sai các cao thủ dùng võ
công thượng thừa bắt họ lại” để mỉa mai người Tây Hạ sử dụng chất độc hèn hạ thô
bỉ bắt người. Hách Liên Thiết Thụ mỉm cười nói:
- Lời nói đó không sai. Mới rồi Mộ Dung công tử
đại hiển thân thủ, quả là không phải mang cái hư danh. Kiều bang chủ tên tuổi đứng
ngang với Mộ Dung công tử, vậy cũng xin lộ chút công phu cho xem thử, để cho
người Tây Hạ chúng tôi vui vẻ mà bội phục lúc đó sẽ thả các vị anh hùng hảo hán
của quý bang ra.
A Châu trong bụng hoang mang, nghĩ thầm: “Nếu
như bảo ta giả mạo thân thủ của Kiều bang chủ thì lập tức sẽ lòi đuôi ngay”.
Nàng còn đang tìm cách thoái thác, bỗng thấy chân tay mềm nhũn, tưởng như cử động
một ngón tay cũng không được, giống hệt như bị trúng độc tối hôm trước thật là
kinh hãi: “Chết rồi! Có ai ngờ đâu trong giờ phút này, bọn ác nhân Tây Hạ lại
giở trò cũ ra ám toán, không biết phải làm sao đây?”.
Các loại tà độc không thể nào xâm nhập vào người
Đoàn Dự nên chàng hoàn toàn không thấy gì khác, thấy A Châu mềm nhũn ngồi trên
ghế, biết nàng lại bị trúng độc khí nữa rồi, vội vàng lấy trong túi ra chiếc
bình thuốc thối, mở nắp đưa vào mũi nàng. A Châu vội hít mấy hơi vì nàng trúng
độc chưa nhiều nên tay chân liền hết tê dại. Nàng liền cầm chiếc bình ngửi liên
tiếp, trong bụng lấy làm lạ lùng sao địch nhân không ra tay can thiệp? Nhìn lại
bọn người Tây Hạ, thấy người nào người nấy cũng xuội lơ ngồi ỳ ra, không ai cử
động gì được, chỉ giương mắt nhìn quanh quất.
Đoàn Dự nói:
- Quái lạ làm sao! Bọn người này chẳng lẽ tự hại
mình, tự phóng độc, tự trúng độc hay sao?
A Châu liền đi tới gần lay Hách Liên Thiết Thụ.
Gã đại tướng quân kia liền xiêu đi nằm ngoẹo trên ghế, quả thực bị trúng độc rồi.
Thế nhưng y vẫn còn nói năng được, quát lên:
- Đứa nào dùng Bi Tô Thanh Phong đó? Có mau lấy
thuốc giải ra không nào!
Y quát tháo luôn mấy bận nhưng tất cả các thủ hạ
của y ai nấy đều nằm gục đó chỉ bẩm báo:
- Bẩm tướng quân, thuộc hạ không cử động được.
Nỗ Nhi Hải nói:
- Chắc là có kẻ nội gian, nếu không làm sao biết
được cách sử dụng phức tạp của loại Bi Tô Thanh Phong này?
Hách Liên Thiết Thụ giận dữ nói:
- Đúng đó! Đứa nào thế? Ngươi mau mau tra xét
cho rõ ràng, đem nó ra chặt thành vạn mảnh.
Nỗ Nhi Hải đáp:
- Vâng! Có điều bây giờ cần phải có thuốc giải
trước đã.
Hách Liên Thiết Thụ nói:
- Ngươi nói phải lắm! Mau mau đi lấy thuốc giả
coi nào.
Nỗ Nhi Hải lông mày nhíu lại, liếc mắt nhìn chiếc
bình sứ trong tay A Châu nói:
- Phiền Kiều bang chủ đem thuốc giải trong cái
bình cho chúng tôi ngửi, tướng quân chúng tôi thể nào cũng trọng thưởng.
A Châu cười nói:
- Ta muốn đến đây giải cứu anh em trong bang chứ
nào phải tham đồ trọng thưởng của tướng quân nhà ngươi đâu.
Nỗ Nhi Hải lại nói:
- Mộ Dung công tử, bên người tôi cũng có một cái
bình nhỏ, phiền công tử lấy ra, mở nắp cho tôi ngửi một chút.
Đoàn Dự thò tay vào túi y lấy ra một chiếc bình
nhỏ, quả nhiên cũng là thuốc giải bèn cười nói:
- Ta lấy giải dược ra nhưng không cho ngươi ngửi.
Chàng cùng A Châu hai người xuống hậu điện, đẩy
cửa phòng ở phía đông thấy bên trong đầy người đều là người của Cái Bang bị bắt
cầm giữ nơi đây. A Châu vừa bước vào, Ngô trưởng lão đã kêu lên:
- Kiều bang chủ, ông đấy ư? Thật phúc đức quá!
A Châu đưa giải dược cho ông ta ngửi nói:
- Đây là thuốc giải, ông đem cho các anh em khác
cùng ngửi để trừ chất độc trong cơ thể.
Ngô trưởng lão mừng quá, đợi đến khi tay chân bắt
đầu cử động được liền đưa chiếc bình cho Tống trưởng lão, còn Đoàn Dự thì đưa
chiếc bình lấy được của Nỗ Nhi Hải cho Từ trưởng lão. A Châu nói:
- Cái Bang đông người nếu muốn trục độc từng người
một thì biết bao giờ mới xong? Ngô trưởng lão, phiền ông đến chỗ bọn Tây Hạ tra
xét xem chúng có mang thuốc giải không?
Ngô trưởng lão đáp:
- Vâng!
Ông ta liền rảo bước ra ngoài đại điện, rồi nghe
từ ngoài vọng vào tiếng chửi bới, tiếng kêu trời, rồi tiếng kêu lốp bốp, hẳn là
Ngô trưởng lão một mặt đi kiếm thuốc giải, đồng thời đánh cho bõ tức. Một lúc
lâu sau, ông ta cầm sáu cái bình quay vào cười nói:
- Ta cứ xem đứa Hồ Lỗ nào ăn mặc sang trọng mà
tìm, quả nhiên lục một hồi trong người đều có thuốc giải, ha ha, mấy tên đó đứa
nào cũng khổ sở.
Đoàn Dự cười hỏi:
- Sao thế?
Ngô trưởng lão cũng cười:
- Cứ mỗi đứa ta cho hai hai cái bạt tai, đứa nào
có thuốc giải thì lại càng mạnh tay.
Ông ta bỗng nhiên nhớ ra mình chưa từng gặp Đoàn
Dự lần nào nên hỏi:
- Chẳng hay vị huynh đài này cao tính đại danh
là chi? Xin cảm ơn đã cứu chúng tôi.
Đoàn Dự đáp:
- Tại hạ họ kép là Mộ Dung, đến cứu hơi trễ để
quý vị phải chờ đợi, quả thật đắc tội.
Người trong Cái Bang nghe thấy người trước mặt
là kẻ danh tiếng lẫy lừng Cô Tô Mộ Dung, ai nấy đều hết sức ngạc nhiên. Tống
trưởng lão nói:
- Bọn chúng ta quả là có mắt như mù nói oan cho
Mộ Dung công tử giết hại Mã phó bang chủ. Hôm nay nếu không nhờ y và Kiều bang
chủ ra tay cứu, cả bọn rơi vào tay bọn chó dại Tây Hạ này, thì còn gì nữa?
Ngô trưởng lão nói:
- Kiều bang chủ, người trên không chấp lỗi của
người dưới, xin ông trở lại làm bang chủ cho xong.
Toàn Quan Thanh lạnh lùng nói:
- Kiều gia và Mộ Dung công tử quả nhiên là chỗ
tri giao.
Y gọi Kiều Phong là Kiều gia chứ không là Kiều
bang chủ đủ biết y không muốn Kiều Phong trở lại làm bang chủ nữa, lại bảo ông
với Mộ Dung công tử là chỗ tri giao hảo hữu, câu nói quả là lợi hại. Người
trong Cái Bang nghi Kiều Phong mượn tay Mộ Dung Phục, dùng kế mượn dao giết người
để trừ khử Mã Đại Nguyên, Kiều Phong vẫn chối không hề quen biết với Mộ Dung Phục.
Hôm nay hai người cùng đến chùa Thiên Ninh, nói nói cười cười, xem ra vẻ thân
thiết lắm hiển nhiên không phải chỉ vừa biết nhau.
A Châu nghĩ bụng những người này ai ai cũng biết
Kiều Phong từ lâu, càng để dây dưa càng khiến cho họ nhìn ra chỗ sơ hở liền
nói:
- Chuyện đại sự trong bang, từ từ bàn thảo với
nhau cũng không muộn. Ta đi xem những con chó Tây Hạ kia ra sao.
Nói xong liền đi ra ngoài đại điện, Đoàn Dự cũng
đi theo. Hai người vừa ra đến ngoài vừa lúc nghe Hách Liên Thiết Thụ quát tháo:
- Mau mau tra xét cho rõ ràng, thằng khốn kiếp
Tây Hạ nào đó tên là gì, kiếm đến nhà nó, bắt hết già trẻ trai gái, con gà con
chó giết cho kỳ hết. Con bà nó chứ, nó là người Tây Hạ, sao lại đi tương trợ
người ngoài lấy Bi Tô Thanh Phong đem ra rải loạn lên là sao?
Đoàn Dự ngạc nhiên nghĩ thầm: “Y đang chửi gã
Tây Hạ nào thế?”. Chỉ nghe Hách Liên Thiết Thụ chửi một câu thì Nỗ Nhi Hải lại
vâng dạ một câu. Hách Liên Thiết Thụ lại tiếp:
- Y viết trên tường tám chữ không phải là châm
chọc bọn mình hay sao?
A Châu và Đoàn Dự ngẩng đầu lên, thấy trên tường
vôi có bốn câu, mỗi hàng bốn chữ như rồng bay phượng múa:
Hễ ai có tài nghệ gì,
Ta đem trả ngược lại về cho ngươi.
Độc phong chuyên để hại người,
Cứ nguyên như thế dùng nơi chúng mày.
(Dĩ bỉ chi đạo,
Hoàn thi bỉ thân.
Mê nhân độc phong,
Nguyên bích quy quân).
Nét bút còn ướt sũng chưa khô, hiển nhiên người
viết đi chưa lâu. Đoàn Dự “A” lên một tiếng ấp úng:
- Cái đó... có phải Mộ Dung công tử viết đấy
chăng?
A Châu hạ giọng thì thầm:
- Đừng quên công tử đang đóng vai Mộ Dung công tử,
công tử chúng tôi biết viết nhiều loại chữ khác nhau, tôi cũng không phân biệt
được có phải ông ta viết hay không?
Đoàn Dự quay sang hỏi Nỗ Nhi Hải:
- Ai viết đó?
Nỗ Nhi Hải không trả lời trong bụng khiếp sợ,
không biết người trong Cái Bang sẽ làm gì mình. Bọn chúng bắt được các bang
chúng Cái Bang rồi, tra khảo đánh đập, không việc gì không làm, bọn họ chỉ cần
“ăn miếng trả miếng” là cũng đủ khổ sở lắm rồi. A Châu thấy quần hào Cái Bang
lũ lượt kéo vào đại điện nói nhỏ:
- Đại sự xong rồi, thôi mình đi!
Nàng lớn tiếng nói:
- Ta có việc gấp phải lo, cùng với Mộ Dung công
tử đi làm cho xong, sau này gặp lại.
Nói xong rảo bước đi ra khỏi điện. Ngô trưởng
lão cùng cả bọn kêu lên:
- Bang chủ đừng đi vội!
A Châu đâu dám nán lại thêm, lại cùng Đoàn Dự
càng đi nhanh hơn. Quần hào Cái Bang xưa nay kính sợ Kiều Phong đâu có người
nào dám bước ra ngăn trở. Hai người đi chừng một dặm, A Châu cười nói:
- Đoàn công tử, quả thật khéo làm sao, đứa học
trò xấu như ma lem lại đòi công tử biểu diễn Lăng Ba Vi Bộ, còn bảo công tử giỏi
hơn cả sư phụ y nữa.
Đoàn Dự cũng ồ lên một tiếng. A Châu lại tiếp:
- Không biết kẻ nào ngầm phóng thuốc mê? Gã Tây
Hạ tướng quân luôn mồm chửi rủa đứa nội gian, xem chứng chính người Tây Hạ làm
chuyện này!
Đoàn Dự đột nhiên nghĩ đến một người bèn nói:
- Hay chính là Lý Diên Tông? Là gã võ sĩ Tây Hạ
chúng tôi gặp nơi nhà máy xay lúa?
A Châu chưa từng gặp Lý Diên Tông nên không thể
nào trả lời gì được, chỉ nói:
- Thôi mình đến nói cho Vương cô nương hay để
xem cô ta nghĩ thế nào?
Hai người đang đi bỗng nghe tiếng ngựa chạy,
trên đường cái một người phi ngựa chạy tới. Đoàn Dự nhìn từ xa thấy chính là Kiều
Phong, mừng rỡ kêu lên:
- Kiều đại ca kìa!
Chàng đang tính lên tiếng gọi, A Châu vội vàng
giật tay áo chàng nói:
- Chớ có lên tiếng, người thật tới rồi đây.
Nàng vội vàng quay người đi. Đoàn Dự chợt hiểu
ra: “A Châu đang giả làm Kiều đại ca, để ông ta trông thấy quả là không hay”.
Chẳng mấy chốc Kiều Phong đã cưỡi ngựa đến gần. Đoàn Dự không dám đối diện với
ông ta nghĩ bụng: “Kiều đại ca khi gặp quần hào Cái Bang rồi, chân tướng sẽ rõ
ngay, không biết có trách A Châu đã dựng cái màn kịch này hay không?”.
Kiều Phong cứu được A Châu, A Bích hai nàng rồi
biết tin anh em của Cái Bang bị người Tây Hạ bắt giữ, trong bụng hốt hoảng vội
chạy lồng đi tìm khắp nơi. Thế nhưng đất Giang Nam chỗ nào cũng ruộng lúa vườn
dâu, sông hồ đường cái, ngang dọc chằng chịt không như phương bắc chỉ toàn đường
đi, Kiều Phong tìm kiếm mãi, may sao lại gặp được hai chú tiểu chùa Thiên Ninh,
hỏi rõ phương hướng lúc ấy mới chạy đến Thiên Ninh Tự được. Ông ta thấy Đoàn Dự
thần thái hiên ngang, diện mạo anh tuấn nghĩ thầm: “Chàng công tử này trông mặt
mũi sáng sủa chẳng kém gì Đoàn Dự huynh đệ”. A Châu lúc ấy đã quay mặt đi, ông
ta cũng không để ý, trong bụng chỉ lo cho người của Cái Bang nên quất ngựa chạy
cho nhanh về phía trước.
Ông chạy đến trước chùa Thiên Ninh, thấy độ mươi
bang chúng Cái Bang đang áp giải các võ sĩ Tây Hạ bị trói từ trong chùa đi ra.
Kiều Phong mừng quá nghĩ thầm: “Thì ra các anh em Cái Bang đã phản bại vi thắng
rồi”.
Những người của Cái Bang thấy Kiều Phong đi rồi
quay trở lại, tíu tít ra nghinh đón nói:
- Bẩm bang chủ, bọn giặc Hồ Lỗ bây giờ tính sao
đây, xin thỉnh thị hiệu lệnh của bang chủ.
Kiều Phong nói:
- Ta không còn là người của Cái Bang nữa, hai tiếng
bang chủ xin đừng đề cập đến. Các anh em có ai tổn thương gì không?
Bọn Từ trưởng lão trong chùa nghe tin vội vàng
chạy ra đón, ngoài ra Trí Quang đại sư, Triệu Tiền Tôn, vợ chồng họ Đàm, cha
con Đơn Chính cũng cùng bị trúng độc bị bắt, cũng chạy ra đón, bọn họ trông thấy
Kiều Phong hoặc mặt đỏ bừng, hoặc vui sướng ra mặt. Tống trưởng lão cao giọng
nói:
- Bang chủ, hôm qua ở trong rừng hạnh, thám tử bản
bang phái qua Tây Hạ đem về quân tình khẩn cấp, Từ trưởng lão tự mình quyết định
nên không cho ông xem, bang chủ có biết chuyện gì không? Từ trưởng lão, mau đem
ra cho bang chủ coi nào.
Giọng nói của ông ta xem ra có chiều khách khí.
Từ trưởng lão mặt mày sượng sùng, lấy viên giấy bên trong cục sáp ong, thở dài
đưa cho Kiều Phong nói:
- Tôi quả là lầm lẫn.
Kiều Phong lắc đầu không cầm. Tống trưởng lão
chen lên, cầm lấy mở cục giấy vo viên kia ra lớn tiếng đọc:
- Khải bẩm bang chủ: Thuộc hạ thám thính thấy tướng
quân Hách Liên Thiết Thụ của Tây Hạ dẫn các cao thủ Nhất Phẩm Đường đi đến
Trung Nguyên để đối phó với bản bang. Bọn họ có một loại độc khí ghê gớm lắm,
khi tung ra không mùi vị gì, khiến cho người ta không hay biết gì cử động không
được. Khi gặp bọn chúng, tuyệt đối phải bịt mũi lại, hoặc đánh ngã tên đầu não
của họ cướp lấy giải dược có mùi thối rất kinh người, nếu không cực kỳ nguy hiểm.
Rất khẩn cấp, rất khẩn cấp.
Thuộc hạ Đại Tín Đà Dịch Đại Bưu cấp bẩm báo.
Tống trưởng lão đọc xong, cùng bọn Ngô trưởng
lão, Hề trưởng lão hầm hầm nhìn Từ trưởng lão. Hề trưởng lão nói:
- Dịch Đại Bưu huynh đệ báo tin khẩn cấp đúng ra
cũng về đúng lúc, tiếc thay mình không kịp mở ra xem. Cũng may anh em chỉ bị một
phen hoảng vía không ai bị thương tổn. Bang chủ, tất cả chúng tôi xin chịu lỗi,
ông đại nhân đại nghĩa chẳng nói cũng biết.
Ngô trưởng lão nói:
- Bang chủ vừa đi khỏi anh em đã ra nông nỗi
này, không nhờ ông và Mộ Dung công tử kịp thời đến cứu thì toàn thể Cái Bang đã
bị diệt sạch rồi. Nếu như ông không quay về chủ trì đại cuộc, đứng đầu bản bang
thì không xong.
Kiều Phong ngạc nhiên hỏi lại:
- Cái gì mà Mộ Dung công tử?
Ngô trưởng lão nói:
- Gã Toàn Quan Thanh kia chỉ nói năng lếu láo,
ông đừng để tâm lời y làm gì. Kết giao bằng hữu có gì là không phải? Tôi tin là
đến hôm nay bang chủ mới quen biết được Mộ Dung công tử.
Kiều Phong hỏi:
- Mộ Dung công tử ư? Phải chăng ông nói đến Mộ
Dung Phục? Ta chưa từng gặp y bao giờ.
Từ trưởng lão cùng Hề Tống Trần Ngô bốn trưởng
lão mặt mày ngơ ngác, ai nấy ngớ người ra nghĩ bụng: “Chỉ mới vừa đây ông ta dắt
tay Mộ Dung công tử đến đưa thuốc giải cho bọn mình, sao bây giờ lại chối không
biết Mộ Dung Phục?”. Tống trưởng lão suy nghĩ một chút hiểu ngay nói:
- À, đúng rồi, gã thanh niên kia chỉ nói phức
tính Mộ Dung chứ nào có bảo rằng y là Mộ Dung Phục. Trên đời này người họ Mộ
Dung hàng nghìn hàng vạn, có gì là lạ đâu?
Trần trưởng lão nói:
- Y đề trên tường “gậy ông đập lưng ông”, không phải
Mộ Dung Phục thì còn ai?
