Thiên Long Bát Bộ - Bản Tân Tu (mới nhất)
Hồi 21 : Đường xa ngàn dặm, mịt mờ như giấc mộng
Hai
người lập tức xuôi nam, từ sơn lĩnh vòng qua Nhạn Môn Quan đến một tòa tiểu thị
trấn, tìm một căn khách điếm. A Châu không đợi Kiều Phong mở lời đã bảo điếm
tiểu nhị dọn hai mươi cân rượu. Gã tửu bảo thấy hai người vợ chồng không ra vợ
chồng, anh em chẳng phải anh em đã kỳ lạ, lại nghe sai dọn hai mươi cân rượu,
càng thêm ngạc nhiên, ngơ ngẩn đứng nhìn hai người, không đi lấy rượu, cũng
chẳng đáp lời.
Kiều
Phong trừng mắt nhìn y, không giận mà có uy, gã tiểu nhị hoảng hồn vội lật đật
quay đi, miệng lẩm bẩm:
- Hai
mươi cân rượu? Chắc để tắm hay sao?
A Châu
cười nói:
- Kiều
đại gia, chúng mình đi tìm Từ trưởng lão, xem chừng chỉ chừng hai ngày là người
ta sẽ phát giác ngay. Trên đường gặp đâu đánh đó, gặp ai giết nấy, tuy cũng vui
thật nhưng e Từ trưởng lão nghe hơi gió đã chạy cong đuôi, thì làm sao kiếm ông
ta được.
Kiều
Phong cười ha hả nói:
- Cô
đừng có tâng bốc ta, trên đường ví như gặp ai đánh nấy, kẻ địch càng lúc càng
đông, chúng mình rồi thể nào cũng bỏ mạng...
A Châu
nói:
- Nói
đến hung hiểm thì cũng không đến nỗi nào, có điều bọn chúng nghe hơi gió đã cụp
đuôi chạy hết thì thật là hỏng việc.
Kiều
Phong nói:
- Thế
theo cô thì mình phải làm cách nào? Chúng mình ban ngày ở trong khách điếm, ban
đêm ra đi có được chăng?
A Châu
mỉm cười nói:
- Muốn
bọn họ không nhận ra mình thì thật dễ. Chỉ có điều Kiều đại hiệp danh mãn thiên
hạ, không biết có chịu cải trang hay không?
Nói đi
nói lại, nàng cũng đi đến “cải trang”. Kiều Phong cười nói:
- Ta
không phải người Hán, quần áo người Hán đây vốn đã không muốn mặc nữa rồi. Thế
nhưng nếu mặc quần áo Khất Đan thì ở Trung Nguyên đi lại thật bất tiện. A Châu,
cô thử nghĩ ta nên mặc thế nào cho phải?
A Châu
đáp:
- Đại
gia thân thể cao to, đi đâu cũng khiến người ta chú ý, tốt nhất là cải trang
thành một giang hồ hào sĩ hình mạo tầm thường, trên người không có điểm gì đặc
biệt. Những người như thế trên đường mỗi ngày người ta gặp cả trăm, chẳng ai
thèm để ý đến đại gia là ai đâu.
Kiều
Phong vỗ đùi nói:
- Hay
lắm! Hay lắm! Uống rượu xong cô giúp ta cải trang là xong.
Ông
uống hết hai mươi cân rượu rồi, A Châu liền ra tay ngay. Bột mì, hồ dán, a dao
đủ các loại nhồi nặn, bao nhiêu điểm khác người của Kiều Phong đều biến mất. A
Châu lại thêm cho ông ta một bộ ria mép khiến Kiều Phong soi gương cũng còn
không nhận ra mình là ai. Sau đó A Châu cũng tự cải trang thành một hán tử
trung niên.
A Châu
cười nói:
- Hình
dáng bên ngoài của đại gia đã thay đổi rồi, thế nhưng khi nói năng, hay uống
rượu người ta nhận ra ngay.
Kiều
Phong gật đầu:
- Ừ,
thế thì nói ít đi, uống cũng bớt.
Thành
ra trên đường xuôi nam, Kiều Phong quả thật ít khi mở miệng, mỗi bữa ăn cũng
chỉ uống hai ba cân, hết sức giữ ý. Hôm đó đến Tam Giáp Trấn ở Tấn Nam, hai
người ghé vào một cái quán mì, bỗng nghe ngoài cửa có hai gã ăn mày nói chuyện
với nhau. Một gã nói:
- Từ
trưởng lão chết thật thảm thiết, trước ngực sau lưng, gân cốt đều đứt hết chắc
là gã ác tặc Kiều Phong hạ độc thủ.
Kiều
Phong kinh hoảng nghĩ thầm: “Từ trưởng lão chết rồi sao?”. Ông liền đưa mắt cho
A Châu. Lại nghe một gã ăn mày nói:
- Ngày
mai tại Vệ Huy Hà Nam phát tang, trưởng lão trong bang, cùng các anh em đều đến
tế viếng, để bàn tính làm cách nào bắt được Kiều Phong.
Kế đó
gã ăn mày liền nói mấy câu ám ngữ, Kiều Phong nghe qua hiểu ngay, y nói là Kiều
Phong thanh thế rất lợi hại nên không thể nói năng lung tung để thủ hạ của y
nghe được. Kiều Phong và A Châu ăn mì xong liền rời Tam Giáp Trấn, đi ra ngoài
thành. Kiều Phong nói:
- Chúng
mình nên đi Vệ Huy xem sao, không chừng kiếm được chút manh mối.
A Châu
đáp:
- Đúng
đó, Vệ Huy thì phải nên đi. Những người đến phúng điếu Từ trưởng lão đa số là
cựu bộ thuộc của đại gia cho nên cử chỉ ngôn ngữ chớ có để lộ chân tướng.
Kiều
Phong gật đầu:
- Ta
biết rồi.
Hai
người liền quay sang hướng đông, đi về phía Vệ Huy. Đến ngày thứ ba đã đến Vệ
Huy, trong thành đầu đường xó chợ đâu đâu cũng toàn là đệ tử Cái Bang. Kẻ thì
vào tửu lâu ngồi bàn ăn uống nhồm nhoàm, đứa thì nơi đường hẻm mổ heo giết chó,
có người vòi vĩnh cướp giật ngay ở ngoài đường. Kiều Phong trong lòng đau xót,
thấy đại bang vẫn được coi là số một trên giang hồ nay chẳng còn quy củ gì,
không thể nào bì với năm xưa khi mình còn chấp chưởng bang chủ kỷ luật nghiêm
minh, khí tượng hưng vượng, mới chẳng bao lâu đã bị người đời coi rẻ. Vẫn biết
Cái Bang với ông nay không còn bạn bè gì nữa, thế nhưng bao nhiêu tâm huyết của
mình bỏ ra chỉ một ngày tan ra mây khói, lòng ông không khỏi ngậm ngùi.
Bỗng
nghe mấy đệ tử Cái Bang nói với nhau mấy câu mật hiệu, ông biết được linh vị
của Từ trưởng lão để tại một khu vườn hoang nơi phía tây thành. Kiều Phong và A
Châu mua ít nhang đèn, vàng mã đi theo người ta đến nơi đó, khấu đầu trước bài
vị Từ trưởng lão.
Chỉ
thấy trên linh bài của Từ trưởng lão bôi đầy máu tươi, đó là tập tục của Cái
Bang ý nói người chết bị ám hại, người trong bang phải lo việc trả thù rửa hận.
Trong nhà quàn ai nấy ngoạc mồm thống mạ Kiều Phong, có ai ngờ đâu ông đang ở
ngay bên cạnh. Có mấy tên đệ tử bảy túi võ công cao lặng lẽ bàn luận, nói Kiều
Phong đã đánh gãy xương sườn trước ngực Từ trưởng lão, đập nát ngũ tạng, sao
lại còn đánh vào xương sườn sau lưng? Ra tay quá mức độc ác, chẳng biết gì là
lẽ phải. Kiều Phong e ngại có người nhìn ra mình nên không dám lần khân, lập
tức sóng vai A Châu đi ra, nghĩ thầm: “Từ trưởng lão chết rồi thì trên đời này
biết được "đại ca thủ lĩnh" lại bớt đi một người nữa”.
Bỗng
thấy nơi đầu hẻm tít đằng xa có bóng người thoáng một cái, đó là một người đàn
bà thân thể cao to. Kiều Phong tinh mắt nhận ra ngay đó là Đàm bà, nghĩ bụng:
“Hay quá, chắc là mụ ta đi điếu tang Từ trưởng lão đây, mình đang muốn đi tìm”.
Lại thấy thêm một bóng người vụt qua nữa, khinh công cực kỳ cao siêu, chính là
Triệu Tiền Tôn. Kiều Phong ngạc nhiên: “Hai người này thập thò lén lút không
biết có cái trò gì đây?”.
Ông
biết rằng hai người vốn dĩ là sư huynh muội, tình ái dây dưa đến nay chưa dứt,
nghĩ thầm: “Hai người đều sáu bảy mươi tuổi rồi, không lẽ lại còn tư tình với
nhau hay sao?”. Ông bản tính vốn không hay xen vào chuyện riêng của người khác,
nhưng Triệu Tiền Tôn biết được "đại ca thủ lĩnh" là ai, Đàm công, Đàm
bà chắc cũng biết, nếu như bắt thóp được chuyện gì thì có thể thừa cơ ép buộc
hai người thổ lộ, nên ghé tai A Châu nói:
- Nàng
ở khách điếm chờ ta.
A Châu
gật đầu, Kiều Phong lập tức đuổi theo hướng Triệu Tiền Tôn vừa chạy. Triệu Tiền
Tôn chọn toàn những nơi ẩn khuất mà đi, hết náu dưới góc tường phía đông lại
lẻn trên mái nhà phía tây, cử chỉ hết sức ngụy bí đi ra phía cửa đông. Kiều
Phong theo xa xa, trước sau không để y phát giác, thấy y chạy đến bờ sông, khom
người chui vào khoang một chiếc thuyền gỗ lớn. Kiều Phong đề khí chạy tới, nhún
nhẩy mấy cái đã đến bên thuyền, nhẹ nhàng nhảy xuống mui, ghé sát tai vào
thuyền lắng nghe.
Trong
khoang thuyền, Đàm bà thở dài một tiếng nói:
- Sư
ca, hai người mình tuổi tác cũng đã cao rồi, những chuyện ngày xưa có hối cũng
đã muộn, nhắc lại có ích gì đâu?
Triệu
Tiền Tôn nói:
- Cuộc
đời ta coi như bỏ đi rồi, có hối cũng đâu còn kịp. Ta hẹn nàng ra đây cũng
chẳng có chuyện gì, Tiểu Quyên, chỉ mong được nghe nàng hát lại mấy câu ngày
xưa nàng vẫn thường hát mà thôi.
Đàm bà
nói:
- Ôi,
sư ca quả thực si mê nực cười. Thằng cha đó tới Vệ Huy thấy sư ca đã không lấy
gì làm vui, y tính lại đa nghi, sư ca không nên chàng màng tiểu muội là hơn.
Triệu
Tiền Tôn đáp:
- Sợ gì
cơ chứ? Mình sư huynh muội quang minh lỗi lạc, nói chút chuyện xưa, có gì mà
không được?
Đàm bà
thở dài một tiếng, nhỏ nhẹ nói:
- Mấy
khúc hát năm xưa, mấy khúc hát năm xưa...
Triệu
Tiền Tôn thấy bà ta đã động lòng, lại càng năn nỉ, nói:
- Tiểu
Quyên, hôm nay hai đứa mình gặp nhau, không biết sau này tới chừng nào mới lại
trùng phùng, e rằng mạng ta cũng chẳng được bao lâu, nàng dẫu có muốn hát lại
cho ta nghe ta cũng chẳng có cái phúc mà đến nghe được nữa.
Đàm bà
nói:
- Sư ca
chớ có nói thế. Nếu như quả huynh muốn nghe, thì tiểu muội sẽ hát nho nhỏ một
khúc cho sư ca nghe.
Triệu
Tiền Tôn vui mừng nói:
- Hay
quá, đa tạ sư muội. Tiểu Quyên, cảm ơn nàng.
Đàm bà
liền khoan thai hát:
Năm nao
chàng ghé thăm nhau,
Thiếp
đang giặt lụa bên cầu dưới khe...
Mới hát
được hai câu, nghe có tiếng lách cách, khoang thuyền mở tung, một đại hán xông
vào. Kiều Phong cải trang rồi nên Đàm bà và Triệu Tiền Tôn không nhận ra. Hai
người đang hoảng hốt, thấy không phải là Đàm công nên cũng yên tâm, quát hỏi:
- Ai
đó?
Kiều
Phong lạnh lùng nhìn hai người, nói:
- Một
gã khinh bạc vô hạnh, dụ dỗ đàn bà có chồng, một người dâm đãng vô sỉ, trốn
chồng đi gặp tình lang...
Ông
chưa nói dứt lời, Đàm bà và Triệu Tiền Tôn cùng ra tay, chia hai bên đánh tới.
Kiều Phong thân hình hơi nghiêng qua, lật một cái đã nắm ngay được cổ tay Đàm
bà, kế tiếp cùi chỏ thúc ra, phát sau mà đến trước, tấn công vào sườn bên trái
Triệu Tiền Tôn.
Triệu
Tiền Tôn và Đàm bà đều là những đại cao thủ võ lâm, những tưởng chỉ ra một
chiêu đã khống chế được kẻ địch, đâu có ngờ rằng con người hình mạo thật bình
thường kia võ công lại cao siêu đến như thế, vừa ra tay đã đổi thủ thành công.
Trong khoang thuyền chật hẹp, không thể thi triển tài nghệ, thế nhưng Kiều
Phong đánh xa cũng hay, đánh gần cũng giỏi, sử dụng toàn cầm nã thủ và đòn nhập
nội mà thôi, trong khu vực chưa đầy một trượng của khoang thuyền vẫn cực kỳ
linh động. Đấu đến hiệp thứ bảy, hông Triệu Tiền Tôn bị trúng một chỉ, Đàm bà
kinh hãi ra tay chậm lại, bị ngay một chưởng vào lưng, sụm ngay xuống.
Kiều
Phong lạnh lùng nói:
- Xin
hai vị ở đây nghỉ ngơi, trong khu vườn hoang trong thành Vệ Huy đang có rất
nhiều anh hùng hảo hán đến viếng linh vị Từ trưởng lão, ta đi mời họ tới để họ
bình phẩm xem đúng hay sai.
Triệu
Tiền Tôn và Đàm bà hoảng hốt, cố gắng vận khí nhưng huyệt đạo đã bị phong rồi,
đến đầu ngón tay cũng không cử động được. Hai người tuổi tác đã cao, vốn không
có ý niệm tình dục gì, hẹn nhau ở đây, chẳng qua để kể lể tình xưa nghĩa cũ chứ
có chuyện gì ra ngoài vòng lễ giáo đâu. Thế nhưng lúc đó đang thời Bắc Tống, lễ
pháp ai ai cũng coi rất nặng, anh hùng hảo hán giang hồ phạm vào nữ sắc ắt bị
người đời cười chê. Một nam một nữ lén lút gặp gỡ nơi thuyền này, nào có ai tin
rằng hai người chỉ gặp nhau để hát cho nhau nghe vài câu? Nói với nhau vài câu
chuyện tầm phào? Nếu ai ai cũng biết đến thì còn làm người sao được? Ngay cả
Đàm công cũng chẳng còn mặt mũi nào.
Đàm bà
vội nói:
- Vị
anh hùng kia, chúng tôi có làm gì đắc tội với các hạ đâu, nếu có thể dung tình
một chút, ta... ta ắt có đền đáp.
Kiều
Phong nói:
- Đền
đáp thì không cần. Ta chỉ hỏi một câu, các ngươi cũng chỉ đáp lại ba chữ. Nếu
như nói thực, tại hạ lập tức giải khai huyệt đạo cho hai người ngay, phủi tay
đi thẳng. Chuyện ngày hôm nay nhất định không một ai nhắc đến nữa.
Đàm bà
nói:
- Nếu
như lão thân biết được thì nguyện sẽ phụng cáo ngay.
Kiều
Phong hỏi:
- Có
người từng viết thư cho Uông bang chủ của Cái Bang, nói về chuyện Kiều Phong,
người viết thư đó người khác gọi là "đại ca thủ lĩnh", kẻ đó là ai?
Đàm bà
còn ngần ngừ chưa trả lời, Triệu Tiền Tôn lớn tiếng nói:
- Tiểu
Quyên, không được nói, nghìn lần vạn lần không thể nói.
Kiều
Phong trừng mắt nhìn y, hỏi lại:
- Ngươi
thà chịu thân bại danh liệt nhưng không chịu nói hay sao?
Triệu
Tiền Tôn đáp:
- Lão
tử thà chết thì thôi. Vị "đại ca thủ lĩnh" này có ơn với ta, ta nhất
quyết không thể nói tên ra được.
Kiều
Phong hỏi thêm:
- Thế
dẫu cho Tiểu Quyên thân bại danh liệt, ngươi cũng không cần, phải không?
Triệu
Tiền Tôn đáp:
- Nếu
Đàm công biết chuyện hôm nay, ta lập tức tự vẫn trước mặt y, lấy cái chết tạ
tội, thế là xong.
Kiều
Phong quay sang Đàm bà:
- Người
đó chưa chắc đã có ơn gì với bà, vậy bà nói ra đi, tất cả sẽ bình yên vô sự,
bảo toàn được danh dự cho cả Đàm công Đàm bà, cũng bảo tồn cả tính mệnh cho sư
ca của bà nữa.
Đàm bà
nghe thấy ông ta đem tính mạng Triệu Tiền Tôn ra uy hiếp, không khỏi rùng mình
nói:
- Được,
thôi để ta nói cho người nghe, người đó là...
Triệu
Tiền Tôn vội kêu lên:
- Tiểu
Quyên, nàng chớ có nói ra, nhất định không thể nói ra. Ta van xin nàng, van xin
nàng! Gã này chắc là thủ hạ của Kiều Phong, nàng mà nói ra, tính mạng của vị
"đại ca thủ lĩnh" kia thể nào cũng nguy hiểm.
Kiều
Phong đáp:
- Ta
chính là Kiều Phong, các ngươi không nói ra hậu hoạn sẽ không biết đâu mà
lường.
Triệu
Tiền Tôn giật mình:
- Thảo
nào công phu của ngươi ghê gớm thế. Tiểu Quyên ơi, trong đời ta chưa từng cầu
xin nàng việc gì, đây là việc duy nhất ta xin nàng, dẫu thế nào chăng nữa mong
nàng bằng lòng cho ta.
Đàm bà
nghĩ đến ông ta mấy chục năm qua thương yêu ái mộ, tình sâu nghĩa nặng, mình
phụ ông ta đã nhiều, tấm lòng mong mỏi được lấy nhau xưa nay chưa từng thổ lộ,
vậy mà lần này vì muốn che dấu cho ân nhân, thà chết thì thôi, không thể nào
làm hỏng cái nghĩa cử của sư ca được nên đáp:
- Kiều
bang chủ, việc ngày hôm nay, làm điều thiện cũng tùy ông, mà làm điều ác cũng tùy
ông. Hai sư huynh muội chúng tôi tự vấn lương tâm không điều gì đáng hổ thẹn,
có đất trời chứng giám. Việc các hạ muốn biết, xin tha thứ lão thân không thể
cáo tri được.
Mấy câu
nói của bà ta nghe ra có vẻ khách khí, nhưng lời như chém đinh chặt sắt, nhất
định cách nào cũng không thể nói ra.
Triệu
Tiền Tôn vui mừng nói:
- Tiểu
Quyên, đa tạ nàng, đa tạ nàng.
Kiều
Phong biết rằng có bức bách thêm cũng không ích lợi gì, hừ một tiếng, rút chiếc
trâm ngọc trên đầu Đàm bà, nhảy ra khỏi khoang thuyền chạy trở về hướng thành
Vệ Huy để tìm nơi ở của Đàm công. Ông hóa trang nên không ai nhận ra, Đàm công,
Đàm bà ngụ tại Như Quy khách điếm, hỏi là biết ngay.
Vào đến
khách điếm thấy Đàm Công chắp tay sau lưng ở trong phòng đi qua đi lại xem ra
cực kỳ bồn chồn. Kiều Phong đưa tay ra, lòng bàn tay là chiếc ngọc thoa của Đàm
bà.
Từ lúc
thấy Triệu Tiền Tôn đi theo như hình với bóng đến Vệ Huy, Đàm công trong dạ
chẳng an, đến lúc này lại thấy vợ mình đi đâu lâu quá đang lo, không hiểu bà ta
đang ở chỗ nào, bây giờ thấy cây trâm của Đàm bà, vừa mừng vừa lo bèn hỏi:
- Các
hạ là ai? Có phải chuyết kinh nhờ các hạ đến đây chăng? Không biết có điều chi
dạy bảo?
Nói rồi
đưa tay cầm chiếc trâm ngọc. Kiều Phong để ông ta lấy chiếc thoa rồi mới nói:
- Tôn
phu nhân bị người ta bắt giữ, nguy đến nơi rồi.
Đàm
công cực kỳ kinh hoảng nói:
-
Chuyết kinh võ công cũng khá, sao lại dễ dàng bị người ta bắt giữ được?
Kiều
Phong đáp:
- Ấy là
Kiều Phong.
Đàm
công nghe thấy tên “Kiều Phong” không còn nghi ngờ gì nữa, lại càng băn khoăn
lo lắng vội hỏi:
- Kiều
Phong ư? Ôi chao, nếu quả là y thì phiền quá, nội nhân ta... ta đang ở chỗ nào?
Kiều
Phong đáp:
- Các
hạ muốn tôn phu nhân sống cũng thật dễ dàng, mà muốn bà ta chết thì cũng không
khó.
Đàm
công tính tình trầm ổn, trong bụng tuy lo nhưng vẻ mặt vẫn bình thản như không
hỏi lại:
- Xin
được thỉnh giáo.
Kiều
Phong nói:
- Kiều
Phong có một việc muốn hỏi Đàm công, nếu như ông cứ sự thực mà nói lập tức thả
tôn phu nhân ra, không để tổn hại một sợi tóc, còn như các hạ không chịu nói
thì chỉ còn nước xử tử bà ta đem thi thể tôn phu nhân với thi thể Triệu Tiền
Tôn chôn chung hai người một huyệt.
Đàm
công nghe câu cuối cùng làm sao còn nhịn được nữa, rống lên một tiếng, vung
chưởng đánh vào mặt Kiều Phong. Kiều Phong nghiêng người hơi lùi lại một chút, chưởng
đó liền không đánh trúng. Đàm công hoảng hốt, nghĩ thầm chưởng của mình nhanh
như ánh chớp, cực kỳ ghê gớm, y chỉ nhẹ nhàng tránh được dễ dàng, lập tức
chưởng bên phải đánh xéo qua đồng thời tả chưởng tạt ngang.
Kiều
Phong thấy trong phòng chật hẹp không dễ gì tránh né được, liền gồng tay phải
lên chịu đòn. Nghe bịch một tiếng, chưởng đó đánh trúng tay ông, Kiều Phong
không nhúc nhích, tay phải liền vươn qua giữ chặt đầu vai ông ta đè ông ta
xuống.
Đàm
công lập tức cảm thấy vai mình như phải vác một tảng đá nghìn cân vội vàng vận
kình phản kháng nhưng đầu vai như đụng phải một ngọn núi, xương sống kêu lách
cách liên hồi tưởng chừng muốn gãy, chỉ còn nước khuỵu đầu gối chứ không làm gì
khác hơn được. Ông hết sức vùng lên nhất định không chịu khuất phục, nhưng
không cách nào hít thêm một hơi, hai đầu gối bải hoải, không tự chủ được đành
phải gục xuống.
Kiều
Phong có ý định làm nhụt ngạo khí của ông ta nên tuy đã bị buộc lòng quỳ xuống
rồi nhưng sức đè xuống không thôi, tới lúc lưng cong như cánh cung, trán chạm
đất. Đàm công mặt mày đỏ ké, cố vùng vẫy, đem hết sức lực bung người lên. Đột
nhiên Kiều Phong buông tay ra, sức nặng nghìn cân trên vai Đàm công biến mất,
ông ta xuất kỳ bất ý, thu thế không kịp, lập tức nhảy vọt lên cao đến hơn một
trượng, nghe bình một tiếng đầu đã đụng vào xà nhà khiến cây gỗ gãy ra làm đôi.
