Tiếu Ngạo Giang Hồ - Bản Tân Tu (Mới nhất)
Hồi 19: Đánh Cược
Lúc này hai người rất
mệt, phân ra ngồi dựa vào vách đá nhắm mắt dưỡng thần.
Không bao lâu, Lệnh Hồ
Xung đã ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ, chàng bỗng mơ thấy Doanh Doanh tay cầm ba
con ếch nướng đưa cho mình hỏi: “Ngươi quên ta rồi phải không?” Lệnh Hồ Xung
lớn tiếng nói: “Đâu có quên, đâu có quên! Cô nương… cô nương đi đâu vậy?” Hình
bóng của Doanh Doanh bỗng tan biến, chàng vội la lên: “Cô nương đừng đi! Ta có
rất nhiều điều muốn nói với cô nương”. Lại thấy đao thương kiếm kích tới tấp
đâm đến, chàng thét lên một tiếng rồi tỉnh lại. Hướng Vấn Thiên cười hì hì hỏi:
– Mơ thấy tình nhân à?
Muốn nói rất nhiều điều phải không?
Mặt Lệnh Hồ Xung đỏ
lên, không biết trong mơ đã nói gì mà lão nghe được. Hướng Vấn Thiên nói:
– Huynh đệ, nếu huynh
đệ muốn gặp lại người tình thì phải dưỡng thương cho khỏe, trị khỏi bệnh mới có
thể đi tìm cô ta.
Lệnh Hồ Xung ủ rũ nói:
– Tiểu đệ… tiểu đệ
chưa có người tình. Vả lại thương thế của tiểu đệ trị không khỏi đâu.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Ta thiếu nợ huynh đệ
một mạng, tuy là huynh đệ nhưng lòng ta vẫn còn áy náy. Ta phải trả một cái
mạng cho huynh đệ mới được. Ta dẫn huynh đệ đi đến một nơi, ở đó nhất định có
thể trị khỏi thương thế cho huynh đệ.
Tuy Lệnh Hồ Xung chẳng
màng gì đến chuyện sống chết, dù sao cũng đã là chuyện bất đắc dĩ rồi, đành
phải thản nhiên đối mặt, giờ lại nghe Hướng Vấn Thiên nói thương thế của mình
có thể trị khỏi, nếu lời này từ miệng người khác nói ra thì chưa chắc tin được
nhưng Hướng Vấn Thiên là người có năng lực, võ công cao cường, ngoài thái sư
thúc tổ Phong Thanh Dương ra, bình sinh chàng chưa thấy ai như lão, ngay cả khả
năng của sư phụ Nhạc Bất Quần cũng không bì kịp, lão chỉ nói bâng quơ một câu
mà có trọng lượng không thể tả, khiến lòng dâng lên một nỗi vui sướng. Chàng
lắp bắp nói:
– Tiểu đệ… tiểu đệ…
Lệnh Hồ Xung nói hai
tiếng “tiểu đệ” thì không nói được nữa. Lúc này mảnh trăng lưỡi liềm chiếu
xuống miệng vực, ánh sáng tỏa khắp nơi, dưới vực thẳm tuy âm u nhưng trong ánh
mắt của Lệnh Hồ Xung đầy ngập ánh dương quang.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Chúng ta đi gặp một
người. Người này tính tình rất cổ quái, sự việc đừng nói trước cho lão biết.
Huynh đệ, nếu huynh đệ tin ta thì nhất thiết phải để ta sắp đặt.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Có gì đâu mà không
tin? Ca ca muốn tìm cách trị thương cho tiểu đệ, coi như việc chữa ngựa chết
thành ngựa sống, vốn không còn hy vọng nữa. Nếu trị khỏi bệnh thì tạ ơn trời
đất, trị không khỏi thì cũng là chuyện thường tình mà thôi.
Hướng Vấn
Thiên khẽ mỉm cười, nói:
– Huynh đệ à,
huynh đệ với ta sinh tử như một, vốn dĩ vạn sự chẳng cần giấu huynh đệ. Nhưng
chuyện này trước đó không thể để lộ cơ mật, sau khi xong việc ta tự nhiên sẽ
nói rõ đầu đuôi cho huynh đệ nghe.
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Đại ca không
cần lo. Huynh nói gì, tiểu đệ cứ làm theo hết là được.
Hướng Vấn
Thiên nói:
– Huynh đệ, ta là
Hữu sứ giả của Nhật Nguyệt Thần Giáo. Trong mắt người chính giáo như đám
huynh đệ, hành sự của bọn ta khó tránh khỏi có phần cổ quái tà khí. Đại ca muốn
huynh đệ làm một việc; nếu thành công thì rất có ích cho việc chữa thương của
huynh đệ. Nhưng ta nói trước, chuyện này đại ca cũng là đang lợi dụng huynh đệ,
sẽ khiến huynh đệ phải chịu chút khổ sở.
Lệnh Hồ Xung vỗ ngực
nói:
– Đại ca với tiểu
đệ đã kết nghĩa kim lan, thì cái mạng này của tiểu đệ cũng là của đại ca. Chịu
chút khổ thì có đáng gì? Làm người lấy nghĩa khí làm trọng, lẽ nào còn cò kè
mặc cả, nói tốt nói xấu nữa?
Hướng Vấn
Thiên vô cùng vui mừng, nói:
– Vậy giữa chúng
ta cũng chẳng cần nói những lời đa tạ kiểu ấy nữa.
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Đương nhiên!
Từ ngày theo Hoa
Sơn phái học nghệ, toàn bộ tâm ý của hắn đều đặt hết lên người tiểu sư
muội. Tuy cũng thân thiết với Lục Đại Hữu, nhưng hắn chỉ coi gã như sư đệ
để chiếu cố mà thôi. Mãi đến giờ phút này, hắn mới thật sự lĩnh hội được cái khảng
khái trọng nghĩa trong chốn giang hồ, hiểu được cái chân vị của thứ gọi là
"quá mệnh giao tình” loại tình nghĩa có thể đem cả tính mạng giao cho bằng
hữu.
Thật ra, đối với thân
thế, quá khứ và con người của Hướng Vấn Thiên, chàng biết cực kỳ ít ỏi,
còn kém xa sự hiểu biết đối với các sư đệ như Thi Đới Tử hay Cao
Căn Minh. Nhưng cái gọi là “vừa gặp đã tâm phục”, giữa lúc “đồng bệnh tương
liên” lại cùng quý trọng lẫn nhau, hai người tự nhiên trở thành sinh tử chi
giao.
Hướng Vấn Thiên thè
lưỡi liếm môi nói:
– Không biết cái đùi
ngựa biến đâu rồi? Mẹ kiếp, giết không biết bao nhiêu thằng nhãi mà ở dưới đáy
vực này lại chẳng thấy cái xác nào cả.
Lệnh Hồ Xung nghe lão
nói, biết lão muốn tìm xác chết để ăn. Lòng chàng cảm thấy kinh sợ, không dám
nói nhiều, liền nhắm mắt ngủ.