Bỗng nghe có tiếng người eo éo nói:
- Gã công tử nhãi nhép kia công phu gì cũng biết,
môn nào so với chính chủ nhân lại còn tinh diệu hơn, chẳng là Mộ Dung Phục thì
gì? Chính là hắn rồi! Nhất định là hắn.
Mọi người nhìn vào kẻ vừa nói, thấy y mắt nhỏ
như chuột, râu ngắn mặt vàng, chính là Nam Hải Ngạc Thần. Y trúng độc rồi bị
trói nằm đó, nhịn không nổi liền chõ mồm vào nói góp. Kiều Phong lạ lùng hỏi:
- Thế ra Mộ Dung Phục đã đến đây rồi ư?
Nam Hải Ngạc Thần giận dữ chửi:
- Con mẹ ngươi rắm thối. Chính ngươi vừa mới dắt
tay Mộ Dung Phục đến đây, không biết dùng cái trò quái gì khiến cho lão tử mê
man. Ngươi có mau thả lão tử ra không nào, nếu không, hừ hừ...
Y liên tiếp mấy tiếng hừ hừ, không biết định nói
“nếu không” là sao, nghĩ đi nghĩ lại chỉ đành “hừ hừ...” không dứt. Kiều Phong
nói:
- Ta xem ngươi cũng là một hảo thủ võ lâm, sao lại
nói năng quấy quá như thế? Ta đến đây hồi nào? Làm gì có chuyện dắt tay Mộ Dung
Phục đến đây, nghe ra cực kỳ hoang đường.
Nam Hải Ngạc Thần tức đến thở hồng hộc gầm lên:
- Kiều Phong, tổ mẹ gã Kiều Phong, thật uổng cho
ngươi thân làm bang chủ Cái Bang mà lại nói năng tầm xàm đến thế. Này các anh
em lớn bé, có phải Kiều Phong vừa mới đến hay chăng? Tướng quân chúng ta chẳng
mời y ngồi trên uống trà là gì?
Cả bọn Tây Hạ đồng thanh đáp:
- Đúng thế, Mộ Dung Phục thi diễn Lăng Ba Vi Bộ,
Kiều Phong đứng bên vỗ tay khen hay, không lẽ còn giả được hay sao?
Ngô trưởng lão giật tay áo Kiều Phong nói nhỏ:
- Bang chủ, người ngay không làm trò ám muội,
chuyện mới rồi chẳng nên chối làm gì.
Kiều Phong cười gượng:
- Ngô tứ ca, chẳng nhẽ vừa rồi tứ ca cũng trông
thấy ta đến?
Ngô trưởng lão lấy chiếc bình thuốc giải đưa ra
nói:
- Bang chủ, chiếc bình này trả lại cho ông, mai
sau có việc dùng không chừng.
Kiều Phong ngạc nhiên:
- Trả lại cho ta ư? Sao lại trả cho ta?
Ngô trưởng lão nói:
- Thuốc giải này ông vừa mới đưa cho tôi, không
lẽ quên rồi sao?
Kiều Phong sững sờ:
- Cái gì? Ngô tứ ca, có thực ông vừa mới gặp ta
hay không?
Ngô trưởng lão thấy ông ta nhất quyết phủ nhận,
trong lòng không vui lại cảm thấy dường như không ổn. Kiều Phong tuy là người
tinh minh tài giỏi nhưng làm sao đoán ra được chỉ mới trước đây giây lát đã có
kẻ giả làm mình, đến chùa Thiên Ninh giải cứu người cho được? Ông nghĩ thầm việc
này ắt có một âm mưu trọng đại dấu bên trong. Ngô trưởng lão, Tống trưởng lão đều
là người thẳng tính, quyết không thể nào có điều gì gian dối nhưng vì kẻ bày
mưu tính kế là kẻ thật lợi hại nên đã an bài bố trí thật tinh vi khiến cho những
gì mình làm trở thành hoang đường tà ác.
Mọi người trong Cái Bang được giải cứu vốn dĩ ai
nấy đều cảm kích nhưng nay nghe thấy ông ta nhất quyết không nhận nên ai nấy đều
kinh ngạc. Có người nghĩ rằng mấy hôm nay ông gặp nhiều chuyện đau lòng, khiến
cho thần trí thác loạn, người khác lại cho rằng Kiều Phong có kế mưu bí mật đối
phó với Tây Hạ nên không chịu công khai nhận chuyện trước mặt bọn này, có người
lại cho rằng Mã Đại Nguyên quả đúng là bị ông ta giả tay Mộ Dung Phục giết đi,
e ngại gian mưu bai lộ nên khăng khăng chối là mình không quen biết gì với họ Mộ
Dung, kẻ khác lại đoán ông có ý định quay trở lại làm bang chủ Cái Bang nên sắp
đặt kế sách như thế, người lại cho rằng việc này ông ra tay chỉ vì Khất Đan để
hại Tây Hạ, Đại Tống. Mỗi người trong lòng nghĩ một nẻo nên trên mặt kẻ thì
hoài nghi, người lộ vẻ sùng kính, kẻ lại băn khoăn, phẫn nộ, hoặc giả khinh bỉ,
hận thù mỗi người một cách.
Kiều Phong thở dài một tiếng nói:
- Các vị đều đã thoát hiểm rồi, Kiều Phong này
xin từ biệt.
Nói xong ông ôm quyền, xoay người nhảy lên ngựa,
giơ roi lên quất ngựa chạy ngay. Bỗng nghe Từ trưởng lão gọi vói theo:
- Kiều Phong, hãy để Đả Cẩu Bổng lại.
Kiều Phong gò cương, nói:
- Đả Cẩu Bổng ư? Ở nơi rừng hạnh, ta đã giao lại
rồi mà?
Từ trưởng lão nói:
- Bọn ta sẩy tay bị bắt, Đả Cẩu Bổng rơi vào tay
bọn ác cẩu Tây Hạ. Bây giờ tìm khắp nơi không thấy đâu, ắt hẳn nhà ngươi lấy được
rồi.
Kiều Phong ngẩng mặt lên trời cười ha hả, thanh
âm thê lương lớn tiếng nói:
- Kiều Phong này với Cái Bang không còn giây mơ
rễ má gì nữa, lấy Đả Cẩu Bổng để làm gì? Từ trưởng lão, ông coi thể diện Kiều
Phong này nhẹ quá.
Hai chân ông kẹp một cái, con ngựa liền tung bốn
vó soải dài chạy vọt về hướng bắc. Kiều Phong từ thuở nhỏ đã được cha mẹ nâng
niu, về sau được Huyền Khổ đại sư của chùa Thiếu Lâm dạy võ nghệ, lại bái Uông
bang chủ của Cái Bang làm thầy, trước nay hành tẩu giang hồ tuy từng gặp nhiều
gian hiểm nhưng sư phụ bằng hữu ai nấy đãi ông một dạ chân thành. Trong hai
ngày qua ngờ đâu trời đất nổi cơn sóng gió, từ một vị bang chủ uy danh lừng lẫy,
chí thành chí nhân bị người ta coi thành một kẻ tiểu nhân bán nước hại dân, vô
sỉ vô tín.
Ông cứ để cho con ngựa tùy ý chạy đi, trong lòng
cực kỳ hỗn loạn: “Nếu như ta quả là người Khất Đan thật thì trong mười năm qua
tay ta giết biết bao nhiêu người Khất Đan, phá vỡ bao nhiêu đồ mưu của họ, có
phải là kẻ đại bất trung ư? Nếu đúng là cha mẹ ta bị người Hán giết ngoài Nhạn
Môn Quan, ta lại bái kẻ giết cha mẹ mình làm thầy, ba mươi năm qua nhận người
khác làm cha làm mẹ, có phải là kẻ đại bất hiếu ư? Kiều Phong ơi Kiều Phong,
ngươi là kẻ bất trung bất hiếu như thế, còn mặt mũi nào đứng giữa đất trời? Nếu
như Tam Hòe Công không phải cha ta thì ta nào có phải là Kiều Phong? Ta họ gì?
Cái tên cha ruột ta đặt cho ta là gì? Ha ha, ta không phải chỉ là kẻ bất trung
bất hiếu mà còn là đứa không họ không tên”.
Ông lại chợt nghĩ: “Có thể lắm! Không chừng tất
cả mọi việc đều do một kẻ đại gian đại ác vu hãm cho ta khiến cho một kẻ đường
đường trượng phu như Kiều Phong này trở thành thân bại danh liệt, không còn
ngóc đầu lên được nữa, nếu vì cái công phẫn nhất thời mà bỏ đi, chuyện Cái Bang
từ nay không ngó ngàng gì đến nữa thì có phải là gian mưu của y đã thành công rồi
ư? Ôi, nói gì thì nói, mình phải tra cứu cho minh bạch mới được”.
Trong bụng tính toán việc đầu tiên là phải đến
núi Thiếu Thất tỉnh Hà Nam, hỏi Tam Hòe Công về thân thế lai lịch của mình, kế
đó sẽ vào chùa Thiếu Lâm khấu kiến thụ nghiệp ân sư Huyền Khổ đại sư để xin cho
biết rõ chân tướng. Hai người này xưa nay đối với ta thương yêu khôn xiết, chắc
sẽ không dấu diếm điều gì.
Ông đã trù tính như vậy, trong lòng không còn
phiền não nữa. Từ trước tới nay ông vốn là bang chủ Cái Bang nên hành tẩu giang
hồ bốn biển đâu đâu cũng là nhà, giờ này không tiện đến các phân đà tá túc nữa,
nhưng để cho khỏi rắc rối thêm nên đến đâu cũng tránh đường lớn. Đi được hai
ngày, tiền bạc trong người cạn cả rồi, đành phải đem con ngựa đoạt được của người
Tây Hạ đem ra bán để làm lộ phí.
Hôm đó ông đến chân dãy Tung Sơn bèn nhắm theo
ngọn Thiếu Thất mà tới. Đây là nơi ông sinh sống hồi nhỏ nên chỗ nào cũng quen
thuộc. Từ khi ông xuất nhiệm làm bang chủ Cái Bang đến nay, Cái Bang là bang hội
lớn nhất giang hồ, phái Thiếu Lâm là môn phái lớn nhất võ lâm nên nếu như bang
chủ Cái Bang đến ắt phải đủ loại nghi lễ sắp xếp kinh động rất nhiều nên chưa
bao giờ quay trở lại, chỉ hàng năm sai người đem áo quần đồ ăn thức uống kính
biếu cha mẹ, ân sư, hỏi thăm sức khỏe mà thôi. Đến lúc này quay trở về quê cũ,
nghĩ đến mình thân thế mơ hồ, chỉ trong một hai giờ nữa sẽ rõ, nên tuy ông là
người trấn tĩnh trầm ổn nhưng lòng cũng thấy nao nao.
Nhà cũ của ông ở bên cạnh một triền núi ở phía
đông núi Thiếu Thất. Kiều Phong rảo bước đi vòng sơn pha, thấy dưới gốc cây táo
bên cạnh vườn rau có úp một chiếc nón cạnh một bình trà. Chiếc bình trà quai đã
gãy, Kiều Phong nhận ra ngay là vật của phụ thân Kiều Tam Hòe, trong lòng dâng
lên một lòng thương cảm: “Cha ta cần mẫn tiết kiệm, chiếc bình trà vỡ này dùng
đã mấy chục năm nay nhưng cũng không nỡ vứt bỏ”.
Ông nhìn thấy cây táo lớn, nhớ tới khi còn nhỏ mỗi
mùa trái chín, phụ thân đều nắm bàn tay bé nhỏ của ông cùng rung cho táo rụng.
Những trái táo chín đỏ đến nứt cả ra, vừa ngọt vừa nhiều nước, từ thuở rời cố
hương đến nay ông chưa từng nếm lại thứ táo nào ngon đến thế. Kiều Phong nghĩ
thầm: “Dẫu hai người không phải cha mẹ ruột ta chăng nữa nhưng cái ơn dưỡng dục
kia suốt đời cũng không sao báo đáp được. Bất luận thân thế chân tướng của ta
thế nào, ta nhất quyết không vì thế mà đổi cách xưng hô”.
Ông đi đến trước ba gian nhà đất, thấy đằng trước
trải một chiếc phên tre phơi đầy rau, một con gà mẹ dẫn một bầy gà con, đang
tìm mồi nơi đám cỏ. Ông không khỏi mỉm cười: “Hôm nay thể nào má chẳng giết gà
làm cơm đãi đứa con lâu nay không gặp”. Ông cao giọng gọi:
- Cha, mẹ! Con đã về đây!
Ông gọi luôn mấy tiếng không nghe đáp lại, nghĩ
thầm: “À, đúng rồi! Hai ông bà tai điếc rồi, không nghe được nữa”. Ông đẩy cửa
ra bước vào, trong nhà bàn ghế giường phản, cày bừa mai xẻng vẫn không khác khi
ông ra đi bao nhiêu, nhưng không thấy một bóng người.
Kiều Phong lại gọi thêm mấy tiếng nữa:
- Cha mẹ ơi!
Vẫn không thấy ai trả lời, ông hơi ngạc nhiên, lẩm
bẩm một mình:
- Không biết hai người đi đâu?
Ông thò đầu vào trong phòng ngủ xem thử, không
khỏi giật mình kinh hãi, thấy vợ chồng Kiều Tam Hòe nằm lăn trên mặt đất, không
động đậy gì cả. Kiều Phong vội vàng nhảy vào, trước hết đỡ mẹ dậy, thấy bà ta
đã tắt thở nhưng thân còn hơi ấm, xem ra chết chưa đầy một giờ. Ông lại đỡ cha
lên thì cũng y như thế.
Kiều Phong vừa kinh hoàng, lại vừa đau xót, ôm
xác cha chạy ra ngoài cửa, dưới ánh sáng mặt trời xem xét kỹ, thấy ngực ông gân
cốt đều bị đứt đoạn, hiển nhiên bị một cao thủ võ học dùng chưởng lực cực kỳ lợi
hại đánh chết. Ông lại quan sát mẫu thân thì cũng không khác chút nào. Kiều
Phong trong lòng hỗn loạn: “Cha mẹ ta là vợ chồng nhà quê trung hậu thực thà,
sao lại bị cao thủ võ học đến hạ độc thủ? Ắt hẳn là tại ta mà ra".
Ông xem kỹ bên trong ba gian phòng, trước nhà
sau nhà, nhảy cả trên mái nhà để tra xét xem hung thủ là hạng người nào. Thế
nhưng kẻ hạ độc đến dấu chân cũng không để lại. Kiều Phong mặt mày đẫm lệ, càng
nghĩ càng đau buồn, nhịn không nổi khóc òa lên.
Chỉ mới khóc được một lát, bỗng nghe sau lưng có
tiếng người:
- Tiếc thay! Tiếc thay, chúng ta đến chậm một bước
rồi.
Kiều Phong đứng lên quay lại, thấy bốn nhà sư
trung niên, phục sức theo lối chùa Thiếu Lâm. Kiều Phong tuy đã từng học nghệ
phái Thiếu Lâm nhưng người truyền thụ võ công cho ông là Huyền Khổ đại sư mỗi
ngày đến nửa đêm xuống thẳng nhà ông dạy võ thành ra ông không biết một nhà sư
nào trong chùa. Lúc này ông trong lòng buồn khổ, tuy thấy người ngoài nhưng nhất
thời không cầm được nước mắt.
Một nhà sư dáng người cao cao đầy vẻ giận dữ, lớn
tiếng nói:
- Kiều Phong, ngươi quả là không bằng heo bằng
chó. Vợ chồng Kiều Tam Hòe tuy không phải là cha mẹ ruột của ngươi nhưng hơn mười
năm nuôi nấng, cái ơn đó quả là không nhỏ, ngươi nỡ nào ra tay sát hại?
Kiều Phong sụt sùi đáp:
- Tại hạ vừa mới trở về nhà, thấy cha mẹ bị hại,
chính đang muốn tra xét hung thủ là ai để báo thù cho cha mẹ, đại sư sao lại
nói như thế?
Nhà sư kia bực tức đáp:
- Người Khất Đan lòng như lang sói, quả nhiên
hành động không khác gì cầm thú. Ngươi chính tay giết cha mẹ nuôi, bọn ta chỉ
tiếc đến quá muộn. Họ Kiều kia, ngươi muốn đến núi Thiếu Thất làm càn, e rằng
không xong đâu.
Nói xong nghe vù một tiếng đã đánh ra một chưởng
thẳng vào ngực Kiều Phong. Kiều Phong vừa toan tránh né, bỗng thấy sau lưng có
hơi gió nhè nhẹ, biết ngay có người đánh lén, ông không muốn cùng những nhà sư
Thiếu Lâm kia chưa rõ đầu đuôi đã động thủ, chân trái điểm một cái đã nhẹ nhàng
vọt ra xa hơn một trượng, quả nhiên một nhà sư Thiếu Lâm đá hụt vào quãng
không.
Bốn nhà sư thấy ông dùng khinh công tránh được
ai nấy lộ vẻ kinh dị. Nhà sư cao lớn liền chửi:
- Võ công ngươi tuy giỏi thật nhưng đã làm sao?
Ngươi tưởng rằng giết nghĩa phụ nghĩa mẫu diệt khẩu để che dấu xuất thân lai lịch,
chỉ tiếc thay ngươi là giống nghiệt chủng Khất Đan, việc này đã truyền vang
trên giang hồ, trong võ lâm có ai còn không biết, có ai còn không hay? Ngươi
làm chuyện đại nghịch như thế chỉ làm tăng thêm tội nghiệt mà thôi.
Một nhà sư khác lại tiếp:
- Ngươi trước kia giết Mã Đại Nguyên, rồi nay giết
vợ chồng Kiều Tam Hòe, hừ hừ, chuyện xấu xa đó tưởng thế mà che dấu được hay
sao?
Kiều Phong tuy nghe hai nhà sư nhục mạ riếc móc
như thế, trong lòng chỉ cảm thấy xót xa, chẳng có chút nào oán hận. Ông bình
sinh gặp chuyện lớn, quyết đoán hiềm nghi, đã từng gặp không biết bao nhiêu
chuyện khó khăn lúc này lại càng cố nén nhịn, vòng tay hành lễ nói:
- Xin hỏi pháp danh bốn vị đại sư xưng hô thế
nào? Có phải là tăng nhân chùa Thiếu Lâm chăng?
Một nhà sư người tầm thước tính tình dễ chịu nhất
liền nói:
- Bọn ta đều là đệ tử Thiếu Lâm. Ôi, nghĩa phụ
nghĩa mẫu ngươi một đời trung hậu sao lại gặp cảnh thảm báo thế này. Kiều
Phong, người Khất Đan các ngươi ra tay quả là độc địa.
Kiều Phong nghĩ thầm: “Nếu như họ không chịu
tuyên lộ pháp danh, có hỏi thêm cũng vô ích. Nhà sư cao kia đã nói rằng họ đến
cứu chậm mất rồi hẳn là có người báo tin đến cứu viện, thế nhưng ai là người đến
đưa tin? Ai là người dự đoán cha mẹ ta sẽ gặp hung hiểm?”. Ông liền đáp:
- Bốn vị đại sư lòng dạ từ bi, xuống núi đến cứu
cha mẹ tôi, tiếc thay chậm mất một bước...
Nhà sư cao kia tính nóng như lửa, giơ nắm tay to
lớn lên, nghe vù một tiếng nhắm Kiều Phong đấm tới, quát lớn:
- Bọn ta chậm một bước nên mới để ngươi làm chuyện
ngược ngạo này, ngươi còn hợm hĩnh khoe khoang, đắc ý châm chọc nữa hay sao?