Đàm
công từ trên không rơi xuống, Kiều Phong không để ông ta chạm đất, vươn tay
phải ra, chộp ngay ngực. Cánh tay Kiều Phong thật dài, Đàm công người nhỏ thó,
dù cố đấm đá cũng không sao đụng được vào đối phương, huống chi ông ta hai chân
bông bênh lơ lửng, dẫu võ công cao siêu bậc nào cũng không sử dụng được, trong
cơn nguy cấp chợt hiểu ra kêu lên:
- Thì
ra ngươi chính là Kiều Phong.
Kiều
Phong đáp:
- Dĩ
nhiên là ta rồi!
Đàm
công giận dữ nói:
-
Ngươi... ngươi... con mẹ ngươi chứ, mắc mớ gì lại dính dáng cả thằng khốn kiếp
Triệu Tiền Tôn?
Ông ta
giận nhất là câu đem Đàm bà giết rồi sẽ đem chôn chung với xác Triệu Tiền Tôn.
Kiều Phong nói:
- Mụ vợ
ngươi muốn dính dáng đến y thì có liên can gì đến ta đâu? Ngươi có muốn biết
Đàm bà lúc này đang ở đâu không? Có muốn biết bà ta đang ỷ eo tình thoại, hát
xướng tình ca với ai không?
Đàm
công nghe nói thế, đoán chừng vợ mình đang cùng với Triệu Tiền Tôn ở một nơi,
không thể không làm cho ra đầu ra đũa liền nói:
- Mụ ta
ở đâu? Xin ông dẫn ta đến.
Kiều
Phong cười khẩy:
- Thế
ngươi làm gì cho ta chưa? Tại sao ta lại phải dẫn ngươi đi chứ?
Đàm
công nhớ lại câu nói của ông hồi nãy bèn hỏi:
- Ông
bảo có chuyện muốn hỏi ta, thế là chuyện gì?
Kiều
Phong đáp:
- Hôm
trước ở rừng hạnh ngoài thành Vô Tích Từ trưởng lão có mang lại một lá thư,
viết gửi bang chủ tiền nhiệm Cái Bang Uông Kiếm Thông, lá thư đó do ai viết
thế?
Đàm
công chân tay run rẩy, lúc này y bị Kiều Phong xách lên, thân thể lơ lửng, đối
phương chỉ cần nhả nội lực lập tức giết chết y ngay. Thế nhưng bản tính y trời
sinh lì lợm, bèn nói:
- Người
đó có thù giết cha ngươi, ta nhất quyết không thể tiết lộ tính danh, nếu không
ngươi thể nào cũng kiếm để báo thù, thế có phải là ta hại mạng ông ấy hay sao?
Kiều
Phong nói:
- Nếu
ngươi không nói thì ta lấy mạng ngươi trước.
Đàm
công cười ha hả nói:
- Đàm
mỗ ta há lại tham sống sợ chết, bán rẻ bạn bè hay sao?
Kiều
Phong nghe ông ta cố gắng bảo toàn nghĩa khí, trong bụng kính phục, nếu phải
chuyện khác ông nhất quyết không truy bức làm gì, thế nhưng thù giết cha mẹ đâu
phải tầm thường bèn nói:
- Nhà
ngươi không coi mạng mình vào đâu, đến tính mạng vợ cũng chẳng đoái hoài hay
sao? Đàm công Đàm bà thanh danh trôi theo dòng nước, tất cả mọi người cười chê
không lẽ không sợ?
Đàm
công nghiêm nghị nói:
- Đàm
mỗ ngồi không nghiêng ngả, đứng chẳng vẹo xiêu, bình sinh chưa từng làm chuyện
không hay không phải với bạn bè, làm gì có chuyện “thanh danh trôi theo dòng
nước, tất cả mọi người cười chê ” được?
Kiều
Phong thản nhiên nói:
- Thế
nhưng Đàm bà chưa hẳn đã “ngồi không nghiêng ngả, đứng chẳng vẹo xiêu”, còn
Triệu Tiền Tôn chắc gì “chưa từng làm chuyện không hay không phải với bạn bè”.
Đàm
công mặt liền đỏ ké, tiếp theo đổi thành xanh lè, trừng mày trợn mắt hầm hầm
nhìn ông. Kiều Phong buông tay, vứt ông ta xuống đất, quay mình chạy đi. Đàm
công không nói một lời lẽo đẽo chạy theo, hai người một trước một sau chạy ra
khỏi thành Vệ Huy. Trên đường không ít giang hồ hào khách nhận ra Đàm công, ai
nấy cung kính nhường đường cúi chào. Đàm công chỉ ậm ừ một tiếng rồi chạy vụt
qua. Chẳng mấy chốc hai người đã đến bên chiếc thuyền gỗ.
Kiều
Phong tung mình nhảy lên đầu thuyền, chỉ vào bên trong nói:
- Tự
mình ông đến xem cho rõ.
Đàm
công liền lên thuyền, nhìn vào trong khoang, thấy vợ mình và Triệu Tiền Tôn tựa
vào nhau, nép ở một góc, giận không sao nhịn nổi, phát chưởng nhắm ngay đầu
Triệu Tiền Tôn đánh tới, nghe bùng một tiếng. Triệu Tiền Tôn không động đậy,
không trả đòn, cũng không né tránh.
Bàn tay
Đàm công đụng vào đầu y rồi, thấy có điều không xong, vội vàng đưa tay sờ vào
mặt vợ, thấy lạnh ngắt, thì ra Đàm bà đã chết từ bao giờ. Đàm công run bắn
người nhưng chưa thoái chí, liền đưa tay thăm mũi bà ta nhưng cũng có còn chút
hơi thở nào đâu? Ông ta ngơ ngẩn, đưa tay sờ trán Triệu Tiền Tôn thấy cũng lạnh
như băng, bi phẫn khôn tả, hầm hầm nhìn Kiều Phong, mắt như muốn tóe lửa.
Kiều
Phong thấy đột nhiên cả Đàm bà lẫn Triệu Tiền Tôn đều chết, cũng thật lạ lùng
vô cùng. Khi ông rời thuyền để vào thành chỉ điểm huyệt hai người, sao hai cao
thủ lại chết một cách thật bất ngờ như thế?
Ông
nhắc Triệu Tiền Tôn lên, xem qua không thấy trên người có vết thương nào cả,
cũng không có vết máu, liền nắm ngay áo trên ngực y nghe soẹt một tiếng, cởi
tung ra thấy một vết bầm thật lớn, hiển nhiên đã bị chưởng lực thật mạnh. Lạ
lùng nhất là vết tay kẻ dùng trọng thủ giống hệt bàn tay ông.
Đàm
công ôm Đàm bà lên, xoay lưng lại, cởi áo bà ta ra xem vết thương trên ngực
thấy cũng y hệt Triệu Tiền Tôn. Ông ta muốn khóc nhưng không lấy đâu ra nước
mắt, nghiến răng nói với Kiều Phong:
- Ngươi
mặt người dạ thú, độc ác đến thế sao.
Kiều
Phong trong lòng kinh ngạc, không biết phải nói sao chỉ nghĩ: “Không biết ai đã
dùng trọng thủ đánh chết Đàm bà và Triệu Tiền Tôn? Kẻ hạ thủ công lực thâm hậu,
không phải tầm thường, không lẽ cũng chính là kẻ đối đầu với mình hay sao? Thế
nhưng làm sao y lại biết hai người này đang ở trên thuyền?”.
Đàm
công đau lòng vì người vợ yêu chết thảm, vận kình vào hai cánh tay hết sức xông
vào Kiều Phong. Kiều Phong tránh qua một bên chỉ nghe một tiếng lách cách thật
lớn, chưởng lực của Đàm công đã đánh sạt một bên khoang. Kiều Phong liền vươn
tay chộp lấy đầu vai ông ta nói:
- Đàm
công, phu nhân của ông không phải do ta giết, ông tin hay không nào?
Đàm
công hỏi lại:
- Không
phải ngươi thì còn ai bây giờ?
Kiều
Phong nói:
- Trong
lúc này mạng ông ở trong tay ta, Kiều mỗ nếu như muốn giết thật dễ như trở bàn
tay.
Đàm
công nói:
- Ngươi
chỉ vì muốn tra xét cho rõ kẻ giết cha ngươi là ai, Đàm mỗ tuy võ công không
bằng ngươi thật nhưng đâu có để ngươi coi như thằng ngu?
Kiều
Phong nói:
- Được
rồi, ông nói tên kẻ thù giết cha cho ta nghe, ta sẽ đảm nhận trọng trách báo
thù kẻ giết vợ cho ông.
Đàm
công cười sặc sụa, cố sức vận kình ba lần muốn thoát khỏi bàn tay đối phương,
thế nhưng bàn tay Kiều Phong chỉ nhẹ nhàng đè xuống tùy theo kình mà biến hóa,
sức giãy giụa của Đàm công tuy mạnh thật nhưng đối phương cũng theo đó mà mạnh
theo, trước sau vẫn không cách nào ra được. Đàm công đã quyết chí, bèn thè lưỡi
để giữa hai hàm răng, cắn mạnh một cái cho đứt đầu lưỡi, mồm ngậm đầy máu phun
thẳng vào mặt Kiều Phong. Kiều Phong vội vàng tránh qua một bên, Đàm công liều
xông tới, giơ chân hất cái xác của Triệu Tiền Tôn qua một bên, hai tay ôm xác
Đàm bà, đầu ngoẹo xuống, tắt thở chết ngay.
Kiều
Phong thấy cái thảm trạng đó, trong lòng bồi hồi không khỏi có chút xót xa. Vợ
chồng họ Đàm và Triệu Tiền Tôn tuy không phải chính tay ông giết, nhưng cũng vì
ông mà chết. Nếu muốn hủy diệt thi thể, vết tích ông chỉ cầm dậm chân một cái,
đạp vỡ đáy thuyền, chiếc thuyền sẽ chìm xuống đáy sông nhưng nghĩ lại: “Nếu ta
dấu ba cái xác này đi chẳng hóa ra có tật giật mình hay sao? Như thế thì thanh
danh vợ chồng họ Đàm và Triệu Tiền Tôn không khỏi bị bại hoại”. Ông đi ra khỏi
khoang thuyền trở lên bờ định tìm xem có dấu chân hay manh mối gì chăng, nhưng
không thấy gì cả.
Ông rảo
bước chạy về khách điếm, A Châu vẫn đứng ngoài cửa trông chờ, thấy ông bình yên
trở lại mừng rỡ ra mặt, nhưng thần tình bất định, biết ngay đuổi theo Triệu
Tiền Tôn và Đàm bà chẳng được tích sự gì, hạ giọng hỏi nhỏ:
- Đại
gia, thế nào rồi?
Kiều
Phong đáp:
- Chết
hết!
A Châu
hơi kinh ngạc nói:
- Cả
Đàm bà lẫn Triệu Tiền Tôn?
Kiều
Phong đáp:
- Luôn
cả Đàm công nữa, cả thảy ba người.
A Châu
lại tưởng do tay ông giết, trong bụng tuy không yên nhưng không tiện buông lời
trách cứ, bèn nói:
- Triệu
Tiền Tôn có nhúng tay vào việc làm chết cha đại gia, có giết cũng... cũng không
đến nỗi gì.
Kiều
Phong lắc đầu:
- Không
phải ta giết đâu.
A Châu
thở ra nói:
- Vậy
thì tốt rồi. Tiểu nữ vẫn nghĩ rằng Đàm công, Đàm bà chưa từng làm gì đắc tội
với đại gia có tha cũng được, thế nhưng ai giết thế?
Kiều
Phong lắc đầu:
- Ta
cũng không biết.
Ông nói
tiếp:
- Biết
được tên của chính phạm cự ác kia bây giờ chỉ còn có ba người. Mình làm gì phải
làm cho nhanh, đừng để kẻ kịch ra tay trước, việc gì mình cũng vào thế thượng
phong.
A Châu
đáp:
- Đúng
thế, Mã phu nhân hận ông tận xương tủy, dù có cách nào cũng không chịu nói ra
đâu. Huống chi dồn ép một quả phụ đâu phải là hành vi của một đại trượng phu.
Còn chùa của Trí Quang hòa thượng ở tận Giang Nam, thôi mình đi tới Thái An đất
Sơn Đông tìm nhà họ Đơn vậy.
Ánh mắt
Kiều Phong tỏa ra một vẻ thương xót nói:
- A
Châu, mấy hôm nay nàng quả là cực khổ.
A Châu
lớn tiếng gọi:
- Chủ
quán đâu, mau tính tiền.
Kiều
Phong ngạc nhiên nói:
- Sáng
mai tính tiền cũng chưa vội.
A Châu
đáp:
- Không
nên, tối nay đi luôn suốt đêm, đừng để cho kẻ địch lần nào cũng nhanh chân một
bước.
Kiều
Phong trong lòng cảm kích, gật đầu. Trời tối hai người ra khỏi thành Vệ Huy,
trên đường đã nghe người ta đồn xôn xao về chuyện tên ác ma Kiều Phong hạ độc
thủ, giết chết vợ chồng Đàm công và Triệu Tiền Tôn. Quá nửa là ba người này đột
nhiên mất tích, mọi người điều tra, tìm ra chiếc thuyền chìm. Những người đó
khi nói chuyện, mắt lấm lét nhìn quanh, chỉ sợ Kiều Phong bất thần xuất hiện,
có biết đâu ông ta ở ngay bên cạnh.
Hai
người trên đường thay đổi ngựa, ngày đêm liên tục chạy thẳng về hướng đông. Đi
khoảng hai ngày đường, tuy A Châu chẳng hề thở ra một chữ “mệt” nào nhưng mắt
nhắm mắt mở ngồi trên yên, suýt ngã mấy lần. Kiều Phong thấy nàng không còn
chịu nổi nữa, nên bỏ ngựa đi xe. Hai người ngồi trên xe ngủ được ba bốn giờ,
thấy đã đủ lại bỏ xe đi ngựa, hết sức chạy. Cứ thế không ngừng, A Châu vui vẻ
nói:
- Lần
này nhất định “tên đại ác” kia không thể nhanh hơn mình được.
Cả nàng
lẫn Kiều Phong đều không biết kẻ địch là ai, mỗi khi nhắc đến người đó đành gọi
là “tên đại ác”. Thế nhưng Kiều Phong vẫn canh cánh lo, thấy "tên đại
ác" này lần nào cũng nhanh hơn mình một bước, võ công y cũng không kém gì
mình, cơ trí mưu lược lại còn hơn xa, huống chi tới giờ phút này mình vẫn như ở
trong mây, chưa nhìn ra đường hướng gì còn mình làm gì kẻ địch đều biết rõ.
Trong đời ông, chưa bao giờ gặp một đối thủ lợi hại như vậy. Có điều kẻ địch
càng mạnh, ông vẫn hào khí ngất trời không chút e ngại gì cả.
Thiết
Diện Phán Quan Đơn Chính ở ngoài thành phía đông của Thái An, Sơn Đông, nơi đây
ai cũng biết cả. Kiều Phong và A Châu đến Thái An thì trời đã về chiều, hỏi kỹ
nhà họ Đơn rồi lập tức băng ngang thành đi tới. Ra khỏi cửa đông chừng một dặm
bỗng thấy khói bốc mịt trời, xem ra có chỗ nào đang cháy rồi có tiếng thanh la
đánh vang dậy, văng vẳng có tiếng người kêu:
- Xách
nước mau lên! Xách nước mau lên! Mau cứu hỏa!
Kiều
Phong cũng không để ý, cùng A Châu giục ngựa chạy càng lúc càng gần đám cháy.
Chỉ nghe tiếng người la lối:
- Cứu
hỏa mau, cứu hỏa mau, Thiết Diện Đơn gia đó!
Kiều
Phong và A Châu hoảng hốt, cùng ghìm cương lại, đưa mắt nhìn nhau nghĩ thầm:
“Không lẽ "tên đại ác" lại đi trước một bước?”. A Châu an ủi:
- Đơn
Chính võ công cao cường, dẫu nhà có cháy cũng không đến nỗi chết ở trong đó.
Kiều
Phong lắc đầu. Từ khi ông giết chết Đơn thị nhị hổ, kết oán với nhà họ Đơn cực
kỳ sâu xa, lần này đến Thái An, tuy không có ý giết người nhưng biết chắc Đơn
Chính và con cháu nhất định không bỏ qua, thể nào cũng một phen đại chiến. Ngờ
đâu chưa đến được trang viện, đối phương đã bị hỏa tai, trong lòng không khỏi
cảm thấy bùi ngùi.
Càng
gần Đơn gia trang càng thấy nóng hắt vào mặt, ánh lửa bốc lên lem lém, quả là
một đám cháy to. Khi đó dân chúng quanh vùng đã cùng chạy tới chữa lửa, kẻ thì
tạt nước, người thì đổ cát. Cũng may chung quanh Đơn gia trang đều có hào sâu
nên dân chúng lân cận không bị cháy lây.
Kiều
Phong và A Châu chạy đến bên hỏa trường liền xuống ngựa đứng xem. Bỗng nghe một
hán tử than thở:
- Đơn
lão gia là người tử tế, ở đây cứu tế chẩn bần, mấy chục năm nay tích biết bao
công đức, thế mà nhà cháy đã đành, toàn gia hơn ba chục người không một ai chạy
được?
Một
người khác đáp:
- Chắc
là kẻ thù phóng hỏa, đóng chặt cửa không cho ai chạy ra. Nếu không phải thế,
đến đứa trẻ lên năm trong nhà họ Đơn cũng biết võ, lẽ nào lại không chạy được?
Người
lúc trước bèn nói:
- Nghe
nói Đơn đại gia, Đơn nhị gia, Đơn ngũ gia ở Hà Nam bị một tên ác tặc là Kiều
Phong giết hại, lần này đến đốt nhà, chẳng phải tên đại ác đó thì còn đứa nào?
A Châu
và Kiều Phong khi nói chuyện nhắc tới kẻ đối đầu đã gán cho y cái tên "tên
đại ác" lúc này lại nghe những người nhà quê cũng gọi mình là "tên
đại ác" nên không khỏi đưa mắt nhìn nhau. Người tuổi trẻ hơn nói:
- Lẽ dĩ
nhiên là Kiều Phong rồi.
Y nói
đến đây chuyển sang thì thầm:
- Hẳn
là y đưa một đám thủ hạ xông vào trang viện, giết sạch cả nhà họ Đơn không chừa
con gà con chó. Ôi, trời xanh quả là không có mắt.
Người
lớn tuổi hơn nói:
- Tên
Kiều Phong kia tác ác đa đoan, mai sau thể nào chết thảm gấp trăm lần các vị
đại gia nhà họ Đơn.
A Châu
nghe bọn họ rủa Kiều Phong, trong bụng tức lắm, giơ tay vỗ vào cổ ngựa một cái,
con ngựa giật mình, chân trái phóng ra, đá ngay vào mông gã kia. Gã đó kêu lên
một tiếng, ngã sấp xuống. A Châu nói:
- Ngươi
mồm miệng nói láo lếu gì thế?
Gã đó
bị ngựa đá trúng, nghĩ đến thủ hạ "tên đại ác" kia hẳn là đông lắm,
sợ đến mất vía không dám hó hé gì vội vàng lỉnh mất. Kiều Phong mỉm cười nhưng
đầu mày cuối mắt có vài phần buồn bã, cùng A Châu chạy đến bên đám cháy. Họ
nghe thấy mọi người xì xào bàn tán cùng một giọng, đều nói nhà họ Đơn già trẻ
lớn bé hơn ba chục người không ai thoát chết. Kiều Phong ngửi thấy mùi xác
người bị thiêu khét lẹt từ trong đám lửa bốc ra biết là những lời đó không sai,
cả nhà Đơn Chính chết cháy cả.
A Châu
khẽ nói:
-
"Tên đại ác" này quả là độc địa, giết cha con Đơn Chính thì đã đành,
sao lại phải giết toàn gia? Việc gì mà đốt luôn cả trang viện?
Kiều
Phong hừ một tiếng nói:
- Cái
đó gọi là nhổ cỏ nhổ tận rễ. Nếu là ta thì ta cũng đốt cả nhà.
A Châu
kinh hãi hỏi lại:
- Sao
thế?
Kiều
Phong đáp:
- Tối
hôm đó ở trong rừng hạnh, Đơn Chính có nói mấy câu, chắc nàng cũng có nghe. Ông
ta nói: “Trong nhà tôi còn giữ mấy phong thư của vị "đại ca thủ
lĩnh", đem ra so nét chữ quả đúng thật”.
A Châu
thở dài:
- Đúng
đó, y đã tính nếu giết Đơn Chính vẫn e ngại đại gia vào trong Đơn gia trang
kiếm ra được mấy phong thư đó thì có thể biết được tính danh của người này. Một
bó lửa đốt cháy rụi Đơn gia trang thì chẳng thư tín nào còn lưu lại được nữa.
Khi đó
người đến chữa lửa mỗi lúc một đông nhưng hỏa thế đang lớn, từng thùng từng
thùng nước dội vào, chỉ khoảnh khắc đã thành hơi nước bốc đi đâu có dập tắt
được. Từng đợt lửa và hơi nóng bốc ra thổi dạt mọi người lùi lại. Đám đông một
mặt thở than, một mặt chửi rủa Kiều Phong, dân nhà quê ăn nói thô tục thật là
khó nghe.
A Châu
sợ Kiều Phong nghe những lời nhục mạ vô lý đó, cơn thịnh nộ nổi lên lại mở một
trường sát giới thì thật là thê thảm cho đám dân đen nên len lén nhìn ông, thấy
mặt ông cực kỳ quái dị, dường như thương tâm mà cũng dường như ăn năn nhưng xem
chừng thương xót nhiều hơn, tưởng chừng biết rằng đám dân quê ngu dốt không
đáng giết. Chỉ nghe ông thở dài một tiếng, thản nhiên nói:
- Thôi
mình đi Thiên Thai Sơn.
Ông đề
cập đến núi Thiên Thai âu cũng là chuyện chẳng đừng. Trí Quang đại sư tuy năm
xưa có tham gia chiến dịch giết hại cha mẹ ông nhưng về sau đại phát tâm nguyện
đi đến những vùng đất xa lạ lấy các loại vỏ cây đem về làm thuốc chữa trị cho
dân chúng hai vùng Chiết Mân Lưỡng Quảng bị chướng khí sốt rét, cứu sống vô số
người, chính ông vì thế mà nhiễm trọng bệnh khi khỏi rồi võ công mất sạch. Hành
động tế thế cứu nhân đó trên giang hồ ai ai cũng kính phục, nhắc đến Trí Quang
đại sư đều gọi là “Vạn Gia Sinh Phật”, Kiều Phong không vì bất đắc dĩ thì không
bao giờ đến gây chuyện với ông ta.
Hai
người rời Thái An tìm đường đi xuống phía nam. Lần này Kiều Phong không cố gắng
chạy thục mạng, cùng A Châu bàn bạc, nhẩn nha mà đi, không chừng lại bảo tồn
được tính mạng Trí Quang đại sư, còn như hết sức chạy cho nhanh, khi đến núi
Thiên Thai lại chỉ thấy xác ông nằm đó mà thôi, cả cái miếu ông đang trụ trì có
khi cũng bị đốt thành tro rồi. Huống chí Trí Quang ngao du vô định, vân du bốn
biển chắc gì đang ở tại Thiên Thai Sơn.
Núi
Thiên Thai ở Chiết Đông, hai người từ Thái An xuôi nam, lần này đi thong thả,
chẳng khác gì du sơn ngoạn thủy, Kiều Phong và A Châu đàm luận những chuyện lạ
trên giang hồ, nếu trong bụng không khắc khoải thì quả là một chuyến du hành kỳ
thú.
Hôm đó
đi đến Trấn Giang, hai người lên chùa Kim Sơn thưởng lãm phong cảnh. Kiều Phong
nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy mãi về hướng đông, bỗng chợt nghĩ ra một việc
nói:
- Không
chừng gã "đại ca thủ lĩnh" và "tên đại ác" là một.
A Châu
đập tay nói:
- Đúng
rồi, vậy mà sao mình không nghĩ tới chuyện đó nhỉ?
Kiều
Phong nói:
- Cũng
có thể đây là hai người nhưng nhất định họ phải có liên hệ với nhau thật mật
thiết, nếu không "tên đại ác" không thể nào dùng trăm phương nghìn kế
để che đậy thân phận cho tên "đại ca thủ lĩnh". Thế nhưng đến những
người như Uông bang chủ cũng còn đi theo thì tên "đại ca thủ lĩnh"
kia phải là một nhân vật ghê gớm lắm, cả "tên đại ác" cũng phải như
vậy. Trên đời này làm gì có được hai cao nhân mà ta lại không biết được một? Cứ
như thế mà suy ra, hai người này phần lớn cũng là một người mà thôi. Chỉ cần
giết được "tên đại ác" là coi như ta đã trả xong mối thù giết cha
giết mẹ rồi.