Sáng sớm hôm sau,
Hướng Vấn Thiên nói:
– Huynh đệ, ở đây
ngoài cỏ xanh và rong rêu ra thì không có cái gì khác. Chúng ta sống lây lất ở
đây e phải đi tìm xác chết mà ăn, nhưng ngày hôm qua mấy tên rớt xuống đáy vực
này vừa già vừa gầy, ta nghĩ huynh đệ ăn vào cũng chẳng thấy ngon lành gì.
Lệnh Hồ Xung vội nói:
– Dứt khoát chẳng có
chút mùi vị gì.
Hướng Vấn Thiên cười
nói:
– Chúng ta phải tìm
đường ra khỏi đây. Ta cải trang cho huynh đệ trước đã.
Lão đến vũng bùn bốc
một nắm bôi lên mặt Lệnh Hồ Xung. Sau đó lại xoa xoa cằm mình, thần lực của lão
đi qua đâu, râu liền rụng tới đó. Xong lão đưa hai tay lên vò đầu, mái tóc hoa
râm của lão đã rụng trọc lóc. Lệnh Hồ Xung thấy trong khoảnh khắc tướng mạo lão
đã hoàn toàn thay đổi, hắn vừa tức cười vừa khâm phục. Hướng Vấn Thiên lại bốc
một ít bùn đắp cho mũi to lên, hai má cũng dày lên, bây giờ có đứng đối mặt
nhìn kỹ cũng không thể nhận ra lão nữa.
Hướng Vấn Thiên đi
trước tìm đường. Lão để hai tay lọt vào trong tay áo để che kín sợi dây xích
trên cổ tay lại, chỉ cần lão không động thủ thì không ai nhận ra được cái lão
mập đầu láng bóng là Hướng Vấn Thiên tiêu sái quắc thước.
Hai người đi len lỏi
trong sơn cốc mà đi, đến giờ Ngọ, thấy ở thung lũng có một cây đào dại, trái
còn xanh, bỏ vào miệng nhai vừa chua vừa chát. Hai người cũng bất chấp điều
này, liền hái ăn đến kỳ no. Nghỉ ngơi hơn một canh giờ, họ lại đi tiếp. Đến lúc
hoàng hôn, Hướng Vấn Thiên đã tìm được lối ra khỏi sơn cốc, nhưng phải vượt qua
một vách núi dài mấy trăm thước. Lão cõng Lệnh Hồ Xung trên lưng trèo lên vách.
Lúc leo lên trên vách
núi, họ nhìn thấy một con đường nhỏ ngoằn ngoèo, hai bên đường cỏ mọc rậm rạp.
Cảnh vật hoang dã, ngay cả vết chân chim thú cũng không hề thấy. Hai người đều
thở dài.
Sáng sớm hôm sau, hai
người đi về hướng Đông đến một thị trấn lớn. Hướng Vấn Thiên lấy trong túi một
miếng vàng lá bảo Lệnh Hồ Xung đi đến tiệm đổi thành bạc, sau đó tìm đến một
khách điếm thuê phòng. Hướng Vấn Thiên gọi một bàn rượu thịt, bảo tiểu nhị đem
đến một vò rượu lớn, cùng Lệnh Hồ Xung uống hết hơn nửa vò, cơm cũng chả buồn
ăn. Một người nằm phục trên bàn ngủ, còn một người thì nằm lăn ra giường. Đến
hôm sau, khi mặt trời rọi vào khe cửa cả hai mới lần lượt tỉnh dậy. Hai người
nhìn nhau cười, hồi tưởng lại cuộc ác đấu mấy ngày trước ở quán lương đình và
trên chiếc cầu đá, tưởng chừng như đã qua một kiếp người.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Huynh đệ, huynh đệ ở
đây nghỉ đi, ta đi ra ngoài một lúc.
Lão đi ra ngoài hơn
một canh giờ . Lệnh Hồ Xung đang lo lắng, sợ lão gặp phải địch nhân, rồi lại
thấy hai tay lão cầm bao lớn bao nhỏ, kẹp thêm bên người rất nhiều đồ đạc mà
quay về. Sợi dây xích trên tay lão đã biến mất, chắc lão đã bảo thợ rèn chặt bỏ
rồi. Hướng Vấn Thiên mở bao ra, bao nào cũng đựng đầy quần áo sang trọng. Lão
nói:
– Hai huynh đệ ta đều
cải trang thành đại phú thương, càng ra vẻ phóng khoáng càng tốt.
Lão và Lệnh Hồ Xung
liền thay đổi cả quần trong áo ngoài. Lúc ra khỏi điếm, đã thấy tiểu nhị dẫn
hai con ngựa cao to, yên mới cáu cạnh. Ngựa này cũng do Hướng Vấn Thiên mua về.
Hai người cưỡi ngựa
thong thả đi về hướng Đông. Đi được hai ngày, Lệnh Hồ Xung cảm thấy mệt, Hướng
Vấn Thiên liền thuê một cỗ xe lớn để hắn ngồi. Đến bờ sông Vận Hà, hai người
xuống ngựa lên thuyền đi về hướng Nam. Trên đường đi, Hướng Vấn Thiên tiêu tiền
như nước, tưởng chừng như vàng lá bên người lão xài hoài không hết. Qua Trường
Giang, hai bên bờ sông chợ búa phồn thịnh. Hướng Vấn Thiên lại mua thêm quần
áo, càng lúc càng sang trọng hơn.
Đi thuyền lâu ngày, Hướng
Vấn Thiên nhàn rỗi kể lại nhiều chuyện thú vị trên giang hồ. Lão kể nhiều
chuyện mà Lệnh Hồ Xung chưa hề biết khiến chàng nghe một cách thích thú. Nhưng
những chuyện liên quan đến Ma giáo trên Hắc Mộc Nhai, Hướng Vấn Thiên tuyệt
không đề cập tới, Lệnh Hồ Xung cũng không hỏi.
Hôm ấy, thuyền đến
Hàng Châu. Ở trong thuyền, Hướng Vấn Thiên lại cải trang cho Lệnh Hồ Xung và
mình. Lão cắt một ít tóc của Lệnh Hồ Xung, tỉa ngắn đi tạo thành một bộ ria mép
nhỏ, rồi dùng kéo dán lên môi hắn. Sau khi sửa soạn ổn thỏa rồi mới rời thuyền
lên bờ. Lão mua hai con tuấn mã rồi cưỡi ngựa vào thành Hàng Châu.
Thời cổ, Hàng Châu gọi
là phủ Lâm An, thời Nam Tống dựng thành kinh đô, xưa nay là nơi rất nổi tiếng.
Vào trong thành, trên đường người đi đông nghẹt, ca nhạc xập xình khắp nơi.
Lệnh Hồ Xung đi theo Hướng Vấn Thiên đến bờ Tây Hồ, thấy mặt hồ xanh biếc như
gương, liễu rủ phất phơ, cảnh vật thơ mộng như cảnh thần tiên. Lệnh Hồ Xung
nói:
– Người ta thường nói:
thượng giới có thiên đàng, hạ giới có Tô Hàng. Tô Châu chưa đi qua không biết
ra sao chứ hôm nay tận mắt thấy Tây Hồ, gọi đây là thiên đàng quả thực không
sai.