Kiều Phong biết bốn người đều có lòng tốt, vừa
nghe tin lập tức chạy xuống cứu cha mẹ mình nên không muốn cùng họ động thủ quá
chiêu, thế nhưng nếu không chế ngự được bọn họ thì vĩnh viễn sẽ không bao giờ
tìm được chân tướng nên nói:
- Tại hạ hết sức cảm kích hảo ý của bốn vị, chuyện
hôm nay không biết làm sao hơn, đành phải đắc tội.
Nói xong thân mình quay vụt lại nhắm ngay vai
nhà sư thứ ba đánh tới. Nhà sư đó kêu lên:
- Muốn động thủ thực hay sao?
Câu nói chưa dứt, đầu vai đã bị Kiều Phong đánh
trúng rồi, thân mình mềm nhũn, ngồi phịch xuống đất. Kiều Phong học nghệ của
phái Thiếu Lâm nên võ công gia số của bốn nhà sư ông thuộc nằm lòng, liên tiếp
xuất chưởng đánh ngã từng người một nói:
- Đắc tội! Xin hỏi bốn vị sư phụ, các ông nói là
đến cứu chậm mất rồi, vậy làm sao biết được là cha mẹ tôi gặp phải nguy nan? Ai
là người báo tin cho bốn vị sư phụ?
Nhà sư cao kia giận dữ đáp:
- Có phải ngươi muốn biết rõ ai là người đưa tin
để tới ra tay giết hại người ta ư? Đệ tử Thiếu Lâm lẽ nào chịu để cho bọn chó
Khất Đan tàn nhẫn kia bức cung? Ngươi cứ thử dùng độc hình xem bọn ta có thổ lộ
nửa lời hay chăng?
Kiều Phong trong bụng than thầm: “Hiểu lầm mỗi
lúc một thêm, dù ta có hỏi cách nào bọn họ cũng nghĩ là mình đang tra vấn”. Ông
đưa tay xoa nắn trên lưng mỗi người mấy cái, giải những huyệt đạo bị phong cho
bốn người nói:
- Nếu như muốn sát nhân diệt khẩu thì lúc này mỗ
đã lấy mạng bốn vị rồi. Chân tướng thị phi, thể nào rồi đây cũng có ngày thủy lạc
thạch xuất.
Bỗng nghe từ sườn núi có tiếng người cười khẩy:
- Muốn giết người bịt miệng cũng đâu phải dễ
dàng như thế.
Kiều Phong quay đầu lại đã thấy bên cạnh núi đứng
khoảng hơn chục nhà sư Thiếu Lâm, trong tay ai nấy cầm kim binh khí. Hai nhà sư
đứng đầu đều vào khoảng trên dưới năm mươi, trong tay đều cầm một cây phương tiện
sản, đầu sản hình mặt trăng làm bằng đồng ròng phát ra hàn quang lấp lánh, mắt
cả hai sáng ngời chỉ thoạt nhìn đã biết nội công cực kỳ thâm hậu. Kiều Phong
tuy không sợ gì cả nhưng cũng biết những người vừa đến võ công không phải tầm
thường, nếu hai bên phải giao tranh thì không thể không giết vài người mới có
thể bảo toàn tính mạng mà thoái lui. Ông hai tay ôm thành quyền nói:
- Kiều Phong vô lễ, xin tạ tội với chư vị đại
sư.
Đột nhiên thân hình bay ngược về sau, lưng đụng
phá vỡ cánh cửa chui tọt vào trong căn nhà đất. Biến cố đó cực kỳ nhanh, các
nhà sư cùng kinh hoảng kêu la, năm sáu người cùng xông lên nhưng vừa đến cửa, một
luồng kình phong từ bên trong đánh ra. Năm sáu người kia ai nấy đều vội vàng
giơ tả chưởng lên vận nội lực chống đỡ, nghe bùng một tiếng, bụi đất bay mịt
mù, tất cả bị chưởng lực từ bên trong ép phải lùi lại bốn năm bước.
Đợi đến khi mọi người đứng vững lại rồi, ai nấy
thấy khí huyết trong ngực trào lên, người nào cũng mặt mày ngơ ngác, trong bụng
đều hiểu rằng: “Chưởng lực của Kiều Phong tuy mãnh liệt thật nhưng vẫn còn dư lực,
nếu đánh ra chưởng thứ hai chưa chắc đã chống đỡ nổi”. Ai nấy cho rằng Kiều
Phong là kẻ cùng hung cực ác nên đang thu lực để đánh thêm, có biết đâu ông ra
nhẹ đòn không muốn đả thương người khác.
Mọi người ai nấy thủ thế đề phòng, một hồi sau,
hai nhà sư đứng đầu cầm phương tiện sản, cùng sử chiêu Song Long Nhập Động đánh
ép hai bên, thân hình theo sản song song cùng tiến vào căn nhà đất. Keng keng
keng hai thanh sản chạm nhau, kết thành một màn lưới bảo hộ toàn thân nhưng chỉ
thấy trong nhà trống không, nào thấy hình bóng Kiều Phong đâu nữa? Lạ lùng nhất,
đến thi thể vợ chồng Kiều Tam Hòe cũng không còn.
Hai nhà sư sử dụng phương tiện sản thuộc Giới Luật
Viện trong chùa Thiếu Lâm, một người giữ chức trì giới tăng, giám thủ hành vi
các đệ tử bản phái, còn một người là thủ luật tăng, bình thời hành tẩu giang hồ
tra xét công tội các đệ tử môn hạ, bản thân võ công cố nhiên cao cường, kiến
văn cũng rộng rãi người khác không thể nào bì kịp.
Hai người thấy Kiều Phong trong khoảnh khắc biến
đi đằng nào không biết cũng đã cực kỳ khó rồi, lại ôm theo hai cái xác vợ chồng
Kiều Tam Hòe, quả thật không thể nào ngờ nổi. Các nhà sư tra xét ngõ trước vườn
sau, đến cả nhà bếp, lục lọi mấy lần. Hai nhà sư giới luật cùng chạy xuống núi
đuổi theo, đuổi đến hơn hai chục dặm nhưng nào có thấy tung tích Kiều Phong
đâu?
Có ai ngờ được Kiều Phong ôm xác cha mẹ lại chạy
ngược lên núi Thiếu Thất. Ông tìm đến một sườn núi thật kín đáo, rậm rạp cheo
leo đem cha mẹ chôn nơi đó, quỳ xuống cung kính lạy tám lạy, trong bụng khấn thầm:
“Cha mẹ bị người nào hạ độc thủ giết hại, hài nhi thể nào cũng tìm cho ra hung
thủ, đưa đến mộ phần moi tim tế sống hai vị lão nhân gia”.
Ông nghĩ đến lần này quay trở về nhà, chỉ chậm mất
một bước, nên đã không gặp được cha mẹ, nếu không ông bà thấy mình đã trở thành
tráng kiện khôi ngô, thể nào cũng vui mừng lắm. Giá như ba người được tụ hội một
ngày nửa buổi thì cũng còn được khoái hoạt trong giây lát. Nghĩ đến như thế, nhịn
không nổi lại khóc thầm. Ông từ bé vốn tính tình cứng cỏi, ít khi khóc lóc, hôm
nay vì hết sức thương tâm, hết sức bi phẫn nên nước mắt tuôn trào không sao cầm
được giọt lệ.
Đột nhiên trong lòng lại nảy ra một ý niệm, kêu
thầm: “Chết rồi, không xong, thụ nghiệp ân sư của ta là Huyền Khổ đại sư không
chừng cũng bị nguy hiểm”. Đột nhiên ông hiểu rõ luôn mấy việc: “Hung thủ giết
cha mẹ ta không phải chỉ là ngẫu nhiên xảo hợp mà hạ thủ chỉ nửa giờ trước khi
ta về đến nhà mà là y đã dự mưu, hạ thủ xong rồi lập tức thông tri cho các nhà
sư chùa Thiếu Lâm rằng ta đang lên núi Thiếu Thất giết hai ông bà để bịt miệng.
Các nhà sư đó bụng dạ hiệp nghĩa, một lòng muốn cứu cha mẹ ta thể nào cũng chạm
trán với ta. Trên đời này biết được thân thế ta nay chỉ còn một sư phụ Huyền Khổ
mà thôi, phải phòng hung đồ hạ độc thủ đem tội danh đổ riệt lên đầu mình”.
Ông nghĩ đến Huyền Khổ đại sư vì mình mà phải chịu
nguy nan, lập tức tâm can nóng như lửa đốt, vội vàng cất bước chạy thẳng lên
chùa Thiếu Lâm. Ông biết rõ trong chùa cao thủ đông như kiến, trong Đạt Ma Đường
cững đã có vài vị lão tăng mang tuyệt kỹ kinh người, mình chỉ vừa lộ diện,
chúng tăng sẽ cùng xông lên tấn công, muốn thoát thân không phải là chuyện dễ
dàng nên chỉ tìm những đường mòn mà chạy. Đi vòng theo đường nhỏ lên núi, lộ
trình dài gần gấp rưỡi, chạy đến hơn một giờ mới lên đến sau chùa. Lúc đó trời
đã tối mịt, ông trong lòng vừa mừng vừa lo, mừng là vì trời tối dễ dàng trốn tránh,
lo là sợ hung thủ thùa cơ đánh lén không phải dễ dàng tìm ra tung tích của y được.
Mấy năm qua ông tung hoành giang hồ, ít khi gặp
địch thủ, thế nhưng lần này kẻ địch, võ công cố nhiên cao cường đã đành mà tâm
kế cũng công phu, tính toán độc địa, trước nay ông chưa từng gặp bao giờ. Chùa
Thiếu Lâm tuy là đầm rồng hang hổ nhưng đâu có đề phòng có người đến gia hại
Huyền Khổ đại sư, nếu như có người tới đánh trộm thì e rằng khó mà thoát được
ám toán. Kiều Phong đâu phải không biết mình đang ở vào cảnh bị hiềm nghi cực nặng
nề, nếu như lúc này Huyền Khổ đại sư đã bị độc thủ, dẫu không ai nhìn thấy hung
thủ hình dạng thế nào nhưng nếu mình bị người ta phát giác lén lén lút lút lẻn
vào trong chùa thì dù có trăm cái miệng cũng không biện bạch nổi.
Nếu lúc này ông muốn độc thiện kỳ thân thì tránh
xa chùa Thiếu Lâm càng xa càng tốt, nhưng một là quan hoài an nguy của ân sư
Huyền Khổ đại sư, thứ nữa cũng muốn thừa cơ bắt lấy hung thủ đích thực để báo
thù cho cha mẹ nên dẫu cực kỳ nguy hiểm ông cũng không coi vào đâu.
Ông tuy ở tại núi Thiếu Thất hơn chục năm nhưng
chưa hề bước chân vào trong chùa, thành thử phương hướng phòng ốc hoàn toàn
không biết gì cả. Do đó Huyền Khổ đại sư ngụ tai nơi nao ông chẳng hề hay biết,
nghĩ bụng: “Nếu như ân sư bình an không sao cả, ta gặp được thầy ta rồi sẽ bẩm
rõ nội tình để lão nhân gia để ý đề phòng, sau đó sẽ hỏi thân thế lai lịch, may
ra ân sư có thể đoán được hung thủ là ai”.
Trong chùa Thiếu Lâm, điện, đường, viện, lạc đâu
phải chỉ vài mươi căn, đông một tòa, tây một tòa rải rác khắp các sườn núi. Huyền
Khổ đại sư ở trong chùa không chấp chưởng chức vụ gì, nhà sư hàng chữ “Huyền”
ít ra cũng phải hai chục người, người nào ăn mặc cũng giống nhau, trong đêm tối
biết tìm ông nơi đâu? Kiều Phong tính thầm trong bụng: “Chỉ còn một cách duy nhất
là bắt lấy một nhà sư Thiếu Lâm, ép y phải đưa mình đến gặp Huyền Khổ sư phụ,
sau khi gặp ông rồi sẽ nói rõ việc mình bất đắc dĩ phải làm như thế rồi trịnh
trọng xin lỗi ông ta. Thế nhưng những nhà sư Thiếu Lâm phần lớn tôn sư trọng
nghĩa, nếu như y lại tưởng ta mưu toan điều gì bất lợi cho Huyền Khổ đại sư, hẳn
là thà chết chứ không chịu khuất phục, nhất định không chịu cho ta biết ông ta ở
nơi đâu. Ôi, hay là ta đến nhà bếp tìm một gã hỏa công bảo y dẫn đường thế
nhưng những người đó chắc gì đã biết được sư phụ ta ở chỗ nào”.
Ông nhất thời bàng hoàng không biết tính sao, mỗi
khi qua một điện đường sương phòng lại nằm phục bên ngoài cửa sổ nghe ngóng, hi
vọng biết được chút manh mối gì. Tuy ông thân thể cao to nhưng thân thủ nhanh
nhẹn, trồi lên hụp xuống nhẹ nhàng như một con mèo nên không ai biết được.
Cứ từng bước từng bước như thế, đi đến một tòa
nhà nhỏ bỗng nghe bên trong có người nói:
- Phương trượng có việc quan trọng cần bàn bạc,
xin sư thúc lập tức đến ngay Chứng Đạo Viện.
Lại nghe một giọng già nua trả lời:
- Được rồi! Ta sẽ đến ngay.
Kiều Phong nghĩ thầm: “Phương trượng triệu tập
người để bàn việc quan trọng, sư phụ ta cũng có mặt không chừng. Chi bằng ta
theo người này đến Chứng Đạo Viện”. Chỉ nghe kẹt một tiếng, cánh cửa mở ra, hai
nhà sư đi ra, người già đi về hướng tây còn người trẻ đi về hướng đông chắc là
đi truyền tin cho những người khác.
Kiều Phong bụng bảo dạ, phương trượng mời lão
tăng này đến thương lượng yếu sự, ông ta ắt hẳn vai vế cực cao, chùa Thiếu Lâm
không phải như những chùa khác, phàm những người bối phận cao võ công ắt cũng
cao thâm. Ông không dám đi sát theo sau, chỉ nhìn theo sau lưng đi xa xa thấy
ông ta đi thẳng về hướng tây đi vào một tòa nhà. Kiều Phong đợi ông ta đi vào
trong phòng rồi mới đi vòng ra phía sau, xem kỹ chung quanh không có ai mới dám
nằm phục xuống bên cạnh cửa sổ.
Ông trong lòng bi phẫn, lại thêm tức tối tự nhủ:
“Kiều Phong này từ thuở hành tẩu giang hồ đến nay, đối đãi với đồng đạo chính
phái trong võ lâm, có chuyện gì mà không quang minh lỗi lạc, đàn anh kẻ cả đâu?
Vậy mà hôm nay ta phải lén lén lút lút, nếu như hành tung bại lộ thì một đời
anh danh của Kiều mỗ còn mặt mũi nào mà nhìn ai?”. Ông lập tức lại nghĩ ngay:
“Năm xua sư phụ hằng đêm xuống núi đây võ nghệ cho ta, dẫu có mưa to gió lớn
cũng chưa bao giờ bỏ một ngày nào. Cái ơn nặng như thế, ta dù tan xương nát thịt
cũng chưa báo đáp được, huống hồ một chút nhục cỏn con”.
Chỉ nghe ngoài cửa có tiếng bước chân người, trước
sau đi vào bốn người, chẳng mấy chốc lại thêm hai người nữa, bóng chiếu trên giấy
dán cửa sổ, phải đến trên mười người cả thảy. Kiều Phong nghĩ thầm: “Nếu như họ
thương lượng việc quan trọng cơ mật của phái Thiếu Lâm nếu như ta nghe lỏm được,
dù ta không cố ý nhưng cũng không ổn, chi bằng ta tránh ra xa xa thì hơn. Nếu như
sư phụ có ở trong nhà, trong đó cao thủ nhiều như thế, dẫu hung thủ có lợi hại
thế nào chăng nữa cũng không sao đả thương ông ta được, đợi khi thương nghị
xong rồi, quần tăng phân tán ta sẽ tìm cách gặp sư phụ sau”.
Ông đang toan rón rén đi ra, bỗng nghe trong nhà
hơn chục tăng nhân cùng lên tiếng tụng kinh. Kiều Phong không biết họ tụng kinh
văn nào, nhưng nghe thấy giọng trang nghiêm hiền từ, một số người tụng kinh lại
ra vẻ có chiều thương xót. Đoạn kinh văn đó tụng thật dài, ông xem ra bất ổn
nghĩ thầm: “Bọn họ dường như ở đây làm lễ cầu siêu, hay tham thiền nghiên cứu
kinh điển chi đó, sư phụ ta xem ra không có ở đây”. Ông lắng tai nghe, quả
nhiên trong tiếng quần tăng đang tụng niệm không nghe thấy giọng trầm ấm hậu thực
của Huyền Khổ đại sư.
Kiều Phong nhất thời không quyết định được có
nên chờ thêm chút nữa hay không, chỉ thấy tiếng tụng kinh chấm dứt, một giọng
nói uy nghiêm cất lên:
- Huyền Khổ sư đệ, ngươi có còn gì để nói nữa
chăng?
Kiều Phong mừng quá: “Sư phụ quả nhiên có ở
trong đây, lão nhân gia vẫn bình an không sao cả. Thì ra ông không lên tiếng đọc
kinh”. Chỉ nghe một giọng hồn hậu bắt đầu nói, Kiều Phong nghe thấy biết chắc
chính là tiếng của thụ nghiệp ân sư Huyền Khổ đại sư:
- Ngày tiểu đệ thụ giới, tiên sư đặt tên cho là
Huyền Khổ. Phật tổ có nói đến tám khổ trên đời, đó là sinh, lão, bệnh, tử, oán
tăng hội, ái biệt ly, cầu bất đắc. Tiểu đệ cố gắng thoát khỏi bát khổ đó, nói
ra thật là hổ thẹn, để mong độ được cho mình chứ chẳng dám độ cho người. Cái nỗi
khổ “oán tăng hội” kia nguyên là một cảnh giới mà nhân sinh ai ai cũng có. Gieo
trồng nhân nào thì ắt sẽ gặt nghiệp đó. Các vị sư huynh, sư đệ thấy ta túc nghiệp
đáng ra phải mừng cho ta mới phải.
Kiều Phong nghe ông nói cực kỳ bình tĩnh, có điều
những điều thốt ra đề là ngôn ngữ nhà Phật nên không hiểu ý ông định nói gì. Lại
nghe giọng nói uy nghiêm kia tiếp:
- Huyền Bi sư đệ mấy tháng trước táng mạng trong
tay gian nhân, bọn chúng ta hết sức truy nã hung thủ, xem ra đã vi phạm vào giới
luật đừng sân đừng nộ rồi. Thế nhưng việc hàng ma trừ gian cốt là phổ cứu thế
nhân, phận người học võ chúng ta, bản ý vốn là để hoằng pháp, theo đòi tâm đại
từ đại bi của Như Lai để giải trừ khổ nạn cho chúng sinh...
Kiều Phong nghĩ thầm: “Thanh âm uy nghiêm kia chắc
hẳn là giọng của Huyền Từ đại sư, phương trượng chùa Thiếu Lâm”. Lại nghe ông
nói tiếp:
- ... trừ một ma đầu, ấy là cứu được vô số thế
nhân. Sư đệ, kẻ đó có phải là Cô Tô Mộ Dung chăng?
Kiều Phong nghĩ bụng: “Việc này lại có liên quan
đến họ Mộ Dung đất Cô Tô. Nghe nói Huyền Bi đại sư của phái Thiếu Lâm tại cảnh
giới nước Đại Lý bị người ta ám toán, không lẽ họ nghi là Mộ Dung công tử hạ độc
thủ hay sao?”. Chỉ nghe Huyền Khổ đại sư nói:
- Phương trượng sư huynh, tiểu đệ không dám để
sư huynh cùng các sư huynh đệ phải lo lắng cho mình để phải tăng thêm nghiệp
báo. Người kia nếu như biết bỏ con dao đồ tể xuống, quay đầu lại là thấy bến
ngay, còn như chấp mê không tỉnh, ôi, thì y chỉ tự mình làm khổ mình thôi. Người
đó hình dáng ra sao cũng chẳng cần phải nói đến nữa.