A Châu
gật đầu khen phải, nói tiếp:
- Kiều
đại gia, đêm hôm đó nơi rừng hạnh người ta kể lại chuyện ngày xưa, chỉ sợ...
chỉ sợ...
Nàng
nói giọng hơi run run. Kiều Phong tiếp lời:
- Chỉ
sợ "tên đại ác" cũng có mặt trong khu rừng hạnh chứ gì?
A Châu
run run đáp:
- Đúng
vậy. Hôm ở khu rừng hạnh Thiết Diện Phán Quan Đơn Chính nói là trong nhà ông ta
có giữ mấy lá thư của "đại ca thủ lĩnh" thành ra toàn gia mới bị đốt
cháy rụi... Ôi, tiểu nữ nghĩ lại chuyện này sao ớn quá.
Nàng
hơi run, nép vào một bên Kiều Phong. Kiều Phong nói:
- Người
này tâm tính độc ác, trên đời khó gặp. Triệu Tiền Tôn thà chịu thân bại danh liệt,
không chịu thổ lộ chân tướng của y, vị tất là vì nghĩa khí, nói không chừng là
sợ hắn dùng thủ đoạn tàn độc để trả thù. Đơn Chính cũng giao hảo với y, vậy mà
y vẫn đang tâm hạ độc thủ cả hai người. Đêm đó nơi rừng hạnh, làm gì có nhân
vật nào lợi hại đến thế?
Ông suy
nghĩ một chút nói tiếp:
- Còn
một chuyện nữa mà ta nghĩ cũng thấy lạ.
A Châu
hỏi:
-
Chuyện gì thế?
Kiều
Phong nhìn chiếc thuyền buồm trên sông nói:
-
"Tên đại ác" thông minh mưu trí chỗ nào cũng hơn ta một bực, nói đến
võ công, xem ra cũng chẳng kém gì ta. Nếu y muốn lấy mạng ta, e rằng cũng không
lấy gì là khó. Thế sao y lại còn sợ ta biết được kẻ thù là ai?
A Châu
nói:
- Kiều
đại gia, đại gia cũng đừng có quá khiêm tốn. "Tên đại ác" kia tuy võ
công cao siêu thật, nhưng thực ra sợ đại gia đòi mạng. Tiểu nữ đoán rằng mấy
ngày nay y trong lòng nơm nớp, sợ đại gia biết được y là ai đến báo thù. Nếu
không y việc gì phải giết ông bà Kiều lão, rồi đến Huyền Khổ đại sư, Triệu Tiền
Tôn, Đàm bà và toàn gia Thiết Diện Phán Quan nữa. Đàm công cũng có thể nói là
do hắn hại.
Kiều
Phong gật đầu nói:
- Có lẽ
là như thế.
Ông
quay sang mỉm cười nhìn nàng nói:
- Thế
nhưng nếu y không dám đến hại ta, cũng chẳng dám đến gần nàng nữa, nàng đừng
sợ.
Một lát
sau ông thở dài:
- Gã
này tính toán quả là ghê gớm. Kiều mỗ thật uổng xưng mình là anh hùng, bị người
ta đùa dỡn ngay trên đầu mà chẳng làm gì được ai!
Sau khi
qua khỏi Trường Giang, chẳng mấy chốc đã vượt sông Tiền Đường, đến huyện Thiên
đài. Kiều Phong và A Châu nghỉ lại một đêm ở khách điếm. Sáng hôm sau vừa trở
dậy, đang định hỏi thăm đường lên núi Thiên Thai thì người chưởng quỹ lật đật
tiến vào nói:
- Kiều
đại gia, có một vị sư phụ ở Chỉ Quán thiền tự trên núi Thiên Thai xin được bái
kiến.
Kiều
Phong kinh hãi vì khi ông thuê phòng đã thuận miệng nói mình họ Quan, bèn hỏi
lại:
- Sao
ngươi lại gọi ta Kiều đại gia là sao?
Gã
chưởng quỹ đáp:
- Sư
phụ chùa Chỉ Quán tả hình dáng Kiều đại gia không sai chút nào.
Kiều
Phong và A Châu đưa mắt nhìn nhau đều cảm thấy hơi khác lạ, hai người vốn đã
hóa trang, không hoàn toàn giống như khi ở Thái An Sơn Đông vậy mà khi tới
Thiên Thai đã bị người ta nhận ra ngay. Kiều Phong nói:
- Thôi
được, mời ông ta vào đây.
Chưởng
quỹ quay mình đi ra, chẳng bao lâu đưa vào một nhà sư lùn mập tuổi chừng ba
mươi. Nhà sư đó chắp tay chào Kiều Phong nói:
- Gia
sư thượng Trí hạ Quang sai tiểu tăng là Phác Giả đến mời Kiều đại gia và Nguyễn
cô nương đến viếng tệ tự.
Kiều
Phong thấy đến A Châu họ Nguyễn y cũng biết lại càng ngạc nhiên hỏi lại:
- Không
hiểu tại sao sư phụ lại biết được họ của tại hạ?
Nhà sư
Phác Giả đáp:
- Gia
sư có dặn rằng ở tại khách điếm Khuynh Cái huyện Thiên Thai có một vị Kiều anh
hùng và một vị Nguyễn cô nương nên sai tiểu tăng đến đón lên núi. Đây là Kiều
đại gia, không biết Nguyễn cô nương đang ở đâu?
A Châu
cải trang thành một người đàn ông trung niên nên hòa thượng Phác Giả không nhìn
ra lại tưởng Nguyễn cô nương không có ở đây. Kiều Phong lại hỏi:
- Tối
hôm qua chúng tôi mới đến đây, làm sao tôn sư lại biết được? Không lẽ tôn sư có
tài tiên tri hay sao?
Phác
Giả chưa kịp đáp gã chưởng quỹ đã xen vào:
- Lão
thần tăng ở Chỉ Quán thiền tự thần thông quảng đại, chỉ bấm ngón tay là biết
được Kiều đại gia sắp đến. Chẳng nói gì việc một hai ngày sau mà đến năm trăm
nữa việc gì lão nhân gia cũng mười phần biết được sáu bảy.
Phác
Giả hòa thượng lại nói:
- Đó
không phải là do sư phụ ta biết trước. Sư phụ ta nhận được tin tức, biết hai vị
muốn quang lâm tệ tự, lệnh chi tiểu tăng đến nghênh tiếp, đã đi tới vài lần, đi
qua mấy nhà khách điếm tuần tra.
Kiều
Phong biết là Trí Quang đại sư tiếng tăm rất vang dội, dân chúng ngu dốt coi
ông như thần thánh nên không muốn nhiều lời nói:
- Thôi
để Nguyễn cô nương đi sau cũng được, xin ông đưa hai người chúng tôi lên bái
kiến tôn sư trước.
Nhà sư
Phác Giả nói:
- Vâng!
Kiều
Phong đang toan trả tiền ăn ở gã chưởng quỹ liền nói:
- Đại
gia là khách của lão thần tăng ở Chỉ Quán thiền tự đến ở đây, chúng tôi thật là
vinh hạnh, vài đồng tiền thuê phòng ăn cơm quả tình không dám nhận.
Kiều
Phong nói:
- Như
vậy thì xin cám ơn.
Ông
nghĩ thầm: “Trí Quang thiền sư thi ân bố đức cho dân chúng, cái mối thù ông ta
làm hại cha mẹ mình ta không tính toán tới, chỉ mong ông ta thổ lộ "đại ca
thủ lĩnh" và "tên đại ác" là ai cũng đủ cho ta mãn nguyện rồi.
Dù ông ấy không chịu nói, ta cũng quyết không bắt ép”. Ông lập tức cùng Phác
Giả ra khỏi huyện thành đi về hướng núi Thiên Thai.
Núi
Thiên Thai phong cảnh thanh u nhưng đường lên núi cheo leo hiểm trở hơi khó đi.
Tương truyền Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời Hán lạc vào núi này gặp tiên đủ biết
phong cảnh phải đẹp đẽ là chừng nào, đường lên núi cong queo như rắn bò thật
khó mà nhận ra được. Kiều Phong theo sau nhà sư Phác Giả thấy y cước lực thật
cứng cỏi nhưng rõ ràng không phải là người biết võ công, nhưng không phải vì
thế mà ông không dè chừng, nghĩ thầm: “Đối phương đã biết ta lẽ nào mình lại
không phòng bị hơn nữa? Trí Quang thiền sư tuy là bậc cao tăng hữu đức thật,
nhưng những người khác có chắc đâu bụng dạ cũng như ông ta”.
Đi qua
một đoạn sơn đạo, chuyển qua một cái khe núi, một con đường nhỏ chạy thẳng lên
đỉnh núi, phía dưới vách núi bên phải có một tòa lương đình, bên trong lương
đình chỉ có một cái vại gốm lớn, trên có một ống trúc lấy nước ra, như để cấp
nước cho người lữ hành nghỉ ngơi uống nước. Kiều Phong thấy A Châu có vẻ mệt
mỏi, liền nói:
- Chúng
ta đến lương đình nghỉ ngơi một chút.
A Châu
nói:
- Tốt
lắm!
Rồi
theo ông đi đến lương đình. Phác Giả hòa thượng đi theo đến gần nói:
- Nếu
hai vị khát nước, có thể uống chút trà.
Kiều
Phong cầm lấy ấm trà, thấy trong vại gốm có màu hơi đỏ, quá nửa là trà thô, liền
múc một ấm, đưa cho A Châu. A Châu nhận ấm trà, uống một ngụm. Chỉ thấy trên
đường có năm người bước nhanh lên núi, tay áo phất phơ, hành động nhanh thoăn
thoắt.
Kiều
Phong vừa nhìn thấy, liền chú ý quan sát. Năm người này tuổi không phải thấp,
nhưng bước đi như bay, tất cả đều mặc áo bào tro, đầu đội mũ bằng vải bông màu
xám, đi vào lương đình. Năm người ôm quyền hành lễ, cùng nói:
- Đại
gia mạnh khỏe, cô nương mạnh khỏe!
Lúc này
A Châu chưa sửa trang phục, nghe năm người gọi nàng là cô nương, Kiều Phong và
A Châu đều tăng phòng cảnh giác, hai người hoàn lễ nói:
- Các
vị mạnh khỏe, nơi này có nước trà, mời dùng để uống nghỉ ngơi.
Một
người nói:
- Đa
tạ!
Kiều
Phong nghe bọn họ nói chuyện khẩu âm phương bắc, thấy năm người đều trên dưới
sáu mươi tuổi, phần lớn lông mày đều đã trắng, ba người để râu cũng đã trắng.
Kiều Phong nghĩ thầm: “Năm người này võ công thực sự cao cường, không biết lai
lịch thế nào?”. Ông đến bên A Châu, ngồi cạnh nàng trên một chiếc ghế gỗ dài.
Thấy năm người này vẻ mặt điềm đạm, không có ý thù địch, cũng hơi yên tâm.
Năm
người phân chia uống trà xong ngồi xuống. Một lão già chắp tay nói:
- Tại
hạ họ Đỗ, là người Hoài Bắc, bốn người này đều là sư đệ của tại hạ. Người này
họ Trì, người này họ Kim, người này họ Chử, người này họ Tôn.
Bốn
người nghe đến mình đều đứng lên ôm quyền hành lễ. Kiều Phong ôm quyền đáp lễ.
A Châu thấy bọn họ đều lớn tuổi, kính trọng các vị trưởng bối, khi hoàn lễ thì
khom người, có phần cung kính. Lão già họ Đỗ cười hì hì nói:
- Mọi
người đều là người đi đường xa, tiểu cô nương không cần khách khí như vậy.
A Châu
nói:
- Đỗ
gia gia, người đáng tuổi ông nội của tiểu nữ, tiểu nữ tự nhiên phải cung kính.
Nàng
nói bằng giọng nữ, không hề giả bộ giọng nam nhân. Lão già họ Đỗ cười lên ha
hả, vươn tay ra làm tư thế như vuốt tóc nàng. Kiều Phong thấy lão vẫy tay trên
không như vậy, thần thái hiền hòa, nhưng tư thế vững vàng dị thường, chỉ sợ mấy
trăm cân lực đạo cũng không thể lay động bàn tay lão, tựa như bao hàm mấy chục
năm công lực, thật không phải là ít, cảm thấy kinh hãi nói:
- Được
bất ngờ gặp năm vị cao nhân ở Chiết Đông, phúc phận của Kiều Phong quả không
phải nhỏ.
Lão già
họ Đỗ nói:
- Kiều
đại gia, chúng ta vẫn muốn gặp ông, theo từ Vệ Huy Hà Nam đến Thái An Đơn gia
trang ở Sơn Đông, lại cùng đến Chiết Giang, may mắn được gặp ở đây. Vừa đến
thấy ông muốn đi lên thăm chùa, chúng ta không đợi được, liền lỗ mãng lên đây
để gặp.
Kiều
Phong vội nói:
- Đâu
có, đâu có. Kiều mỗ không biết năm vị cao nhân ở phía sau, nếu không đã sớm trở
lại bái kiến.
Nghĩ
rằng bọn họ đi theo từ Vệ Huy tới, đã có chuẩn bị, xem cử chỉ năm người này
đúng là những đại kình địch, chỉ sợ ở lương đình xảy ra một hồi ác chiến, muốn
chiếu cố cho A Châu cô nương cũng không phải dễ. Lão già họ Đỗ lại nói tiếp:
- Thật
là bản sắc đại anh hùng. Kiều đại gia, ông tự báo danh tính thật, làm việc
quang minh lỗi lạc, dụng ý của chúng ta, tất cũng không giấu diếm. Trí Quang
thiền sư là đức cao tăng, năm sư huynh đệ ta đến đây là xin ông đừng đả thương
đại sư.
Kiều
Phong nói:
- Năm
vị lão tiên sinh nói quá lời. Năm vị nếu đồng thời xuất thủ thì lấy ngay được
tính mạng Kiều Phong này, làm gì phải nói đến chữ “xin”. Kiều Phong đi cầu kiến
Trí Quang đại sư, chính là muốn thỉnh lão nhân gia chỉ điểm con đường lầm lỗi.
Bất luận thiền sư có nói hay không, tại hạ kính lễ mà đến, kính lễ mà đi, không
dám là tổn thương thiền sư.
Lão già
họ Đỗ nói:
- Kiều
đại gia trượng phu nhất ngôn, khoái mã nhất tiên. Nếu như ông đã nói thế, năm
huynh đệ ta tự nhiên tin được. Tại hạ có một lời riêng muốn nói, đó là lời tâm
huyết, chúng ta hôm nay gặp mặt lần đầu, không khỏi có vẻ thân thiết với người
sơ giao, nói thẳng xin đừng trách.
Kiều
Phong nói:
- Đỗ
lão tiên sinh cứ nói.
Lão già
họ Đỗ nói:
- Đàm
công, Đàm bà, Triệu Tiền Tôn, Từ trưởng lão Cái Bang, cha con Đơn Chính, mọi
người chỉ vì không nói ra danh tính của “đại ca thủ lĩnh” nên đến nỗi chết.
Trên giang hồ không rõ chân tướng, đều nói là Kiều đại gia đã hạ thủ…
Kiều
Phong nói:
- Những
người này không một ai do ta giết. Vợ chồng Đàm công cùng Triệu Tiền Tôn không
chịu nói ra “đại ca thủ lĩnh”, tại hạ quả thật là có chút bức bách, nhưng bọn
họ thà chết chứ không chịu khuất phục, không chịu bán đứng bằng hữu, thật là
hành vi của hảo hán, tại hạ trong lòng rất bội phục, quyết không lấy tính mạng
của bọn họ. Rốt cuộc là ai đã hạ thủ, tại hạ đang muốn điều tra ra manh mối.
Kiều Phong nếu chưa làm rõ kì oan, trên giang hồ đều đổ oan cho ta giết cha,
giết mẹ, giết thầy, kì thật ba vị lão nhân gia thân thiết với ta từ nhỏ, đại ân
ta chưa báo đáp, lẽ nào lại có thể một tay giết chết bọn họ…
Nói đến
đây giọng nói đã có chút nghẹn ở họng. Lão già họ Đỗ nói:
- Năm
huynh đệ chúng ta tới đây, không dám nói có thể bức ép ngăn cản Kiều đại gia đả
thương Trí Quang đại sư, nhưng thành thật muốn cùng Kiều đại gia nói rõ chân
tướng sự việc. Vị “đại ca thủ lĩnh” nói vì y mà trên giang hồ đã có nhiều vị
bằng hữu bị uổng mạng, y tự thấy chướng nghiệp nặng nề. Trận chiến ở Tụ Hiền
Trang tổn thương quá nhiều người. “Đại ca thủ lĩnh” nói: Năm đó sự việc ở ngoài
Nhạn Môn Quan y mang tội rất lớn, đã sớm coi thường tính mạng mình để tạ tội,
nếu Kiều đại gia đi tìm y báo thù, y quyết ưỡn ngực chịu đòn, quyết không trốn
tránh.
Kiều
Phong nghe càng thấy kì lạ, nói:
- Làm
gì có chuyện này? Lão tiên sinh là nghe chính miệng “đại ca thủ lĩnh” nói ra
hay chỉ là người ngoài chuyển lời?
Lão già
họ Đỗ nói:
- Trăm
nghìn là thật, “đại ca thủ lĩnh” kia chính xác là có ý này. Lão hữu ở trên
giang hồ cũng có chút oai danh, bốn vị đệ tử của lão cũng không phải là hạng
người vô danh, chúng ta năm người nói ra như núi, hiện tại chưa thể tiết lộ
danh tính thật, Kiều đại gia sau này sẽ biết.
Kiều
Phong nói:
- Vậy
thì xin hỏi vị “đại ca thủ lĩnh” kia là ai?
Lão già
họ Đỗ lắc đầu nói:
- Võ
công lão phu còn xa mới bằng Kiều đại gia, nhưng vẫn muốn bêu cái kém cỏi của
mình, muốn cùng ông đấu một chưởng, bất quá để cho ông biết, bọn ta năm sư
huynh đệ quyết không phải nói bậy.
Nói
xong đứng sang một bên, khách khí nói:
- Kiều
đại gi, tại hạ lĩnh giáo một chiêu chưởng pháp cao minh của ông.
Kiều
Phong nghe lão nói rõ chỉ đấu một chưởng, tựa hồ chỉ dùng võ công để thể hiện
thân phận, nói:
- Năm
vị là cao nhân tiền bối, tại hạ vừa nhìn đã thấy rõ. Lời nói của năm vị, tại hạ
cũng không dám không tin. Nếu năm vị muốn xuất thủ chỉ giáo, Kiều Phong võ công
thấp kém, chỉ xin các vị thủ hạ lưu tình.
Lão già
họ Đỗ cười ha ha, nói:
- Kiều
bang chủ uy chấn thiên hạ võ công thấp kém thì trên đời còn có người nào võ
công cao cường? Xin mời phát chiêu.
Nói
xong khuỵu gối, xoay người, hữu chưởng chậm rãi đẩy đến. Kiều Phong thấy chưởng
đến cũng không cương mãnh, tay trái xoay vòng, tay phải sử chiêu Kháng Long Hữu
Hối, một chưởng này có phát có thu, mang theo nội lực rất lớn. Song chưởng chạm
nhau, nghe cách một tiếng nhỏ, Kiều Phong chỉ cảm thấy chưởng lực đối phương
chậm rãi mà đến, dồi dào bất tận, ông chiêu này cũng là nội lực tích tụ rất
lớn. Hai người chưởng lực vừa chạm nhau, lập tức thu về, khâm phục lẫn nhau,
cùng nói:
- Bội
phục, bội phục!
Ba lão
già từng người đứng lên, lần lượt nói:
- Tại
hạ lĩnh giáo một chưởng, không thể bỏ lỡ cơ hội lĩnh giáo thiên hạ đệ nhất
chưởng.
Kiều
Phong cùng ba lão già nhất nhất đối chưởng, cảm thấy thất kinh, chưởng lực bốn
lão già mỗi người đều khác nhau, lại đều là chưởng pháp cao minh của phái Thiếu
Lâm, chỉ cần một chưởng, đã tỏ ra là cao thủ nhất lưu đương thời, nguyên bọn họ
đều là cao thủ phái Thiếu Lâm. Kiều Phong đấu bốn chưởng, không chưởng nào
chiếm được tiện nghi, cũng không chưởng nào bị kém hơn. Ông trán không toát mồ
hôi, xương không kêu ra tiếng, nhẹ nhàng cùng bốn lão già đối chưởng, trong
chưởng lực không có chút khí phách mãnh liệt, có vẻ cử trọng nhược khinh, hành
lực có thừa ra. Ông muốn lưu lại chút nội lực để mà đối phó với lão già thứ năm
hiển nhiên là công lực mạnh nhất, lão già họ Trì.
Năm lão
già cùng đứng lên nói:
- Nhân
xưng Bắc Kiều Phong võ công đệ nhất đương thời, hôm nay lĩnh giáo, quả là danh
bất hư truyền, bái phục vô cùng!
Kiều
Phong khom lưng nói:
- Năm
vị trưởng giả nói quá lời. Nay đến chỉ giáo, hậu ý sâu đậm, suốt đời không
quên.
Lão già
họ Trì nói:
- Kiều
đại gia, mời người chỉ giáo.
Song
chưởng chia ra thành một vòng, đồng thời đẩy đi. Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng
của Kiều Phong là do tiền nhiêm bang chủ Cái Bang Uông Kiếm Thông truyền lại.
Nhưng Kiều Phong sinh ra khác thường, với võ công lại được trời ưu ái, Hàng Long
Nhị Thập Bát Chưởng của ông như bẻ cây nghiền gỗ, không vật gì không phá được,
so với Uông bang chủ còn có phần hơn. Kiều Phong thấy đối phương song chưởng
đẩy ra, mình nếu như lấy đơn chưởng chống đỡ, nếu liều mạng mà được hòa, chính
mình tựa hồ chiếm phần thượng phong, không khỏi có chút thất kính, vì thế song
chưởng đều đẩy ra. Ông song chưởng đều vận chưởng lực, nhưng đều là bên trong
bảy phần bên ngoài ba phần, đem đại bộ phận chưởng lực giữ lại chứ không phát.
Bốn
chưởng giao nhau, Kiều Phong đột nhiên thấy chưởng lực đối phương bỗng nhiên
biến mất, trong phút chốc chẳng biết đi đâu, không khỏi chấn động. Song chưởng
của ông đẩy đi tuy chỉ là ba thành nhưng cũng là bài sơn đảo hải, thế không thể
chống đỡ, nhưng lại không thấy chưởng lực đối phương chắn lại, chính mình
chưởng lực đánh tới, đối phương không khỏi xương sườn gãy nát, tâm phế vỡ vụn.
Kinh hoàng thu chưởng lực về, trong lòng biết đó là nguy hiểm vạn lần, đối thủ
lần này dụ chiêu như thế, chính mình thu chưởng lực về, nếu nhân cơ hội dồn mạnh
chưởng lực đánh tới, hai luồng chưởng lực hợp lại cùng phát, mình mặc dù chưởng
lực có thừa, cũng không khỏi trọng thương, chỉ một thoáng trong lòng hiện lên ý
nghĩ: “Ta đây mà chết, A Châu cô nương sẽ không có người chiếu cố”, không khỏi
lộ vẻ sầu thảm. Biết đối phương đã thu lại chưởng, lão già họ Trì cấp tốc thu
chưởng về, lùi ra phía sau mấy bước, khom lưng cung kính nói:
- Đa tạ
Kiều bang chủ đại nhân đại nghĩa, giúp lão hiểu được Nhất Không Đáo Để của Bát
Nhã Chưởng.
Bốn lão
già cùng hướng về lão già họ Trì nói:
- Chúc
mừng ngộ thành thần công!