Hướng Vấn Thiên cười.
Cả hai cưỡi ngựa đi đến một ngọn núi nhỏ bên bờ hồ, cách bờ một con đê dài,
phong cảnh rất yên tĩnh. Hai người xuống ngựa, cột ngựa vào gốc cây liễu bên bờ
hồ rồi đi theo bậc tam cấp lên núi. Hướng Vấn Thiên dường như đã từng du ngoạn
nơi đây, lão rất thông thuộc đường lối. Quẹo qua mấy khúc quanh, khắp nơi đều
trồng mai. Những cây mai già vươn dài cành lá rậm rạp, giống như ngày đầu xuân
hoa mai nở rộ, hương thơm ngào ngạt, sắc hoa trắng trông như một biển tuyết.
Phong cảnh đẹp khiến người ta ngây ngất biết chừng nào.
Hai người đi xuyên qua
rừng mai lên một con đường lớn lát đá xanh, đi đến ngoài một đại trang viện có
tường trắng, cổng sơn đỏ. Gần đến nơi, thấy ngoài cổng lớn đề hai chữ to “Mai
trang”, bên cạnh đề bốn chữ “Ngu Doãn Văn đề”. Lệnh Hồ Xung đọc sách không
nhiều lắm nên không biết Ngu Doãn Văn là đại công thần đã đánh tan giặc Kim đời
Nam Tống, nhưng cũng cảm thấy trong mấy chữ nho nhã này tràn đầy anh khí.
Hướng Vấn Thiên đi đến
trước cổng, nắm chiếc vòng bằng đồng lớn ở trên cửa, quay đầu lại nói khẽ:
– Nhất thiết phải nghe
lời ta sắp đặt. Huynh đệ, chuyện này khó tránh khỏi có nguy hiểm đến tính
mạng. Dù mọi việc thuận lợi, huynh đệ cũng sẽ phải chịu ấm ức khổ sở vài ngày.”
Lệnh Hồ Xung gật đầu
nói:
– Tiểu đệ không ngại
đâu.
Rồi thầm nghĩ: “Cái tòa
Mai trang này hiển nhiên là chỗ ở của nhà đại phú thành Hàng Châu. Chẳng lẽ đây
là chỗ ở của một vị danh y đương thời sao? Đại ca nói có nguy hiểm đến
tính mạng, chẳng lẽ phương pháp chữa bệnh này sẽ khiến ta vô cùng đau đớn, lại
cực kỳ hung hiểm?
Hướng Vấn Thiên gõ bốn
tiếng vào cái vòng đồng; ngừng một lúc lại gõ hai cái nữa, ngừng một lúc lại gõ
thêm năm cái. Rồi lão lại ngừng một lúc, gõ thêm ba cái nữa. Sau đó, lão buông
vòng đồng ra, đứng lùi về một bên.
Một lúc sau, cánh cổng
lớn từ từ mở ra, có hai lão gia nhân ăn mặc chỉnh tề sánh vai đi ra. Lệnh Hồ
Xung hơi giật mình. Ánh mắt hai lão này sáng quắc, bước đi trọng ổn, hiển nhiên
là người có võ công không thấp, sao lại chịu ở đây làm phận tôi tớ tạp dịch?
Người bên trái cúi người nói:
– Hai vị giá lâm tệ
trang có điều chi dạy bảo?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Môn hạ phái Tung Sơn
và đệ tử môn hạ phái Hoa Sơn có chuyện muốn cầu kiến Giang Nam tứ hữu bốn vị
tiền bối.
Người đó nói:
– Gia chủ tại hạ xưa
nay không tiếp khách.
Lão nói xong liền muốn
đóng cửa.
Hướng Vấn Thiên thò
tay vào bọc, lấy ra một vật. Lệnh Hồ Xung kinh hãi vì trong tay lão là một cây
cờ ngũ sắc, có đính nhiều hạt minh châu. Hắn biết đây là Ngũ Nhạc minh kỳ của
Tả minh chủ phái Tung Sơn. Minh kỳ đi đến đâu cũng như Tả minh chủ thân hành
đến đó. Người trong Ngũ Nhạc kiếm phái từ bậc tôn sư đến bọn đệ tử, không ai
không tuân lệnh của người cầm cờ.
Lệnh Hồ Xung cảm thấy
không ổn, đoán rằng lá cờ trong tay Hướng Vấn Thiên lai lịch bất chính, không
chừng lão đã giết người trọng yếu của phái Tung Sơn mà đoạt được. Lại nghĩ rằng
người trong chính phái đuổi giết lão, có lẽ là do lá cờ này, lão còn xưng là đệ
tử Tung Sơn, không hiểu mưu đồ chuyện chi đây.
Chàng đã hứa mọi
chuyện nghe theo cách bố trí của lão nên lẳng lặng không nói gì.
Hai lão gia nhân nhìn
thấy Ngũ Nhạc minh kỳ, sắc mặt thay đổi, hỏi:
– Phải chăng đây là
minh kỳ của Tả minh chủ phái Tung Sơn?
Hướng Vấn Thiên đáp:
– Đúng vậy!
Gã gia nhân đứng bên
phải nói:
– Giang Nam tứ hữu và
Ngũ Nhạc kiếm phái trước nay không hề qua lại. Dù có Tả minh chủ đến đây thì…
thì… chưa chắc… hà hà.
Rồi lão không nói tiếp
nữa nhưng ý nghĩa câu nói đã rất rõ ràng: “Dù Tả minh chủ có thân hành đến thì
chủ nhân của tại hạ cũng chưa chắc chịu tiếp kiến”.
Tả minh chủ phái Tung
Sơn là một nhân vật đức cao vọng trọng, người này không muốn mở miệng nói lời
coi thường nhưng rõ ràng lão cho rằng địa vị của Giang Nam tứ hữu còn cao hơn
Tả minh chủ nhiều.
Lệnh Hồ Xung thầm
nghĩ: “Giang Nam tứ hữu này là loại nhân vật lớn cỡ nào? Nếu bọn họ thực là
những nhân vật lớn trong võ lâm thì sao ta chưa từng nghe sư phụ và sư nương đề
cập đến tên của bốn người bọn họ? Ta hành tẩu trên giang hồ từng nghe nhiều
người nói đến những bậc tiền bối cao nhân trong võ lâm đương thời, nhưng chưa
từng nghe ai đề cập đến bốn chữ “Giang Nam tứ hữu””.
Hướng Vấn Thiên mỉm
cười, xếp cờ lệnh bỏ vào túi nói:
– Tả sư điệt của ta
không phải đem cờ lệnh này đến để dọa người. Bốn vị tiền bối ở Giang Nam là
những nhân vật thế nào, tất không coi lá cờ lệnh này vào đâu.
Lệnh Hồ Xung thầm
nghĩ: “Lão nói “Tả sư điệt” ư? Lão lại mạo xưng là sư thúc của Tả minh chủ,
càng lúc lão càng chẳng ra làm sao cả”.