Huyền Từ phương trượng nói:
- Được rồi! Sư đệ đại giác cao kiến, sư huynh
này còn quá chấp nê, xem ra không bằng được.
Huyền Khổ nói:
- Tiểu đệ muốn được tĩnh tọa một chút để mặc tưởng
sám hối.
Huyền Từ đáp:
- Thôi được! Sư đệ cố gắng giữ gìn.
Chỉ nghe tiếng cửa mở ra, một nhà sư cao gầy chầm
chậm đi trước. Ông đi được chừng một trượng, đằng sau là một đoàn người đi
theo, tổng cộng mười bảy nhà sư. Cả mười tám người ai nấy đều chắp tay, cúi đầu
mặc niệm, thần tình thật là trang nghiêm. Đợi các nhà sư đi xa rồi, trong nhà lặng
yên không một tiếng động nhưng Kiều Phong bị tình hình làm cho khuất phục nhất
thời không dán hiện thân gõ cửa. Bỗng nghe Huyền Khổ đại sư nói:
- Giai khách từ xa đến sao còn chần chừ chưa
vào?
Kiều Phong giật mình kinh hãi, nhủ thầm: “Ta nín
thở ngưng khí, người khác dẫu có ở cách ta một vài thước cũng chưa chắc đã phát
giác ta nằm phục nơi đây. Tai của sư phụ thính như thế, nội công tu tập quả là
cao cường”. Nghĩ thế ông bèn cung kính đi đến trước cửa phòng nói:
- Sư phụ an hảo, đệ tử Kiều Phong khấu đầu bái
kiến sư phụ.
Huyền Khổ “A” lên một tiếng:
- Phong nhi đấy ư? Ta lúc này đang nghĩ đến con
đây, chỉ mong được gặp con một lần, mau vào đi.
Trong giọng nói đầy vẻ vui mừng. Kiều Phong mừng
lắm, vội rảo bước tiến vào, lập tức quỳ xuống khấu đầu nói:
- Đệ tử bình thời ít khi được hầu hạ khiến cho
sư phụ phải nhớ mong. Sư phụ khỏe mạnh hài nhi thật mừng không để đâu cho hết.
Nói xong ông ngẩng đầu lên, đăm đăm nhìn vào Huyền
Khổ. Huyền Khổ đại sư khuôn mặt vốn dĩ mỉm cười, dưới ánh đèn đầu nhìn thấy
khuôn mặt Kiều Phong đột nhiên sắc mặt đại biến, đứng phắt dậy, run run nói:
- Ngươi... ngươi... thì ra là ngươi, ngươi là Kiều
Phong đấy sao, chính tay ta... ta dạy được đứa học trò giỏi thật?
Vẻ mặt ông vừa kinh ngạc lại vừa thống khổ, lại
dường như chen lẫn thương xót và tiếc nuối. Kiều Phong thấy sư phụ thần sắc lạ
lùng, trong lòng hết sức khủng khiếp nói:
- Sư phụ, hài nhi chính là Kiều Phong đây.
Huyền Khổ đại sư nói:
- Hay lắm! Hay lắm! Hay lắm!
Ông liên tiếp nói ba câu “Hay lắm” mà không nói
gì thêm nữa. Kiều Phong không dám hỏi thêm, lặng yên đợi ông giáo huấn sai bảo
thêm điều gì, ngờ đâu đợi một hồi lâu, Huyền Khổ đại sư thủy chung không nói
thêm lời nào nữa. Kiều Phong nhìn lại khuôn mặt sư phụ, thấy các bắp thịt ông
đã cứng đờ không chuyển động, vẻ mặt trước sau vẫn nguyên như thế không đổi
chút nào, không khỏi kinh hoảng nhảy dựng lên, giơ tay sờ vào bàn tay ông cảm
thấy hơi lạnh, vội vàng thăm lại hơi thở, hóa ra khí đã tuyệt từ bao giờ.
Biến cố đó khiến Kiều Phong há hốc mồm, mắt mở
trừng trừng, trong đầu hết sức hỗn loạn: “Sư phụ vừa trông thấy ta liền sợ hãi
đến chết là sao? Không thể như thế được, ta có điều gì đáng sợ đâu? Có lẽ ông sớm
đã bị thương rồi”. Thế nhưng ông không dám tra xét thân thể nhà sư.
Ông cố gắng định thần, trong bụng đã quyết: “Nếu
như lúc này ta lẳng lặng trốn đi thì đâu có phải là bản sắc của một Kiều Phong
hảo hán hiên ngang này? Việc ngày hôm nay dẫu có nguy hiểm vạn phần cũng phải
tra xét cho ra nguồn cội mới xong”. Ông đi ra khỏi nhà, lớn tiếng kêu lên:
- Phương trượng đại sư, Huyền Khổ sư phụ viên tịch
rồi, Huyền Khổ sư phụ viên tịch rồi.
Hai câu đó truyền đi thật xa, sơn cốc vang vang
tất cả chùa ai cũng nghe thấy. Tiếng kêu tuy hùng hồn nhưng cũng thật là thống
khổ. Huyền Từ phương trượng cùng cả bọn chưa về đến nơi ở của mình, bỗng nghe
tiếng gọi của Kiều Phong vội vàng quay lại, rảo bước chạy đến Chứng Đạo Viện.
Chỉ thấy một hán tử cao to đứng sừng sững bên cạnh cửa, giơ tay chùi nước mắt,
chúng tăng ai nấy đều ngạc nhiên. Huyền Từ quan tâm đến an nguy của Huyền Khổ,
không kịp nhìn kĩ hán tử đó, vội vàng xông thẳng vào phòng, thấy Huyền Khổ vẫn
còn sừng sững không ngã, lại càng ngạc nhiên. Các nhà sư cùng chạy vào, cúi đầu
nhắm mắt tụng niệm kinh văn.
Kiều Phong là người sau cùng đi vào, quỳ xuống
trong lòng khấn thầm: “Sư phụ, đệ tử đến báo tin quá muộn khiến lão nhân gia đã
bị độc thủ của người ta rồi. Đệ tử và kẻ gian kia cừu hận lại thêm một tầng nữa.
Đệ tử dù phải gian nan đến đâu cũng nhất quyết đi kiếm kẻ kia băm vằm y ra trăm
nghìn mảnh để báo thù cho ân sư”.
Huyền Từ phương trượng tụng kinh xong, đảo mắt
thấy dung mạo Kiều Phong, lắp bắp kinh hãi hỏi:
- Người vừa lên tiếng gọi có phải là thí chủ đấy
chăng?
Kiều Phong nói:
- Đúng, đệ tử Kiều Phong! Đệ tử thấy sư phụ viên
tịch không dằn nổi bi thương làm kinh động phương trượng.
Huyền Từ nghe câu nói của Kiều Phong, hoảng hốt
run bắn lên, trên mặt lộ vẻ lạ lùng, chăm chăm nhìn ông một hồi mới nói:
- Thí chủ có phải... có phải... là tiền nhiệm
bang chủ của Cái Bang đấy ư?
Kiều Phong nghe ông hỏi “tiền nhiệm bang chủ Cái
Bang” nghĩ thầm: “Tin tức trên giang hồ truyền đi thật nhanh, đã biết ta không
còn làm bang chủ Cái Bang nữa rồi, ắt hẳn biết nguyên do vì sao ta bị trục xuất
khỏi Cái Bang”. Ông bèn đáp:
- Đúng thế!
Huyền Từ nói:
- Thí chủ vì sao đang đêm lại xông vào tệ tự?
Làm sao thấy Huyền Khổ sư đệ viên tịch?
Kiều Phong trong lòng có trăm ngàn điều muốn nói
nhưng nhất thời không biết phải nói gì, đành đáp:
- Huyền Khổ đại sư là thụ nghiệp ân sư của đệ tử,
không biết ân sư bị thương ra sao, bị kẻ nào ra tay hạ thủ?
Huyền Từ phương trượng nghẹn ngào đáp:
- Huyền Khổ sư đệ bị người ta đánh trộm, trên ngực
trúng trọng thủ một chưởng, gân cốt đứt hết rồi, ngũ tạng cũng nát bấy, chỉ nhờ
nội công thâm hậu nên mới gượng được đến bây giờ. Chúng ta hỏi y địch nhân là
ai, y bảo hoàn toàn không quen biết, lại hỏi hung thủ hình dáng tuổi tác ra
sao, y nói đến bát khổ của nhà Phật, trong đó “oán tăng hội” là một trong những
điều khổ nên gặp phải oan gia đối đầu thành ra có dịp giải thoát nên hình dáng
hung thủ nhất định không nói ra.
Kiều Phong chợt hiểu ra: “Thì ra chúng tăng đã
biết sư phụ bị trọng thương rồi, niệm Phật tụng kinh chính là để tiễn người về
cõi Tây phương”. Ông nghẹn ngào nói:
- Các vị cao tăng bụng dạ từ bi không nhớ đến
oán thù. Đệ tử là kẻ tục gia, thể nào cũng bắt kẻ gian kia chặt y ra muôn ngàn
nhát để báo thù cho ân sư. Quý tự cửa ngỏ thâm nghiêm, không biết hung thủ lẻn
vào lối nào?
Huyền Từ trầm ngâm chưa trả lời thì một lão tăng
thân thể bé nhỏ đột nhiên cười khẩy nói:
- Thí chủ lẻn vào chùa Thiếu Lâm, chúng ta cũng chẳng
ngăn trở phát giác được, hung thủ kia dĩ nhiên cũng muốn đến thì đến, muốn đi
thì đi khác nào vào chỗ không người.
Kiều Phong khom lưng vòng tay nói:
- Đệ tử vì việc khẩn bách, không kịp ở ngoài sơn
môn thông tri cầu kiến, quả là thất lễ, khẩn khoản xin chư vị sư phụ tha thứ
cho. Đệ tử và phái Thiếu Lâm uyên nguyên thực sâu xa, quyết không dám khinh hốt
mạo phạm chút nào.
Câu sau cùng của ông có ý muốn nói nếu như phái
Thiếu Lâm bị mất mặt thì chính mình cũng xấu lây, trong bụng biết rằng việc
mình lẻn vào hậu viện chùa Thiếu Lâm đến khi hô hoán người khác mới biết, nếu
như việc này truyền ra ngoài thì tiếng tăm phái Thiếu Lâm bị tổn thương rất lớn.
Ngay lúc đó, một chú tiểu bưng một bát thuốc còn
bốc hơi nghi ngút đi vào phòng, nói với thi thể Huyền Khổ:
- Sư phụ, xin dùng thuốc.
Y chính là sa di phục thị Huyền Khổ vừa ở Dược
Vương Viện sắc một thang thuốc trị thương Cửu Chuyển Hồi Xuân Thang đem đến cho
sư phụ. Y thấy Huyền Khổ đứng sừng sững không ngã nên không biết ông đã chết rồi.
Kiều Phong trong lòng buồn khổ, nghẹn ngào nói:
- Sư phụ đã...
Chú tiểu kia quay lại nhìn ông, đột nhiên rú
lên:
- Chính ngươi! Ngươi... ngươi lại đến!
Chỉ nghe choang một tiếng, bát thuốc trong tay
rơi xuống đất vỡ tung tóe, thuốc lẫn mảnh bát văng ra tứ tung. Chú tiểu nhảy
lùi về sau hai bước, nép vào một góc tường, la hoảng:
- Chính y, đả thương sư phụ chính là y.
Y vừa kêu lên thế mọi người ai nấy đều kinh
hoàng. Kiều Phong lại càng kinh sợ, lốn tiếng nói:
- Ngươi nói gì?
Chú tiểu kia chỉ chừng mười hai mười ba tuổi, trông
thấy Kiều Phong cực kỳ sợ hãi, trốn ở sau lưng phương trượng Huyền Từ, bíu lấy
tay áo ông, kêu lên:
- Phương trượng, phương trượng!
Huyền Từ nói:
- Thanh Tùng, không việc gì phải sợ, cứ nói ra
đi, có phải y là người đả thương sư phụ không?
Chú tiểu Thanh Tùng đáp:
- Chính y, y dùng chưởng đánh vào ngực sư phụ,
con ở ngoài cửa sổ trông rõ ràng. Sư phụ, sao sư phụ không đánh trả y đi.
Cho đền giờ phút này, y vẫn chưa biết Huyền Khổ
đã viên tịch rồi. Huyền Từ phương trượng nói:
- Ngươi nhìn cho kỹ, đừng nhận lầm người khác.
Thanh Tùng đáp:
- Con nhìn thấy thật rõ ràng, y mặc áo màu tro,
mặt vuông, lông mày xếch lên, miệng to tai lớn, chính là y. Phương trượng, mau
đánh hắn, mau đánh hắn!
Một luồng hơi lạnh chạy dọc theo xương sống Kiều
Phong, nghĩ thầm: “Đúng rồi, hung thủ đã cải trang giống hệt ta để giá họa cho
mình. Sư phụ nghe nói ta trở về, vốn dĩ cực kỳ hoan hỉ, thế nhưng vừa thấy mặt
ta, thấy ta giống hệt kẻ đã đả thương mình thành ra mới nói: “... thì ra là
ngươi, ngươi là Kiều Phong đấy sao, chính tay ta... ta dạy được đứa học trò giỏi
thật”. Sư phụ cùng ta hơn mười năm qua không gặp lại, ta từ một đứa trẻ đã
thành người lớn rồi, tướng mạo không còn như xưa nữa. Ông nghĩ đến Huyền Khổ đại
sư trước khi chết liên tiếp ba lần nói câu “Hay lắm!”, lòng đau như dao cắt:
“Sư phụ trúng phải trọng thủ của người rồi nhưng cũng không biết kẻ địch là ai,
đến khi gặp ta, nhận ra hung thủ và ta tướng mạo tương đồng, cực kỳ buồn thảm
nên đau lòng mà chết. Sư phụ bị trọng thương đáng ra chưa chết đâu có nghĩ được
rằng nếu đúng là ta ra tay hạ thủ sao lại còn đến gặp ông làm gì”.
Bỗng nghe tiếng người lao xao rồi một đám người
rảo bước chạy đến trước Chứng Đạo Viện thì ngừng lại. Hai nhà sư khom lưng cung
kính tiến vào, chính là nhị tăng trì giới, thủ luật đã từng giao chiến với Kiều
Phong ở chân núi Thiếu Thất. Trì giới tăng chỉ mới nói được một câu:
- Bẩm cáo phương trượng...
Y trông thấy Kiều Phong, vẻ mặt tỏ ra phẫn nộ và
kinh ngạc, không hiểu sao ông đã tới đây từ bao giờ. Tất cả những nhà sư khác
cũng hầm hầm, chăm chăm nhìn Kiều Phong. Huyền Từ phương trượng thần sắc trang
nghiêm, chậm rãi nói:
- Thí chủ tuy không còn ở trong Cái Bang nữa
nhưng cũng là một nhân vật thành danh trong võ lâm. Hôm nay giá lâm tệ tự,
không hiểu vì cớ gì ra tay đánh chết Huyền Khổ sư đệ, mong được chỉ giáo.
Kiều Phong thở dài một tiếng, phục xuống vái lạy
thi thể Huyền Khổ nói:
- Sư phụ, lúc sư phụ lâm chung cũng còn bảo rằng
đệ tử ra tay hại thầy để phải nuốt hận mà viên tịch. Đệ tử tuy vạn vạn lần
không dám mạo phạm sư phụ nhưng gian nhân gia hại thầy cũng vì đệ tử mà ra. Hôm
nay đệ tử dẫu có chết để ta ân sư cũng không có gì ân hận thế nhưng từ nay đại
cừu của sư phụ không ai trả thù. Đệ tử phạm vào tôn nghiêm của chùa Thiếu Lâm,
xin sư phụ tha thứ cho.
Chỉ nghe hù hù hai tiếng, ông thổi ra hai hơi thật
dài. Hai chén đèn dầu trong điện lập tức tắt ngúm, căn phòng tối đen như mực.
Kiều Phong khi khấn nguyện đã tính toán kế sách thoát thân. Ông vừa thổi tắt
đèn, tay trái liền tung chưởng đánh vào sau lưng thủ luật tăng, chưởng đó toàn
dùng lực âm nhu không làm tổn thương nội tạng của y nhưng lại đẩy thân hình cao
to của y bay tung ra khỏi cửa.
Trong bóng đêm các nhà sư thấy có tiếng gió, đều
nghĩ rằng Kiều Phong chạy ra khỏi cửa nên liền dùng cầm nã thủ pháp, chộp luôn
vào người thủ luật tăng. Các nhà sư ai nấy đều định bụng không muốn dùng trọng
thủ giết chết Kiều Phong, chỉ định bắt ông lại tra hỏi thêm ông giết chết Huyền
Khổ đại sư là cớ gì. Hơn chục cao tăng đó đều là hảo thủ hạng nhất của chùa Thiếu
Lâm, cầm nã thủ của mỗi người không giống nhau, người nào cũng có chỗ độc đáo.
Chỉ trong cùng một lúc, Cầm Long Thủ, Ưng Trảo Thủ, Hổ Trảo Công, Kim Cương Chỉ,
Ác Thạch Chưởng... các loại cầm nã tối cao minh của phái Thiếu Lâm đều chộp lên
người thủ luật tăng.
Các nhà sư võ công quả là cao cường, trong đêm tối
chỉ nghe tiếng gió mà vẫn không sai một li. Gã thủ luật tăng phen này chịu đủ mọi
loại khổ sở, chỉ trong phút chốc các yếu huyệt toàn thân đều trúng cầm nã thủ
pháp, thân thể lơ lửng trên không mà miệng không nói ra được lời nào, kinh lịch
đó từ cổ tới nay chắc chưa ai từng phải chịu bao giờ.
Những cao tăng đó lịch duyệt rất nhiều, phương
cách ứng biến cực kỳ chính xác, lập tức có mấy người nhảy lên, đứng chặn giữ
trên mái nhà. Các cửa trước cửa sau của Chứng Đạo Viện luôn các ngõ ngách, các
nơi hiểm yếu trong giây lát đều có cao thủ án ngữ.
Chú tiểu Thanh Tùng vội lấy hỏa đao, hỏa thạch
châm mấy ngọn đèn dầu trong phòng, mọi người mới hay mình đã bắt nhầm thủ luật
tăng. Thủ tọa Đạt Ma Viện là Huyền Nạn đại sư liền truyền hiệu lệnh, tất cả các
tăng lữ ai nấy ở nguyên vị trí không được loạn động. Quần tăng đều nghĩ thầm,
Kiều Phong dẫu có lớn mật cũng không dám một thân một mình xông vào một nơi đầm
rồng hang hổ như chùa Thiếu Lâm để giết người, thể nào cũng có cường viện, ắt hẳn
sẽ thừa cơ thi hành âm mưu khiến có thể trúng kế điệu hổ ly sơn.
Hơn chục cao tăng trong Chứng Đạo Viện cùng số
tăng chúng do trì giới tăng dẫn đến liền chia ra tra xét những khu lân cận Chứng
Đạo Viện, tưởng như mọi tảng đá cũng đều lật lên, tàn cây bụi cỏ nào cũng có
người dùng côn đập vào. Tuy các nhà sư ai nấy bụng dạ từ bi, lại có đức hiếu
sinh nhưng việc đó cũng khiến vô khối cóc nhái, chuột chù, châu chấu, kiến ong
bị chết oan rất nhiều.