Kiều
Phong mồ hôi trán ròng ròng chảy xuống, có thể nói vừa mới tìm được đường sống
trong chỗ chết, lúc này cùng A Châu thật là tái thế tương phùng, trong lòng
kích động, nhịn không được, đi qua nắm lấy tay A Châu. Lão già họ Trì hướng
sang A Châu nói:
- A
Châu cô nương, vừa rồi ta cùng Kiều đại gia đối chưởng, ta sử Bát Nhã Chưởng,
là công phu chưởng pháp tối cao của Phật môn. Bát Nhã Chưởng Phật hiệu xem
trọng sự trống không, sử đến chiêu cuối cùng Nhất Không Đáo Để là lúc vùa không
phải trống không, cũng vừa không phải không trống không, chưởng lực hóa thành
vô hình, vô sắc, không còn ý nghĩ trong đầu, sắc tức là không, âm thanh hương
vị xúc cảm cũng là không, chưởng lực là không, không tức là chưởng lực. Trong
quá khứ lão không được gặp may, xuất chưởng là lúc trong lòng luôn bị ứ đọng,
có thể chính mình chưởng lực là không, nhưng lực đạo đối phương lại không phải
là không. Lần này cùng Kiều đại gia đối chưởng, cao thủ như thế hiện nay hiếm
thấy, lão không thể bỏ qua cơ duyên này, liền sử Nhất Không Đáo Để. Vạn lần
không thể ngờ Kiều đại gia đại nhân đại nghĩa, chưởng vừa chạm thấy lão vô lực,
cũng trong phút chốc thu chưởng của mình về, liều mạng để lão dụ chiêu phát lực
đánh lại chính mình. Đột nhiên lúc đó lão hiểu được, chính ta là không, đối thủ
cũng là không, đây mới chính là Nhất Không Đáo Để. Nếu như không có một vị anh
hùng nhân nghĩa không để ý tới tính mạng mình, không chịu tùy tiện đả thương
người, chiêu này liệu có thể ngộ thành?
Kiều
Phong đang lúc mơ hồ chợt tỉnh ngộ: “Nếu ông ta không phải cam tâm để cho ta
đánh chết, mà ta không phải cam tâm mạo hiểm chịu chưởng của lão, nhất định
chiêu này không thể ngộ thành. Ta cùng ông ta đều không quen biết nhau, vì cái
gì mà lại cam tâm mạo hiểm như thế? Chỉ vì lão tin tưởng ta không phải loại
tiểu nhân vô sỉ, ta cũng biết lão là quân tử cao thượng”. Người học võ cao
minh, dựa vào võ công bên trong có thể đoán biết nhân cách bên ngoài, giống như
người học văn có thể dựa vào văn tự mà đoán biết nhân phẩm đối phương. Kiều
Phong cùng bốn lão già lần lượt đối chưởng xong, đã biết đối phương chẳng những
võ công cao cường, mà nhân phẩm lại cao thượng, cái gọi là “Khuynh cái như cố”,
theo một cách nhìn là đem cả tính mạng mình giao cho đối phương.
Lão già
họ Đỗ nói:
- Kiều
đại gia, ông cùng năm người chúng ta đối chưởng xong, đã thành sinh tử chi
giao. Lão chỉ muốn nói với ông một câu: Trí Quang thiền sư năm đó tham dự sát
hại lệnh tôn lệnh đường, chính là bị người ta lừa dối, quyết không phải là chủ
tâm, ông ấy cũng đã mười phần hối hận, hi vọng ông thủ hạ lưu tình.
Kiều
Phong nói:
- Kiều
Phong có duyên được cùng năm vị cao nhân kết giao, thật là bình sinh rất may
mắn. Tại hạ quyết không động đến một ngón tay của Trí Quang đại sư. Đa tạ đã
chỉ giáo.
Lập tức
cùng A Châu lau hết những vết hóa trang trên mặt, trở lại tướng mạo sẵn có.
Phác Giả hòa thượng thấy hai người thay đổi tướng mạo, thấy A Châu biến thành
nữ nhân, hết sức kinh ngạc. Năm lão già đứng dậy ôm quyền nói:
- Từ
biệt tại đây, sau này còn gặp lại.
A Châu
nói:
- Năm
vị gia gia bảo trọng.
Lão già
họ Đỗ nói:
- Cô
nương cũng bảo trọng.
Năm
người đi ra khỏi lương đình, nhằm đường cũ mà đi. Đi được một đoạn, liền quay
đầu lại nhìn Kiều Phong và A Châu một cái, A Châu không ngừng vẫy tay chào bọn
họ cho đến khi năm người đi qua khe núi, không còn thấy bóng dáng nữa. A Châu
nhẹ nhàng hỏi:
- Kiều
đại gia, vừa rồi đại gia nắm tay tiểu nữ, vì sao mà lại run run?
Kiều
Phong thấy xấu hổ, nói:
- Vừa
rồi suýt nữa ta bị lão già họ Trì kia đánh chết. Ta nghĩ đến cô nương lẻ loi ở
lại trên đời, không có ai chiếu cố, trong lòng đau khổ…
Khuôn
mặt A Châu tươi như hoa mới nở, nghiêng đầu lại, ngẩng mặt lên hỏi:
- Đại
gia… đại gia có phải có chút luyến tiếc tiểu nữ?
Kiều
Phong chỉ cảm thấy khó mà trả lời, cười lắc đầu không nói. A Châu cũng thấy
những lời này có phần ý tứ nũng nịu, thấy Phác Giả hòa thượng ở bên, đỏ mặt lên
không dám hỏi lại.
Phác
Giả hòa thượng đi trước dẫn đường, ba người đi theo sơn đạo, đi được mười dặm
thì đã đến ngoài chùa. Các tự viện trong núi Thiên Thai có chùa Quốc Thanh
thiên hạ đều biết tiếng, cao tăng đời Tùy Trí Khải đại sư đã từng tu tại đây
phát triển Thiên Thai Tông trở thành một trọng địa của Phật môn suốt mấy trăm
năm qua. Tuy nhiên trong võ lâm thì chùa Chỉ Quán lại lừng danh hơn. Kiều Phong
vừa thấy hóa ra đây chỉ là một cái miếu nhỏ thật tầm thường, bên ngoài tường
vách loang lở, nếu không có nhà sư Phác Giả đưa tới, Kiều Phong và A Châu chắc
không thể nào tin nổi đây là ngôi chùa Chỉ Quán tiếng tăm lừng lẫy.
Phác
Giả hòa thượng đẩy cửa miếu lớn tiếng nói:
- Sư
phụ, Kiều đại gia đã đến rồi đây.
Có
tiếng Trí Quang đại sư vọng ra:
- Quý
khách từ xa đến mà lão nạp không kịp nghênh tiếp.
Nói
xong bước ra ngoài cửa, chắp tay hành lễ. Kiều Phong trước khi gặp lại Trí
Quang vẫn canh cánh lo sợ "tên đại ác" sẽ giết ông ta chặn trước, đến
bây giờ thấy mặt mới yên tâm, vái một cái thật sâu nói:
- Làm
rộn việc thanh tu của đại sư, trong lòng không an chút nào.
Trí
Quang nói:
- Thiện
tai, thiện tai! Kiều thí chủ, ông vốn là họ Tiêu, tự mình đã biết hay chưa?
Kiều
Phong thân hình run rẩy, tuy ông biết mình dòng giống Khất Đan nhưng phụ thân
họ gì đến lúc này vẫn mù tịt, bây giờ mới nghe Trí Quang đại sư bảo mình họ
Tiêu, tự nhiên lưng đổ mồ hôi lạnh, biết rằng thân thế chân tướng mình từ từ lộ
ra, lập tức khom lưng nói:
- Tiểu
khả bất hiếu, chính là đến đây để mong đại sư chỉ điểm.
Trí
Quang gật đầu nói:
- Mời
hai vị ngồi.
Ba
người ngồi xuống ghế rồi, Phác Giả liền đem trà lên. Trí Quang nói tiếp:
- Tại
thạch bích ngoài Nhạn Môn Quan lệnh tôn lưu lại tự tích, tự xưng họ Tiêu, tên
là Viễn Sơn. Trong di văn gọi ông là Phong nhi nên bọn ta giữ nguyên tên đó,
chỉ vì gửi Kiều Tam Hòe nuôi dưỡng nên theo họ của y.
Kiều
Phong nước mắt ròng ròng, đứng bật dậy nói:
- Tại
hạ cho đến tận hôm nay mới biết tên họ thực của phụ thân đều do ân đức của đại
sư, vậy xin nhận một lạy này của tại hạ.
Nói
xong ông liền phục xuống lạy. A Châu cũng đứng lên. Trí Quang chắp tay đáp lễ
nói:
- Hai
chữ ân đức nào có xứng đáng.
Quốc
tính nước Liêu là Gia Luật, còn hoàng hậu từ xưa đến nay vẫn là họ Tiêu. Họ
Tiêu đời đời là họ của hoàng hậu nên công khanh đầy triều, ở nước Liêu rất là
quyền thế. Có khi Liêu chúa còn nhỏ tuổi, Tiêu thái hậu chấp chính, Tiêu gia uy
thế càng thêm lừng lẫy. Kiều Phong đột nhiên biết mình thuộc dòng một họ lớn
của Khất Đan nên trong lòng ngổn ngang trăm mối, đứng xuất thần một hồi, quay
sang nói với A Châu:
- Từ
nay trở đi ta là Tiêu Phong không còn là Kiều Phong nữa.
A Châu
đáp:
- Đúng
thế, Tiêu đại gia.
Trí
Quang nói:
- Tiêu
đại hiệp, tự tích còn lưu lại trên vách đá ngoài Nhạn Môn Quan, chắc là ông đã
thấy qua rồi?
Tiêu
Phong lắc đầu:
- Chưa
đâu. Tại hạ ra ngoài quan ngoại, vết chữ trên vách đá đã bị ai đó đục mất,
không còn chút ngấn tích nào.
Trí
Quang thở dài nói:
- Mọi
việc đều đã qua, đến tự tích trên vách đá cũng đã đục mất, mấy chục mạng người
làm sao có thể cứu sống lại được?
Ông từ
tay áo lấy ra một tấm vải cũ cực lớn nói:
- Tiêu
thí chủ, đây là bức tự tích tô trên vách đá.
Tiêu
Phong trong lòng bồi hồi, cầm lấy mảnh vải, mở ra hóa ra mảnh vải này là do rất
nhiều mảnh quần áo rách khâu lại với nhau, chữ nào chữ nấy đều là vết trống ở
giữa thành hình chữ trắng, nét bút quái lạ tuy hình dáng trông cũng giống chữ
Hán nhưng không đọc được nên biết là chữ Khất Đan. Tuy nhiên nét bút hùng kiện,
tưởng như dao đục búa chém, nghe Trí Quang đại sư hôm đó nói rằng, đây là do
phụ thân mình khi sắp chết dùng dao khắc thành, không khỏi thương cảm, nói:
- Mong
được đại sư dịch giải.
Trí
Quang đại sư nói:
- Năm
xưa bọn ta tô được rồi mới đem nhờ người ở trong Nhạn Môn Quan biết chữ Khất
Đan giải thích cho, hỏi mấy người thì ai ai cũng bảo cùng một ý xem ra không
phải là sai. Tiêu thí chủ, hàng chữ này nói là: “Phong nhi vừa tròn một năm, ta
đưa vợ con đi ăn tiệc ở bên bà ngoại, trên đường đột nhiên gặp phải bọn ăn cướp
Nam Triều...”
Tiêu
Phong nghe đến đây trong lòng xót xa, Trí Quang tiếp tục kể:
- ...
chỉ chớp mắt, vợ ta bị cướp giết chết nên cũng không muốn sống làm gì. Thụ
nghiệp ân sư của ta là người Hán, ta đã từng thề trước mặt sư phụ không coi
người Hán là địch, lại càng không giết Hán nhân, ngờ đâu hôm nay giết một lượt
hơn mười người, vừa thẹn vừa đau lòng, chết đi còn mặt mũi nào nhìn thấy ân sư
được nữa. Tiêu Viễn Sơn tuyệt bút”.
Tiêu
Phong nghe Trí Quang dịch xong, cung kính gập mảnh vải tô chữ lại nói:
- Đây
là di trạch của tiên nhân Tiêu mỗ, mong đại sư ban cho.
Trí
Quang nói:
- Xin
nguyện phụng tặng.
Tiêu
Phong đầu óc hỗn loạn, nghĩ đến cái đau lòng của phụ thân năm xưa, mới biết
việc ông nhảy xuống vực tự tận chẳng phải chỉ vì đau lòng vợ bị giết mà thôi, mà
còn là vì đã không vẹn lời thề, giết quá nhiều người Hán nên phải thẹn với sư
môn.
Qua một
lúc lâu, Tiêu Phong nói:
- Ngày
đó tại hạ trong rừng hạnh ở Vô Tích đã được gặp đại sư, trong lòng có vô số nỗi
hoài nghi, khẩn cầu đại sư chỉ điểm.
Trí
Quang nói:
- Đức
Phật năm xưa ở Thiên Trúc dạy bảo đệ tử, chúng đệ tử nhiều mặt hỏi han, Phật tổ
có giải thích rõ ràng, có câu hỏi lại không trả lời, cũng không phải Phật tổ
không biết mà không trả lời, mà câu trả lời quá mức thâm ảo, có liên lụy rất
lớn, không phải chỉ một lời mà hết. Nếu trả lời thẳng, chúng đệ tử khó có thể
hiểu được, có người không khỏi tỏ ra mình hiểu, nhưng thực ra không phải hiểu
đúng nghĩa, nếu truyền bá đi, gây hại cho chính pháp. Có mười bốn vấn đề Phật
tổ không đáp, kinh Phật ghi chép lại đó là “thập tứ bất đáp”. Lão phu kiến thức
nông cạn, không dám ví với Phật tổ, Tiêu thí chủ có gì muốn hỏi, lão nạp có thể
trả lời thì sẽ nói, nếu như không thể trả lời thỏa đáng thì sẽ không nói, xin
cáo tội với thí chủ trước.
Tiêu
Phong đứng dậy nói:
- Tại
hạ hôm nay gặp được năm vị lão giả đức độ khiến cho người ta phải bái phục. Năm
vị cao nhân đó chỉ điểm cho tại hạ, nói là năm đó đại sư tham dự trận chiến ở
Nhạn Môn Quan là vì hiểu lầm chứ không phải chủ tâm. Những điều tại hạ muốn hỏi
đều là vì không biết, xin đại sư thứ lỗi tại hạ ăn nói thô lỗ, bình sinh ít thụ
giáo, không hiểu lí lẽ, hỏi không đúng chỗ.
Ông cả
đời hào hùng lỗ mãng, nói những lời nhã nhặn như vậy thì cả đời chưa có, cảm
thấy có phần trái ngược với bản tính, nhưng ông tin tưởng Trí Quang thiền sư là
người đại đức, lời nói ra hết sức thành tâm thành ý. Trí Quang nói:
- Tiêu
thí chủ không cần quá khiêm tốn, lão nạp vốn là người học võ, mấy năm gần đây
mặc dù võ công mất hết, nhưng bản tính của người học võ thì vẫn còn. Chúng ta
với nhau không cần khách khí, cứ nói thẳng vào vấn đề.
Tiêu
Phong thở dài một hơi, cất cao giọng nói:
- Như
vậy thì rất tốt!
Nghĩ
rằng nói chuyện như vậy mới là thói quen bình sinh. Trí Quang nói:
- Tiêu
thí chủ, mời ngồi nói chuyện.
Tiêu
Phong vẫn đứng yên chắp tay trước ngực không rời một tấc, nói:
- Tại
hạ khẩn cầu đại sư chỉ điểm: Biên giới Tống Liêu liên tục mấy năm chiến tranh,
năm đó quân Tống triều mai phục ở Nhạn Môn Quan giết cha mẹ tại hạ, tại hạ nghĩ
rằng hai nước tranh chấp, chém giết biên giới lẫn nhau là chuyện bình thường,
vì sao khi đại sư cùng Triệu Tiền Tôn nói ra, trong giọng nói lại có phần hối
hận vô cùng, lại pha chút không muốn. Hai nước đánh nhau, tử thương hàng ngàn
hàng vạn, có gì phải đáng nói?
Trí
Quang thở dài, chậm rãi nói:
- Mời
ngồi! Thí chủ có biết lệnh tôn khi trước ở nước Liêu giữ chức vị gì?
Tiêu
Phong nói:
- Danh
húy tiên phụ, hôm nay mong đại sư cho biết, những chuyện lúc trước, tiểu nhân
bất hiếu, không biết gì cả.
Trí
Quang nói:
- Lệnh
tôn tên là Tiêu Viễn Sơn, chuyện đã cách đây ba mươi năm, hiện nay người hai
nước Tống Liêu biết đến lệnh tôn không còn nhiều. Ba mươi năm trước, lệnh tôn
là người dòng tộc hoàng hậu nước Liêu, giữ chức Thân quân tổng giáo đầu, võ
công cao nhất nước Liêu, chỉ sợ Đại Tống cũng không ai địch được. Võ công y ở
nước Liêu, đúng là một vị cao nhân
Quân
Tống sau đại bại ở Trần gia cốc, quân Khất Đan mấy năm về sau liên tục đánh
xuống nam, thắng nhiều bại ít. Đến năm Cảnh Đức Chân Tông hoàng đế, hoàng đế
Khất Đan cùng mẫu thân Tiêu thái hậu tự mình dẫn đại quân, đánh đến dưới chân
thành Thiền Châu. Chân Tông hoàng đế đích thân tới Thiền Châu, cùng Khất Đan
đính ước, gọi là “Thiền Uyên chi minh”, ước là hai nước từ nay bãi binh đình
chiến. Đến nay hơn tám mươi năm, hai nước cũng không xảy ra chiến tranh. Nước
Liêu chỉ đánh Cao Li, Đại Tống lại đánh Tây Hạ, thí chủ nói là vì duyên cớ gì?
Tiêu
Phong nói:
- Thế
là quân chủ hai nước đương quyền đều nguyện tuân thủ minh ước. Nghe nói trong
minh ước, Tống triều hàng năm tặng Khất Đan mười vạn lượng bạc, hai mươi vạn
cuộn lụa, nếu như đánh nhau, Khất Đan không thu được từng đó bạc lụa.
Trí
Quang mỉm cười nói:
- Khất
Đan thiếu vải vóc, lương thực không đủ, đều phải dựa vào Đại Tống, Khất Đan
tiền bạc không nhiều, không đến cống cho Tống triều cũng chủ yếu là vì nguyên
nhân đó. Còn một nguyên nhân khác, đó là vì lệnh tôn đã làm một việc đại sự.
Tiêu
Phong ngạc nhiên nói:
- Cha
ta? Cha ta chỉ là Thân quân tổng giáo đầu, võ công tuy cao, nhưng chức vị thấp
kém, chuyện quốc gia đại sự trong triều có thể nói là không có tiếng nói.
Trí
Quang nói:
- Thân
quân tổng giáo đầu chức vị không cao, nhưng phụ trách bảo vệ hoàng đế cùng thái
hậu. Năm đó hoàng đế Khất Đan, thái hậu đều yêu thích võ công, đối với lệnh tôn
rất là ngưỡng mộ. Mỗi khi Tống Liêu có tranh luận quá mức, lệnh tôn đều góp lời
với hoàng đế và thái hậu, khuyên bọn họ không nên động võ dụng binh. Lệnh tôn
tuy chức vị thấp, nhưng bình quyền quốc gia ở trong tay hoàng đế và thái hậu,
thái hậu và hoàng đế nói không đánh thì sẽ không đánh. Tống Liêu không động
binh, hai nước không biết giữ lại được bao nhiêu tính mạng, vừa không tổn hại
quân lính, lại không hao phí quân lương, dân chúng cơm no áo ấm, an cư lạc
nghiệp, đó là một đại hảo sự.
Trí
Quang đại sư uống vài ngụm trà rồi nói tiếp:
- Đại
Tống tù khi khai quốc đến nay, vẫn là Liêu mạnh Tống yếu, huống chi phía tây
biên giới Tống triều lại có đại địch Tây Hạ, chỉ cần quân Khất Đan không đánh
xuống nam, Tống triều cầu còn không được, quyết không khởi binh đánh lên bắc.
Lệnh tôn khuyên can hoàng đế Liêu cùng Tống triều hòa hảo, lúc đầu Tống triều
không biết, sau tin đó chậm rãi truyền xuống nam, đại thần trong triều và các
thủ lĩnh võ lâm mới biết là lệnh tôn làm, vạn lần không thể tưởng tượng được
người Khất Đan lại có người tốt như vậy. Có người liền muốn tặng lễ cho lệnh
tôn, lệnh tôn lại sai người nhất nhất trả lại, chỉ nói: “Ân sư của ta là người
Hán nam triều, Tiêu Viễn Sơn cố gắng ngăn dụng binh với Đại Tống, cũng vì báo
đáp ân sâu hậu đức của ân sư”. “Đại ca thủ lĩnh” cùng lão nạp, Uông bang chủ
sau này mới biết được người chúng ta hại chết chính là lệnh tôn, trong lòng đều
hổ thẹn vô cùng. “Đại ca thủ lĩnh” nói những năm gần đây ngày đêm canh cánh
trong lòng, kì thực có lỗi với lệnh tôn, lại sợ Tống Liêu lại chiến tranh. May
mắn hoàng đế nước Liêu cùng thái hậu thương yêu trăm họ, không gây chiến, nghĩ
đến Liêu chủ tự mình cầm binh tuân thủ minh ước, nhận thức được ý tốt của lệnh
tôn đã khuyên giải. Chúng ta lại tự tay hại chết một vị bồ tát sống tạo phúc
cho vạn dân, bởi vậy mọi người quyết ý bảo toàn tính mạng cho thí chủ, đồng
thời nghĩ cách bồi dưỡng thí chủ thành tài.
Tiêu
Phong nghe đến đó thầm nghĩ: “Thì ra là thế. Lúc ta làm bang chủ Cái Bang, hoặc
tự thân xuất mã, hoặc phái người động thủ, giết qua không ít tướng lính nước
Liêu, chẳng thấy có chút day dứt, chỉ thấy những người đó đáng chết, giết được
là tốt. Cha ta lại tận sức cho hai nước hòa hảo, có lòng nhân từ cho cả hai
nước, công đức hơn ta gấp trăm lần”, liền nói:
- Đa tạ
đại sư chỉ điểm, soi sáng một nỗi nghi hoặc trong lòng tiểu nhân.
Trí
Quang ngẩng đầu suy tư, qua một lúc lâu, chậm rãi nói:
- Lúc
đầu bọn ta vẫn tưởng lệnh tôn thống lãnh võ sĩ Khất Đan đến chùa Thiếu Lâm để
đoạt kinh văn, đến khi đọc được di văn trên thạch bích này rồi mới biết là một
chuyện lầm lẫn, hết sức sai quấy. Lệnh tôn đã quyết chí tự tận không lẽ nào khi
sắp chết còn viết lời giả dối đánh lừa người ta. Nếu như ông ta toan đến chùa
Thiếu Lâm đoạt kinh, lẽ nào lại mang theo một người vợ không biết chút võ công
nào, bế thêm một đứa trẻ vừa đầy năm? Về sau chúng ta tra cứu cái tin đoạt kinh
chùa Thiếu Lâm kia, thì ra từ miệng một kẻ nói láo, kẻ đó chủ tâm đùa giỡn
"đại ca thủ lĩnh" để cho ông ta phải nghìn dặm bôn ba để cho người ta
cười một chuyến, làm bại hoại thanh danh của y.
Tiêu
Phong nói:
- Ôi,
hóa ra chỉ là để đùa cợt mà thôi, gã ăn gian nói dối kia sao lại làm thế?
Trí
Quang nói:
-
"Đại ca thủ lĩnh" tra xét rõ ràng rồi, trong bụng giận lắm nhưng tên
nói láo kia đã trốn mất biệt, từ đó đến nay không thấy bóng dáng đâu nữa. Đến
nay cũng đã ba mươi năm rồi, chắc y không còn sống trên đời này nữa.
Tiêu
Phong nói:
- Tên
ăn gian nói dối kia bịa đặt ra lời đồn này, vị tất chỉ muốn đùa cợt, làm bại
hoại thanh danh người khác mà thôi. Hắn muốn hại chết cha ta, khơi mào Tống
Liêu phân tranh, hai nước lại một hồi đại chiến, chiến tranh tàn phá, lưỡng bại
câu thương. Tên nói láo này phân nửa là đến từ Cao Li, hoặc là Tây Hạ, nói
chung là dụng tâm hiểm ác với hai nước Tống Liêu. Đai sư chỉ gọi hắn là kẻ nói
láo cũng là từ bi lắm rồi.