Lại nghe Hướng Vấn
Thiên nói tiếp:
– Có điều tại hạ không
có duyên được bái kiến bốn vị tiền bối Giang Nam nên đưa cờ lệnh này ra, chẳng
qua chỉ để làm tín vật mà thôi.
Hai gia nhân ồ một
tiếng, nghe trong lời nói của lão có vẻ đề cao thân phận Giang Nam tứ hữu thì
nét mặt họ hòa dịu lại một chút.
Một người nói:
– Các hạ là sư thúc
của Tả minh chủ ư?
Hướng Vấn Thiên cười
nói:
– Đúng vậy. Tại hạ là
hạng vô danh tiểu tốt trong võ lâm nên hai vị dĩ nhiên không quen. Nghĩ lại năm
xưa, Đinh huynh ở dưới núi Tà Liên đơn chưởng đánh tứ bá, một kiếm phục song
hùng; Thi huynh ở Hồ Bắc tung hoành giang hồ cứu kẻ cô thế, một thanh tử kim
bát quái đao giết được mười ba tên đầu sỏ của Thanh Long bang, máu nhuộm một
vùng Hán Thủy. Hình ảnh oai hùng như vậy khiến tại hạ vẫn ghi nhớ trong lòng.
Hai người ăn mặc như
gia nhân, một người tên là Đinh Kiên, người kia là Thi Lệnh Oai. Trước khi quy
ẩn ở Mai trang, họ là những nhân vật nửa chính nửa tà, trên giang hồ hành sự
rất độc ác. Tính khí của hai người rất giống nhau, sau khi làm chuyện gì tuyệt
không lưu danh cho nên tuy võ công họ cao cường nhưng tên tuổi thì ít ai biết
đến. Hướng Vấn Thiên nói đến hai chuyện này chính là những kiệt tác đắc ý trong
cuộc đời hai lão. Một là đối thủ rất cao cường mà hai lão lại lấy ít địch nhiều
nhưng thủ thắng một cách oanh liệt; hai là hai chuyện này đối phương đều sai
quấy còn hai lão đã hành hiệp trượng nghĩa, những hành động bình sinh hai lão
rất ít khi làm.
Phàm làm việc gì tốt,
tuy không cố ý tuyên dương để ai cũng biết, nhưng nếu có người vô tình biết đến
thì hai lão rất khoái chí trong lòng. Đinh Kiên và Thi Lệnh Oai nghe Hướng Vấn
Thiên nói một lèo như vậy, bất giác mặt hai lão lộ vẻ hớn hở. Đinh Kiên mỉm
cười nói:
– Chuyện nhỏ nhặt này
đâu có chi đáng kể. Kiến văn của các hạ rất rộng.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Trong võ lâm, kẻ mua
danh chuộc tiếng rất nhiều còn kẻ sĩ thanh cao có chân tài thực học, làm nên
đại sự mà không muốn tuyên dương thật khó có được. Nhất tự điện kiếm Đinh đại
ca và Ngũ lộ thần Thi cửu ca là những tên tuổi mà tại hạ ngưỡng mộ đã lâu. Tả
sư điệt từng nói, có chuyện gì nên đến thỉnh giáo Giang Nam tứ hữu ở Hàng Châu.
Tại hạ quy ẩn đã lâu, lòng nghĩ chưa chắc được gặp Giang Nam tứ hữu nhưng nếu
có thể gặp được hai vị Nhất tự điện kiếm và Ngũ lộ thần thì coi như không uổng
chuyến đi cho nên mới đồng ý đến Hàng Châu một chuyến. Tả sư điệt nói: nếu Tả
sư điệt đích thân đến chỉ sợ bốn vị tiền bối không chịu tiếp kiến vì mấy năm
gần đây trên giang hồ hắn làm nhiều chuyện thái quá, e rằng các tiền bối coi
thường hắn. Còn tại hạ lâu nay ít đi ra ngoài, nói không chừng được các vị
chiếu cố. Ha ha, ha ha!
Hai lão Đinh, Thi nghe
Hướng Vấn Thiên đã tâng bốc Giang Nam tứ hữu lại còn đề cao hai người mình nên
rất cao hứng, cùng cười bồi theo mấy tiếng. Họ thấy cái tướng mập, cái đầu láng
bóng của Hướng Vấn Thiên tuy ăn mặc đẹp đẽ quý phái, mặt mày khả ố, nhưng lời
nói cử chỉ rất có khí độ , xác thực lão không phải là nhân vật tầm thường. Lão
đã là sư thúc của Tả Lãnh Thiền võ công tất nhiên rất cao, trong lòng hai lão
cũng đã có mấy phần kính nể.
Thi Lệnh Oai đã quyết
định đi vào bẩm báo, lão quay sang Lệnh Hồ Xung hỏi:
– Vị này là môn hạ của
phái Hoa Sơn ư?
Hướng Vấn Thiên cướp
lời nói:
– Vị này là Phong
huynh đệ, sư thúc của Nhạc Bất Quần, đương kim chưởng môn phái Hoa Sơn.
Lệnh Hồ Xung nghe lão
nói liều như vậy, hắn đã sớm đoán được lão muốn đặt cho mình một cái tên và một
thân phận nhưng hắn không ngờ rằng lão lại nói mình là sư thúc của sư phụ. Tuy
Lệnh Hồ Xung không màng đến mọi chuyện nữa nhưng nếu hắn mạo nhận là trưởng bối
của ân sư thì trong lòng rất bất an. Hắn không khỏi giật mình, may mà trên mặt
hắn đã trét một lớp phấn dày nên vẻ khích động không bị lộ ra ngoài chút nào.
Đinh Kiên và Thi Lệnh
Oai liếc nhìn nhau, lòng đều có chút hoài nghi:
– Vị này tuy không biết
bao nhiêu tuổi nhưng có lẽ không quá bốn mươi, sao có thể là sư thúc của Nhạc
Bất Quần được?
Hướng Vấn Thiên tuy đã
trang điểm diện mạo cho Lệnh Hồ Xung già đi rất nhiều nhưng lại khó hóa trang
cho hắn thành một lão già, nếu hóa trang thêm nữa thì không khỏi bị lộ tẩy. Lão
liền tiếp lời nói:
– Vị Phong huynh đệ
này so với Nhạc Bất Quần thì vẫn còn ít tuổi, nhưng lại là tiểu huynh đệ trong
dòng họ của Phong sư huynh Phong Thanh Dương, cũng là truyền nhân duy nhất về
Độc Cô kiếm pháp của Phong sư huynh, kiếm thuật tinh thâm, trong phái Hoa Sơn
ít ai bì kịp.
Lệnh Hồ Xung giật mình
kinh hãi: “Tại sao Hướng đại ca biết mình là truyền nhân của Phong thái sư thúc
tổ?”
Nhưng chàng liền hiểu
ra: “Kiếm pháp của Phong thái sư thúc tổ lợi hại như vậy, năm xưa nhất định uy
chấn giang hồ. Hướng đại ca kiến thức bất phàm, sau khi thấy kiếm pháp của mình
thì tự suy luận ra được. Phương Sinh đại sư đã nhìn ra được thì tất nhiên Hướng
đại ca cũng nhìn ra được”.