Lục soát hơn một giờ sau, chỉ còn thiếu cuốc cả
đất lên tìm nhưng nào có thấy Kiều Phong đâu? Mọi người ai nấy tặc lưỡi luôn mồm,
thật là kỳ quái, có người buột mồm chửi rủa mấy câu, khiến cho điều “ác ngữ”
trong mười điều giới của nhà Phật không sao giữ được. Lúc đó mới khiêng di thể
Huyền Khổ đại sư vào Xá Lợi Viện để thiêu, còn thủ luật tăng thì đưa xuống Dược
Vương Viện điều trị. Quần tăng ủ rũ lặng thinh ai nấy đều cảm thấy kỳ này chùa
Thiếu Lâm quả là mất mặt. Chùa Thiếu Lâm cao thủ đông như kiến, lại có cả mươi
vị cao tăng võ công thanh vọng hơn người, người nào trong võ lâm tên tuổi cũng
đều vang dội, vậy mà để cho Kiều Phong tay không vào ra như chỗ không người, chẳng
nói gì việc giết hay bắt được ông ta, đến đào tẩu cách nào cũng chẳng ai đoán
ra được.
Thì ra Kiều Phong đã liệu rằng một khi biến cố xảy
ra, các nhà sư sẽ chạy ra truy tìm tứ phía, còn ngay ở trong nhà thì lại lơ là.
Do đó khi ông vừa đánh bật thủ luật tăng đi rồi, lập tức co người lại, chui tọt
xuống dưới gầm giường nơi Huyền Khổ đại sư vẫn thường nằm, mười ngón tay bấu
lên các thang giường, thân hình ép sát vào dưới đáy. Mặc dầu cũng có người cúi
xuống xét qua dưới gầm giường nhưng làm sao thấy ông ta được. Đến khi pháp thể
của Huyền Khổ đưa đi rồi, chấp sự tăng liền đóng cửa Chứng Đạo Viện lại không
cho ai vào nữa.
Kiều Phong nằm dưới gầm giường tai nghe tiếng
các nhà sư xục xạo một hồi lâu rồi tiếng người lặng dần, nghĩ thầm: “Đợi đến
khi trời sáng thì thoát thân không phải là dễ, lúc này không chạy đi thì còn
lúc nào?”. Từ dưới gầm giường ông len lén chui ra, đẩy cửa phòng, chuyển thân nấp
đằng sau gốc cây.
Ông nghĩ bụng mặc dù tiếng người đã yên nhưng
tăng chúng chùa Thiếu Lâm chưa thể nào bỏ cuộc mà lơ là phòng bị. Chứng Đạo Viện
ở tại phía cực tây của chùa Thiếu Lâm, nếu chạy về hướng tây sẽ vào ngay trong
núi. Một khi đã ra khỏi chùa Thiếu Lâm rồi, các nhà sư sẽ phải trải rộng ra, dẫu
có gặp nhau thì cũng không thể nào ngăn chặn ông được. Thế nhưng ông không muốn
động thủ với các nhà sư Thiếu Lâm, chỉ mong sau này bắt được hung thủ, dẫn đến
chùa nói cho rõ đầu đuôi. Hôm nay nếu như giao đấu với thêm một nhà sư, thì lại
kết thêm một mối oán thù, giả sử như mình lỡ tay đánh người bị thương hoặc chết
thì lại thêm một mối lo.
Ông mất tăm mất tích ở phía tây chùa, quần tăng ắt
sẽ canh chừng nghiêm mật các đường nẻo thông qua núi về hướng tây. Ông suy tính
một chút, nghĩ bụng cách ổn thỏa nhất là đi ngược lại về hướng đông xuyên qua
chùa mà ra.
Nghĩ vậy ông bèn khom người lần theo các gốc cây
che cho mình, qua bốn tòa viện xá, nấp dưới gốc một cây bồ đề, bỗng thấy đằng
sau một cái cây ở trước mặt có hai nhà sư nằm phục nơi đó. Hai nhà sư đó không
nhúc nhích chút nào, trong bóng đêm thật khó mà phát giác, có điều ông nhãn
quang sắc bén nên nhìn thấy ánh sáng lấp lánh của thanh giới đao một nhà sư cầm
trong tay, nghĩ thầm: “Nguy hiểm thực! Nếu như ta cốt chạy cho nhanh, hành tàng
thể nào cũng bại lộ”. Ông ngồi chờ ở phía sau gốc cây thêm một lát, hai nhà sư
kia vẫn không động đậy, cái kế “ôm cây đợi thỏ, há miệng chờ sung” kia quả là
ghê gớm, nếu như mình chỉ hơi cử động là bị hai người đó nhìn thấy ngay nhưng
cũng không thể nào cứ ngồi đó mãi.
Ông hơi trầm ngâm, nhặt một viên đá nhỏ, giơ
ngón tay búng ra. Kình lực ông sử dụng thật khéo, lúc đầu thì chậm nhưng sau
thì nhanh, lúc mới bắn ra không có chút thanh âm nào nhưng được bảy tám trượng
rồi mới rít lên thật mạnh, lao thẳng vào gốc cây nghe cạch một tiếng gây ra một
tiếng động lạ.
Hai nhà sư kia vội khom lưng chạy tới. Kiều
Phong đợi cho hai nhà sư đó qua khỏi mình rồi mới tung mình nhảy lên, lẻn luôn
vào căn nhà ở bên cạnh, dưới ánh trăng nhìn rõ biển ngạch viết ba chữ Bồ Đề Viện.
Ông biết rằng hai nhà sư kia không thấy gì khác lạ thể nào cũng quay trở về,
thành thử không ngừng mà lại chạy thẳng ra phía sau, xuyên qua tiền đường chạy
vào hậu điện.
Chỉ trong chớp mắt đã thấy một bóng người cao lớn
nhanh nhẹn dị thường ở phía sau chạy vụt qua, thân pháp trên đời ít gặp. Kiều
Phong kinh hãi nghĩ thầm: “Hảo thân thủ, người đó là ai đây?’. Ông thu chưởng về
hộ vệ thân thể, quay đầu nhìn lại, không khỏi bật cười, thấy trước mặt là một đại
hán giơ một tay lên thủ thế, khom người nép mình, giữ miếng đằng trước mặt, khí
thế trịnh trọng như hòn núi. Thì ra trước mặt pho tượng trong hậu điện là một
chiếc bình phong, trên tấm bình phong có gắn một chiếc gương đồng cực lớn, chùi
sáng bóng lộn, tấm kính chiếu rõ thân mình, trên tấm gương có khắc bốn hàng
kinh, trước tượng Phật là hai ngọn đèn dầu, dưới ánh sáng lờ mờ vẫn còn đọc được:
Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng huyễn bào ảnh.
Như lộ diệc như điện,
Đương tác như thị quan.
Những gì có tướng có hình,
Khác gì bóng nước phập phồng chơi vơi.
Mong manh hạt móc giữa trời,
Thấy kia thoắt đó đã rời thế gian.
Kiều Phong mỉm cười quay đầu lại, đang toan cất
bước, bỗng dưng tưởng như bị ai đánh mạnh vào đầu, lập tức ngẩn ngơ, chỉ trong
một chớp mắt ông dường như nghĩ đến một việc cực kỳ trọng yếu nhưng việc đó là
việc gì thì mơ mơ hồ hồ không tìm ra.
Ngẩn người ra một lát, vô ý lại nhìn vào trong
chiếc gương đồng, thấy bóng sau lưng của mình mới chợt tỉnh ngộ: “Mới rồi ta vừa
nhìn thấy bóng sau lưng mình vậy là ở đâu ra? Ta cũng chưa từng thấy chiếc
gương nào lớn đến thế này thì cách nào mà lại nhìn thấy bóng sau lưng mình được?”.
Ông còn đang xuất thần bỗng nghe bên ngoài có tiếng chân người, vài người đi
vào trong điện.
Còn đang hoang mang chưa biết trốn chỗ nào, thấy
trên bàn thờ có ba pho tượng Phật, vội vàng lẻn lên nép vào sau lưng pho tượng
thứ ba. Nghe tiếng chân cả thảy sáu người, chia thành hai hàng, song song đi
vào hậu điện mỗi người ngồi trên một chiếc bồ đoàn. Kiều Phong từ sau pho tượng
nhìn ra, thấy cả sáu nhà sư đều tuổi thanh niên, nghĩ thầm: “Nếu như lúc này
mình lẻn ra ngoài hậu điện, sáu nhà sư võ công chỉ bình thường thì không thể
nào biết được, thế nhưng nếu chỉ có một người nội công cao thâm, mắt tinh tai
thính thì sẽ phát giác ngay. Chi bằng chờ đây thêm một chút nữa rồi hãy tính”.
Bỗng nghe nhà sư đầu tiên mé phải nói:
- Sư huynh, Bồ Đề Viện trống không như thế sao lại
có kinh thư là thế nào? Sao sư phụ lại sai chúng ta đến trông chừng đề phòng địch
nhân đến ăn trộm?
Nhà sư bên trái mỉm cười nói:
- Đây là chỗ bí mật của Bồ Đề Viện, không nên
nói nhiều.
Nhà sư bên phải lại tiếp:
- Hừ, tiểu đệ xem chừng sư huynh cũng không biết
nốt.
Nhà sư phía bên phải bị khích chịu không nổi bèn
nói:
- Ta không biết thật chăng? “Nhất mộng như thị”...
Y mới nói nửa chừng chợt nhớ phải cảnh giác lập
tức ngưng bặt. Nhà sư bên phải lại hỏi:
- Cái gì mà lại “nhất mộng như thị”?
Nhà sư ngồi hàng thứ hai liền nói:
- Hư Thanh sư đệ, bình thời ngươi đâu có lắm mồm
lắm miệng, sao hôm nay lại cứ nhì nhằng hỏi mãi thế? Nếu ngươi muốn biết bí mật
của Bồ Đề Viện sao không đi hỏi sư phụ của ngươi đi?
Nhà sư tên Hư Thanh kia không dám hỏi thêm nữa,
một lát sau mới nói:
- Để tôi ra sau đi giải một chút.
Y nói xong liền đứng lên. Y từ phía phải đi về
phía cửa hông bên trái, vừa đến sau lưng người thứ năm, đột nhiên giơ chân phải
lên, đá trúng ngay huyệt Huyền Khu ở sau lưng. Huyệt Huyền Khu ở vào vị trí bên
dưới đốt xương sống thứ mười ba. Nhà sư đó đang ngồi xếp bằng trên bồ đoàn, huyệt
Huyền Khu nằm ngay sát mép chiếu, bị đầu ngón chân của Hư Thanh đá trúng, thân
hình liền từ từ ngã xuống bên phải. Gã Hư Thanh kia ra tay thật nhanh, lại nhẹ
nhàng không có chút động tịnh gì, tiếp theo liền đá vào huyệt Huyền Khu của nhà
sư thứ tư, rồi kế đó nhà sư thứ ba, chỉ trong nháy mắt đã đánh ngã liền ba người.
Kiều Phong ngồi đằng sau tượng Phật nhìn thấy rõ
ràng, trong bụng kỳ lạ, không hiểu vì lý do gì mà nhà sư kia lại giở trò tấn
công đồng bọn. Lại thấy gã Hư Thanh giơ chân lên đá vào nhà sư thứ hai ở bên
trái, đầu mũi chân vừa đụng vào huyệt đạo y thì hai trong số ba nhà sư bị điểm
huyệt liền từ bồ đoàn ngã lăn ra, đầu đụng vào gạch lát trên điện nghe lịch bịch.
Nhà sư bên trái giật mình, vội đứng bật dậy xem thế nào, vừa kịp thấy Hư Thanh
giơ chân đá ngã người ngồi bên hữu, lại càng kinh hãi quát lên:
- Hư Thanh, ngươi làm gì thế?
Hư Thanh giơ tay chỉ ra ngoài nói:
- Xem kìa, ai đến thế kia?
Nhà sư kia quay đầu nhìn ra, Hư Thanh liền tung
chân bên phải, đá mạnh vào sau lưng y. Cú đá đó cực kỳ nhanh, thể nào cũng
trúng mới phải, thế nhưng chiếc gương đồng ở phía trước chiếu rõ ràng ngón đòn
đánh lén kia, nhà sư liền nghiêng người tránh qua, đánh trả lại một chưởng, kêu
lên:
- Ngươi có điên không?
Hư Thanh xuất chưởng nhanh như gió, đấu đến
chiêu thứ tám thì nhà sư kia bị trúng một quyền vào bụng dưới, tiếp theo lại bị
bồi thêm một cú đá. Kiều Phong thấy Hư Thanh ra chiêu âm nhu độc địa, xem chừng
không phải gia số của phái Thiếu Lâm, trong lòng càng thêm lạ lùng.
Nhà sư kia biết mình không địch lại, vội kêu
lên:
- Có gian tế, có gian tế...
Hư Thanh nhảy vụt tới, tả quyền đấm luôn vào ngực
y, nhà sư đó lập tức lăn ra bất tỉnh. Hư Thanh vội chạy tới trước chiếc gương đồng,
giơ ngón tay trỏ bên phải, vặn vào chữ “nhất” ở hàng kinh văn trên cùng một
cái. Kiều Phong lại thấy y mò xuống xoay chữ “mộng” ở hàng thứ hai, nghĩ thầm:
“Nhà sư kia nói bí mật là “nhất mộng như thị”, nhưng trên tấm gương có đến bốn
chữ như, không biết y xoay chữ như nào?”.
Chỉ thấy Hư Thanh giơ ngón tay vặn chữ “như” đầu
tiên ở hàng thứ ba, rồi tiếp theo vặn chữ “thị” ở hàng thứ tư. Tay y chưa rời
khỏi tấm gương đã nghe tiếng kẹt kẹt, tấm gương đồng chầm chậm ngả ra.
Nếu như lúc này Kiều Phong muốn trốn đi thì quả
là dịp bằng vàng nhưng ông nổi dạ hiếu kỳ, muốn biết vì lý do gì mà nhà sư Thiếu
Lâm kia lại làm hại đồng môn, sau tấm gương đồng có cái gì không chừng có thể
liên quan đến việc Huyền Khổ đại sư bị hại.
Nhà sư phía bên trái khi bị Hư Thanh đánh ngã đã
kêu toáng lên, chùa Thiếu Lâm vốn dĩ có hơn một trăm nhà sư đang đi tuần ở phía
tây núi, vừa nghe tiếng vội vàng lục tục chạy đến, bốn bề đông tây nam bắc của
Bồ Đề Viện chỗ nào cũng có tiếng chân rầm rập.
Kiều Phong trong bụng chần chừ: “Không thể để
cho bọn họ thấy được tung tích của ta”. Thế nhưng các nhà sư đã kéo đến rồi, mọi
người ai ai cũng chăm chăm nhìn Hư Thanh, cơ hội thoát thân vẫn còn rất nhiều,
chẳng việc gì phải vội vàng đào tẩu. Ông thấy Hư Thanh giơ tay mò mò trong một
cái lỗ hổng phía sau tấm gương nhưng không lấy được gì cả. Vừa ngay lúc đó, tiếng
chân người từ phương bắc chạy đến đã ngừng ngay trước cửa Bồ Đề Viện.
Hư Thanh dậm chân, xem ra cực kỳ thất vọng, đang
định xoay mình bỏ đi, đột nhiên khom mình thò đầu vào phía sau chiếc gương, vui
mừng nói:
- Ở đây rồi!
Y giơ tay cầm lấy một chiếc bao nhỏ bỏ vào túi rồi
toan tìm đường chạy, thế nhưng khi đó bốn phía đã có rất đông sư sãi bao vây,
không còn đường nào nữa. Hư Thanh nhìn quanh bốn phía rồi chạy ra lối cửa trước
của Bồ Đề Viện. Kiều Phong nghĩ thầm: “Gã này bỏ chạy ra thể nào cũng bị bắt
ngay”. Ngay lúc đó, bỗng thấy có hơi gió ập tới, có người đã xông vào chỗ ông
đang ẩn mình. Kiều Phong nghe gió biện hình, tay trái vươn ra đã chộp ngay được
cổ tay địch nhân, tay phải liền thò ra đè luôn vào huyệt Thần Đạo trên lưng y,
nội lực nhả ra gã kia liền toàn thân mềm nhũn không còn động đậy gì được nữa.
Kiều Phong bắt được kẻ địch rồi, chăm chú nhìn kỹ
tướng mạo y, tưởng ai hóa ra Hư Thanh. Ông ngạc nhiên một chút lập tức hiểu ra:
“Thì ra là thế! Gã này cũng tính toán như ta, chui vào đằng sau tượng Phật để
trốn, khéo làm sao lại đúng ngay pho tượng thứ ba, chắc là vì pho tượng này to
hơn cả. Vì cớ gì lúc đầu y chạy ra cửa trước, rồi lại len lén quay trở vào đây?
Ồ, dưới đất có năm nhà sư nằm đó, nếu người khác chạy vào hỏi, cả năm người đều
nói là y đã chạy ra cửa trước rồi, mọi người sẽ không ai tra xét gì Bồ Đề Viện
nữa. Ôi, người này quả là lắm mưu mẹo”.
Kiều Phong vẫn nắm chặt lấy tay Hư Thanh, bèn
ghé vào tai y nói nhỏ: “Nếu ngươi há mồm kêu, ta sẽ một chưởng đánh chết ngươi
ngay, có biết không?”. Hư Thanh gật đầu.
Ngay lúc đó từ cửa cái bảy tám nhà sư chạy vào,
trong đó có ba người cầm đuốc, đại điên liền sáng bừng lên. Chúng tăng nhìn thấy
trong đại điện có năm nhà sư ngã lăn nơi đó, lập tức xôn xao lên:
- Gã ác tặc Kiều Phong kia lại hạ độc thủ rồi!
- Ồ, Hư Trầm, Hư Uyên sư huynh đây mà!
- Ôi chao! Không xong rồi! Chiếc gương đồng này
sao bị đẩy ra? Kiều Phong ăn cắp kinh thư ở Bồ Đề Viện rồi!
- Mau mau bẩm báo phương trượng.
Kiều Phong nghe mấy người đó lao xao bàn tán, chỉ
đành gượng cười: “Cái món nợ này lại đổ lên đầu ta”. Chỉ trong giây lát, số nhà
sư chạy vào điện mỗi lúc một đông. Kiều Phong thấy Hư Thanh giãy giụa toan đào
tẩu thoát thân liền rõ ngay ý định: “Lúc này quần tăng tụ tập ở trên điện, Hư
Trầm, Hư Uyên cả bọn chưa tỉnh, chính là cơ hội tốt để Hư Thanh bỏ đi, y cứ việc
tự nhiên chạy ra ngoài không ai nghi ngờ vì người nào cũng đổ riệt cho ta là
hung thủ”. Ông lại lập tức nghĩ ngay: “Gã Hư Thanh này cũng chưa phải là tinh
khôn cho lắm chứ lúc nãy y việc gì phải trốn vào đây? Y từ trong điện đi ra,
đâu có ai hỏi han gì mà sợ?”.
Đột nhiên trong điện tất cả mọi người đều im bặt,
không còn ai mở miệng nói một lời nào, kế đó chúng tăng đồng thanh nói:
- Tham kiến phương trượng, tham kiến thủ tọa Đạt
Ma Viện, tham kiến thủ tọa Long Thụ Viện.
Chỉ nghe lốp bốp mấy tiếng nhẹ, ai đó đã xuất
chưởng vỗ bọn năm nhà sư Hư Trầm, Hư Uyên tỉnh lại, rồi có người hỏi:
- Lại do Kiều Phong ra tay hay sao? Làm sao y biết
được bí mật của tấm gương đồng?
Hư Trầm đáp:
- Không phải Kiều Phong mà là Hư Thanh...
Đột nhiên y tung mình nhảy lên chửi:
- Giỏi nhỉ, vì cớ gì ngươi ra tay ám toán đồng
môn?