Ông mặc
dù trời sinh tính phóng khoáng, nhưng làm bang chủ Cái Bang nhiều năm, ngày
thường lưu tâm việc quốc gia đại sự, không chỉ còn là những việc tranh hùng
đoạt lợi trong chốn võ lâm. Trí Quang gật đầu nói:
- Thí
chủ dù sao cũng là người làm đại sự, vừa suy nghĩ là nghĩ tới tình hình thiên
hạ. Bao nhiêu người học võ, nghĩ tới nghĩ lui cũng toàn là võ công, môn phái,
thanh danh này nọ luẩn quẩn. “Đại ca thủ lĩnh” đã phạm sai lầm lớn, ba mươi năm
nay ngày đêm lòng như lửa đốt, sợ quân Liêu đánh xuống nam, vô cùng hối hận tự
trách, khổ hạnh giày vò, chịu khổ cũng đã rất nhiều. Trên đời oán cừu nên cởi
chứ không nên buộc, ân oán tương báo, thật là vô vị, không bằng thản nhiên nở
một nụ cười. Còn có một nguyên nhân, nói đến không khỏi có chút bất kính với
thí chủ.
Tiêu
Phong nói:
- Xin
đại sư chỉ điểm.
Trí Quang
chậm rãi nói:
- Thí
chủ muốn đi tìm “đại ca thủ lĩnh”, “đại ca thủ lĩnh” đã sớm quyết ý không trốn
tránh. Đừng nói Tiêu thí chủ võ công trác tuyệt, kể cả nếu hoàn toàn không có
võ công, chỉ cần một thanh đoản đao thì có thể giết chết y. Nhưng bên cạnh “đại
ca thủ lĩnh”, hảo thủ không phải là ít, chẳng cần phải nói, bọn họ sẽ dốc toàn
lực bảo vệ “đại ca thủ lĩnh”. Cho dù “đại ca thủ lĩnh” có hạ lệnh ngăn lại, cam
tâm mà chết thì sau khi y vừa chết, thủ hạ của y nếu cùng tấn công thì khó có
thể ngăn lại.
Tiêu
Phong trong lòng rùng mình: “Ta ngay cả giết được thủ phạm đầu đảng tội ác,
chung quy cũng không địch lại đối phương người đông thế mạnh. Nhưng Tiêu Phong
há lại sợ đầu sợ đuôi, biết khó mà lui? Cha mẹ đại cừu, không đội trời chung,
nam tử Hán đại trượng phu, sao lại sợ nguy hiểm? Tiêu Phong ta biết khó khăn
nhưng vẫn phải lao vào”. Lúc này đứng lên, cung kính nói:
- Đa tạ
đại sư chỉ điểm. Tiêu mỗ ngu dốt nhưng vẫn muốn đi gặp vị “đại ca thủ lĩnh”
kia. Người này làm hại ta từ nhỏ không được cha mẹ thân sinh nuôi dưỡng, há lại
là chuyện nhỏ?
Trí
Quang nói:
- Tiêu
thí chủ nhất định phải biết tên người này?
Tiêu
Phong nói:
- Đúng
vậy, thỉnh đại sư từ bi.
Trí
Quang nói:
- Lão
nạp nghe nói Tiêu thí chủ chỉ vì muốn tra xét chuyện này mà đã giết chết Từ
trưởng lão của Cái Bang, Đàm công, Đàm bà, Triệu Tiền Tôn bốn người, lại giết
thêm cả nhà Thiết Diện Phán Quan Đơn Chính, đốt Đơn gia trang thành bình địa
nên biết rằng sớm muộn gì cũng sẽ đến đây. Xin thí chủ chờ một chút.
Nói
xong ông đứng lên. Tiêu Phong đang định nói rõ Từ trưởng lão và những người kia
mình không hề giết thì Trí Quang đã đi thẳng vào hậu đường không quay đầu lại.
Một lát sau, nhà sư Phác Giả đi vào nhà khách nói:
- Sư
phụ mời hai vị vào thiền phòng nói chuyện.
Tiêu
Phong và A Châu đi theo y qua một con đường mòn hai bên trồng trúc xanh um, đến
trước một căn nhà nhỏ. Phác Giả hòa thượng đẩy cửa ra nói:
- Xin
mời!
Tiêu
Phong và A Châu liền tiến vào. Trí Quang đại sư ngồi xếp bằng trên một chiếc bồ
đoàn, nhìn Tiêu Phong mỉm cười nói:
- Thí
chủ yêu cầu, lão nạp không đáp.
Rồi đưa
ngón tay viết lên trên đất mấy hàng chữ. Căn nhà nhỏ này lâu nay không quét dọn
nên bụi đóng thật dày thấy ông viết trên đó như sau:
Vạn vật
nhất ban
Chúng
sinh bình đẳng
Hán
nhân Khất Đan
Nhất
thị đồng nhân
Ân oán
vinh nhục
Huyền
diệu nan minh
Đương
hoài từ tâm
Thường
niệm thương sinh.
Viết
xong ông nở một nụ cười rồi chậm rãi nhắm mắt lại. Tiêu Phong nhìn tám hàng chữ
dưới đất, ngơ ngẩn xuất thần nghĩ bụng: “Dưới mắt nhà Phật, người nhân người ác
cũng vậy thôi, đến súc sinh ngạ quỷ, vua chúa quan tướng cũng đều không có gì
phân biệt. Ta có là người Hán hay là người Khất Đan, chẳng cần phải bàn làm gì.
Thế nhưng ta có phải người tu hành đâu, làm sao có thể tiêu sái như vậy
được?". Ông bèn nói:
- Đại
sư, vậy cái gã "đại ca thủ lĩnh" đó là ai? Xin đại sư cho biết.
Ông hỏi
luôn mấy câu, Trí Quang đại cư chỉ mỉm cười không trả lời. Tiêu Phong định thần
nhìn kỹ, không khỏi giật mình, thấy mặt ông tuy nở một nụ cười nhưng cứng đơ
không cử động. Tiêu Phong gọi giật lên hai lần “Trí Quang đại sư” nhưng ông vẫn
không động tĩnh gì, vội đưa tay lên thăm mũi thì ra đã ngừng thở viên tịch từ
bao giờ. Ông buồn bã không còn biết nói sao, quỳ xuống lạy mấy lạy, quay sang
ngoắc A Châu:
- Thôi
mình đi!
Hai
người cùng Phác Giả hòa thượng cáo biệt, đi ra khỏi chùa, lòng buồn rười rượi
quay về huyện thành Thiên Thai.
Đi được
độ mươi dặm, Tiêu Phong mới nói:
- A
Châu, ta thật hoàn toàn không có ý làm hại Trí Quang đại sư, sao ông ta... ông
ta... lại phải khổ đến vậy?
A Châu
đáp:
- Vị
cao tăng đó đã nhìn thấu mọi việc trên đời, đại triệt đại ngộ đâu có còn phân
biệt đâu là sống đâu là chết. Y nghĩ đến bọn Từ trưởng lão là do ông giết, y
quyết ý không nói ra danh tính “đại ca thủ lĩnh”, tự nghĩ là không sao thoát
khỏi độc thủ của đại gia nên sau khi nói chuyện xong liền uống thuốc độc tự
tận.
Hai
người nhìn nhau một hồi không ai nói thêm câu nào. A Châu bỗng nói:
- Tiêu
đại gia, tiểu nữ không biết trước sau, có mấy câu muốn nói, xin đại gia đừng
trách cứ.
Tiêu
Phong đáp:
- Sao
tự nhiên nàng lại khách sáo đến vậy? Ta đương nhiên không trách gì nàng đâu.
A Châu
nói:
- Thiếp
nghĩ Trí Quang đại sư viết mấy câu trên đất, quả thực hết sức có lý. Đúng vậy:
Hán
nhân Khất Đan
Nhất
thị đồng nhân
Ân oán
vinh nhục
Huyền
diệu nan minh.
Đại gia
là người Hán thì cũng tốt, mà là người Khất Đan thì cũng vậy, có gì khác đâu?
Sống chết nơi đầu đao mũi kiếm ở chốn giang hồ, tiểu nữ nghĩ chắc đại gia cũng
chán rồi, chi bằng ra ngoài Nhạn Môn Quan săn bắn, chăn nuôi, bao nhiêu ân oán
vinh nhục của Trung Nguyên từ nay không còn ngó ngàng tới nữa.
Tiêu
Phong thở dài một tiếng nói:
- Quả
thật cái nghề sinh nhai bằng đầu đao mũi kiếm ta chán lắm rồi. Ra nơi thảo
nguyên ngoài biên tái cưỡi ngựa, thả ưng, xua chó đuổi thỏ, từ nay không còn
băn khoăn gì nữa thì quả là thoải mái biết bao. A Châu, ta ra ngoài biên tái
rồi nàng có còn đến thăm ta nữa không?
A Châu
thẹn thùng, cúi đầu nói nhỏ:
- Thì
tiểu nữ đã chẳng nói đến “chăn nuôi” đấy ư? Đại gia cưỡi ngựa đi săn, tiểu nữ
cũng thả bò chăn cừu. Hai người ngày nào cũng ở cùng nhau, mở mắt ra là thấy
được nhau.
Nàng
nói đến đây bèn cúi gầm mặt xuống. Tiêu Phong tuy là một hán tử thô hào nhưng
cái ẩn ý trong mấy câu nói của cô gái cũng đã minh bạch, nàng rõ ràng muốn cùng
mình suốt đời sống với nhau ngoài biên tái, không quay về Trung Nguyên nữa.
Tiêu
Phong lúc đầu cứu nàng chẳng qua chỉ vì khí khái nhất thời, đến khi nàng tìm
đường theo mình ra ngoài Nhạn Môn Quan, rồi qua Vệ Huy, Thái An, Thiên Thai bao
nhiêu sóng gió, đường sá xa xôi, ngày đêm kề cận thấy nàng thật là ôn nhu thân
thiết, lúc này nghe nàng nói thẳng tấm lòng mình, không khỏi bồi hồi, giơ hai
bàn tay thô kệch nắm chặt bàn tay nhỏ nhắn của nàng nói:
- A
Châu, nàng đối với ta thật tốt, chẳng vì ta là dòng giống đê tiện Khất Đan mà
bỏ rơi ư?
A Châu
đáp:
- Người
Hán cũng là người mà Khất Đan cũng là người, làm gì còn có chuyện quý tiện?
Thiếp... thiếp thích người Khất Đan, đó là chân tâm thành ý, không có gì ép
uổng cả.
Nàng
nói đến những câu sau cùng tiếng chỉ thoảng nhẹ như muỗi kêu dường như không
nghe thấy. Tiêu Phong mừng quá, đột nhiên giơ tay chộp ngay lưng nàng, tung
nàng lên trên không, đợi khi nàng rơi xuống mới nhẹ nhàng đỡ lấy, để xuống đất,
cười tủm tỉm nhìn nàng, lớn tiếng nói:
- A
Châu, nàng từ nay theo ta cưỡi ngựa săn bắn, thả cừu chăn bò, sẽ không hối hận
chứ?
A Châu
nghiêm mặt nói:
- Dẫu
có theo đại gia giết người cướp của, đốt nhà ăn trộm thiếp cũng không bao giờ
hối hận. Dù phải chịu bao nhiêu khổ sở, trăm cay nghìn đắng, thiếp vẫn vui vẻ
theo cùng.
Tiêu
Phong dõng dạc nói:
- Tiêu
mỗ được như thế này, chẳng nói gì trở lại làm bang chủ Cái Bang, dẫu có bảo ta
làm hoàng đế nhà Đại Tống ta cũng chẳng thèm. Ta thà làm người Khất Đan, không
làm người Hán. A Châu, thôi mình đi Tín Dương tìm Mã phu nhân, bà ta chịu nói
cũng được, mà không chịu nói cũng đành, đây là người sau cùng mình đi kiếm. Ta
chỉ hỏi một câu sau đó hai đứa mình ra ngoài ải bắc săn bắn chăn nuôi.
A Châu
nói:
- Tiêu
đại gia...
Tiêu
Phong ngắt ngang:
- Từ
nay trở đi, nàng không được gọi ta là đại gia, nhị gia gì nữa. Nàng gọi ta là
đại ca.
A Châu
mặt đỏ bừng nói nhỏ:
- Thiếp
đâu có xứng?
Tiêu
Phong nói:
- Nàng
có chịu gọi không thì bảo?
A Châu
mỉm cười:
- Nghìn
lần chịu, vạn lần chịu, đâu có dám cãi lời.
Tiêu
Phong cười nói:
- Vậy
nàng gọi thử ta xem nào!
A Châu
nói thật nhỏ:
-
Đại... đại ca!
Tiêu Phong
cười ha hả nói:
- Thế
mới được! Từ nay về sau Tiêu mỗ không còn một thân một mình, bị người ta khinh
bỉ là giống Hồ Lỗ hèn hạ, trên đời này ít ra cũng có một người... cũng có một
người...
Ông
không biết phải nói sao. A Châu tiếp lời:
- ...
cũng có một người kính trọng đại ca, bội phục đại ca, thương yêu đại ca, nguyện
ý đời đời kiếp kiếp, ở bên cạnh đại ca chia xẻ đắng cay gian khổ, ấm lạnh đói
no.
Nàng
nói những câu đó cực kỳ thành khẩn. Tiêu Phong cất tiếng cười vang động cả bốn
bề sơn cốc, nghĩ đến A Châu nói sẽ cùng mình “nguyện ý mãi mãi, đời đời kiếp
kiếp, ở bên cạnh chàng chia xẻ đắng cay gian khổ, ấm lạnh đói no” đủ biết nàng
hiểu rằng rồi đây sẽ có rất nhiều chông gai nhưng thản nhiên cam chịu không hề
hối hận. Ông trong lòng cảm kích tuy mặt ngoài cười cợt nhưng hai dòng lệ chảy
ròng ròng trên má.
Tiền
nhiệm phó bang chủ Cái Bang Mã Đại Nguyên ở tại Tín Dương, tỉnh Hà Nam. Tổng đà
Cái Bang ở Lạc Dương Hà Nam, Tín Dương cùng Vệ Huy cách tổng đà không xa lắm.
Tiêu Phong cùng A Châu từ núi Thiên Thai ở Giang Nam đi đến Tín Dương, đi hơn
nửa đường thì lại quay về đường cũ, đường xa nghìn dặm không phải chỉ một ngày
là đến được. Hai người từ khi ở núi Thiên Thai ướm lòng với nhau, tình ý dạt
dào, nên thả lỏng dây cương để vừa đi vừa thưởng ngoạn những cảnh đẹp làm say
sưa lòng người. A Châu vốn dĩ không thích uống rượu nhưng để trợ hứng cho Tiêu
Phong nên cũng cố uống hầu tiếp một vài chung khiến má đỏ hồng lại càng thêm
xinh đẹp.
Tiêu
Phong vốn dĩ bụng đầy phẫn khích nhưng được A Châu nói cười ríu rít, chuyện trò
thật duyên dáng nên bao nhiêu phiền não cũng giảm đến quá nửa. Chuyến đi từ
Giang Nam ngược lên trung châu, so với lần đi từ Nhạn Môn Quan hối hả chạy qua
Sơn Đông tâm tình thật khác hẳn. Tiêu Phong cũng có khi hồi tưởng, chặng đường
mấy nghìn dặm này thật quả mơ mơ hồ hồ, lúc đầu là những cơn ác mộng nhưng đến
sau lại là một cơn mộng đẹp đến nỗi nếu không có nàng A Châu kiều diễm ở bên
mình thì ắt đã nghi rằng chỉ là một giấc mơ.
Hôm đó
đi đến Quang Châu, chỉ còn chừng hai ngày đường là đến Tín Dương. A Châu nói:
- Đại
ca thử nghĩ xem mình đến hỏi Mã phu nhân thế nào cho tiện?
Hôm đó
ở trong khu rừng hạnh và nơi Tụ Hiền Trang, Mã phu nhân thần thái ngôn ngữ thù
hằn Tiêu Phong ra mặt, rất có ý vu hãm, Tiêu Phong tuy không lấy gì làm vui
nhưng sau nghĩ lại bà ta chồng chết, lại cho rằng mình giết hại, có oán hận
mình thì cũng là chuyện bình thường, nếu không thù hận ấy mới là không hợp lý.
Ông lại
nghĩ bà ta là một người đàn bà góa không biết võ công, nếu như uy hiếp bức bách
thì quả là mất cái thân phận hào hiệp của mình nên không nghĩ tới việc dùng bạo
lực tra hỏi, nay nghe A Châu hỏi thế không khỏi ngẩn người ra một hồi rồi đáp:
- Ta
nghĩ mình chỉ nên thẳng thắn cầu xin, mong bà ta hiểu rõ sự tình khỏi đổ tiếng
oan cho ta giết chồng. A Châu, hay là nàng đến hỏi bà ta đi, được chăng? Nàng
mồm miệng lanh lợi, vả lại chỗ đàn bà với nhau. Chỉ sợ một khi Mã phu nhân thấy
mặt ta, bụng đầy oán hận là sẽ giở trò ngay.
A Châu
tủm tỉm cười:
- Thiếp
đã có kế đây nhưng sợ đại ca cho là không hay thôi.
Tiêu Phong
vội hỏi:
- Kế gì
thế?
A Châu
nói:
- Đại
ca là đại anh hùng, đại trượng phu không thể bức cung bà ta được, chi bằng để
thiếp đến đánh lừa bà ta, được chăng?
Tiêu
Phong vui mừng nói:
- Nếu
như dụ được bà ta thổ lộ chân tướng thì còn gì hơn. A Châu, chắc nàng cũng biết
ta ngày đêm canh cánh, mơ tưởng chuyện được chính tay đâm chết kẻ đại cừu để
trả mối thù giết cha. Ta là người Khất Đan, "tên đại ác" kia giúp
Kiều mỗ lộ được cái bản lai diện mục của mình, khiến cho ta biết được tổ tông
mình là ai, ta phải cảm ơn mới phải. Thế nhưng tại sao y lại giết dưỡng phụ
dưỡng mẫu của ta? Giết ân sư của ta? Ép ta phải giết hại bằng hữu, mang cái
tiếng ác, biến thành kẻ thù của anh hùng thiên hạ? Nếu ta không băm vằm y ra,
thì làm sao yên tâm để cùng nàng ở ngoài biên tái cưỡi ngựa săn thú, chăn bò
thả cừu?
Ông
càng nói càng lên giọng. Mấy hôm nay tuy thần thái ông không còn u uất như
trước, nhưng tấm lòng thù hận "tên đại ác" không vì thế mà giảm được
chút nào. A Châu nói:
-
"Tên đại ác" kia hại đại ca âm độc như thế, thiếp chỉ mong được chém
y mấy nhát cho đại ca hả dạ. Mình bắt được y rồi sẽ tổ chức một anh hùng đại
yến, mời tất cả anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, trước tất cả mọi người nói rõ
nỗi oan khuất để thanh danh của đại ca được hồi phục.
Tiêu
Phong thở dài:
- Cũng
chẳng cần phải thế. Ta ở Tụ Hiền Trang giết quá nhiều người, kết oán thù với
anh hùng thiên hạ cực sâu xa, cũng chẳng phải cầu ai tha thứ cho mình. Tiêu
Phong chỉ mong kết liễu được chuyện này để trong tâm hồn được bình an, sau đó
được cùng nàng rong ruổi bên ngoài biên tái, hai đứa mình suốt đời làm bạn với
hổ lang bò cừu, không bao giờ gặp lại anh hùng hảo hán Trung Nguyên nữa.
A Châu
vui mừng nói:
- Nếu
được thế thì quả là tạ trời tạ đất, cầu còn chưa xong.
Nàng
mỉm cười nói:
- Đại
ca, thiếp định giả làm một người đến đánh lừa để cho Mã phu nhân nói tính danh
của "tên đại ác" ra.
Tiêu
Phong vỗ đùi kêu lên:
- Đúng
đó, đúng đó! Ta không nghĩ ra cách này, thuật cải trang của nàng dùng vào việc
này thì trên đời có một không hai. Thế nàng định giả làm ai?
A Châu
đáp:
- Cái
đó phải hỏi đại ca. Khi Mã phó bang chủ còn tại thế, trong Cái Bang giao thiệp
với ai thân thiết nhất thiếp sẽ giả làm người đó, Mã phu nhân tưởng là bạn thân
của trượng phu, chắc sẽ không giấu đâu.
Kiều
Phong nói:
- Ồ,
những người trong Cái Bang thân thiết với Mã Đại Nguyên huynh đệ thì có Vương
đà chủ, Toàn Quan Thanh, Trần trưởng lão. Ngoài ra Chấp Pháp trưởng lão Bạch
Thế Kính cũng có giao tình rất hậu.
A Châu
hừm một tiếng, nghiêng đầu hồi tưởng lại hình mạo thần thái những người đó.
Tiêu Phong lại tiếp:
- Mã
huynh đệ là người điềm đạm nghiêm cẩn, không phải như ta thích rượu ham vui, ồn
ào náo nhiệt. Thành thử bình thời y ít khi cùng ta uống rượu cười đùa. Toàn
Quan Thanh, Bạch Thế Kính là những người giống tính y nên thường gặp nhau
nghiên cứu võ công.
A Châu
nói:
- Vương
đà chủ là ai, thiếp không được biết. Trần trưởng lão thì trong cái túi gai chứa
toàn rắn rết, thiếp mới thấy đã nổi da gà muốn ói, có giả trang cũng không
giống được. Toàn Quan Thanh người cao quá giả làm y phải mất rất nhiều thì giờ,
nếu như ở trong nhà Mã phu nhân một hồi lâu để thủng thẳng hỏi cho ra e rằng sẽ
bị lộ chân tướng. Chi bằng để thiếp giả là Bạch trưởng lão. Ông ta có nói
chuyện với thiếp mấy lần ở Tụ Hiền Trang, học làm ông ta dễ hơn cả.
Kiều
Phong mỉm cười:
- Bạch
trưởng lão đối với nàng thật tốt, hết lời cầu khẩn Tiết Thần Y trị thương. Nếu
như nàng lại giả làm ông ta để đi đánh lừa người khác có phải là sai quấy hay
không?
A Châu
cười nói:
- Thiếp
giả Bạch trưởng lão để làm chuyện tốt chứ nào có làm chuyện xấu hại đến thanh
danh của ông ta, như thế có sao đâu?
A Châu
liền ở trong khách điếm hóa trang ngay. Kiều Phong được A Châu cải trang thành
một tên đệ tử Cái Bang năm túi tùy tòng của Bạch Thế Kính, lại dặn ông ta nói
càng ít càng tốt, phòng Mã phu nhân là người tinh tế nhìn ra chỗ sơ hở. Tiêu
Phong thấy A Châu hóa trang thành Bạch trưởng lão rồi, mặt lạnh như băng, không
giận dữ nhưng vẫn có uy, đúng là một vị Chấp Pháp trưởng lão mà mấy vạn đệ tử
Cái Bang Nam Bắc ai ai cũng vừa sợ hãi vừa kính trọng, không chỉ hình dáng bên
ngoài mà cả lời ăn tiếng nói, thần thái cử chỉ giống hệt Bạch Thế Kính khiến
Tiêu Phong giao thiệp thân cận với ông ta cả chục năm mà cũng không nhìn ra chỗ
nào không phải. Hai người đến Tín Dương rồi, trên đường mỗi khi gặp anh em
trong Cái Bang đều dùng ám ngữ nói chuyện tra hỏi tình hình các nhân vật đầu
não trong bang, sau đó thông tri là Bạch trưởng lão đã đến Tín Dương để Mã phu
nhân biết tin để bà ta có sẵn ấn tượng trong lòng ngõ hầu A Châu cải trang có
gì sai sẩy bà ta cũng không hay biết.
Nhà Mã
Đại Nguyên ở ngoại ô phía tây, cách thành Tín Dương chừng ba mươi dặm. Tiêu
Phong hỏi thăm đường đi từ các anh em Cái Bang tại địa phương rồi cùng A Châu
đến nhà họ Mã. Hai người cố ý đi thong thả để diên trì thời khắc mãi xế chiều
mới tới nơi vì e trời sáng mọi việc rõ ràng khiến cải trang dễ bị bại lộ, khi
trời tối mọi thứ đều mờ mờ ảo ảo dễ dàng mập mờ đánh lận con đen.
Hai
người đến trước nhà họ Mã, chỉ thấy một con rạch nhỏ lượn quanh ba gian nhà
ngói, bên cạnh là hai cây thùy dương còn đằng trước là một mảnh đất trống,
giống như sân phơi thóc của nhà nông nhưng bốn bên đều có hào sâu. Tiêu Phong
biết rõ võ công gia số của Mã Đại Nguyên, biết rằng những hào sâu này là để y
luyện công, nhưng nay hai bên âm dương đôi ngả, trong lòng không khỏi se lại.