Đinh Kiên ồ lên một
tiếng. Lão là danh gia sử kiếm, nghe nói kiếm pháp của Lệnh Hồ Xung tinh thông,
lão cảm thấy ngứa nghề, nhưng thấy người này da mặt vàng vọt, sưng húp, tướng
mạo bần tiện, thật chẳng giống là một người tinh thông kiếm pháp chút nào. Lão
bèn hỏi:
– Không biết phải xưng
hô đại danh hai vị thế nào?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tại hạ họ Đồng tên
gọi là Đồng Hóa Kim, vị này là Phong huynh đệ, đại danh gồm chữ “Nhị” và chữ
“Trung”.
Hai lão Đinh, Thi đều
cung tay nói:
– Ngưỡng mộ đã lâu,
ngưỡng mộ đã lâu!
Hướng Vấn Thiên cười
thầm. Lão tự xưng là Đồng Hóa Kim có ý nói đồng mà hóa thành vàng tức là đồ
giả. Còn hai chữ “Nhị Trung” tức là chữ Xung tách rời ra. Trong võ lâm làm gì
có hai người này, vậy mà hai lão này lại nói “ngưỡng mộ đã lâu, ngưỡng mộ đã
lâu”, không biết ngưỡng mộ cái gì, càng không phải đã biết từ lâu.
Đinh Kiên nói:
– Mời hai vị vào sảnh
dùng trà, đợi tại hạ đi bẩm báo với tệ chủ nhân. Còn các vị lão gia có chịu
tiếp kiến hay không cũng khó mà nói được.
Hướng Vấn Thiên cười
nói:
– Hai vị và Giang Nam
tứ hữu tuy là chủ tớ mà tình chẳng khác gì huynh đệ, nên chắc bốn vị tiền bối
sẽ nể mặt hai vị.
Đinh Kiên mỉm cười nép
qua một bên. Hướng Vấn Thiên liền bước vào trong, Lệnh Hồ Xung đi theo sau.
Đi qua một cái sân
lớn, hai bên tả hữu có trồng hai cây mai già, cành cứng như sắt, đúng là lão
mai. Đến đại sảnh, Thi Lệnh Oai mời hai người ngồi còn lão đứng một bên bồi
tiếp, Đinh Kiên vào trong bẩm báo.
Hướng Vấn Thiên thấy
Thi Lệnh Oai đứng mà mình lại ngồi thì không khỏi bất bình cho lão, nhưng ở
trong Mai trang thân phận lão là nô bộc nên không thể mời lão cùng ngồi, bèn
nói:
– Phong huynh đệ,
Phong huynh đệ xem bức họa này tuy chỉ có vài nét sơ sài mà khí thế thể hiện
thật bất phàm.
Hướng Vấn Thiên vừa
nói vừa đứng dậy đi đến trước bức họa treo ở đại trung đường trong sảnh.
Lệnh Hồ Xung và lão
đồng hành nhiều ngày rồi nên biết lão tuy thông minh cơ trí vô cùng nhưng đối
với văn mặc thư họa lại không am hiểu. Lúc này bỗng nghe lão tấm tắc khen bức
họa, biết ngay lão đang có thâm ý khác. Chàng liền dạ một tiếng rồi đi đến
trước bức họa. Bức họa vẽ một tiên nhân quay lưng ra, nét mực tràn trề, bút lực
hùng tráng, tuy Lệnh Hồ Xung không hiểu về thư họa nhưng cũng biết xác thực đây
là bức họa tâm đắc của ai đó. Lại thấy phía trên bức họa có đề tám chữ “Đan
Thanh Sinh đại túy hậu pháp mặc”, bút pháp nghiêm mật, từng nét cứng cỏi như
nét khắc họa của trường kiếm. Lệnh Hồ Xung xem một lúc nói:
– Đồng huynh, tiểu đệ
thấy chữ “Túy” trên bức họa này thì vô cùng thích thú. Trong mấy chữ đề trên
bức họa dường như ẩn chứa một bộ kiếm thuật cực kỳ cao minh.
Lệnh Hồ Xung thấy bút
pháp của tám chữ này và thủ thế y chiết của tiên nhân trong bức họa, bỗng nghĩ
đến kiếm pháp khắc trên vách đá trong hậu động trên ngọn Tư Quá Nhai.
Hướng Vấn Thiên chưa
trả lời thì Thi Lệnh Oai đứng sau hai người nói:
– Phong gia quả nhiên
là một kiếm thuật danh gia. Tứ trang chủ tệ gia là Đan Thanh Sinh lão gia nói
rằng ngày hôm đó, sau khi lão gia say túy lúy đã vẽ bức họa này. Trong lúc vô
tình đã đem kiếm pháp đưa vào thư pháp, đây là kiệt tác đắc ý nhất trong đời
lão gia. Sau khi tỉnh rượu, lão gia có muốn vẽ thêm một bức nữa cũng không
được. Phong gia lại có thể coi bức họa mà nhìn ra kiếm ý, tứ trang chủ nhất
định sẽ coi Phong gia là tri kỷ. Tại hạ đi báo cho lão gia biết.
Lão nói xong liền hớn
hở chạy đi.
Hướng Vấn Thiên đằng
hắng một tiếng rồi nói:
– Phong huynh đệ, thì
ra huynh đệ hiểu được cả thư họa.
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Tiểu đệ có hiểu gì
đâu, chỉ nói bừa vài câu không ngờ lại trúng. Nếu vị Đan Thanh Sinh này đàm
luận thư họa với tiểu đệ thì tiểu đệ chắc bị lộ tẩy.
Bỗng nghe ngoài cửa có
người lớn tiếng nói:
– Hắn xem bức họa của
ta mà nhìn ra kiếm pháp ư? Nhãn quan của người này thật hiếm có.
Người này vừa lớn
tiếng nói vừa đi vào, râu lão dài đến bụng, tay trái cầm một bát rượu, vẻ mặt
say sưa ngây ngất.
Thi Lệnh Oai đi theo
sau lão nói:
– Hai vị này là Đồng
gia phái Tung Sơn và Phong gia phái Hoa Sơn. Vị này là tứ trang chủ Đan Thanh
Sinh của Mai trang. Tứ trang chủ, vị Phong gia này vừa thấy nét mực, bút pháp
của trang chủ thì nói trong bức họa có ẩn chứa một bộ kiếm thuật cao minh.
Tứ trang chủ Đan Thanh
Sinh nghiêng mắt say khướt nhìn Lệnh Hồ Xung một lúc rồi hỏi:
– Các hạ hiểu được thư
họa ư? Biết sử kiếm ư?
Hai câu này lão hỏi
rất vô lễ.
Lệnh Hồ Xung thấy
trong tay lão cầm một cái chén màu xanh biếc, đúng là chén Phỉ thúy, lại ngửi
được mùi rượu Lê hoa ở trong chén. Chàng bỗng nhớ tới lời nói của Tổ Thiên Thu
trên sông Hoàng Hà, bèn nói:
– Bạch Lạc Thiên ở
Hàng Châu lúc cao hứng có thơ rằng: “Hồng tụ chức lăng khoa thị diệp. Thanh kỳ
khiết tửu sấn lê hoa”. Uống rượu Lê hoa nên dùng chén Phỉ thúy. Tứ trang chủ
quả đúng là một tay uống rượu sành sỏi.