Kiều Phong nấp ở sau lưng pho tượng không thể
đoán được y đang chửi ai. Chỉ nghe tiếng một người kinh hãi kêu lên:
- Hư Trầm sư huynh, sao sư huynh lại nắm tôi?
Hư Trầm giận dữ đáp:
- Ngươi đá ngã năm người chúng ta, ăn trộm kinh
thư, thật là lớn mật. Bẩm cáo phương trượng, phản tặc Hư Thanh lén mở đồng kính
trong Bồ Đề Viện ăn trộm kinh thư dấu trong đó.
Người kia kêu lên:
- Cái gì? Tôi từ nãy vẫn ở bên cạnh phương trượng,
làm sao có thể ăn trộm kinh được?
Một giọng nói già nua khàn khàn nói:
- Hãy đóng chiếc gương đồng lại đã rồi kể lại
tình hình xem ra thế nào?
Hư Uyên đến đóng chiếc gương lại như cũ. Nhờ thế
tình hình quần tăng trên điện thế nào Kiều Phong đều nhìn trong tấm đồng kính
thật rõ ràng thấy một nhà sư hoa chân múa tay, cực kỳ khích động. Kiều Phong
đưa mắt nhìn y không khỏi hoảng hốt giật mình, thì ra người đó chính là Hư
Thanh. Kiều Phong ngạc nhiên quay đầu nhìn lại nhà sư bị ông bắt được ngồi bên
cạnh thấy tướng mạo so với người ở dưới kia không khác một mảy, nhìn kỹ lắm
cũng chỉ thấy khác đôi chút, thế nhưng chỉ thoạt nhìn qua thì không thể nào
phân biệt được. Kiều Phong nghĩ thầm: “Trên đời này người có hình dáng giống
nhau như thế quả là hiếm có. Đúng rồi, chắc hai người là anh em sinh đôi. Mẹo
này thật hay, một người xuất gia ở chùa Thiếu Lâm, một người ở ngoài chờ đợi, đợi
đúng thời cơ liền ăn mặc giả làm sư vào ăn trộm kinh. Gã Hư Thanh kia nếu như một
bước không rời phương trượng thì không ai có thể nghi y được”.
Chỉ nghe Hư Trầm kể lại Hư Thanh làm cách nào
thám thính được bí mật của chiếc gương đồng, mình vô ý nói hớ bốn chữ ra sao,
Hư Thanh giả bộ ra ngoài đi tiểu rồi lén tấn công bốn người, sau đó động thủ
đánh ngã mình. Trong khi Hư Trầm kể chuyện, bọn bốn người Hư Uyên liên tiếp phụ
họa, chứng thực lời của y không sai chút nào.
Huyền Từ phương trượng từ đầu chí cuối thần sắc
vẫn thản nhiên, đợi cho Hư Trầm nói xong mới chậm rãi hỏi lại:
- Ngươi nhìn rõ chứ? Quả đúng là Hư Thanh chăng?
Hư Trầm và cả bọn Hư Uyên cùng đáp:
- Bẩm cáo phương trượng, chúng đệ tử sao dám vu
hãm Hư Thanh?
Huyền Từ thở dài:
- Chuyện này xem ra có gì khác lạ, Hư Thanh vốn
dĩ ở bên cạnh ta không hề rời xa, cà thủ tọa Đạt Ma Viện cũng có mặt.
Phương trượng nói ra như thế, quần tăng trên điện
còn ai dám nói gì hơn. Thủ tọa Đạt Ma Viện là Huyền Nạn đại sư cũng nói:
- Chính thị, ta cũng thấy Hư Thanh hầu hạ phương
trượng sư huynh, làm sao y có thể đến Bồ Đề Viện để trộm kinh được?
Thủ tọa Long Thụ Viện Huyền Tịch liền hỏi:
- Hư Trầm, gã Hư Thanh kia khi động thủ quá
chiêu với ngươi, quyền cước có điểm gì khác lạ chăng?
Giọng ông ta đúng là người già nua khàn khàn khi
nãy. Hư Trầm kêu lên một tiếng đáp:
- Đúng rồi! Sao đệ tử lại không nghĩ ra? Gã Hư
Thanh kia động thủ cùng đệ tử, sử dụng không phải võ công bản môn.
Huyền Tịch nói:
- Thế thì công phu của môn nào phái nào, ngươi
có nhìn ra chăng?
Ông thấy Hư Trầm nét mặt hoang mang, không sao
trả lời được, bèn hỏi thêm:
- Có phải trường quyền chăng? Hay là đánh nhập nội?
Cầm nã thủ? Hay là Địa Đường, Lục Hợp, Thông Tí?
Hư Trầm đáp:
- Y... y sử dụng công phu cực kỳ âm độc, mấy lần
đệ tử bị trúng đòn của y.
Huyền Tịch, Huyền Nạn cùng mấy vị lão tăng vai vế
cực cao đưa mắt nhìn phương trượng, ai nấy nghĩ thầm trong chùa hôm nay gặp phải
những đối thủ bản lãnh cực kỳ cao siêu, giở trò đùa cợt, khiến cho ai nấy như
chìm vào trong đám sương mù, kế sách trước mắt là cố làm sao tra xét cho ra, đồng
thời gặp đâu hay đó thấy chuyện quái lạ đừng hoảng hốt nếu không tăng chúng
trong chùa sẽ lo sợ kinh hoàng, e rằng họa hoạn không thể nào giải quyết được.
Huyền Từ chắp hai tay nói:
- Kinh thư cất dấu trong Bồ Đề Viện, là Đại Thừa
kinh luận do cao tăng tiền bối viết ra để phát dương Phật pháp, độ hóa thế
nhân, đệ tử Phật môn lấy được, niệm tụng nghiên cứu có thể tăng cường Phật
pháp. Còn như kẻ thế tục lấy được không tôn trọng thì tội họa không phải là nhỏ.
Các vị sư đệ, sư điệt, mọi người trở về bản viện nghỉ ngơi đi, những người có
chức vụ thì ai làm việc nấy.
Quần tăng nghe lời đi ra, chỉ còn bọn Hư Trầm,
Hư Uyên vẫn cùng Hư Thanh cãi lẫy ỏm tỏi. Huyền Tịch trừng mắt nhìn một cái, Hư
Trầm lắp bắp kinh hãi, không còn dám hó hé gì nữa, cùng Hư Thanh đi ra.
Tất cả đi hết rồi, trong điện chỉ còn lại Huyền
Từ, Huyền Nạn, Huyền Tịch ba người ngồi ở trên bồ đoàn ngay trước tượng Phật.
Huyền Từ đột nhiên cất lên:
- A Di Đà Phật, tội nghiệp, tội nghiệp!
Mấy tiếng đó vừa xong, ba nhà sư phi thân nhảy
lên, luồn ra phía sau tượng Phật, từ ba phương vị khác nhau xuất chưởng đánh
vào Kiều Phong. Kiều Phong không ngờ ba nhà sư đã nhìn vào tấm gương đồng phát
hiện tung tích của mình, lại càng không nghĩ đến ba lão tăng già cả lụ khụ chưa
nói gì đã xông lên đánh liền, xuất chưởng uy mãnh nhanh nhẹn đến thế. Chỉ chớp
mắt ông thấy khó thở, ngực như bị đè, ba vị cao tăng Thiếu Lâm hợp kích quả là
ghê gớm. Ông không còn phân biệt được phương hướng của chưởng lực từ đâu tới,
chỉ thấy trái phải trên dưới trước sau chỗ nào cũng bị chưởng lực của ba nhà sư
bao trùm, muốn xông ra chỉ còn một cách là dùng ngạnh công, nếu không đả thương
được đối phương ắt là mình sẽ bị thương. Ông không kịp suy nghĩ, đành vận sức
vào song chưởng đẩy ra đằng trước, nghe lách cách một tiếng lớn, pho tượng Phật
đã bị đẩy ngã. Kiều Phong thuận tay xách luôn Hư Thanh, tung mình nhảy tới, bỗng
cẩm thấy sau lưng kình phong lợi hại, chưởng lực chưa đến thì hơi gió đã tới rồi.
Kiều Phong không muốn đối chưởng đấu sức với các
nhà sư Thiếu Lâm, tay phải liền chộp lấy tấm bình phong trên có gắn tấm gương đồng,
xoay tay lật ngược lại, dùng chiếc bình phong như lá chắn che sau lưng, chỉ
nghe choang một tiếng lớn, một chưởng của Huyền Nạn đã đánh trúng tấm đồng
kính, chấn động khiến cánh tay Kiều Phong ngâm ngẩm tê, bình phong chung quanh
tấm gương vỡ thành mấy mảnh.
Kiều Phong mượn luôn sức chưởng của Huyền Nạn nhảy
vọt đến hơn một trượng về phía trước, bỗng thấy sau lưng có người hít một hơi
dài, thanh âm không phải tầm thường. Kiều Phong biết ngay một nhà sư Thiếu Lâm
sắp sử dụng một loại võ công giống như Phách Không Thần Quyền, tuy không có gì
phải sợ nhưng không muốn đấu công lực với ông ta thành thử cầm chiếc gương đồng
chặn sau lưng, nội lực dẫn lên cánh tay bên phải.
Ngay lúc đó, ông cảm thấy chưởng lực của đối
phương xeo xéo đánh tới, phương vị có vẻ hơi quái dị. Kiều Phong ngạc nhiên, lập
tức tỉnh ngộ, nhà sư kia không đánh thẳng vào lưng ông ta, mà đánh vào hậu tâm
Hư Thanh. Kiều Phong và Hư Thanh không hề quen biết, cũng chẳng có ý muốn cứu
y, nhưng đã nắm y trong tay, tự nhiên nẩy ra ý muốn chiếu cố nên đẩy chiếc đồng
kính ra bảo vệ cho Hư Thanh. Chỉ nghe bộp một tiếng, thanh âm tắt ngúm thì ra
chiếc gương đồng đã bị chưởng lực của Huyền Nạn đánh nứt từ trước, bây giờ bị
thêm Phách Không Chưởng của Huyền Từ thành ra vỡ nát.
Kiều Phong khi giơ chiếc gương ra sau lưng đã kịp
nắm Hư Thanh nhảy lên mái nhà, thấy thân thể y nhẹ bỗng, so với tướng tá cao to
của y không xứng chút nào nhưng tiếng vỡ vừa vang lên, ông đang đứng trên mái
nhà bỗng thấy chân không vững, ngã vật trở lại. Từ khi hành tẩu giang hồ, ông
chưa từng gặp phải đối thủ nào lợi hại đến thế, không khỏi hoảng hồn, lập tức
quay mình nhẹ nhàng nhưng vững chãi như một hòn núi đứng xuống đất, khí độ trầm
hùng tưởng chừng như không coi cường địch vây quanh vào đâu.
Huyền Từ liền nói:
- A Di Đà Phật, Kiều thí chủ, sao ông đến chùa
Thiếu Lâm giết người chưa đủ lại còn làm hư hại cả tượng Phật là sao?
Huyền Tịch quát lớn:
- Nếm một chưởng của ta xem nào!
Song chưởng của ông ta từ bên ngoài đánh vòng
vào, rồi từ từ đẩy vào phía Kiều Phong. Chưởng lực chưa đến, Kiều Phong đã thấy
khó thở, chỉ trong khoảnh khắc chưởng lực của Huyền Tịch chẳng khác nào sóng cả
ào ào đổ tới.
Kiều Phong vứt chiếc gương đồng xuống, hữu chưởng
đánh trả lại một chiêu Kháng Long Hữu Hối trong Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng.
Hai luồng chưởng lực chạm nhau, nghe ầm một tiếng, cả Huyền Tịch lẫn Kiều Phong
đều phải lùi lại ba bước. Kiều Phong chấn động toàn thân thấy như không còn hơi
sức, Hư Thanh trong tay tuột ra rơi xuống, nhưng vừa đề chân khí, lập tức tinh
thần sung mãn trở lại, nên không đợi cho Huyền Tịch đánh tiếp chưởng thứ hai,
kêu lên:
- Không đấu nữa!
Ông nhấc Hư Thanh lên, phi thân trở lên mái nhà.
Huyền Nạn, Huyền Tịch cùng kêu lên một tiếng, lạ lùng vô cùng. Chưởng của Huyền
Tịch vừa mới đánh ra đã tập trung hết công lực bình sinh có tên là Nhất Phách
Lưỡng Tán. Sở dĩ gọi là lưỡng tán là nói về đánh vào đá, đá sẽ vỡ tan văng cả
lên người, còn chính mình cũng hồn phi phách tán. Lộ chưởng pháp đó chỉ có một
chiêu, chỉ vì chưởng lực quá ư hùng hồn nên khi đối địch không cần sử dụng lần
thứ hai kẻ địch đã toi mạng rồi. Chưởng đó sử dụng nội lực bài sơn đảo hải làm
cơ sở, dẫu có muốn biến chiêu hay thay đổi thế đánh cũng không ai làm nổi. Ngờ
đâu Kiều Phong tiếp chiêu đó rồi, đã chẳng chết ngay tại đương trường mà chỉ
trong một thời gian rất ngắn đã hồi sức, cầm người nhảy lên mái nhà chạy mất.
Huyền Nạn than thở:
- Võ công người này quả là giỏi thật.
Huyền Tịch nói:
- Nếu như không sớm trừ khử đi, e rằng hậu hoạn
không biết đến đâu mà kể.
Huyền Nạn liên tiếp gật đầu, còn Huyền Từ nhìn
theo phía Kiều Phong vừa bỏ đi, ngẩn người ra không nói năng gì.
Khi Kiều Phong bỏ đi, ông quay đầu lại nhìn tấm
gương đồng bị Huyền Từ phương trượng đánh một quyền nát vụn ra thành mấy chục mảnh
tứ tán dưới đất, mảnh nào cũng có bóng sau lưng ông. Kiều Phong đột nhiên thấy
lòng bàng hoàng: “Vì sao mỗi lần ta nhìn thấy bóng sau lưng mình, trong bụng có
điều gì bất ổn? Không biết có chuyên gì khác thường?”. Khi đó ông đang gấp gáp
chuyện rời khỏi chùa Thiếu Lâm, trong đầu tuy nổi một mối nghi hoặc nhưng đang
vội vã nên cũng liền quên ngay.
Đường trong núi Thiếu Thất ông rất quen thuộc,
luồn xuống sau núi rồi liền kiếm những đường mòn cheo leo mà đi, chạy luôn mấy
dặm không nghe tiếng các nhà sư đuổi theo, nên cũng yên dạ, bèn bỏ Hư Thanh xuống
đất quát:
- Thôi ngươi tự mình đi đi nhưng đừng nghĩ tới
chuyện đào tẩu.
Ngờ đâu Hư Thanh chân vừa chạm đất đã nhũn ra,
thân hình co quắp, tưởng chừng đã chết rồi. Kiều Phong ngạc nhiên, vội đưa tay
sờ mũi y, thấy hơi thở lúc có lúc không, rất là yếu ớt liền cầm tay xem mạch thấy
nhảy cũng rất chậm, xem chừng sắp chết đến nơi.
Kiều Phong nghĩ thầm: “Ta trong bụng còn bao
nhiêu chuyện ngờ vực đang tính hỏi ngươi, không thể để cho ngươi chết dễ dàng
như thế được. Gã hòa thượng này lọt vào tay mình, e rằng sợ âm mưu bại lộ nên uống
một loại thuốc độc cực mạnh để tự sát”.
Ông vội vàng sờ lên ngực y để xem tim còn đập
hay không, bỗng thấy như sờ vào vật gì mềm mại, dường như nhà sư đó là một người
đàn bà. Kiều Phong vội vàng rụt tay về, càng thấy lạ lùng hơn: “Y... y là đàn
bà giả trang ư?”. Trong đêm tối không cách nào nhìn kỹ mặt mũi y ra sao. Ông là
một con người hào phóng khoát đạt, không nề tiểu tiết, không phải như Đoàn Dự
mê sách giữ kẽ, có rất nhiều cố kỵ nên nắm lưng Hư Thanh nhấc lên, quát hỏi:
- Ngươi là đàn ông hay là đàn bà? Ngươi nếu
không nói thực, ta sẽ lột hết quần áo ngươi ra xem cho rõ.
Môi Hư Thanh mấp máy dường như định nói gì nhưng
không phát xuất được lời nào, đủ biết tính mạng đang lâm nguy chỉ còn treo trên
sợi tóc. Kiều Phong nghĩ bụng: “Bất luận người này là nam hay nữ, kẻ tốt hay
người xấu cũng không thể để y chết như thế này được”. Ông bèn giơ chưởng phải
ra đè vào sau lưng y, dưa chân khí từ đan điền ra từ bụng lên cánh tay, từ cánh
tay xuống lòng bàn tay truyền vào thân thể Hư Thanh, dẫu không cứu được tính mạng
y thì cũng có thể hỏi y được vài điều manh mối. Một lúc sau, mạch Hư Thanh dần
dần mạnh lên, hô hấp cũng đều trở lại. Kiều Phong thấy y nhất thời không chết nữa,
trong bụng cũng đỡ lo nghĩ thầm: “Nơi đây cách chùa Thiếu Lâm chưa xa không nên
ở lâu”. Ông liền bồng Hư Thanh ngang trên hai tay, rảo bước đi về phía hướng
tây bắc.
Khi đó ông mới thấy thân hình Hư Thanh cực kỳ nhẹ
nhàng, không tương xứng với dáng dấp cao to của y chút nào, nghĩ bụng: “Ta lột
quần áo y ra thì không ổn nhưng chẳng lẽ đến giày vớ y mình cũng không cởi được
hay sao?”. Ông giơ tay kéo tăng hài bên phải của y, nắm vào thấy cứng ngắc
không phải thịt da người, hơi kéo mạnh một cái, một vật gì đó theo tay tuột ra,
hóa ra là một chiếc chân giả làm bằng gỗ. Ông thò tay mò chân Hư Thanh gặp ngay
một bàn chân nhỏ nhắn mềm mại. Kiều Phong kêu lên một tiếng, nghĩ thầm: “Quả
nhiên là một người đàn bà”.
Ông lập tức thi triển khinh công, chạy mỗi lúc một
nhanh, đến khi trời tờ mờ sáng, tính ra phải cách chùa Thiếu Lâm đến hơn năm chục
dặm, bèn ôm Hư Thanh đến một khu rừng nhỏ ở gần bên, gặp một khe suối chảy
ngang liền đi đến bên dòng nước, vốc nước vỗ lên mặt Hư Thanh, lại dùng tay áo
cà sa lau mấy cái, đột nhiên từng mảng từng mảng thịt da lả tả rơi xuống. Kiều
Phong sợ đến nhảy dựng lên: “Sao da thịt cô ta lại rã nát ra thế này?”. Ông
chăm chú nhìn, thấy bên dưới những mảng da lở loét, là làn da mịn màng nhẵn nhụi
trắng ngần.
Hư Thanh được Kiều Phong ôm chạy đi vốn dĩ nửa tỉnh
nửa mê, lúc này mặt bị vã nước lạnh liền mở mắt ra, nhìn thấy Kiều Phong, gượng
nở một nụ cười, nói nhỏ:
- Kiều bang chủ!
Chỉ gọi được một tiếng rồi lại nhắm mắt thiếp
đi. Kiều Phong liền lấy tay áo cô ta đem nhúng xuống nước, lau mạnh lên mặt mấy
cái, bao nhiêu phấn đóng trên mặt trôi đi, lộ ra khuôn mặt xinh tươi của một
thiếu nữ. Kiều Phong thất thanh kêu lên:
- Hóa ra là A Châu cô nương!