Ông đang toan tiến lên gọi cửa, đột nhiên nghe kẹt một tiếng cửa đã mở toang,
một người đàn bà mặc áo sô trắng bước ra, chính là Mã phu nhân.
Mã phu
nhân liếc Tiêu Phong một cái, khom lưng hành lễ với A Châu nói:
- Bạch
trưởng lão quang lâm tệ xá, quả thực không sao ngờ nổi, xin mời vào dùng trà.
A Châu
nói:
- Tại
hạ có một việc quan trọng cần thương lượng với đệ muội nên chưa được mời đã
đến.
Mã phu
nhân toàn thân một màu sô gai trắng toát vẻ mặt như cười mà không phải cười, khóe
miệng dường như có điều u uẩn. Khi đó mặt trời đã ngả về phía sau núi, phủ lên
khuôn mặt nàng một màu vàng vọt. Tiêu Phong lần này gặp lại tâm thần không
khích động như hai lần trước thấy nàng độ chừng ba mươi lăm ba mươi sáu, tuy
khóe mắt đầu mày đã mờ mờ vết nhăn, mặt không nhồi phấn nhưng nước da trắng nõn
không kém A Châu chút nào.
Hai
người theo Mã phu nhân vào trong nhà, thấy sảnh đường xem chừng hơi nhỏ, giữa
để một cái bàn, chung quanh là bốn chiếc ghế nên chẳng còn trống bao nhiêu. Một
bà vú già đem trà lên, Mã phu nhân hỏi đến Tiêu Phong, A Châu thuận mồm bịa ra
một cái tên. Mã phu nhân hỏi:
- Bạch
trưởng lão đại giá quang lâm, không biết có điều gì dạy bảo?
A Châu
đáp:
- Từ
trưởng lão qua đời ở Vệ Huy, chắc đệ muội cũng đã nghe rồi.
Mã phu
nhân đột nhiên ngẩng đầu lên, ánh mắt lộ vẻ khác lạ nói:
- Dĩ
nhiên là tiện thiếp đã biết.
A Châu
lại tiếp:
- Bọn
ta ai cũng nghi là Kiều Phong hạ độc thủ, sau đó Đàm công, Đàm bà và Triệu Tiền
Tôn ba vị tiền bối cũng bị người ta giết bên ngoài thành Vệ Huy, rồi đến Thiết
Diện Phán Quan Đơn gia ở Thái An, Sơn Đông bị cháy rụi. Mới đây không lâu, ta
đi Giang Nam tra xét một tên đệ tử bảy túi trong bang vi phạm bang quy, trên
đường nghe tin Trí Quang lão hòa thượng của chùa Chỉ Quán núi Thiên Thai cũng
đột ngột viên tịch.
Mã phu
nhân run lẩy bẩy, mặt biến sắc nói:
-
Chuyện... chuyện đó cũng do Kiều Phong làm hay sao?
A Châu
nói:
- Ta
đích thân lên chùa Chỉ Quán tìm hiểu tuy không có kết quả gì, nhưng mười phần
thì đến tám chín là do Kiều Phong làm, xem ra bước kế tiếp y sẽ đến gây chuyện
với đệ muội nên vội vàng đến đây, khuyên đệ muội lánh đi nơi khác một năm sáu
tháng để khỏi bị gã họ Kiều làm hại.
Mã phu
nhân rưng rưng nước mắt, buồn bã nói:
- Từ
khi Mã đại gia bất hạnh bị nạn tới nay, tiện thiếp sống nơi trần thế cũng là
kiếp sống thừa, họ Kiều kia muốn hại thì thực cầu còn chưa được, việc gì phải
đi đâu tị họa làm chi?
A Châu
nói:
- Sao
đệ muội lại nói thế? Đại cừu của Mã huynh đệ chưa rửa được, hung thủ còn chưa
bắt được thì đệ muội còn phải gánh vác trọng trách trên vai. À, linh vị của Mã
huynh đệ ở đâu để ta đến vái lạy một cái.
Mã phu
nhân đáp:
- Không
dám.
Thế
nhưng nàng vẫn dẫn hai người đi vào hậu đường. A Châu lạy trước, Tiêu Phong
cũng cung kính đứng trước linh vị khấu đầu, trong bụng khấn thầm: “Mã đại ca
chết đi có linh thiêng thì hôm nay cảm ứng vào phu nhân nói ra tính danh chân
hung thủ, để ta thay thế đại ca báo thù rửa oan”.
Mã phu
nhân quỳ ờ bên cạnh linh vị hoàn lễ, nước mắt ròng ròng trên má. Tiêu Phong lạy
xong rồi, đứng lên thấy trong linh đường có treo mấy bức đối trướng, trong đó
có cả của Từ trưởng lão, Bạch trưởng lão nhưng đôi câu đối của mình gửi tới
dưới thân phận bang chủ không thấy đâu. Những vuông vải trắng trong linh đường
đã tích bụi bặm lại càng làm tăng thêm vẻ thê lương, Tiêu Phong nghĩ thầm: “Mã
phu nhân không con không cái, suốt ngày chỉ có một mụ vú già làm bạn, ngày
tháng cô khổ tịch mịch thật không biết nói sao cho hết”.
Lại
nghe A Châu buông lời khuyên nhủ nào là “Đệ muội bảo trọng thân thể, mối thù
của Mã huynh đệ là oán thù của chung mọi người. Nếu như nàng có điều gì khó
khăn, cứ nói thẳng cho ta nghe, ta sẽ sẵn lòng lo liệu tất cả” nghe thật ra vẻ
đàn anh kẻ cả. Tiêu Phong trong bụng khen thầm: “Cô ả này thật là đâu ra đấy,
bang chủ Cái Bang đã bị trục xuất, phó bang chủ đã qua đời, Từ trưởng lão bị
người ta sát hại, Truyền Công trưởng lão bị ta giết rồi, bây giờ Bạch trưởng
lão là người địa vị tối cao. Cô nàng nói rặt giọng điệu bang chủ quả thật xứng
với thân phận vai trò”.
Mã phu
nhân cảm ơn nhưng giọng lưỡi cực kỳ lạnh nhạt. Tiêu Phong hơi lo, thấy nàng ta
không còn tha thiết, thần tình như kẻ mất hồn, chắc là từ khi trượng phu qua
đời sống không còn lạc thú chi nữa, e rằng sẽ tự tận tuẫn phu, người đàn bà này
tính khí cương cường chuyện gì cũng có thể làm được.
Mã phu
nhân đưa hai người trở lại phòng khách, chẳng bao lâu bà vú đã dọn cơm ra, trên
bàn có bốn món đồ chay gồm cải xanh, cải củ, đậu phụ, dưa leo và ba bát cơm
khói bốc nghi ngút nhưng không có rượu. A Châu liếc nhìn Tiêu Phong nghĩ thầm:
“Hôm nay không có rượu cho chàng uống”. Tiêu Phong thản nhiên như không, bưng
bát cơm lên ăn.
Mã phu
nhân nói:
- Từ
khi Mã đại gia qua đời, kẻ vị vong này ăn toàn đồ chay, chỗ hẻo lánh không có
rượu thịt, khoản đãi hai vị đạm bạc quá.
A Châu
thở dài:
- Mã
huynh đệ chết rồi không thể sống lại được, đệ muội cũng đừng quá làm khổ mình
như thế.
Tiêu
Phong thấy Mã phu nhân đối với người chồng quá cố quả thật có tình có nghĩa,
trong lòng nổi lên một nỗi niềm kính trọng. Ăn cơm tối xong, Mã phu nhân nói:
- Bạch
trưởng lão từ xa đến, tiểu nữ đáng lý phải giữ khách lại, có điều phận đàn bà
góa không tiện chút nào, không biết trưởng lão muốn dặn dò điều gì?
Trong
lời ăn tiếng nói có chiều muốn đuổi khách đi. A Châu nói:
- Ta
chuyến này đi Tín Dương cốt là để khuyên phu nhân rời nhà đi tránh họa chỗ
khác, không biết đệ muội có điều gì phải tính toán hay không?
Mã phu
nhân thở dài một tiếng nói:
- Gã
Kiều Phong kia giết Mã đại gia, y có đến đây làm hại tiện thiếp thì cũng là đi
theo chồng xuống suối vàng. Tiểu nữ tuy chân yếu tay mềm, chẳng dấu Bạch trưởng
lão làm chi, chết thiếp đã không sợ thì còn sợ cái gì nữa.
A Châu
nói:
- Nếu
đã nói thế, đệ muội không bằng lòng rời nhà đi tị nạn nơi khác hay sao?
Mã phu
nhân đáp:
- Đa tạ
hậu ý của Bạch trưởng lão. Tiểu nữ thật không đành rời nơi cố cư của Mã đại
gia.
A Châu
nói:
- Ta
vốn dĩ muốn ở gần đây ít ngày để bảo hộ cho đệ muội. Vẫn biết là Bạch mỗ không
phải là địch thủ của Kiều Phong nhưng trong lúc gấp gáp cũng đỡ được một tay.
Ngờ đâu trên đường đi ta lại nghe được một tin tức cơ mật thật là trọng đại.
Mã phu
nhân đáp:
- Ồ,
thế thì việc phải lớn lao lắm.
Đàn bà
vốn dĩ hiếu kỳ, nghe nói đến một việc cơ mật trọng đại, dù cho việc chẳng liên
quan gì đến mình, miệng không hỏi nhưng vẻ mặt vẫn có ý thích nghe. Ngờ đâu Mã
phu nhân vẫn thản nhiên như không, tưởng chừng có nói ra cũng thế mà không nói
thì cũng chẳng hề chi, chồng đã chết rồi thì trên đời này không còn điều gì
khiến nàng động tâm được nữa. Tiêu Phong nghĩ thầm: “Người đời vẫn bảo rằng đàn
bà góa gan ruột héo hon, lạnh như tro bếp, nếu nói về Mã phu nhân thì thật là
thích đáng”.
A Châu
quay sang vẫy tay cho Tiêu Phong nói:
- Ngươi
ra ngoài chờ, ta có mấy lời cơ mật nói với Mã phu nhân.
Tiêu
Phong gật đầu, đi ra ngoài nhà, thầm khen A Châu thông minh, biết là nếu muốn
người khác thổ lộ chuyện cơ mật cho mình thì phải nói chuyện bí mật của mình
trước. Thành thử A Châu giả vờ nói chuyện cơ mật chính là làm cho Mã phu nhân
tin tưởng, ngay cả kẻ tâm phúc của mình cũng không được nghe hẳn là chuyện này
phải thật kín đáo.
Ông đi
ra ngoài cửa, bên ngoài trời tối vắng lặng không một tiếng động, chỉ văng vẳng
tiếng loảng xoảng từ dưới bếp vọng lên, chính là bà vú đang rửa bát, bèn đi
vòng qua góc tường, nép vào ngoài cửa sổ phòng khách, nín thở lắng tai nghe. Dù
cho Mã phu nhân không nói tên tuổi của người đó chỉ cần thổ lộ một chút đầu mối
thì ông cũng có thể lần ra còn hơn hiện nay mù mờ không biết đâu mà mò. Huống
chi vị Bạch trưởng lão này từ nghìn dặm xa xôi đến đây cảnh cáo đã là làm ơn
cho bà ta rồi, khi sắp ra đi lại cho biết một chuyện đại sự cơ mật, một thủ
lãnh của bản bang không lẽ Mã phu nhân lại dám dấu diếm hay sao? Nếu có đề cập
tới chút manh mối của Cái Bang, A Châu chưa chắc đã suy đoán ra manh mối, mình
ở đây có thể từ đó mà tìm ra ngọn ngành, đúng là phải nghe trộm.
Một lúc
lâu sau mới nghe thấy Mã phu nhân thở dài một tiếng, u uẩn nói:
-
Ông... ông còn đến làm gì nữa đây?
Tiêu
Phong sợ việc vỡ lở làm hỏng đại sự thành thử không dám thò đầu ra nhìn xem
trong phòng khách tình hình thế nào, trong bụng hơi lạ lùng: “Câu hỏi này của
bà ta có dụng ý gì?’. Chỉ nghe A Châu nói:
- Ta
quả có nghe tin đó, Kiều Phong có bụng muốn hại phu nhân nên tới báo tin.
Mã phu
nhân nói:
- Hừ,
đa tạ hảo ý của Bạch trưởng lão.
A Châu
hạ giọng nói:
- Đệ
muội, từ khi Mã huynh đệ bất hạnh qua đời, có mấy trưởng lão trong bang nhớ đến
công lao của y nên muốn mời phu nhân xuất sơn, đảm nhiệm vai trò trưởng lão.
Tiêu
Phong nghe nàng nói cực kỳ trịnh trọng không khỏi tức cười, nhưng trong bụng
cũng phải khen thầm nàng tính kế thật cao, Mã phu nhân nếu bằng lòng, Bạch
trưởng lão lập tức sẽ thành cấp trên của bà ta, có điều muốn hỏi thì không thể
nào cự tuyệt được. Ví thử không bằng lòng làm trưởng lão trong bang nhưng thấy
Cái Bang coi trọng mình như thế, Mã phu nhân ắt thể nào cũng hả lòng hả dạ.
Chỉ
nghe Mã phu nhân đáp:
- Tiện
thiếp có tài cán đức độ gì mà có thể đảm nhiệm chức trưởng lão trong Cái Bang?
Đến đệ tử Cái Bang thiếp còn chưa đáng, huống chi địa vị trưởng lão cực cao,
thật cách xa hàng muôn ngàn dặm.
A Châu
đáp:
- Ta và
bọn Ngô trưởng lão hết lòng tiến cử, ai nấy đều bảo rằng nếu có Mã phu nhân
cùng đứng ra lo liệu thì việc bắt giữ hạ sát Kiều Phong thật dễ hơn nhiều. Ta
lại còn có một tin tức thật trọng đại liên quan đến việc Mã huynh đệ bị giết.
Mã phu
nhân hỏi lại:
- Thật
vậy ư?
Giọng
nói bà ta xem ra có vẻ thờ ơ. A Châu nói:
- Hôm
đó nơi thành Vệ Huy điếu tang Từ trưởng lão, ta gặp Triệu Tiền Tôn, y có tiết
lộ cho ta hay, nói y biết ai là chân hung thủ sát hại Mã huynh đệ.
Đột
nhiên nghe choang một tiếng, một chiếc chén trà rơi xuống vỡ tan. Mã phu nhân
hoảng hốt kêu lên một tiếng rồi lắp bắp nói:
-
Ông... ông đùa giỡn cái gì thế?
Thanh
âm nghe cực kỳ phẫn nộ, nhưng cũng có mấy phần kinh hoàng. A Châu đáp:
-
Chuyện đó là chuyện đàng hoàng, ta làm sao đám nói đùa? Gã Triệu Tiền Tôn kia
chính miệng nói cho ta nghe, y biết rõ hung thủ giết Mã Đại Nguyên huynh đệ. Y
bảo nhất định không phải Kiều Phong, cũng chẳng phải Cô Tô Mộ Dung, y biết chắc
chắn người đó là ai rồi.
Mã phu
nhân run run hỏi:
- Làm
sao y biết được? Làm sao y biết được? Ông chỉ nói nhăng nói cuội, có khác gì
ban ngày ban mặt thấy ma?
A Châu
đáp:
- Đúng
vậy mà, phu nhân khỏi phải nóng ruột ta sẽ từ từ cho bà hay. Gã Triệu Tiền Tôn
kia nói: “Năm ngoái vào mười lăm tháng tám...”.
Nàng ta
nói chưa hết câu, Mã phu nhân đã kêu lên một tiếng ngất xỉu ngay tại chỗ. A
Châu vội gọi:
- Đệ
muội, đệ muội!
Nàng
lấy tay day day nơi nhân trung ở môi trên, Mã phu nhân từ từ tỉnh lại, u oán
nói:
- Sao
ông... sao ông lại dọa tôi?
A Châu
đáp:
- Ta
nào có dọa đệ muội làm gì. Gã Triệu Tiền Tôn kia quả có nói với ta, tiếc thay y
chết mất rồi, nếu không ta đã gọi y tới đây đối chất. Y nói năm ngoái ngày
Trung Thu giữa tháng tám, Đàm công, Đàm bà cùng hung thủ làm hại Mã huynh đệ,
cùng ở nhà "đại ca thủ lĩnh"...
Mã phu
nhân hừ một tiếng, hỏi lại:
- Y quả
thực nói vậy ư?
A Châu
đáp:
- Đúng
thế. Ta lại hỏi hung thủ đó là kẻ nào, y bảo là tên người đó không tiện nói ra.
Ta đi hỏi Đàm công thì y cũng hầm hầm nhìn ta không nói gì cả. Đàm bà bảo quả
đúng như thế, chính bà ta nói với Triệu Tiền Tôn. Ta cũng không trách Đàm công
đã nổi cáu, chắc là giận vợ mình chuyện gì cũng nói cho Triệu Tiền Tôn nghe.
Mã phu
nhân hỏi:
- Hừm,
thế thì đã sao?
A Châu
nói:
- Triệu
Tiền Tôn bảo là, tất cả ai ai cũng nghi Kiều Phong và Mộ Dung Phục giết chết Mã
huynh đệ, còn hung thủ đích thực thì lại nhởn nhơ ngoài vòng, tiêu dao tự tại,
Mã huynh đệ ở dưới suối vàng biết được ắt sẽ muôn đời không giải được nỗi oan.
Mã phu
nhân nói:
- Đúng
vậy, tiếc thay gã Triệu Tiền Tôn kia lại chết rồi, thế Đàm công, Đàm bà đã nói
cho trưởng lão hay chưa?
A Châu
đáp:
- Chưa
nói mới chết chứ! Đến nước này chỉ còn cách đi hỏi "đại ca thủ lĩnh"
thôi.
Mã phu
nhân đáp:
- Phải
lắm, thế trưởng lão đi hỏi cho ra.
A Châu
nói:
- Nói
ra thì cũng thật tức cười, "đại ca thủ lĩnh" kia là ai, nhà ở đâu, ta
nào có biết.
Mã phu nhân
nói:
- Ồ,
hóa ra ông nói gần nói xa, vòng vo tam quốc chẳng qua chỉ để hỏi tên người
"đại ca thủ lĩnh".
A Châu
đáp:
- Nếu
bất tiện đệ muội cũng không cần phải cho ta hay làm gì, tự mình tìm cách hỏi
cho minh bạch rồi cả bọn sẽ đi tìm chân hung thủ thanh toán món nợ này.
Tiêu
Phong biết A Châu cố làm ra vẻ bất cần để Mã phu nhân khỏi nghi nhưng trong
bụng thật là sốt ruột. Chỉ nghe Mã phu nhân lãnh đạm nói:
- Tên
của "đại ca thủ lĩnh" giấu ai thì giấu để Kiều Phong khỏi đi kiếm ông
ta báo thù giết cha giết mẹ, còn như Bạch trưởng lão là người phe ta, tiện
thiếp dấu làm gì? Người đó chính là...
Nói đến
câu “Người đó chính là...” bà ta hạ giọng không nói tiếp nữa. Tiêu Phong hết
sức lắng tai dường như chính tiếng tim mình đập cũng còn nghe, nhưng vẫn không
thấy Mã phu nhân nói tên của "đại ca thủ lĩnh" là ai, một lát sau mới
nghe bà ta thở dài:
- Trăng
trên trời tròn là dường ấy, sáng là dường ấy.
Tiêu
Phong biết rõ trên không lúc này mây đen che phủ, làm gì có trăng nhưng cũng
ngẩng đầu nhìn lên, nghĩ thầm: “Hôm nay mới mồng hai, dẫu có trăng thì cũng đâu
có tròn, bà ta nói thế là ý nghĩa gì?”. Lại nghe A Châu nói:
- Đến
ngày rằm thì trăng thể nào chẳng tròn, chẳng sáng vằng vặc, ôi, tiếc thay Mã
huynh đệ chẳng bao giờ còn được thấy trăng tròn nữa.
Mã phu
nhân hỏi thêm:
- Bánh
trung thu ông thích ăn bánh mặn hay bánh ngọt?
Tiêu
Phong lại càng kỳ lạ, nghĩ thầm: “Mã phu nhân từ khi chồng chết tâm thần dường
như bất thường”. A Châu đáp:
- Bọn
chúng ta là dân ăn mày lẽ đâu lại còn đòi bánh mặn bánh ngọt? Cốt sao tìm ra
chân hung thủ để báo thù cho Mã huynh đệ, nói gì bánh trung thu mà dẫu có sơn
trân hải vị, ăn vào cũng có còn mùi mẽ gì nữa.
Mã phu
nhân lặng yên không nói, một lúc lâu sau mới lạnh lùng đáp:
- Bạch
trưởng lão hết lòng hết sức cốt sao tìm cho ra hung thủ để báo thù rửa hận cho
người anh em Đại Nguyên, khiến cho tiểu nữ cực kỳ cảm kích.
A Châu
đáp:
- Đó là
bổn phận của chúng ta. Mấy vạn bang chúng Cái Bang có người nào không nghĩ đến
mối thù này?
Mã phu
nhân nói:
- Vị
"đại ca thủ lĩnh" kia địa vị cao sang, thanh thế cực lớn, mở miệng ra
là có thể điều động vài vạn người. Ông ta lại hay bênh vực bạn bè, ông đến hỏi
hung thủ là ai, chắc không chịu nói ra đâu.
Tiêu
Phong mừng rỡ nghĩ thầm: “Nói gì thì nói, chuyến này mình cũng không đến nỗi
công toi. Mã phu nhân dù không nói tên tuổi y ra, chỉ dựa vào một câu “địa vị
cao sang, thanh thế cực lớn, mở miệng ra là có thể điều động vài vạn người”, ta
cũng có thể đoán ra được là ai rồi. Trong võ lâm liệu có mấy ai được như thế?”.
Ông còn
đang cố nặn óc xem người đó là ai đã nghe A Châu nói tiếp:
- Trong
võ lâm, chỉ một lời có thể điều động được hàng vạn người, trước đây thì chỉ có
bang chủ Cái Bang. Ồ, đệ tử Thiếu Lâm cũng khắp thiên hạ, một lời của phương
trượng chùa Thiếu Lâm cũng điều động được hàng vạn người...
Mã phu
nhân ngắt lời:
- Thôi
ông chớ có suy đoán sằng, để tôi cho thêm một đầu mối, người đó phải đi về phía
tây nam mới kiếm thấy.
A Châu
trầm ngâm nói:
- Phía
tây nam ư? Phía tây nam làm gì có người nào được thế? Xem ra không có ai cả.
Mã phu
nhân thò ngón tay, nghe soẹt một tiếng đã đâm thủng giấy dán trên cửa sổ, ngay
sát trên đầu Tiêu Phong, lại nghe bà ta nói tiếp:
- Tiểu
nữ không biết võ công nhưng Bạch trưởng lão chắc đã biết rồi, trong thiên hạ ai
là người công phu này giỏi hơn cả?
A Châu đáp:
- Hừm,
điểm huyệt công phu ư? Phái Thiếu Lâm có Kim Cương Chỉ, họ Trịnh ở Thương Châu
tỉnh Hà Bắc có Đoạt Phách Chỉ là những ngón lợi hại hơn cả.
Tiêu
Phong dường như muốn kêu lên: “Sai bét, sai bét! Công phu điểm huyệt trong
thiên hạ thì họ Đoàn Đại Lý là số một, huống chi bà ta đã bảo ở phía tây nam cơ
mà”. Quả nhiên nghe Mã phu nhân nói:
- Bạch
trưởng lão kiến thức quảng bác, sao chuyện có thế mà không nghĩ ra? Hay là vì
đường xa mỏi mệt, đầu óc mụ đi mất rồi đến nỗi môn Nhất Dương Chỉ lừng lẫy như thế
mà không nhớ đến?
Trong
ngôn ngữ xem ra có phần mỉa mai. A Châu đáp:
- Nhất
Dương Chỉ của họ Đoàn thì ta phải biết chứ, có điều họ ở Đại Lý xưng hoàng xưng
đế, đã lâu nay không lai vãng với võ lâm Trung Thổ. Nếu bảo vị "đại ca thủ
lĩnh" kia có liên hệ với họ Đoàn xem chừng tin tức có gì sai sót.
Mã phu
nhân nói:
- Họ
Đoàn tuy ở ngôi chúa tể nước Đại Lý nhưng Đoàn gia đâu phải chỉ có một người,
kẻ không làm vua vẫn thường lai vãng Trung Nguyên. Vị "đại ca thủ
lĩnh" chính là em ruột của đương kim hoàng đế, họ Đoàn tên Chính Thuần,
được phong tước Trấn Nam Vương đó.