Lệnh Hồ Xung ít đọc
sách, cái gì thi từ ca phú hắn chẳng hiểu, nhưng tính vốn thông minh, chỉ cần
người khác nói qua thì hắn nhớ nằm lòng ngay. Lúc này hắn nhớ lời Tổ Thiên Thu
nên nói y chang ra thôi.
Đan Thanh Sinh vừa
nghe, lão trố hai mắt lên, bỗng ôm lấy Lệnh Hồ Xung rồi lớn tiếng reo:
– A ha, hảo bằng hữu
đến rồi! Nào nào, chúng ta cùng uống ba trăm chén đi. Phong huynh đệ, lão phu
hảo tửu, hảo thư, hảo kiếm, nên người ta gọi là tam tuyệt. Trong tam tuyệt, lấy
tửu làm đầu, thứ hai là họa, còn kiếm thì sau cùng.
Lệnh Hồ Xung vui mừng
thầm nghĩ: Về “Đan Thanh Sinh” thì mình “nhất khiếu bất thông”, mình đến để cầu
danh y trị thương, cũng không nên tỉ kiếm động thủ với người ta. Còn việc uống
rượu lại là việc chẳng mong. (“Đan Thanh Sinh” ở đây mang ý nghĩa là thư họa,
“Nhất khiếu bất thông” nghĩa là một môn cũng không biết)
Lệnh Hồ Xung liền đi
theo Đan Thanh Sinh vào trong, Hướng Vấn Thiên và Thi Lệnh Oai đi theo sau. Đi
qua một dãy hành lang, đến một gian phòng ở đầu mé Tây, vén rèm cửa ra, mùi
rượu thơm xông lên nức mũi.
Lệnh Hồ Xung từ nhỏ đã
thích rượu, nhưng vì sư phụ sư nương không cho hắn nhiều tiền tiêu xài nên rượu
đến thì uống ngay, cũng không cần phân biệt người mời rượu là hạng tốt hay xấu.
Từ hôm hắn nghe Lục Trúc Ông ở Lạc Dương tỉ mỉ luận về tửu đạo, lại được lão
mời uống nhiều thứ rượu ngon, một là tính khí hợp nhau, hai là được danh sư chỉ
điểm. Từ đó về sau, hắn thưởng thức giám định rất tinh, vừa ngửi được hương
rượu thì reo lên:
– Hay quá, ở đây có cả
rượu Phần lâu năm. Ồ, Bách thảo tửu chỉ e cất được bảy mươi lăm năm, Hầu nhi
tửu lại càng hiếm có.
Lệnh Hồ Xung ngửi đến
hương Hầu nhi tửu thì chợt nhớ đến Lục sư đệ Lục Đại Hữu, không kìm được lòng
chua xót.
Đan Thanh Sinh vỗ tay
cười, lớn tiếng reo lên:
– Tuyệt diệu, tuyệt
diệu! Phong huynh đệ vừa vào tửu thất của ta thì đã nói đúng tên ba loại rượu
quý mà ta cất giấu, thật là một đại danh gia. Tài thật, tài thật!
Lệnh Hồ Xung thấy
trong phòng đầy ắp những thứ quý giá, khắp nơi đều là vò rượu, bình rượu, bầu
rượu, chén uống rượu, bèn nói:
– Rượu mà tiền bối
tàng trữ há đâu chỉ có ba loại mà thôi. Đây là Thiệu Hưng nữ nhi hồng, là cực
phẩm. Đây là Bồ đào tửu ở Thổ Lỗ Phồn bên Tây Vực, phải bốn lần chưng cất mới
được, là đệ nhất đương thời.
Đan Thanh Sinh vừa
kinh ngạc vừa vui mừng, bèn hỏi:
– Rượu Bồ đào bốn lần
chưng, bốn lần cất của Thổ Lỗ Phồn được ta niêm kỹ trong thùng gỗ, sao lão đệ
cũng đánh hơi ra được vậy?
Lệnh Hồ Xung mỉm cười,
nói:
– Thứ hảo tửu này dù
chôn sâu dưới đất mấy trượng cũng không khỏa lấp được mùi hương của nó.
Đan Thanh Sinh reo
lên:
– Nào nào, chúng ta
lại uống thứ rượu Bồ đào bốn lần chưng, bốn lần cất này đi!
Lão bê cái thùng gỗ ở
trong góc phòng ra. Thùng gỗ cũ đến nỗi màu gỗ đen sì, trên nắp viết nhiều chữ
Tây Vực ngoằn ngoèo, nắp gỗ niêm bằng keo sơn, đóng ấn đỏ rất trịnh trọng. Đan
Thanh Sinh đưa tay vào nắp gỗ khẽ nạy lên, lập tức hương rượu ngào ngạt tỏa ra
khắp nhà.
Thi Lệnh Oai xưa nay
không hề uống một giọt rượu nào, khi ngửi mùi rượu sực nức, bất giác lão như
ngà ngà say. Đan Thanh Sinh vẫy tay cười nói:
– Ngươi đi đi, ngươi
đi đi, đừng để say lăn ra ở đây.
Lão bày ba cái chén
lên bàn rồi ôm thùng rượu rót vào chén. Rượu có màu vàng sẫm như mỡ, mặt
rượu dâng cao hơn miệng chén, chỉ vì chất rượu quá đỗi sánh đặc như có pha keo,
nên không tràn ra dù chỉ nửa giọt. Lệnh Hồ Xung khen thầm: “Võ công của người
này thật lợi hại. Lão bê cái thùng gỗ nặng cả trăm cân, rót rượu vào trong cái
chén nhỏ xíu đầy tới hơn miệng mà rượu không bị tràn ra, rất khó để làm được!”
Đan Thanh Sinh ôm cái
thùng bên hông, tay trái cầm chén rượu lên, nói:
– Mời, mời!
Hai mắt lão chăm chú
nhìn Lệnh Hồ Xung, để coi vẻ mặt chàng ra sao khi uống rượu. Lệnh Hồ Xung bưng
chén rượu uống một nửa, thưởng thức mùi vị, có điều do trét một lớp phấn dày
nên sắc mặt vẫn bình thường như không có vẻ gì thích thú lắm. Vẻ mặt Đan Thanh
Sinh lo âu, dường như lão sợ “tửu trung hành gia” này cảm thấy thùng rượu của
lão bình thường, chẳng có gì lạ.
Lệnh Hồ Xung nhắm mắt
một lúc mới mở ra nói:
– Kỳ lạ, kỳ lạ!
Đan Thanh Sinh hỏi:
– Kỳ lạ cái gì?
Lệnh Hồ Xung nói:
– Chuyện này thật khó
giải thích, vãn bối thật không hiểu.