Kẻ giả trang làm Hư Thanh lẻn vào Bồ Đề Viện
chùa Thiếu Lâm chính là A Châu, thị tì của Mộ Dung Phục. Thuật dị dung cải
trang của nàng quả là siêu tuyệt, dùng chân gỗ nâng cao người lên, lấy bông độn
vai độn bụng, lại dùng bột mì trộn hồ đắp cho mặt phồng lên, đội tăng mạo, mặc
tăng bào khiến cho những người thường ngày vẫn gặp Hư Thanh như bọn Hư Trầm, Hư
Uyên cũng không nhận ra nổi.
Nàng còn đang mơ mơ hồ hồ nghe Kiều Phong gọi “A
Châu cô nương” đã toan đáp lời, lại muốn giải thích vì sao mình lẻn vào chùa
Thiếu Lâm nhưng không còn chút lực khí nào nữa, ngay cả lưỡi cũng không còn sử
dụng được nên một tiếng “Ừ” cũng nói không ra.
Lúc đầu Kiều Phong cho rằng Hư Thanh là kẻ gian
trá hiểm độc, cái chết của cha mẹ và sư phụ mình chắc có liên quan mật thiết đến
y nên đành hao phí khí lực cứu y cốt để tra xét cho rõ ngọn nguồn, trong lòng
đã định bụng nếu y không nói thì sẽ dùng những độc hình khảo đả bức bách cho
ra.
Ngờ đâu khi bộ mặt thật lộ ra rồi, hóa ra lại là
cô nàng A Châu hình dáng ẻo lả, xinh đẹp dễ thương, quả thật dẫu nằm mơ cũng
không tin nổi. Kiều Phong tuy đã từng gặp mặt A Châu, A Bích vài lần, lại cứu
hai nàng từ tay các võ sĩ Tây Hạ nhưng nào có biết A Châu giỏi tài hóa trang,
giá như Đoàn Dự thì chắc chàng đã đoán ra rồi.
Kiều Phong lúc này đã biết nàng không phải trúng
độc, mà chỉ vì bị thương bởi chưởng lực, hơi suy nghĩ một chút đã biết được lý
do, lúc trước Huyền Từ phương trượng dùng Phách Không Chưởng đánh tới, mình
dùng tấm gương đồng che chở nên không trúng phải A Châu nhưng vì tay trái giơ
nàng lên, chưởng lực kinh người kia cũng truyền tới cô gái. Ông nghĩ ra được
chuyện đó rồi không khỏi hối hận: “Nếu ta không xen vào chuyện người khác cứ để
nàng muốn đến thì đến, muốn đi thì đi thì nàng đã thoát thân rồi, không đến nỗi
mắc đại nạn hôm nay”.
Ông trong bụng vốn đã coi trọng Mộ Dung Phục, nể
thần nể cả cây đa, đối với người thị tì cũng lấy mắt xanh mà đãi nên nghĩ thầm:
“Nàng ta sở dĩ bị trọng thương như thế này cũng chỉ vì mình mà ra. Nói gì thì
nói, thể nào cũng phải tìm đến thị trấn, kiếm thầy lang chữa trị cho khỏi mới
xong”. Ông bèn nói:
- A Châu cô nương, để ta bồng cô đến thị trấn trị
thương.
A Châu đáp:
- Trong túi tôi có thuốc đó.
Nói xong nàng giơ tay lên nhưng không có hơi sức
nào thò vào bọc. Kiều Phong lấy các đồ trong túi nàng ra, ngoại trừ một số bạc
vụn, thấy có một sợi xích vàng đúc thật tinh xảo, trên sợi xích có khắc hai
hàng chữ nhỏ:
“Thiên thượng tinh,
Lượng tinh tinh,
Vĩnh xán lạn,
Trường an ninh”.
Sao trên trời,
Sáng lấp lánh.
Mãi chiếu tỏa,
Mãi an ninh.
Ngoài ra còn có một hộp ngọc nhỏ màu trắng,
chính là chiếc hộp Đàm công tặng nàng nơi rừng hạnh. Kiều Phong mừng thầm, biết
rằng thương dược này cực kỳ linh nghiệm, có thể nói là thuốc trị thương đệ nhất
thiên hạ, bèn nói:
- Cứu tính mạng cho cô là quan trọng, xin đừng
trách cứ.
Ông bèn đưa tay cởi áo nàng ra lấy Băng Thiềm
Cao xoa lên trên ngực. A Châu thẹn đến chín người nhưng không sao tránh né được,
vết thương đau nhói lên lại ngất đi.
Kiều Phong mặc áo lại cho cô gái, bỏ chiếc hộp bạch
ngọc và chiếc dây xích vàng vào túi nàng, còn số bạc vụn thì bỏ vào túi mình,
đưa tay bồng cô ta lên, rảo bước đi về hướng bắc. Đi được độ hơn hai chục dặm,
đến một thị trấn lớn nhà cửa sầm uất tên là Hứa Gia Tập. Kiều Phong tìm đến
khách điếm lớn nhất, lo liệu cho A Châu nằm yên rồi mới đi mời một thầy thuốc đến
khám bệnh.
Thầy lang đó bắt mạch A Châu xong, liên tiếp lắc
đầu nói:
- Bệnh của cô nương không có thuốc nào chữa nổi,
thang thuốc này tôi cắt chỉ là làm hết sức đấy thôi.
Kiều Phong thấy toa thuốc có các vị cam thảo, bạc
hà, cát cánh, ngưu hạ đều là những loại thuốc ôn hòa, đến trị đau bụng cũng
không xong. Ông không đi cắt thuốc, nghĩ thầm: “Nếu như linh dược của Đàm công
trị cũng không được thì thuốc của một lang băm ở thị trấn này có ích lợi gì”.
Nói rồi lại vận chân khí, dùng nội lực chuyển vào thân thể nàng. Chỉ trong khoảnh
khắc, gò má A Châu lại hồng lên nói:
- Kiều bang chủ, may mà được ông cứu, nếu như
rơi vào tay bọn giặc trọc kia thì tính mạng thiếp chắc chẳng còn.
Kiều Phong nghe nàng nói thấy trung khí sung túc
rất lấy làm vui mừng:
- A Châu cô nương, ta cứ lo là cô không khỏi được.
A Châu đáp:
- Bang chủ đừng gọi tôi là cô nương gì gì nữa, cứ
gọi A Châu không cũng được rồi. Kiều bang chủ tới chùa Thiếu Lâm làm gì vậy?
Kiều Phong đáp:
- Ta nào có còn làm bang chủ nữa đâu, từ nay đừng
gọi là bang chủ nữa nhé.
A Châu đáp:
- Ồ, xin lỗi. Thôi tiểu nữ gọi là Kiều đại gia.
Kiều Phong nói:
- Để ta hỏi cô trước, cô đến chùa Thiếu Lâm để
làm gì?
A Châu cười đáp:
- Ồ, nói ra xin Kiều đại gia đừng cười là tiểu nữ
phá quấy, thiếp nghe nói công tử chúng tôi đến chùa Thiếu Lâm nên cùng Vương cô
nương, A Bích muội tử đến tìm. Ngờ đâu khi vừa bước chân vào cửa, gã hòa thượng
Hư Thanh kia đã hầm hầm hung tợn nói là đàn bà con gái không được vào chùa Thiếu
Lâm. Thiếp tranh cãi với y một hồi, y lại còn mắng thiếp. Thành thử muốn vào
chùa đành phải giả làm y, để xem y làm gì được nào?
Kiều Phong mỉm cười nói:
- Cô cải trang vào được chùa Thiếu Lâm mà các
nhà sư không biết cô là nữ nhân. Sao cô lúc vào được chùa rồi không lộ bộ mặt
thật ra cho những hòa thượng đó coi, bọn họ tức đến vỡ bụng mà chết cũng không
làm gì cô được.
Ông vốn đối với các nhà sư Thiếu Lâm cực kỳ tôn
kính, nhưng vì nay Huyền Khổ đại sư đã chết rồi thứ nữa quần tăng không hỏi cho
ra ngô ra khoai đã vu cho ông ba cái đại tội giết cha, giết mẹ, giết thầy,
trong lòng không khỏi hậm hực.
A Châu ngồi thẳng lên, vỗ tay cười nói:
- Kiều đại gia, cái ý đó của đại gia hay lắm. Để
khi nào tiểu nữ khỏi rồi sẽ giả làm đàn ông đi vào chùa, sau đó sẽ mặc lại
thành nữ nhân, nghênh ngang ngồi giữa Đại Hùng Bảo Điện, chọc cho những nhà sư
kia giận đến lăn lộn dưới đất, thế mới thật là thích! A...
Nàng hơi không đủ, thân hình nhũn ra nằm gục xuống
giường, không cử động gì được. Kiều Phong kinh hãi, đưa ngón tay thăm hơi thở,
thấy nàng dường như hô hấp hoàn toàn ngừng hẳn. Ông hốt hoảng, vội vàng đưa bàn
tay đè vào huyệt Linh Đài ở sau lưng cô gái, đem chân khí truyền vào trong người
nàng. Chưa đầy thời gian uống một chén trà, A Châu chầm chậm ngẩng đầu lên, cười
mủm mỉm nói:
- Chao ôi, sao đang nói chuyện tự nhiên tiểu nữ
lại gục xuống ngủ là thế nào? Kiều đại gia, tiểu nữ thật là không phải.
Kiều Phong biết tình hình xem ra không xong bèn
nói:
- Cô chưa được khỏe hẳn, thôi ngủ một chút dưỡng
thần.
A Châu đáp:
- Tiểu nữ cũng không thấy mệt, có điều Kiều đại
gia cực nhọc đêm khuya, xin đi nghỉ một chút cho lại sức.
Kiều Phong đáp:
- Hay lắm, để chốc nữa ta sẽ qua thăm cô.
Ông quay trở lại phòng khách, gọi năm cân rượu
và hai cân thịt bò nóng, ngồi ăn uống một mình. Lúc này trong lòng phiền não, uống
rượu vào càng dễ say nên khi uống hết chỗ rượu đó đã thấy hơi ngà ngà. Ông cầm
hai chiếc bánh bao đem đến phòng A Châu cho cô ta ăn, vào đến phòng gọi luôn
hai tiếng không nghe đáp lại liền đến trước giường thấy nàng hai mắt nhắm nghiền,
gò má lõm xuống, dường như đã chết rồi.
Ông đưa tay sờ trán cô gái, cũng may vẫn còn âm ấm
vội vàng dùng chân khí cứu chữa. A Châu từ từ tỉnh lại, cầm lấy chiếc bánh, vui
vẻ ăn ngay. Đến lúc này, Kiều Phong biết rằng nàng sở dĩ sống được toàn là nhờ
mình dùng chân khí tục mệnh, nếu không có chân khí truyền vào người thì chỉ
chưa đầy một giờ đã kiệt lực mà chết, nên không biết phải tính sao?
A Châu thấy ông trầm ngâm, mặt lộ vẻ lo lắng bèn
nói:
- Kiều đại gia, tiểu nữ bị thương thật là nặng,
đến như linh dược của Đàm lão tiên sinh cũng chữa không được, phải không nào?
Kiều Phong vội nói:
- Không! Đâu có đến nỗi gì, chỉ nghỉ ngơi vài
ngày là khỏe lại ngay.
A Châu đáp:
- Đại gia đừng nói dối làm chi. Tiểu nữ cũng thấy
mình trong người dường như trống không chẳng có chút hơi sức nào cả.
Kiều Phong đáp:
- Cô cứ yên tâm dưỡng bệnh, ta thể nào cũng có
cách chữa được cho cô.
A Châu nghe lời nói của ông biết rằng mình bị
thương rất nặng, trong lòng không khỏi sợ hãi, tay run lẩy bẩy, chiếc bánh bao
ăn dở trong tay rơi bịch xuống đất. Kiều Phong lại tưởng nội lực của nàng hết rồi
nên để tay lên trên huyệt Linh Đài.
A Châu lúc này thần trí đã tỉnh táo, thấy một luồng
khí ấm áp từ lòng bàn tay ông ta cuồn cuộn truyền vào người mình, lập tức chân
tay khớp xương thấy thật dễ chịu. Nàng hơi suy nghĩ liền hiểu ngay mình đã chết
đi sống lại mấy lần, đều nhờ được Kiều Phong cứu tỉnh, trong lòng vừa cảm kích
lại vừa kinh hoàng. Nàng tuy lanh lợi thật nhưng dẫu sao tuổi cũng còn nhỏ, nước
mắt lã chã rơi xuống, nói:
- Kiều đại gia, tiểu nữ không muốn chết, đại gia
đừng bỏ rơi tiểu nữ ở đây.
Kiều Phong nghe nàng nói thật đáng thương, vội
vàng an ủi:
- Không thể nào như thế được, cô cứ yên tâm. Kiều
Phong này là người thế nào mà lại bỏ rơi bằng hữu đang lúc nguy nan?
A Châu đáp:
- Tiểu nữ đâu có xứng đáng làm bạn của đại gia.
Kiều đại gia, liệu tiểu nữ có chết hay chăng? Người chết đi rồi có thành ma quỷ
hay không?
Kiều Phong đáp:
- Cô đừng có lo lắng. Cô tuổi còn nhỏ như thế, bị
thương nhẹ như thế này làm gì mà chết được?
A Châu đáp:
- Đại gia không đánh lừa tiểu nữ đấy chứ?
Kiều Phong đáp:
- Không đâu!
A Châu nói:
- Đại gia là nhân vật anh hùng nổi danh trong võ
lâm, ai ai cũng nói: Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung. Đại gia và công tử chúng tôi
kẻ nam người bắc ngang ngửa nhau, đã có bao giờ nói mà không làm chưa?
Kiều Phong mỉm cười nói:
- Hồi còn bé, ta cũng hay nói láo. Về sau khi
hành tẩu trên giang hồ rồi thì không đánh lừa ai nữa.
A Châu hỏi:
- Đại gia bảo thương thế của tiểu nữ không nặng,
thế chẳng là nói láo là gì?
Kiều Phong nghĩ thầm: “Nếu như cô biết mình bị
thương nặng thì trong lòng thể nào cũng bồn chồn, chữa bệnh lại càng khó khăn
thêm. Vì cô nàng nên nói gì thì nói, cũng đành phải nói láo vậy”. Ông bèn nói:
- Ta không nói láo cô đâu.
A Châu thở dài một tiếng nói:
- Được rồi, tiểu nữ cũng an tâm. Kiều đại gia,
tiểu nữ cầu xin ông một việc nhé?
Kiều Phong hỏi:
- Chuyện gì?
A Châu đáp:
- Tối nay đại gia ở bên cạnh tiểu nữ, đừng đi
đâu.
Nàng cho rằng một khi Kiều Phong ra khỏi phòng rồi,
liệu chừng mình không sống được tới khi trời sáng. Kiều Phong đáp:
- Được rồi, dẫu cô không nói ta cũng sẽ ngồi bên
cạnh đây với cô. Thôi cô đừng nói nữa, ngủ một giấc cho ngon đi.
A Châu nhắm mắt lại, một lát sau lại mở mắt ra
nói:
- Kiều đại gia, tiểu nữ không ngủ được, lại xin
đại gia một việc nữa, liệu có được chăng?
Kiều Phong hỏi:
- Chuyện gì thế?
A Châu đáp:
- Khi còn nhỏ mỗi khi tiểu nữ không ngủ được thì
má má lại đến bên cạnh giường hát ru cho tiểu nữ nghe. Chỉ cần hát ba bài là tiểu
nữ ngủ say ngay.
Kiều Phong mỉm cười:
- Bây giờ đi kiếm mẹ cô chẳng phải là chuyện dễ
dàng.
A Châu thở dài một tiếng, buồn bã nói:
- Cha mẹ tiểu nữ nào có biết ở đâu, cũng không
biết có còn sống hay đã chết. Kiều đại gia hát cho tiểu nữ nghe vài khúc, liệu
có được chăng?
Kiều Phong gượng cười, một người đàn ông hùng
tráng như ông, nay hát ru cho một cô gái nhỏ ngủ thật chẳng còn ra thể thống
gì, bèn đáp:
- Ca hát quả thực ta không biết.
A Châu hỏi lại:
- Thế khi còn nhỏ, má má không hát ru đại gia
hay sao?
Kiều Phong gãi đầu nói:
- Cái đó thì dường như là có nhưng ta quên hết rồi.
Dẫu có nhớ thì ta cũng không biết hát.
A Châu thở dài:
- Nếu đại gia không chịu hát thì cũng đành vậy
biết sao hơn.
Kiều Phong áy náy nói:
- Không phải là ta không chịu hát mà là không biết
hát đấy thôi.
A Châu đột nhiên nghĩ ra một chuyện, vỗ tay reo
lên:
- À, được rồi, Kiều đại gia, tiểu nữ lại xin một
việc khác, lần này đại gia phải chịu đấy nhé.
Kiều Phong thấy cô gái nhỏ này tính tình thật
ngây thơ hồn nhiên, làm chuyện gì cũng thật ngoài dự liệu, nàng nói lại xin một
chuyện khác thật không biết là chuyện tinh nghịch quái lạ gì bèn hỏi lại:
- Cô phải nói ra trước, nếu ta làm được thì sẽ
làm, còn không làm được thì thôi.
A Châu đáp:
- Chuyện này ở trên đời chỉ cần bốn năm tuổi
cũng đều làm được, đại gia thử xem có dễ dàng không nào?
Kiều Phong không để mắc lừa nàng liền đáp:
- Thế chuyện đó là chuyện gì cô cứ nói rõ trước
đi đã.
A Châu cười khúc khích nói:
- Được rồi, vậy đại gia kể chuyện cho tiểu nữ
nghe đi, anh em nhà thỏ cũng được mà mẹ con nhà sói cũng hay, tiểu nữ đều ngủ
được.
Kiều Phong nhíu mày, trên mặt lộ vẻ gượng gạo. Mới
chẳng bao lâu, ông là một nhân vật khí khái hiên ngang, lãnh tụ quần hùng, bang
chủ một đại bang lớn nhất giang hồ. Chỉ mới vài ngày qua, đã bị người ta bãi chức
bang chủ trục xuất ra khỏi Cái Bang, cha mẹ, sư phụ ba người thân thiết nhất đều
qua đời trong một buổi, đến ngay bản thân mình là Hồ hay là Hán, thân thế cũng
chưa minh bạch, lại mang tội phản nghịch giết ba người thân bao nhiêu việc cùng
đổ lên đầu, chẳng một ai chia xẻ vui buồn, âu cũng đành chịu. Ngờ đâu nơi khách
điếm này, lại bầu bạn một tiểu cô nương để cô đòi ca hát, kể chuyện, những việc
ỉ ôi ăn không ngồi rồi như thế, trước đây ông chỉ nghe nửa câu đã bưng tai bỏ
đi. Ông bình sinh chỉ thích cùng bạn bè uống rượu, đánh đố, giảng võ luận kiếm,
càng vui càng hăng, nếu không thì cũng đàm luận chuyện quân quốc đại sự, nói
chuyện thiên hạ anh hùng. Có bao giờ kể chuyện anh em nhà thỏ mẹ con nhà sói
cho người nghe, quả là nực cười.
Thế nhưng chỉ trong một chớp mắt, ông chợt nhìn
thấy khuôn mặt A Châu dung nhan tiều tụy đăm đăm trông đợi, nghĩ thầm: “Nàng bị
thương nặng như thế, xem chừng khó mà qua khỏi được, chỉ dứt một hơi thở là
táng mạng ngay. Nàng muốn nghe kể chuyện, thôi ta cứ thuận miệng kể cho nàng
nghe”. Ông liền nói:
- Được rồi, để ta kể chuyện cho cô nghe, chỉ sợ
chuyện không hay thôi.
A Châu vui mừng ra mặt nói:
- Thể nào cũng hay lắm, mau mau kể đi.