Tiêu
Phong nghe Mã phu nhân nói đến ba chữ “Đoàn Chính Thuần” lập tức toàn thân chấn
động, mấy tháng nay muôn dặm ruổi rong, hết lòng hết dạ tìm kiếm bây giờ mới
biết được cái tên này. Lại nghe A Châu nói tiếp:
- Vị
Đoàn vương gia kia quyền vị cao sang, sao lại tham dự vào chuyện ân oán giang
hồ làm gì?
Mã phu
nhân đáp:
-
Chuyện ân oán giang hồ tầm thường thì không nói gì, Đoàn vương gia dĩ nhiên
không dính dáng gì đến, nhưng nếu có liên quan đến chuyện sống chết mất còn,
quốc vận thịnh suy của nước Đại Lý, ông nghĩ xem họ có tham gia hay không?
A Châu
đáp:
- Thì
đương nhiên là họ phải nhúng tay vào.
Mã phu
nhân nói:
- Thiếp
nghe Từ trưởng lão nói rằng: “Đại Tống là bức tường che cho Đại Lý ở phía bắc,
Khất Đan một khi diệt xong Đại Tống rồi, thể nào cũng tính tới việc thôn tính
Đại Lý. Thành thử Đại Lý và Đại Tống hai bên như răng với môi, Đại Lý không thể
nào để cho Đại Tống mất về tay nước Liêu”.
A Châu
đáp:
- Quả
đúng như thế không sai chút nào.
Mã phu
nhân nói:
- Từ
trưởng lão nói rằng, năm xưa vị vương gia đó đang làm khách ở tổng đà Cái Bang,
uống rượu luận kiếm với Uông bang chủ, bỗng nghe tin võ sĩ Khất Đan đang dốc
tới đoạt kinh của chùa Thiếu Lâm, Đoàn vương gia nghĩa bất dung từ liền thống
lãnh mọi người ra ngoài Nhạn Môn Quan chặn chúng lại, việc tuy nói là vì Đại
Tống nhưng thực ra cũng vì Đại Lý.
Nghe
nói vị vương gia này khi đó tuổi còn trẻ lắm nhưng võ công cao cường, đối với
ai cũng cực kỳ nhân nghĩa. Ông ta ở Đại Lý chỉ dưới một người, ở trên muôn
người, coi tiền bạc như rơm rác, chẳng đợi bằng hữu ngỏ lời, vài nghìn vài trăm
lượng liền đưa ngay. Trưởng lão thử nghĩ xem người như thế không đứng đầu quần
hùng Trung Nguyên thì còn ai? Một mai khi ông ta lên ngôi hoàng đế Đại Lý, thân
phận cao quý dường ấy, người khác chỉ toàn xuất thân thảo mãng làm sao ra lệnh
cho ông ta được?
A Châu
nói:
- Thì
ra "đại ca thủ lĩnh" lại là Trấn Nam Vương nước Đại Lý, hóa ra bao
nhiêu người chết chỉ để bảo vệ cho ông ta.
Mã phu
nhân đáp:
- Bạch
trưởng lão, chuyện cơ mật đó ông chớ có nói với ai, Đoàn vương gia và bản bang
giao tình chẳng phải tầm thường, nếu như tiết lộ phong thanh thì họa không sao
lường được. Tuy họ Đoàn Đại Lý uy chấn một cõi, cực kỳ lợi hại nhưng gã Kiều
Phong kia quyết tâm báo thù, ẩn nhẫn chờ tám năm mười năm, Đoàn Chính Thuần
cũng không dễ đối phó được đâu.
A Châu
đáp:
- Đệ
muội nói phải lắm, ta quyết giữ kín như bưng, không tiết lộ với ai.
Mã phu
nhân nói:
- Bạch
trưởng lão, tốt hơn hết ông lập một lời thề để tiện thiếp được yên tâm.
A Châu
nói:
- Được,
việc Đoàn vương gia là "đại ca thủ lĩnh" nếu như Bạch Thế Kính nói ra
cho ai nghe thì sẽ phải chịu thảm họa muôn vạn nhát dao, thân bại danh liệt,
mọi người cười chê.
Lời thề
của nàng nghe ra thật nặng nhưng lại nói trớ ra, mở miệng toàn là đổ lên đầu
Bạch Thế Kính, nếu có gì thì muôn vạn nhát dao cũng là Bạch Thế Kính, thân bại
danh liệt cũng là Bạch Thế Kính, còn nàng có liên quan gì đâu. Mã phu nhân nghe
thề độc như thất rất lấy làm hởi lòng hởi dạ nói:
- Thế
thì được lắm.
A Châu
trầm ngâm một lát rồi nói:
- Đệ
muội, nghe nói Đoàn Chính Thuần hiện nay tuổi bất quá trung niên, nhưng trận
chiến Nhạn Môn Quan ba mươi năm trước, chỉ sợ tuổi tác không đúng.
Mã phu
nhân nói:
- Bạch
trưởng lão, ông gặp qua Đoàn Chính Thuần rồi sao?
A Châu
nói:
- Ta
chưa gặp qua.
Mã phu
nhân nói:
- Ta
từng nghe tiên phu nói: Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần phong lưu háo sắc, tuổi
đã cao, lại làm ra vẻ thanh niên đi quyến rũ con gái. Hắn nội công thâm hậu,
năm sáu mươi tuổi, trông chỉ như bốn mươi tuổi. Kì thật, Bạch trưởng lão cũng
còn kém y vài tuổi ý chứ.
A Châu
nói:
- Vậy
thì ta phải đi Đại Lý bái kiến Trấn Nam Vương, dò hỏi nghe ngóng xem Tết Trung
Thu năm ngoái, ở phủ của ông ta có những khách nào là sẽ tra xét ra hung thủ
giết hại Mã huynh đệ. Thế nhưng lúc này thì ta vẫn cho là Kiều Phong. Triệu
Tiền Tôn, Đàm công, Đàm bà ba người dở dở ương ương nói ra chắc gì đã tin được.
Mã phu
nhân đáp:
- Việc
tra xét cho ra hung thủ hoàn toàn trông cậy vào Bạch trưởng lão.
A Châu
đáp:
- Mã
huynh đệ với ta có khác gì anh em ruột, ta thể nào cũng hết lòng hết dạ.
Mã phu
nhân buồn bã nói:
- Bạch
trưởng lão tình nghĩa thâm trọng như thế, vong phu ở dưới suối vàng nếu biết
được hẳn là cũng cảm kích tấm lòng.
A Châu
đáp:
- Đệ
muội cố gắng giữ gìn, tại hạ xin cáo từ.
Nói
xong bèn chia tay đi ra. A Châu ra đến ngoài cửa đã thấy Tiêu Phong đợi ở xa
xa, hai người nhìn nhau không nói một lời thẳng đường mà đi. Vầng trăng non
chiếu xiên xiên lên con đường cũ trở về Tín Dương. Hai người sóng vai nhau, đi
đến hơn bốn chục dặm Tiêu Phong mới thở ra một hơi nói:
- A
Châu, nàng đã lừa Mã phu nhân nói ra “đại ca thủ lĩnh” chính là Đoàn Chính
Thuần nước Đại Lý, đa tạ nàng.
A Châu
nở một nụ cười, không nói. Tuy mặt nàng bây giờ đang hóa trang thành Bạch Thế
Kính nên đầy vết nhăn nhưng từ trong khóe mắt, Tiêu Phong vẫn nhận ra nàng có
vẻ lo âu liền hỏi:
- Hôm
nay việc lớn đã thành, sao nàng vẫn còn không vui?
A Châu
đáp:
- Thiếp
nghĩ đến họ Đoàn người nhiều thế mạnh, đại ca một thân một mình đến báo thù quả
thực muôn phần hung hiểm. Đại ca phải hết sức cẩn thận mới được.
Tiêu
Phong đáp:
- Cái
đó dĩ nhiên rồi.
Ông
chậm rãi đưa tay ra nắm lấy tay nàng nói:
- Nếu
ta chết về tay Đoàn công tử thì ai đưa nàng ra ngoài Nhạn Môn Quan chăn cừu thả
bò đây?
A Châu
đáp:
- Ôi,
sao thiếp vẫn sợ lắm, dường như trong chuyện này có điều gì không ổn. Con mụ Mã
phu nhân kia... mụ ta... ra vẻ băng thanh ngọc khiết nhưng sao thiếp gặp thấy
tự nhiên vừa kinh sợ, vừa chán ghét.
Tiêu
Phong cười nói:
- Người
đàn bà đó rất là tinh minh tài giỏi, nàng sợ bà ta nhìn ra chân tướng cải trang
nên trong lòng khiếp sợ đấy thôi.
A Châu
nói:
- Đúng
vậy, thiếp một mình ngồi cùng với bà ta, bà ta nhìn thiếp với ánh mắt quái lạ,
tựa hồ biết thiếp không phải Bạch trưởng lão, thiếp cứ lo sợ bà ta.
Nàng
trầm ngâm một lúc rồi nói:
- Đại
ca, Đoàn Chính Thuần bạn bè rất nhiều, một câu có thể điều động thiên binh vạn
mã, đại ca có thể nghe lời khuyên của Trí Quang đại sư không đi tìm y báo thù?
Đại ca nói không muốn để thiếp lẻ loi trên đời không ai chiếu cố, cũng may lần
trước đại ca không suy nghĩ, không bị sao cả, không thì bây giờ…
Nói tới
đây, mặt nàng đã đỏ đến mang tai. Tiêu Phong tay trái đưa qua ôm lấy nàng, nói:
- Nàng
yên tâm, sau này ta xuất thủ, sẽ không có chuyện thu chưởng lực về, làm đối thủ
đánh ta đến xương sườn gãy nát, tâm phế vỡ vụn. Hà hà, Tụ Hiền Trang ta còn dám
đi, chẳng nhẽ lại sợ thanh thế “đại ca thủ lĩnh” hay sao?
A Châu
nhướn lông mày, nhẹ giọng nói:
- Đại
ca, Tụ Hiền Trang khác hoàn toàn.
Tiêu
Phong hỏi:
- Khác
nhau thế nào?
A Châu
nói:
- Đại
ca đã quên sao? Đến Tụ Hiền Trang là đưa A Châu đi trị thương, dù đầm rồng hang
hổ đại ca cũng đi. Đại ca, lúc đó trong lòng đại ca có một chút nào thích A
Châu không?
Tiêu
Phong cười ha hả nói:
- Đã có
một chút sao?
A Châu
nghiêng đầu nói:
- Thiếp
muốn đại ca nói không phải một chút mà là rất nhiều rất nhiều.
Tiêu
Phong mỉm cười nói:
- Đúng,
ta đã có rất nhiều.
A Châu
nói:
- Bọn
họ không biết, đại ca thứ nhất thích uống rượu, thứ hai thích đánh nhau.
Tiêu
Phong lắc đầu nói:
- Sai
rồi, đại ca thứ nhất yêu A Châu, thứ hai mới thích uống rượu, thứ ba thích đánh
nhau.
A Châu
cười nói:
- Tốt
lắm, đa tạ đại ca.
Hai
người về đến khách điếm trong thành Tín Dương thì trời đã tối, Tiêu Phong lập
tức gọi mười cân rượu, uống một phen cho thỏa dạ, trong bụng tính toán làm cách
nào để báo thù, nghĩ đến họ Đoàn Đại Lý, tự nhiên nhớ lại người em mới kết
nghĩa kim lan Đoàn Dự không khỏi chột dạ, cầm chén rượu mà ngơ ngẩn xuất thần,
vẻ mặt liền biến đổi.
A Châu
lại tưởng ông phát giác ra chuyện gì, nhìn quanh bốn phía không thấy gì lạ, hạ
giọng hỏi nhỏ:
- Đại
ca, có chuyện gì thế?
Tiêu
Phong giật mình nói:
-
Không... không có gì cả.
Ông
nâng chén lên uống một hơi cạn sạch nhưng rượu vừa đến cổ họng bỗng dưng sặc
một cái ho sù sụ, bao nhiêu rượu phun ra ướt cả bâu áo. Tửu lượng của ông hiếm
ai sánh kịp, nội công lại thâm hậu nay sặc rượu phải ọc ra là điều chưa từng
có. A Châu kinh hãi thầm nhưng không tiện hỏi.
Nàng có
biết đâu Tiêu Phong đang uống rượu bỗng chợt nhớ đến hôm trước nơi thành Vô
Tích cùng Đoàn Dự uống thi, đối phương sử dụng khí công thượng thừa Lục Mạch
Thần Kiếm, đem bao nhiêu rượu chảy dồn ra đầu ngón tay hết cả. Sau đó tỉ thí
khinh công, thần công nội lực như thế, Tiêu Phong biết mình không thể bì kịp.
Đoàn Dự rõ ràng không biết võ công, nội công đã ghê gớm đến thế rồi, kẻ đại đối
đầu kia là nhân vật đầu não của họ Đoàn Đại Lý, nếu so với Đoàn Dự chắc hẳn
phải ghê gớm gấp mười.
Ông có
biết đâu Đoàn Dự gặp may mà được thần công, có cái duyên ngẫu nhiên hút nội lực
người khác, chỉ riêng nội lực thì chàng ta đã hơn cha không biết bao nhiêu lần,
còn công phu Lục Mạch Thần Kiếm, trên đời ngoài Đoàn Dự ra không một người thứ
hai nào có thể sử dụng được tất cả. A Châu và Tiêu Phong đều quen biết Đoàn Dự
rất thân nhưng họ Đoàn là quốc tính nước Đại Lý, chẳng khác gì họ Triệu bên Đại
Tống, họ Lý bên Tây Hạ, họ Gia Luật bên nước Liêu, trong nước có đến hàng nghìn
hàng vạn, Đoàn Dự trước nay chưa đề cập mình là vương tử nước Đại Lý, A Châu và
Tiêu Phong có ngờ đâu anh chàng lại là dòng dõi hoàng đế, là con Đoàn Chính
Thuần.
A Châu
tuy không rõ trong bụng Tiêu Phong nghĩ gì nhưng cũng đoán được chắc hẳn ông ta
vì việc trả thù mà lo nghĩ liền nói:
- Đại
ca, việc báo thù nào phải chỉ một ngày một buổi. Chúng mình tính toán rồi hãy
hành động, dẫu cho địch đông mà ta ít, không thắng được bằng sức không lẽ không
biết dùng trí hay sao?
Tiêu
Phong trong bụng thấy vui, nghĩ đến A Châu lanh lợi khôn ngoan, quả là một tay
phù trợ rất đắc lực, lập tức rót ngay một chén khác uống một hơi cạn sạch rồi
nói:
- Mối
thù cha mẹ, không đội trời chung. Để báo mối thù này việc gì phải để ý tới quy
củ đạo nghĩa giang hồ, thủ đoạn ác độc cách mấy cũng chẳng chừa. Đúng thế,
không thắng được bằng sức thì chúng mình dùng trí.
A Châu
lại tiếp:
- Đại
ca, ngoại trừ mối thù thân sinh phụ mẫu, lại còn món nợ máu của cha nuôi mẹ
nuôi đại ca là ông bà Kiều lão, món nợ máu của sư phụ đại ca là Huyền Khổ đại
sư.
Tiêu
Phong vỗ lên bàn một cái, lớn tiếng nói:
- Phải
đó, oán thù trùng trùng, nào chỉ có một mối đâu?
A Châu
nói:
- Khi
đại ca học nghệ cùng Huyền Khổ đại sư, tuổi hẳn còn nhỏ nên học chưa hết những
nội công tinh diệu của phái Thiếu Lâm, nếu không thì dù Nhất Dương Chỉ của họ
Đoàn Đại Lý có lợi hại thế nào chăng nữa cũng chưa chắc đã hơn được Dịch Cân
Kinh của Đạt Ma lão tổ. Thiếp từng nghe Mộ Dung lão gia bàn luận võ công thiên
hạ, nói là võ công lợi hại nhất của họ Đoàn Đại Lý là Nhất Dương Chỉ và cái gì
đó tên là Lục Mạch Thần Kiếm. Có một hòa thượng Thổ Phồn từng dùng nội lực vô
hình đến giết thiếp và A Bích, Đoàn công tử ngón tay chỉ ra, dùng kiếm khí vô
hình để ngăn chặn, lão hòa thượng nói đó là Lục Mạch Thần Kiếm.
Tiêu
Phong nhíu mày đáp:
- Đúng
vậy, ta vừa rồi lo âu, không phải vì Nhất Dương Chỉ mà là vì Lục Mạch Thần
Kiếm. Nội lực vô hình, như đao như kiếm, làm sao để ngăn cản?
Nói
xong nhíu mày trầm ngâm. A Châu nói:
- Hôm
đó Mộ Dung lão gia và công tử bàn luận võ công thiên hạ, thiếp ở bên cạnh pha
trà, nghe được mấy câu. Mộ Dung lão gia nói: “Bảy mươi hai môn tuyệt kỹ của
phái Thiếu Lâm, môn nào cũng có chỗ tinh diệu, muốn khắc địch chế thắng thì một
tuyệt kỹ cũng đủ đâu cần phải tới bảy mươi hai môn”.
Tiêu
Phong gật đầu:
- Mộ
Dung tiền bối luận thật đúng.
A Châu
nói tiếp:
- Khi
đó Mộ Dung công tử mới nói: “Đúng thế, Vương phu nhân và biểu muội cứ khoe
khoang mình biết nhiều võ công thiên hạ, tuy có rộng thật nhưng không tinh thì
có dùng được việc gì đâu?”. Mộ Dung lão gia nói: “Nói đến chữ tinh, đâu phải dễ
dàng? Thực ra tuyệt học chân chính của phái Thiếu Lâm thì chỉ có một bộ Dịch
Cân Kinh, luyện xong bộ kinh này thì dù võ công tầm thường cách mấy vào tới tay
mình cũng biến được cái tồi tệ thành ra thần kỳ”.
Căn cơ
vốn sẵn, nội lực lại hùng cường thì dù chiêu số tầm thường cũng có uy lực cực
kỳ to lớn, điểm đó Tiêu Phong đã biết từ lâu. Lúc này ông nghe A Châu nhắc lại
lời Mộ Dung tiên sinh, không khỏi hứng chí uống luôn hai chén nữa nói:
- Quả
là hiểu được bụng ta! Quả là hiểu được bụng ta! Tiếc thay Mộ Dung tiên sinh đã
qua đời rồi, nếu không thể nào Tiêu Phong cũng sẽ tới trang để gặp vị kỳ nhân
trong thiên hạ này.
A Châu
tủm tỉm cười:
- Mộ
Dung lão gia khi còn tại thế trước sau không tiếp khách bên ngoài, nhưng đại ca
phải là một biệt lệ.
Tiêu
Phong ngẩng lên mỉm cười, ông biết câu “đại ca phải là một biệt lệ” có hàm ý
là: “Chàng là người yêu của thiếp, Mộ Dung tiên sinh phải coi chàng khác người
thường”. A Châu bắt gặp ánh mắt của Tiêu Phong, thẹn thùng cúi đầu, tuy bẽn lẽn
nhưng trong lòng ngầm sung sướng. Tiêu Phong lại uống thêm một chén nữa hỏi:
- Khi
Mộ Dung lão gia qua đời, tuổi cũng chưa già lắm, phải không?
A Châu
đáp:
-
Khoảng chừng trên dưới năm mươi, chưa thể gọi là già.
Tiêu
Phong nói:
- Ồ,
ông ta nội công thâm hậu, tuổi năm mươi chính là thời kỳ võ công tuyệt đỉnh,
không hiểu tại sao đột nhiên qua đời?
A Châu
lắc đầu nói:
- Lão
gia bị bệnh gì đó mà mất, chúng tôi không ai biết cả. Ông ta chết rất nhanh,
buổi sáng sinh bệnh, đến chiều đã thấy công tử khóc rống lên, đi ra thông báo
cho mọi người là lão gia đã từ trần.
Tiêu
Phong nói:
- Ồ,
không biết bị cấp chứng gì, thật tiếc, thật tiếc! Tiếc thay Tiết Thần Y không ở
gần bên, nếu không bằng giá nào cũng phải mời ông ta đến cứu mạng cho Mộ Dung
tiên sinh.
Ông ta
và Mộ Dung công tử tuy chưa từng biết nhau, chỉ nghe người khác nói về ngôn ngữ
cử chỉ của hai cha con, không khỏi thầm khâm phục, nay lại có thêm A Châu có
uyên nguyên nên càng cảm thấy thân thiết.
A Châu
lại tiếp:
- Hôm
đó Mộ Dung lão gia bàn về Dịch Cân Kinh với công tử. Ông ta nói: “Bộ Dịch Cân
Kinh của Đạt Ma lão tổ ta chưa từng thấy, thế nhưng cứ như đạo lý võ học mà
suy, phái Thiếu Lâm sở dĩ được nổi tiếng cũng chính từ pho Dịch Cân Kinh ấy mà
ra. Bảy mươi hai tuyệt kỹ không dám nói là không lợi hại, thế nhưng bảo nhờ vào
đó mà lãnh tụ quần luân, đứng đầu võ học thiên hạ thì quả là chưa xứng”. Lão
gia lại răn dạy công tử là đừng ỷ vào võ học tổ truyền mà coi thường đệ tử
Thiếu Lâm, trong chùa đã có quyển kinh ấy thì ắt có tăng nhân thiên tư dĩnh ngộ
hiểu thông được.
Tiêu
Phong gật đầu khen phải, nghĩ thầm: “Họ Cô Tô Mộ Dung danh mãn thiên hạ, vậy mà
không cuồng vọng tự đại, quả là khó thay”. A Châu nói:
- Lão
gia lại bảo rằng, bình sinh ông không võ học nào trong thiên hạ không ngó qua,
chỉ chưa được biết Lục Mạch Thần Kiếm Phổ của họ Đoàn Đại Lý và Dịch Cân Kinh
của phái Thiếu Lâm, quả là đáng tiếc lúc cuối cuộc đời. Đại ca, nếu như Mộ Dung
lão gia đã đặt hai môn võ công này ngang nhau, cứ thế mà suy, muốn đối phó với
Lục Mạch Thần Kiếm của họ Đoàn thì phải có Dịch Cân Kinh của chùa Thiếu Lâm
trong tay. Nếu như ta ăn trộm được Dịch Cân Kinh từ Bồ Đề Viện của chùa Thiếu
Lâm sau đó bỏ ra vài năm luyện tập thì dẫu có Lục Mạch Thần Kiếm hay Thất Mạch
Quỷ Đao gì ta cũng chẳng coi vào đâu.
Nàng
nói đến đây, trên mặt hiện ra một nụ cười kỳ bí. Tiêu Phong nhảy dựng lên, cười
nói:
- Tiểu
quỷ đầu, hóa ra nàng... nàng...
A Châu
cười nói:
- Đại
ca, thiếp ăn trộm được bộ kinh đó đem ra, vốn định trao cho công tử, để cho
công tử xem rồi sẽ đốt trước mồ lão gia để cho thỏa tâm nguyện người quá cố.
Hiện nay đương nhiên là đưa cho đại ca rồi.
Nói
xong từ trong bọc lấy ra một chiếc bao vải dầu, để vào tay Tiêu Phong. Tối hôm
đó chính Tiêu Phong thấy nàng hóa trang thành nhà sư Chỉ Thanh, ăn trộm cuốn
kinh từ trong tấm gương đồng của Bồ Đề Viện, đâu có ngờ đó chính là Thiếu Lâm
bí cập Dịch Cân Kinh. A Châu bị quần hào bắt được ở Tụ Hiền Trang, mọi người
nghĩ nàng là phận nữ nhi nên không tra xét trên người cô ta, thành thử các cao
tăng chùa Thiếu Lâm như Huyền Tịch, Huyền Nạn dù có nằm mơ cũng không biết được
là cuốn kinh bản tự bị mất đang ở trong tay nàng.
Tiêu
Phong lắc đầu nói:
- Nàng
chịu mạo hiểm, mười phần chết chín mới lấy được cuốn kinh này từ trong chùa
Thiếu Lâm ra, bản ý để cho Mộ Dung công tử, ta làm sao lại chiếm lấy làm của
mình được?
A Châu
đáp:
- Đại
ca nói thế là không phải rồi.
Tiêu
Phong lạ lùng:
- Sao
nàng lại bảo là ta không đúng?