Cặp mắt Đan Thanh Sinh
lộ ra vẻ vui mừng, nói:
– Các hạ nói là…
Lệnh Hồ Xung nói:
– Rượu này ở thành Lạc
Dương vãn bối chỉ mới được uống qua một lần, tuy rượu cực kỳ ngon nhưng trong
rượu lại có vị chua chua. Theo lời một vị tửu quốc tiền bối nói đó là do lúc
vận chuyển làm rượu dao động. Rượu Bồ đào của Thổ Lỗ Phồn bốn lần chưng bốn lần
cất này dịch chuyển một lần thì làm vị rượu giảm đi. Từ Thổ Lỗ Phồn về đến Hàng
Châu không biết có mấy vạn dặm đường nhưng rượu này của tiền bối lại tuyệt
không có vị chua. Chuyện này…
Đan Thanh Sinh cười ha
hả, vô cùng đắc ý nói:
– Đây là bí quyết bất
truyền của ta. Ta dùng ba chiêu kiếm pháp để đánh đổi lấy bí quyết của kiếm
khách Mạc Hoa Nhĩ ở Tây Vực. Các hạ có muốn biết không?
Lệnh Hồ Xung lắc đầu
nói:
– Vãn bối được thưởng
thức thứ rượu này đã là mãn nguyện lắm rồi, còn bí quyết của tiền bối thì vãn
bối không dám hỏi.
Đan Thanh Sinh nói:
– Uống rượu, uống rượu
đi!
Lão lại rót ba chén
rượu nữa. Lão thấy Lệnh Hồ Xung không hỏi bí quyết này thì trong lòng ngứa ngáy
khó chịu, bèn nói:
– Kỳ thực bí quyết này
nói ra thì không hay ho gì, có thể nói không có gì kỳ lạ.
Lệnh Hồ Xung biết mình
càng không muốn nghe thì lão lại càng muốn nói, vội cung tay nói:
– Tiền bối dù thế nào
cũng đừng nói ra. Ba chiêu kiếm của tiền bối đương nhiên không phải tầm thường.
Tiền bối đã trả nó bằng một cái giá đắt mà vãn bối học được một cách dễ dàng
thì lòng vô cùng áy náy. Người ta thường nói: Vô công bất thụ lộc…
Đan Thanh Sinh ngắt
lời:
– Các hạ uống rượu với
ta, lại nói được lai lịch của những loại rượu này thì là có công lao lớn lắm.
Bí quyết này các hạ phải nghe mới được.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Vãn bối được tiền
bối tiếp kiến, lại được ban cho rượu ngon thượng hạng. Vãn bối cảm kích vô
cùng, sao có thể…
Đan Thanh Sinh ngắt
lời:
– Ta nguyện ý nói, các
hạ phải nghe mới được.
Hướng Vấn Thiên
khuyên:
– Tứ trang chủ có hảo
ý, Phong huynh đệ không nên từ chối.
Đan Thanh Sinh nói:
– Đúng vậy, đúng vậy!
Lão cười híp mắt nói:
– Ta muốn khảo nghiệm
các hạ, các hạ có biết rượu này cất được bao nhiêu năm rồi?
Lệnh Hồ Xung bưng chén
rượu uống cạn, phân biệt vị rượu, hồi lâu mới nói:
– Rượu này còn có điểm
kỳ lạ, dường như cất khoảng một trăm hai mươi năm, nhưng giống như mới cất có
mười hai, mười ba năm. Trong cái mới có cái cũ, trong cái cũ có cái mới; nếu
đem nó so sánh với loại rượu ngon bình thường cất hơn một trăm năm thì còn một
phong vị khác.
Hướng Vấn Thiên chau
mày, thầm nghĩ: “Chuyện này có thể bị lộ tẩy. Một trăm hai mươi năm và mười
hai, mười ba năm cách nhau hơn một trăm năm, sao có thể đem ra đánh đồng với
nhau được”.
Lão sợ Đan Thanh Sinh
nghe xong sẽ không vui, nhưng thấy Đan Thanh Sinh lại cười ha hả, bộ râu dài bị
thổi tung lên. Lão cười nói:
– Hảo huynh đệ quả
nhiên rất lợi hại. Bí quyết của ta là ở chỗ đó. Ta nói cho huynh đệ biết: kiếm
khách Mạc Hoa Nhĩ ở Tây Vực đã tặng cho ta mười thùng rượu ngon ba lần chưng,
ba lần cất của vùng Thổ Lỗ Phồn đã để lâu một trăm hai mươi năm, dùng năm con
ngựa Đại Uyển chở đến Hàng Châu. Sau đó ta dựa theo phương pháp cũ mà chưng một
lần, cất một lần nữa. Mười thùng rượu ngon này cất lại còn một thùng. Ta bấm
ngón tay tính lại đúng là chuyện mười hai năm rưỡi về trước. Thứ rượu ngon này
vận chuyển đến quan san vạn lý mà không bị chua, vị rượu trong cũ có mới, trong
mới có cũ là vì chỗ đó.
Hướng Vấn Thiên và
Lệnh Hồ Xung cùng vỗ tay nói:
– Thì ra là vậy.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Có thể cất thành
loại rượu ngon như vậy thì đem mười chiêu kiếm pháp đánh đổi cũng xứng đáng.
Tiền bối chỉ lấy ba chiêu kiếm pháp đi đổi là đã chiếm được tiện nghi của thiên
hạ rồi. Có khi ba chiêu của tiền bối tinh diệu dị thường, dư sức hơn mười chiêu
kiếm pháp khác.
Hướng Vấn Thiên thầm
nghĩ: "Vị tiểu đệ này của ta chẳng những kiếm pháp tinh diệu, mà miệng
lưỡi cũng lanh lợi đến vậy”.
Lão đâu có biết rằng
Lệnh Hồ Xung xưa nay vốn rất giỏi ăn nói, thường xuyên bị Nhạc Bất Quần quở
mắng là kẻ mồm mép tép nhảy.
Đan Thanh Sinh càng
khoái chí, nói:
– Lão đệ đúng là tri
kỷ của ta. Ngày trước, đại ca và tam ca đều oán giận việc ta lấy ba chiêu kiếm
đổi lấy rượu, làm cho tuyệt chiêu của Trung Nguyên truyền vào Tây Vực. Tuy nhị
ca cười không nói nhưng trong lòng e cũng không vừa ý. Chỉ có lão đệ mới hiểu
ta đã chiếm được tiện nghi lớn, chúng ta cùng uống một chén nữa.
Lão thấy Hướng Vấn
Thiên rõ ràng không hiểu về tửu đạo, nên chẳng coi lão ra gì.
Lệnh Hồ Xung lại uống
một chén nữa rồi nói:
– Tứ trang chủ, rượu
này còn có một cách uống khác, đáng tiếc bây giờ không thể làm được.
Đan Thanh Sinh vội
hỏi:
– Còn cách uống nào
nữa? Tại sao làm không được?
Lệnh Hồ Xung đáp:
– Thổ Lỗ Phồn là nơi
nóng nhất trong thiên hạ, nghe nói năm xưa Huyền Trang đại sư đến Thiên Trúc
thỉnh kinh phải đi qua Hỏa Diệm sơn, là vùng Thổ Lỗ Phồn.