Kiều Phong tuy nhận lời nhưng bảo ông kể chuyện
thì cũng chưa biết nói gì, một lát sau mới nói:
- Thôi, để ta kể chuyện con sói nhé. Ngày xửa
ngày xưa có một ông già đi chơi ở trong núi trông thấy một con chó sói bị người
ta trói bỏ trong một chiếc bao vải. Con chó sói mới khẩn khoản xin ông lão thả
nó ra, ông già liền cởi chiếc bao cho con chó sói ra. Con chó sói...
A Châu ngắt lời:
- Con chó sói mới bảo là mình đang đói, đòi ăn
thịt ông già, phải không nào?
Kiều Phong đáp:
- Ồ, thì ra truyện này cô nghe rồi.
A Châu đáp:
- Đó là chuyện con sói ở trong rừng. Tiểu nữ
không thích nghe truyện trong sách, tiểu nữ muốn nghe truyện ngoài đời kia.
Kiều Phong ngẫm nghĩ rồi nói:
- Không phải truyện trong sách mà là truyện
ngoài đời.
Nghĩ thầm: “Cái Bang cùng người Khất Đan tranh đấu
giết chóc ngày xưa, nói đến thì kinh tâm động phách, tiểu cô nương chắc không
thích nghe. Ôi, phải kể cái truyện trẻ con ngày xưa”. Liền nói:
- Được, ta kể cho cô nghe truyện một đứa nhỏ ở
nông thôn.
Ngày xưa, nơi chân núi có một gia đình rất
nghèo, hai vợ chồng chỉ có một đứa con trai. Khi đứa trẻ lên bảy, thân thể thật
là cao lớn, đã đi theo cha lên núi chặt củi được rồi. Một hôm, người cha bị bệnh
mà nhà thì nghèo quá không dám đi mời thầy lang, cũng không có tiền mua thuốc.
Thế nhưng người cha bệnh mỗi ngày một nặng thêm,
không uống thuốc thì không xong, người mẹ đành đem sáu con gà mái, một rổ trứng
đem ra chợ bán.
Bán tất cả gà lẫn trứng được bốn tiền, người mẹ
mới đi mời thầy lang. Thế nhưng thầy lang kia lại bảo rằng, đường vào trong núi
xa quá không muốn đi xem bệnh, người mẹ hết sức cầu khẩn nhưng gã thầy lang vẫn
nhất mực lắc đầu.
Người mẹ lại quỳ xuống van lạy, thầy lang mới
nói: “Đến xem bệnh ở nơi thâm sơn cùng cốc như thế, chẳng bõ cái công bị nhiểm
lam sơn chướng khí. Có bốn tiền thì chữa trị được bao nhiêu?”. Người mẹ mới níu
vạt áo thầy lang, gã liền giằng ra, ngờ đâu bà ta nắm chặt quá, nghe soẹt một
tiếng chiếc áo rách ngay một mảnh dài. Thầy lang đó giận quá, mới xô người mẹ
ngã lăn ra, lại đá bồi thêm một cái rõ mạnh, nhất định bắt đền nói là áo này mới
may, đáng giá hai lượng bạc.
A Châu nghe tới đây, nhỏ nhẹ nói:
- Gã thầy lang đó quả là độc ác!
Kiều Phong ngẩng đầu nhìn ra cửa sổ đang tối dần,
chậm rãi nói:
- Thằng bé ở bên cạnh mẹ, thấy mẹ nó bị người ta
hiếp đáp, liền xông lên, vừa đánh vừa cắn tên thầy lang. Thế nhưng y chỉ là một
đứa bé, có bao nhiêu sức lực nên bị thầy lang kia xách lên, vứt ra ngoài cửa.
Người mẹ vội vàng chạy ra xem con mình thế nào, gã thầy lang sợ người đàn bà tiếp
tục rầy rà liền đóng chặt cổng lại. Đứa bé trán bị đụng vào một tảng đá, chảy
bao nhiêu là máu. Người mẹ sợ rắc rối nào có dám gõ cửa nhà thầy lang bắt đền,
chỉ vừa khóc mếu vừa dắt con về nhà.
Đứa bé kia khi đi ngang một tiệm đồ sắt, thấy
trên sạp bày đầy các loại dao dùng để giết bò giết heo. Người thợ rèn khi đó
đang lo việc mời chào khách mua cày mua bừa, không để ý, đứa bé liền len lén ăn
cắp một con dao nhọn, dấu dưới áo, đến mẹ nó cũng không hay biết gì cả.
Về tới nhà rồi, người mẹ mới kể lại mọi chuyện
cho người cha nghe, lại sợ người cha bực mình bệnh sẽ nặng thêm, mới lấy bốn lượng
bạc ra giao cho ông ta, ngờ đâu khi thò vào túi thì không còn thấy tiền bạc đâu
nữa.
Người mẹ vừa hoảng hốt vừa lạ lùng mới chạy ra hỏi
con, thấy đứa bé tay cầm một con dao sáng loáng, đang mài trên tảng đá liền hỏi:
“Con dao đó ở đâu mà có?”. Thằng bé đâu có dám thú nhận là mình ăn trộm nên nói
dối là người ta cho nó. Mẹ nó dĩ nhiên không tin, thứ dao mới như thế mua ở chợ
cũng phải tiền rưỡi, hai tiền, ai lại dại gì đem cho một đứa trẻ?
Hỏi y ai cho, thằng bé ấp úng không trả lời được.
Bà mẹ mới thở dài nói: “Con ơi! Ba mẹ nghèo khổ, bình thường chẳng bao giờ mua
đồ chơi cho con, quả thật tủi cho con quá. Con mua con dao đó để chơi, thân con
trai cũng không có gì không phải. Thế nhưng tiền còn dư con đưa lại cho mẹ, cha
con bị bệnh mình mua miếng thịt nấu canh cho cha con ăn”. Thằng bé nghe thế liền
trợn mắt hỏi lại: “Tiền dư nào?”. Người mẹ nói: “Thế bốn tiền của mình, con lấy
đi mua dao rồi, phải không nào?”. Đứa trẻ hốt hoảng kêu lên: “Con không có lấy
tiền, con không có lấy tiền”. Cha mẹ y trước nay chưa hề đánh mắng y, tuy chỉ
là một đứa trẻ mấy tuổi nhưng cũng coi y như một người khách, lúc nào cũng thật
nể nang...
Kiều Phong nói đến đây, chợt chột dạ: “Vì sao lại
thế nhỉ? Trên đời này cha mẹ đối với con cái đâu có ai như thế bao giờ, dẫu có
thương yêu nuông chiều, cũng chẳng hề nể nang khách sáo đến thế”. Ông lẩm bẩm
nói một mình:
- Vì sao lại có chuyện lạ lùng như thế?
A Châu hỏi lại:
- Có gì mà lạ lùng?
Nàng nói đến hai tiếng sau cùng hơi thở chỉ còn
mong manh như tơ. Kiều Phong biết chân khí trong người nàng đã kiệt, lập tức
giơ chưởng đè lên lưng cô gái, đem nội lực truyền vào. A Châu tinh thần tạm
khôi phục, thở dài nói:
- Kiều đại gia mỗi lần truyền khí cho tiểu nữ, nội
lực của đại gia lại tiêu hao một phần. Người luyện võ chân khí nội lực là quan
trọng hơn cả, đại gia đối với tiểu nữ như thế, A Châu... làm sao đáp đền được?
Kiều Phong cười nói:
- Ta chỉ cần tĩnh tọa thổ nạp vài giờ thì nội lực
chân khí lại trở lại bình thường, có gì đâu mà nói chuyện báo đáp? Ta với chủ
nhân các cô Mộ Dung công tử thiên lý thần giao, tuy chưa từng gặp nhau nhưng
lòng ta đã coi y như bạn bè rồi. Cô là người nhà y, việc gì phải coi ta như người
xa lạ?
A Châu u uẩn nói:
- Cứ mỗi một giờ, chân khí của tiểu nữ lại từ từ
cạn sạch, đại gia chẳng thể nào... chẳng thể nào mãi mãi...
Kiều Phong nói:
- Cô cứ yên tâm, thể nào mình cũng kiếm được một
thầy lang y đạo cao minh, trị lành thương thế cho cô.
A Châu mỉm cười:
- Chỉ sợ thầy lang đó thấy tiểu nữ nghèo khổ, lại
sợ nhiễm lam sơn chướng khí, không chịu chữa bệnh cho. Kiều đại gia, câu chuyện
đại gia kể còn dở dang, có cái gì gọi là kỳ quái?
Kiều Phong đáp:
- Ồ, ta buột miệng lỡ lời đấy mà. Người mẹ thấy
thằng bé không nhận, cũng chẳng nói thêm, quay trở vào phòng. Một hồi sau, đứa
trẻ mài dao xong đi vào thấy người mẹ đang thì thầm với cha nói là y ăn cắp tiền
mua dao rồi nhưng lại không nhận. Cha y nói: “Đứa trẻ đó ở với chúng ta trước
nay chẳng có gì chơi, nếu nó thích gì thì cứ mặc kệ, mình chớ để nó thêm tủi”.
Hai người vừa nói tới đây thấy thằng bé đi vào, lập tức im bặt. Người cha vui vẻ
xoa đầu y nói: “Con ngoan, từ nay đi chơi nhớ cẩn thận, sao để va vào đâu đau đến
thế?”. Việc mất bốn lượng bạc và việc y mua con dao, cha y không nhắc đến một
câu, cũng không tỏ ra chút gì gọi là không vui cả.
Thằng bé tuy chỉ mới bảy tuổi đầu nhưng đã sớm
biết, nghĩ thầm: “Cha mẹ ta nghi mình ăn cắp tiền đi mua dao, thà rằng hai người
hầm hầm đánh ta một trận, chửi ta một chốc, ta cũng chẳng buồn. Quả thật hai
người thương ta thật”. Y trong lòng không an mới nói với cha: “Cha, con không lấy
tiền, con dao này không phải con mua đâu!”. Người cha nói: “Mẹ con nhiều chuyện,
không kiếm thấy tiền thì cũng đã sao? Việc gì mà phải tra hỏi ầm nhà ầm cửa,
đúng là đàn bà lòng dạ nhỏ nhen. Hảo hài tử, đầu con có đau lắm không?”. Thằng
bé đành trả lời: “Không sao cả!”. Y toan lên tiếng biện bạch nhưng chẳng biết bắt
đầu từ đâu thành thử trong bụng ấm ức, bỏ cả cơm chiều chui vào giường ngủ.
Y nằm trên giường trăn trở qua lại, không cách
nào ngủ được, lại nghe tiếng mẹ khóc rấm rứt, chắc là lo cha bị bệnh nặng thêm,
thêm bực tức chuyện ban ngày bị gã thầy lang kia chửi mắng đánh đập. Thằng bé
bèn len lén trở dậy, nhảy cửa sổ ra ngoài, đi suốt đêm đến thị trấn tới trước
nhà tên thầy lang. Căn nhà đó cửa trước cổng sau đều đóng chặt không cách nào
vào được. Thằng bé thân hình nhỏ bèn theo lỗ chó chui vào, thấy một căn phòng
ánh đèn chiếu qua giấy dán cửa sổ, hóa ra gã thầy lang chưa ngủ còn đang sắc
thuốc. Thằng bé đẩy cửa...
A Châu lo cho đứa trẻ vội nói:
- Thằng bé đó đang đêm lẻn vào nhà người ta, e rằng
sẽ bị lôi thôi.
Kiều Phong lắc đầu:
- Không đâu. Gã thầy lang nghe tiếng người mở cửa,
chẳng thèm ngẩng lên chỉ hỏi: “Ai đó?”. Thằng bé không trả lời, đi tới gần, rút
con dao nhọn đâm luôn một nhát. Người nó thấp, nhát dao trúng ngay bụng thầy
lang, y chỉ hự được một tiếng rồi ngã lăn ra.
A Châu rú lên một tiếng, kinh hãi hỏi:
- Thằng bé đó đâm chết ông thầy thuốc ư?
Kiều Phong gật đầu nói:
- Đúng thế. Thằng nhỏ lại chui lỗ chó ra, quay
trở về nhà. Trong đêm tối đi về mấy chục dặm quả là mệt mỏi. Sáng sớm hôm sau,
người nhà thầy lang mới phát giác y đã chết, vỡ bụng lòi ruột thật là thảm khốc.
Thế nhưng cửa trước cửa sau vẫn đóng chặt, then cài bên trong, hung thủ từ bên
ngoài làm sao vào được? Ai cũng nghi người trong nhà làm chuyện này, quan tri
huyện liền sai bắt hết anh em, vợ con gã thầy thuốc đem ra tra khảo thẩm vấn,
náo loạn cả đến mấy năm, nhà tên thầy lang đó hóa ra tan tành. Vụ đó trở thành
một nghi án nơi Hứa Gia Tập.
A Châu hỏi:
- Đại gia nói Hứa Gia Tập? Người thầy thuốc
đó... ở ngay tại thị trấn này ư?
Kiều Phong đáp:
- Đúng thế! Gã thầy lang đó họ Đặng, vốn là y
sinh nổi tiếng nhất thị trấn này, mấy huyện quanh đây đều biết đến. Nhà y ở tại
phía tây, trước kia tường cao trắng toát, hiện nay tàn phá cả rồi. Lúc nãy ta
đi mời thầy lang lại xem bệnh cho cô, có đi ngang nhà đó coi nên biết thế.
A Châu hỏi thêm:
- Thế còn người cha bị bệnh thì sao? Bệnh rồi có
khỏi không?
Kiều Phong đáp:
- Về sau một nhà sư chùa Thiếu Lâm mang thuốc đến,
trị bệnh cho ông ta.
A Châu nói:
- Thế ra chùa Thiếu Lâm cũng có những nhà sư tốt.
Kiều Phong nói:
- Dĩ nhiên là có. Chùa Thiếu Lâm có mấy nhà sư
tâm địa nhân hậu, cốt cách hiệp nghĩa, quả đáng cho người ta kính phục.
Ông nói đến đây trong lòng se lại, nghĩ đến thụ
nghiệp ân sư Huyền Khổ đại sư. A Châu “Ồ” lên một tiếng, trầm ngâm nói:
- Gã thầy lang kia coi người nghèo chẳng ra gì,
không coi tính mệnh họ vào đâu, dĩ nhiên là đáng ghét thật nhưng tội cũng chẳng
đáng chết. Thằng bé kia cũng thật là ngang ngược. Tiểu nữ quả không sao tin nổi,
một đứa bé mới bảy tuổi đầu đã dám ra tay giết người hay sao? A, Kiều đại gia,
đó là đại gia kể chuyện xưa chứ không phải thật, đúng không?
Kiều Phong đáp:
- Chuyện đó có thật đấy.
A Châu thở hắt ra một hơi, nhỏ nhẹ nói:
- Thứ trẻ con hung dữ như thế, chắc là ác nhân
Khất Đan.
Kiều Phong đột nhiên run bắn người, nhảy dựng
lên nói:
- Cô... cô nói cái gì?
A Châu thấy ông mặt mày biến sắc, trong lòng
kinh hãi nhưng chợt hiểu ra, bèn chữa:
- Kiều đại gia, xin lỗi đại gia, tiểu nữ... tiểu
nữ không phải cố ý nói chạm đến đại gia. Quả thật không cố ý...
Kiều Phong ngơ ngẩn một hồi rồi ngồi phịch xuống
nói:
- Chắc cô đoán được rồi?
A Châu gật đầu. Kiều Phong nói:
- Những điều vô tình nói ra mới là thực lòng. Ta
ra tay hạ thủ chẳng dung tình, có thực là vì thuộc dòng giống Khất Đan chăng?
A Châu dịu dàng đáp:
- Kiều đại gia, A Châu nói năng lăng nhăng, đại
gia đừng để bụng làm chi. Gã thầy lang kia đá lệnh mẫu, đại gia còn nhỏ đã anh
hùng khí khái, giết y đi là phải. Y thật đáng chết.
Kiều Phong hai tay ôm đầu nói:
- Cũng chẳng phải chỉ vì y đá mẹ ta, mà là vì y
làm cho ta bị nghi oan. Bốn tiền của mẹ ta chắc là khi lôi lôi kéo kéo đã rơi mất.
Ta... ta trong đời ghét nhất là bị nghi oan.
Vậy mà trong mới một ngày, ông đã bị ba mối oan
lớn. Chính mình có phải là người Khất Đan không, cũng không còn cách nào biết
được, còn vợ chồng Kiều Tam Hòe và Huyền Khổ đại sư rõ ràng không phải ông ta
giết nhưng ai cũng đổ riệt cho ông cái ba đại tội giết cha, giết mẹ, giết thầy.
Thế hung thủ thật sự là ai? Người hãm hại ông là ai?
Ngay lúc đó ông lại nghĩ tới một chuyện: “Tại
sao cả cha lẫn mẹ ta đều nói, ta ở với hai người thật đáng tủi? Cha mẹ nghèo,
làm con dĩ nhiên phải chịu, có gì mà tủi hay không tủi? E rằng mình không phải
là con ruột hai người, mà do người ngoài gửi làm con nuôi, ắt người ủy thác việc
này thân phận cực cao, thành thử cha mẹ mới đối với ta nể nang như thế, không
phải chỉ nể nang mà còn kính trọng. Người nhờ cha mẹ ta nuôi ta đó là ai? Chắc
hẳn là Uông bang chủ hoặc là “đại ca thủ lĩnh””.
Cha mẹ ông đối với ông thật khác xa người khác đối
với con ruột mình, ông bản tính tinh minh đáng ra phải thấy được rồi. Có điều từ
bé đã vậy nên coi là bình thường, dù có lanh lợi đến mấy cũng chẳng nghĩ đến,
chỉ nghĩ rằng cha mẹ mình tính tình hiền hậu ôn hòa mà thôi. Đến bây giờ nghĩ lại,
xem ra mọi việc đều chứng thực rằng mình là dòng giống Khất Đan.
A Châu cất tiếng an ủi:
- Kiều đại gia, người ta bảo đại gia là người Khất
Đan, tiểu nữ xem ra toàn là điều vu oan giá họa. Không nói gì đại gia nhân
nghĩa khẳng khái, bốn bể nghe danh, chỉ riêng việc đại gia đối với một đứa tiểu
a hoàn chẳng vào đâu như tiểu nữ mà cũng hết lòng hết dạ chăm lo, người Khất
Đan tàn độc như lang như hổ, so với đại gia một trời một vực, làm sao sánh được?
Kiều Phong nói:
- A Châu, nếu như quả ta là người Khất Đan, cô
có còn để cho ta lo liệu nữa không?
Lúc đó người Hán ở Trung Thổ đối với người Khất
Đan căm hận vô cùng, coi chẳng khác gì độc xà mãnh thú. A Châu chưng hửng nói:
- Đại gia đừng nghĩ ngợi vẩn vơ, chuyện đó không
thể nào xảy ra được. Nếu như bộ tộc Khất Đan có được một người tốt như đại gia
thì chúng ta còn thống hận họ làm gì?
Kiều Phong lặng thinh không nói, trong bụng nghĩ
thầm: “Nếu như quả ta là người Khất Đan, đến một đứa tiểu a hoàn như A Châu
cũng chẳng thèm nhìn nhõi nữa”. Chỉ trong một giây, ông thấy đất trời tuy rộng
nhưng mình thật không có chỗ dung thân. Trong đầu những điều suy nghĩ dạt dào
dâng lên như sóng biển, trong ngực khí huyết sục sôi, biết rằng vì mình tiếp
khí cho A Châu mấy bận nên nội lực tiêu hao không phải là ít, lập tức xếp bằng
ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh giường, chậm rãi vận khí thổ nạp.
A Châu cũng nhắm mắt dưỡng thần.
Bình luận chương
Dưới chương này đang có gì?
Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.
Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.