A Châu
đáp:
- Bộ
kinh này là do tự ý thiếp đi ăn trộm về, nào có phải phụng mệnh công tử mà làm
đâu. Thiếp thích cho ai thì cho người đó. Huống chi sau khi đại ca coi rồi,
mình lại đưa cho công tử cũng chưa muộn kia mà. Mối thù cha mẹ, không đội trời
chung. Để trả được mối thù này dù phải dùng thủ đoạn ác độc, hèn hạ xấu xa cách
mấy cũng chẳng chừa, huống chi chỉ là mượn một bộ kinh coi, có gì đâu mà phải
dùng dằng?
Tiêu
Phong nghiêm nghị kinh hãi, quay sang nàng vái một vái thật sâu nói:
- Hiền
muội trách cứ thật đúng, việc đại sự đâu có nề gì tiểu tiết.
A Châu
dẩu môi cười:
- Đại
ca vốn dĩ là đệ tử Thiếu Lâm, dùng võ công phái Thiếu Lâm để rửa thù cho ân sư
Huyền Khổ chính là hợp tình hợp lý, có gì là không phải đâu nào?
Tiêu
Phong luôn mồm khen phải, trong lòng hết sức cảm kích, lại thêm vui sướng, liền
cầm chiếc bao giấy dầu mở ra xem, chỉ thấy một cuốn sách mỏng giấy đã vàng,
ngoài bìa viết những chữ loằng ngoằng kỳ lạ. Ông kêu thầm: “Không xong rồi!”.
Mở trang đầu ra xem, thấy trong đó viết đầy những chữ, nhưng những chữ đó xiên
xiên xẹo xẹo, chữ thì hình tròn, chữ thì hình móc, đến nửa chữ cũng không đọc
được.
A Châu
kêu lên “Ôi chao!” một tiếng nói:
- Thì
ra viết bằng chữ Phạn, thật không may. Thiếp vốn dĩ định thiêu bản văn này
trước mồ lão gia nên không định tâm xem trước, thành ra lấy được kinh văn, tới
nay chưa hề mở ra xem. Ôi, thảo nào mấy ông thầy chùa thấy võ công bí cấp bị
trộm mà cũng chẳng lấy gì làm tiếc, hóa ra chẳng ông nào đọc được kinh thư...
Nói
xong nàng thở dài một tiếng, cực kỳ thất vọng. Tiêu Phong an ủi:
- Việc
đời đắc thất, cũng chẳng nên quá để tâm.
Ông bỏ
quyển Dịch Cân Kinh trở vào trong bao, gói kỹ lại trả cho A Châu. A Châu nói:
- Đại
ca cứ giữ lấy thì yên tâm hơn, sẽ không ai đoạt được nữa.
Tiêu
Phong mỉm cười, bỏ chiếc bao vào trong túi. Ông lại rót một bát rượu toan uống,
đột nhiên ngoài cửa có tiếng người nói:
- Sai
bét, sai bét! Chúng ta nếu thực sự đánh không lại, thì thôi không đánh nữa, sao
lại phải làm chuyện xấu xa.
A Châu
vừa nghe xong, không khỏi mở cờ trong bụng, biết ngay là “Sai bét, sai bét” Bao
Bất Đồng Bao tam ca đến.
Chỉ
thấy Bao Bất Đồng mặc trường bào màu nâu, thần thái tiêu sái bước vào, đi sau
là hai người đều ăn mặc gọn gàng. Điếm tiểu nhị tiến ra đón nói:
- Ba vị
gia đài uống rượu gì? Mời ngồi, mời ngồi.
A Châu
ngắt lời nói:
- Sai
bét, sai bét! Ba vị gia đài muốn uống rượu, còn muốn dùng bữa nữa.
Nàng
bắt chước mười phần giống giọng Bao Bất Đồng. Bao Bất Đồng ngẩn ra, lúc này A
Châu đang hóa trang, nhất thời không thể nhận ra, nhưng có thể bắt chước giọng
nói của mình giống đến vậy, trên đời trừ A Châu ra thì không còn ai khác, lúc
này vui vẻ nói:
- A
Châu muội tử, mau tới đây bồi ta uống rượu.
A Châu
kéo Tiêu Phong cùng qua, ngồi sang bàn của Bao Bất Đồng, nhỏ nhẹ nói:
- Bao
tam ca, hai người ở Vô Tích đã gặp qua. Ta từ nay về sau trọn đời đi theo đại ca.
Những lời này không cho tam ca nói “Sai bét, sai bét”.
Bao Bất
Đồng nghiêng mắt đánh giá Tiêu Phong, lại ngại A Châu, liền nói:
- Cũng
không phải sai bét. Hảo muội phu, ngươi họ gì?
A Châu
lại đáp:
- Y họ
Tiêu.
Bao Bất
Đồng gật đầu nói:
- Bên
cạnh ta là hai vị…
A Châu
cướp lời nói:
- Diêu
trại chủ Tần gia trại, xin chào! Chư đại gia phái Thanh Thành, xin chào!
Hai
người thấy đại hán trước mặt nhận ra được mình, rất kinh ngạc. Nguyên hai người
này một là Vân Châu Tần gia trại Diêu Bá Đương Diêu trại chủ, một là Chư Bảo
Côn phái Thanh Thành. Hai người lúc này đứng lên chắp tay hoàn lễ:
- Chào
ngài!
Bao Bất
Đồng nói:
- Ở đây
nhiều người lẫn lộn, không phải chỗ nói chuyện, chúng ta đánh mấy hồ lô rượu,
ra ngoài thành tâm tình một phen.
Diêu Bá
Đương liền bảo điếm tiểu nhị lấy bốn hồ hô lớn đến, đánh hai mươi cân rượu
ngon, rồi lấy ra một thỏi bạc đặt lên bàn, tỏ ra vô cùng hào sảng. A Châu cười
nói:
- Rượu
thế vẫn chưa đủ!
Diêu Bá
Đương không nói lời nào, mua thêm bốn hồ lô rượu nữa, cùng Chư Bảo Côn chia nhau
vác trên lưng, đi theo sau ba người Bao Bất Đồng, Tiêu Phong, A Châu.
Năm
người ra tới ngoài thành, thấy một cây đại thụ lớn bốn phía đều không có người,
đi đến ngồi dưới gốc cây. A Châu nhận một cái hồ lô, mở nút ra, đưa cho Tiêu
Phong, Tiêu Phong ngửa đầu uống một hớp lớn, nói:
- Rượu
ngon!
Diêu Bá
Đương khen:
- Vị
Tiêu gia này lửu lượng rất khá.
Bao Bất
Đồng nói:
- Ta
vốn là đến phủ Hà Nam tiếp ứng cho công tử gia, ở thành Tín Dương gặp Diêu trại
chủ cùng Chư huynh đệ, hai vị không đánh không quen biết, kết thành bạn tốt, đó
cũng là tốt.
Rồi
quay đầu sang hai người Diêu Chư nói:
- Diêu
trại chủ, Chư huynh đệ, hai người qua gốc cây bên kia uống rượu đi, ta muốn
cùng Tiêu đại gia thương lượng chút chuyện quan trọng.
Diêu
Chư hai người đồng thanh nói:
- Vâng!
Rồi
đứng dậy, đem theo một cái hồ lô, đi ra rất xa, đến khi không còn nghe thấy Bao
Bất Đồng nói chuyện mới dừng lại, ngồi xuống. Bao Bất Đồng đợi hai người Diêu
Chư đi xa mới nói:
- Tiêu
đại gia, A Châu muội tử nói cả đời này đi theo ngươi, ta thấy ngươi không từ
chối. Một cô nương tốt như vậy, ta muốn còn không được, ta đoán ngươi nhất định
không thể từ chối được. Nói ngắn lại, chúng ta là người một nhà, cái gì cũng
không giấu ngươi. Tiêu huynh đệ, ngươi đã nghe danh của Tinh Tú lão quái Đinh
Xuân Thu chưa?
Tiêu
Phong gật gật đầu. Bao Bất Đồng nói tiếp:
- Đinh
Xuân Thu là tổ sư sáng lập phái Tinh Tú, sở trường là sử độc, lại có môn Hóa
Công Đại Pháp, có thể làm tiêu tan nội lực của người khác, khiến cho người
trong võ lâm căm giận vô cùng, vừa nghe tên là sợ mất vía. Lão quái này không
chuyện ác nào không làm, lại có dây mơ rễ má với nhà Mộ Dung Cô Tô ta. Nghe nói
hắn tuổi trẻ là một tên phản đồ của sư môn, lừa tình nhân của sư phụ, hai người
cao chạy xa bay, trốn tới Tô Châu ẩn cư. Hai đứa nam nữ vô sỉ này khi trốn
chẳng những dẫn theo con gái của sư phụ, còn trộm rất nhiều võ công bí kíp, võ
công của các gia, các phái trong thiên hạ đều được ghi ở đó. Bọn họ ở Tô Châu
xây một tòa để chứa sách, tên là Lang Hoàn Ngọc Động. Nữ nhi kia sau này lớn
lên, gả cho một thanh niên họ Vương, rồi cũng sinh ra một đứa con gái…
A Châu
không nhịn được nói tiếp lời:
- Chính
là Vương Ngữ Yên Vương cô nương!
Bao Bất
Đồng vỗ tay nói:
- A
Châu muội tử, muội cực kì thông minh, Bao ta không bằng ba phần của muội.
A Châu nói:
- Không
chừng con gái tam ca thông minh hơn ta, chờ nàng lớn lên tam ca sẽ biết.
Bao Bất
Đồng nói:
- Sai
bét, sai bét! Ta thà để nó ngốc nghếch một chút, chứ nếu nó lại thông minh hơn,
ta làm sao trông coi nó được? Ta nói không cho phép nó đi ra ngoài chơi, nó
bỗng nhiên ra vẻ Phong tứ đệ nói: “Bao tam ca, ta cũng đi đánh nhau”. Ta nói:
“Phong tứ đệ, đánh nhau thì phải cẩn thận!”, nó cười ha hả nói: “Cha, yên tâm
được rồi, không cần phải coi chừng đâu”, vậy phải làm sao bây giờ?
A Châu
cười nói:
- Vương
cô nương xem những võ công bí kíp của Đinh Xuân Thu ăn cắp, cái gì Ngũ Hổ Đoạn
Môn Đao, chữ Thanh chín cách đánh, chữ Thành mười tám cách phá, đều nói được
hết.
Bao Bất
Đồng nói:
- Không
sai, đúng là như vậy. Chàng thanh niên họ Vương kia có một tỉ tỉ gả cho Mộ Dung
Bác lão gia của chúng ta. Quan hệ thông gia này quả thật làm cho nhà Mộ Dung Cô
Tô xấu mặt. Bất quá là do người đời trước kết, chúng ta là hậu bối cũng không
còn cách nào khác. Mộ Dung lão gia vì nghiên cứu võ công, trước kia cũng thường
tới Lang Hoàn Ngọc Động mượn sách xem. Từ sau khi Mộ Dung lão gia qua đời,
Vương thái thái cùng thái thái nhà ta bất hòa, hai nhà cũng chẳng lui tới.
Nhưng bây giờ lại gặp một vấn đề không nhỏ, Tư Mã Lâm chưởng môn phái Thanh
Thành bị người ta bắt, Tần gia trại lại bị cướp hai vạn lượng bạc…
A Châu
nói:
- Tam
ca, phái Thanh Thành và Tần gia trại đều không quy phục nhà Mộ Dung Cô Tô ta
sao?
Bao Bất
Đồng nói:
- Nếu
bọn chúng không quy phục, ta để ý đến chúng làm cái rắm!
Y đang
gặp vấn đề khó giải, trong lòng không vui, không khỏi nói thô tục, nói tiếp:
- Sáng
mai, đồ tử đồ tôn Đinh Xuân Thu hẹn bọn họ đến chân núi Đồng Bách để tiếp nhận.
A Châu
hỏi:
- Đinh
Xuân Thu cũng đến sao?
Bao Bất
Đồng nói:
- Đinh
Xuân Thu không đến, bọn họ bắt Tư Mã Lâm đi, bắt phái Thanh Thành đem hai mươi
vạn lượng bạc đi chuộc người, lại muốn Tần gia trại quy phục phái Tinh Tú.
A Châu
nói:
- Những
người này thật sự lợi hại sao?
Bao Bất
Đồng lắc đầu nói:
- Sai
bét, sai bét! Thực sự lợi hại thì chưa chắc, nhưng bọn này sở trường là dùng độc,
thật khó để đấu lại. Công tử gia không biết ở đâu, Đặng đại ca, Công Dã nhị ca,
Phong tứ đệ cũng không liên lạc được, Bao Bất Đồng biến thành kẻ đơn độc, thật
là buồn bã!
A Châu
tiếp lời nói:
- Sai
bét, sai bét! Trong lúc nguy cấp vẫn còn tiểu A Châu ở bên.
Bao Bất
Đồng nói:
- A
Châu muội tử, đa tạ ngươi. Tam ca đem tính mạng này đi, cũng là báo đáp công tử
gia, ngươi không cần phải đi.
A Châu
nói:
- Đánh
nhau thắng bại là chuyện thường, đối phương đang mạnh, chúng ta tạm thời thoái
lui từng bước, có gì không thể?
Tiêu
Phong nhịn không được ngắt lời nói:
- Ngày
mai chúng ta cùng đi, bảo bọn chúng không được khinh người quá đáng.
Bao Bất
Đồng vội nói:
- Tiêu
huynh đệ, đối phương vô cùng ác độc, giống như là rắn rết, chúng ta nhường một
bước thôi.
Dứt lời
đứng dậy cáo từ, cùng Diêu Chư hai người ra đi. Tiêu Phong cùng A Châu trở lại
khách điếm, thu thập hành lí, buổi chiều liền giục ngựa chạy đến Đồng Bách.
Sáng sớm hôm sau, đi tới chân núi phía Đông Bắc Đồng Bách, thấy bốn bề vắng
lặng, liền ngồi chờ dưới một gốc cây. A Châu nói:
- Đại
ca, thù lớn của đại ca chưa trả, không nên để trúng chất độc của kẻ thù, chúng
ta cứ giữ mình thôi.
Tiêu
Phong nói:
- Ta
muốn cùng nàng đi ra biên ngoại, từ nay về sau không trở về Trung Nguyên, còn
nợ Mộ Dung công tử một chuyện, hôm nay nếu như có thể làm chuyện nho nhỏ để báo
đáp, hai ta từ nay về sau ở đại thảo nguyên săn thú nuôi dê, không phải lo nghĩ
gì, thế mới thật là an nhàn. Ôi, chỉ không biết người đã cứu ta ở Tụ Hiền Trang
là ai, y ban ơn mà không mong báo đáp, ta cả đời này chỉ sợ không báo đáp được.
Trong
lúc nói chuyện, Bao Bất Đồng và Diêu Bá Đương, Chư Bảo Côn cùng Tần gia trại,
phái Thanh Thành kéo đến, đến sau Tiêu Phong và A Châu chừng nửa canh giờ. Chợt
nghe thấy tiếng sáo vang chói tai, hơn mười xe ngựa từ xa chạy tới, đến gần thì
dừng lại, mười mấy người trong xe nhảy ra, người cao người thấp, đều mặc áo
ngắn bằng vải đay, lại dắt theo một người, hai tay bị trói, mặt ủ rũ, chính là
Tư Mã Lâm, chưởng môn phái Thanh Thành.
Người
phái Thanh Thành kêu to:
- Tư Mã
chưởng môn, cứu viện đã tới rồi!
Chư Bảo
Côn đi ra đầu tiên, theo sau là một gã đồng môn. Đối phương phái Tinh Tú cũng
có một người đi ra, dáng người khôi ngô, đầu tóc vàng hoe, hắn giậm chân nhảy
đến, tay trái nhẹ nhàng vung ra, vỗ vào má phải Chư Bảo Côn. Chư Bảo Côn lớn
tiếng hét to, lấy trong tay áo ra một cái búa, một cái dùi, oang một tiếng, cây
búa đập mạnh vào chiếc dùi, một mũi cương châm xé gió hướng gã tóc vàng bắn
tới, gã tóc vàng nghiêng mình né tránh, nhưng cương châm tới quá nhanh, phập
một tiếng cắm vào bả vai hắn. Gã tóc vàng vung chân đá ra, Chư Bảo Côn lộn một
vòng ngã nhào. Tiêu Phong nhìn Chư Bảo Côn thì thấy nửa khuôn mặt y đã thành
đen như mực, sưng vù lên, không ngừng kêu la. Một đệ tử phái Thanh Thành nhằm
gã tóc vàng phóng đến, gã tóc vàng đánh y một chùy, y ngã về phía trước, lăn
vài vòng dưới đất, kêu vài tiếng rồi bất động, hình như đã chết.
Chúng
đệ tử phái Tinh Tú lớn tiếng vỗ tay nói:
- Ngũ
sư ca uy chấn Trung Nguyên, đánh cho Mộ Dung Cô Tô không ngóc đầu lên được!
- Ngũ sư
ca thật oai phong, hảo sát khí!
Chỉ
thấy trong phái Tinh Tú lại đi ra một người, dáng người gầy yếu, mũi lân mồm
rộng, chỉ nghe hắn nói:
- Đốt
lửa thiêu người! Phái Thanh Thành không lấy bạc chuộc người, mau đưa chưởng môn
của bọn chúng nướng thành lợn quay!
Vài tên
môn hạ phái Tinh Tú cùng đáp:
- Dạ,
nhị sư ca!
Liền
chạy tới xe ngựa lấy ra củi than đắp thành một đống trên mặt đất, đốt lửa lên,
chỉ một lúc ngọn lửa đã bùng lên. Hai gã đệ tử nhấc Tư Mã Lâm lên, hướng đống
lửa đẩy tới. Bao Bất Đồng vung cương đao, xông lên cứu người. Gã mũi lân chưởng
trái đẩy ra, một luồng kình phong thổi bay ngọn lửa, bay tới Bao Bất Đồng. Bao
Bất Đồng nghiêng người né tránh, gã kia chưởng phải vỗ ra, ngọn lửa ở giữa vọt
ra, bay tới Bao Bất Đồng. Bao Bất Đồng bị cháy quần áo, ngay cả tóc cũng bị
cháy, A Châu xông lên phía trước giúp y dập lửa, gã mũi lân kia phóng tả
chưởng, đốt tóc A Châu. A Châu kêu to:
- Ối
chao!
Tiêu
Phong hữu chưởng đánh ra, kình lực bay tới, ngọn lửa bay ngược lại chỗ tên mũi
lân. Gã mũi lân song chưởng đánh ra, ngọn lửa nhất thời đứng yên giữa khoảng
không. Đệ tử phái Tinh Tú kêu lên:
- Nhị
sư ca, hảo công lực!
- Nhị
sư ca Ma Vân Tử uy chấn thiên hạ!
- Uy
chấn thiên hạ!
Ngọn
lửa ở giữa không trung đột nhiên tắt ngấm. Tiêu Phong phóng lại một chưởng,
trong đống lửa bay ra một ngọn lửa, hướng gã mũi lân bay tới. Hắn bước sang né
tránh, Tiêu Phong đánh ra một chưởng Phách Không Chưởng, trúng giữa ngực hắn,
hắn lảo đảo, phun ra một ngụm máu, uể oải dưới đất.
Gã Ngũ
sư huynh xông ra trước người hắn bảo vệ, song chưởng giơ lên, Tiêu Phong không
đợi hắn phát chưởng, đánh ra một chưởng mãnh lực. Cách cách vài tiếng, gã tóc
vàng đã gãy hai cánh tay, thân mình bay về phía sau, miệng thổ ra máu, ngồi
dưới đất, không đứng dậy được. Những đệ tử còn lại phái Tinh Tú có người trốn
ra sau xe ngựa, có người anh dũng nghênh địch. Tiêu Phong thi triển Phách Không
Chưởng, tay chưa chạm tới đối phương, chỉ nghe tiếng gió vù vù.
- Ối
chao, ba má ơi!
- Tinh
Tú lão tiên tạm không giá lâm, cho tên tiểu tử này trổ tài oai phong!
- Nhanh
lên, nhanh lên! Con bà nó, mau mau đi gọi người!
Trong
khoảnh khắc đã chạy hết, gã mũi lân bị trọng thương quá nặng, ngồi dưới đất,
không có cách nào đào tẩu. Một đệ tử béo ục ịch đột nhiên chạy ra nói:
- Nhị
sư ca, hôm nay chúng ta xuất quân bất lợi, kẻ tức thời mới là trang tuấn kiệt.
Gã mũi
lân nói:
- Đúng!
Hôm nay vận khí không tốt, liền nhường một bước, thả Tư Mã Lâm ra!
Gã béo
ục ịch cầm cương đao đi qua cắt đứt dây trói Tư Mã Lâm. Tư Mã Lâm giận không
kìm được, vung chưởng đánh hắn, gã béo quay chưởng lại đỡ, bùng một tiếng, song
chưởng giao nhau. Tư Mã Lâm chạy lại chỗ phái Thanh Thành, chỉ cảm thấy bàn tay
đau đớn vô cùng, giơ tay nhìn lên, thấy lòng bàn tay tối đen, đã bị trúng độc
chưởng.
Tiêu
Phong quát:
- Ngươi
còn muốn hại người?
Phát
chưởng đánh vào giữa đống lửa, một ngọn lửa bay về phía gã béo ục ịch. Gã tránh
được, khom người nói:
- Vị
đại ca này tôn tính đại danh là gì? Hôm nay phái Tinh Tú chúng ta tạm thời nhận
thua, ngày sau sư phụ ta Tinh Tú lão tiên sẽ đến lĩnh giáo các hạ.
Tiêu
Phong điềm nhiên nói:
- Cái
đó không cần, hôm nay còn chuyện gì nữa mà chưa kết thúc?
Gã béo
nói:
- Đúng
vậy, đúng vậy!
Gã vẫy
tay ra hiệu, vài tên đệ tử phái Tinh Tú đánh xe ngựa đựng ngân lượng, cung kính
đặt trước mặt Tiêu Phong. Gã ục ịch nói:
- Vị
đại gia này, đây là hai vạn lượng bạc chúng ta lấy từ Tần gia trại, nay vật về
chủ cũ. Non xanh còn đó, nước biếc chảy dài, đại gia võ công cao cường, bội
phục, bội phục, nhưng chỉ sợ còn chưa bằng sư phụ chúng ta. Hẹn ngày tái kiến!
Gã chắp
tay, nâng nhị sư ca dậy, một tên đệ tử khác nâng ngũ sư ca, kéo lên xe ngựa,
chậm rãi bỏ đi. Mọi người Tần gia trại và phái Thanh Thành đều lớn tiếng hoan
hô, hướng Tiêu Phong nói lời cảm tạ. Tiêu Phong không nói danh tính của mình,
thuận miệng lấy lệ, nghĩ rằng cuối cùng cũng giúp Mộ Dung công tử một lần, về
sau cùng A Châu lên bắc, không trở về nữa, lòng cũng yên tâm thoải mái.
A Châu
kéo Bao Bất Đồng, nói nhỏ:
- Vương
cô nương cùng A Bích muội tử đang ở đâu?
Bao Bất
Đồng nói:
- Các
nàng đã sớm về Tô Châu. Trượng phu của muội là Kiều Phong Cái Bang sao?
A Châu
gật đầu nói:
- Tam
ca, nhà Mộ Dung đối đãi ta cùng A Bích tốt lắm, từ nhỏ đem chúng ta nuôi lớn,
coi như chính con đẻ của mình, các ngươi đối đãi với ta cũng tốt, coi ta như là
huynh đệ của mình. Ta vốn phải báo đáp, nhưng cả đời này ta đã theo Tiêu đại
ca, y chết cũng thế, sống cũng thế, lòng ta quyết không có người thứ hai.
Bao Bất
Đồng mỉm cười nói:
- Kiều
bang chủ võ công cao cường, thật tốt quá! Ngươi về sau ngay cả công tử gia cũng
không nghĩ đến, ngay cả ta cũng không nghĩ đến.
A Châu
giơ tay lên cổ làm tư thế chặt đầu, nói chắc như đinh đóng cột:
- Không
nghĩ đến!
Bao Bất
Đồng giơ ngón tay cái lên tỏ vẻ “tốt lắm”. A Châu nói:
- Tam
ca, xin ngươi nói lại với A Bích một tiếng, bảo nàng nhất định phải bảo trọng,
và cũng đi tìm một nam nhân thực sự đối tốt với nàng.
Bao Bất
Đồng ha hả cười, vung tay lên, xoay người nghênh ngang mà đi. Diêu Bá Đương,
Chư Bảo Côn cũng xuất lĩnh bộ chúng đi theo.
Bình luận chương
Dưới chương này đang có gì?
Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.
Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.