Đan Thanh Sinh nói:
– Đúng vậy, nơi đó rất
nóng. Vừa đến mùa hạ thì suốt ngày người ta phải ngâm mình trong thùng nước
lạnh mà vẫn còn thấy nóng; đến mùa đông, vùng này lại lạnh thấu xương. Vì thời
tiết như vậy nên trái bồ đào mới khác hẳn những nơi khác.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Lúc vãn bối ở trong
thành Lạc Dương uống loại rượu này, trời đang mùa đông, vị tửu quốc tiền bối đó
lấy một tảng băng lớn đặt bát uống rượu lên. Rượu ngon có hơi lạnh thấm vào,
nên có một mùi vị khác. Bây giờ đang đầu hạ, vị lạ của rượu ngon lành lạnh
không thể thưởng thức được.
Đan Thanh Sinh nói:
– Lúc ta ở Tây Vực
không may cũng đúng vào mùa hạ, Mạc Hoa Nhĩ cũng nói qua chuyện lấy băng ướp
rượu tạo ra một phong vị tuyệt diệu. Lão đệ, vậy thì dễ quá, lão đệ ở đây với
ta hơn nửa năm, đến mùa đông, chúng ta cùng thưởng thức rượu ướp lạnh.
Lão ngừng một lúc rồi
chau mày nói:
– Có điều phải chờ lâu
như vậy thì thật nóng lòng.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Đáng tiếc một dải
Giang Nam không có nhân vật nào luyện Hàn băng chưởng hay Âm phong trảo, thứ
công phu thuần âm, nếu không thì…
Lão nói chưa hết lời
thì Đan Thanh Sinh vui mừng nói:
– Có rồi, có rồi!
Lão nói vậy liền đặt
thùng rượu xuống, hối hả chạy đi.
Lệnh Hồ Xung đưa mắt
nhìn Hướng Vấn Thiên, lòng đầy nghi ngờ. Hướng Vấn Thiên nín cười không nói.
Không bao lâu, Đan Thanh Sinh dắt một lão già mặc áo đen, ốm nhom, cao nghệu đi
vào, nói:
– Nhị ca, lần này bất
luận thế nào cũng phải giúp tiểu đệ.
Lệnh Hồ Xung thấy
người này mày thanh mắt sáng, có điều sắc mặt trắng bệch như một cương thi
khiến cho ai vừa trông qua cũng cảm thấy ớn lạnh. Đan Thanh Sinh dẫn nhị ca
vào, thì ra lão là nhị trang chủ Hắc Bạch Tử ở Mai trang. Tóc của lão rất đen
mà da thì trắng bệch, quả nhiên là hắc bạch phân minh. Hắc Bạch Tử lạnh lùng
nói:
– Giúp cái gì?
Đan Thanh Sinh nói:
– Xin nhị ca biểu diễn
công phu hóa nước thành băng cho hai vị hảo bằng hữu của tiểu đệ xem một chút.
Hắc Bạch Tử đảo cặp
quái nhãn hắc bạch phân minh, lạnh lùng nói:
– Cái tài vặt đó có gì
đáng nói đâu, không khéo khiến người ta cười cho.
Đan Thanh Sinh nói:
– Nhị ca, không giấu
gì nhị ca, Phong huynh đệ này nói rượu Bồ đào ở Thổ Lỗ Phồn dùng băng để ướp
lạnh, khi uống vào có vị rất kỳ thú. Trời nóng như vậy thì đi tìm đâu ra băng
bây giờ?
Hắc Bạch Tử nói:
– Hương rượu này rất
thuần túy, hà tất phải ướp lạnh.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Thổ Lỗ Phồn là nơi
cực nóng…
Đan Thanh Sinh nói:
– Đúng vậy, rất nóng!
Lệnh Hồ Xung nói tiếp:
– Bồ đào mọc ở vùng
này tuy ngon nhưng không khỏi có khí nóng thấm vào.
Đan Thanh Sinh nói:
– Đúng vậy, đó là
chuyện đương nhiên.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Khí nóng đó truyền
vào trong rượu, để qua một trăm năm tuy đã giảm đi nhiều nhưng vị rượu vẫn còn
cay nồng là điều khó tránh khỏi.
Đan Thanh Sinh nói:
– Đúng vậy, đúng lắm!
Lão đệ không nói thì ta cứ tưởng là lúc ta chưng rượu để lửa hơi mạnh nên đã
trách oan tên nhà bếp rồi.
Lệnh Hồ Xung hỏi:
– Cái gì nhà bếp?
Đan Thanh Sinh cười
nói:
– Ta chỉ sợ lúc chưng
rượu để lửa không đủ làm hỏng hết mười thùng rượu ngon nên lẻn vào hoàng cung ở
Bắc Kinh bắt một lão nhà bếp của hoàng đế về cho lão chưng rượu.
Hắc Bạch Tử lắc đầu
nói:
– Thực là chuyện bé mà
xé ra to.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Thì ra là vậy. Nếu
là anh hùng hiệp sĩ bình thường lúc uống thứ rượu này thấy hơi cay một chút
chẳng đáng gì. Nhưng nhị trang chủ, tứ trang chủ ẩn cư nơi phong cảnh tuyệt mỹ
bên cạnh Tây Hồ, là những bậc thanh cao không giống những người thô kệch trong
võ lâm. Rượu này ướp băng cho lạnh một chút để khử đi khí nóng thì mới xứng với
thân phận thanh cao của hai vị cao nhân. Cũng giống như đánh cờ vậy. Nếu
chỉ dốc lực ẩu đả, thì chỉ là kỳ phẩm hạng chín, còn hàng cao kỳ nhất phẩm, nhị
phẩm thì phải là nhập thần tọa chiếu.
Hắc Bạch Tử đảo cặp
quái nhãn, chụp vai Hướng Vấn Thiên vội hỏi:
– Ngươi cũng biết đánh
cờ sao?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Bình sinh tại hạ
thích nhất là đánh cờ nhưng đáng tiếc tay cờ không cao, nên đã đi khắp Giang
Nam, Giang Bắc, Hoàng Hà để sưu tầm kỳ phổ. Ba mươi năm qua, tại hạ nhớ không
ít các danh cục từ xưa tới nay.
Hắc Bạch Tử vội hỏi:
– Ngươi nhớ được những
danh cục nào?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tỉ như cuộc đấu cờ
của Vương Chất gặp tiên trên núi Lạn Kha. Cuộc cờ của Lưu Trọng Phủ đánh với
tiên bà trên núi Ly Sơn, cuộc cờ của Vương Tích Tân đấu với Hồ Tiên…
Lão nói chưa hết câu
thì Hắc Bạch Tử đã lắc đầu lia lịa nói:
– Những thần thoại này
làm sao có thể tin được? Làm gì có kỳ phổ thật?
Hắc Bạch Tử nói rồi
buông tay ra. Hướng Vấn Thiên nói:
– Lúc đầu tại hạ cũng
cho rằng những cố sự này do kẻ hiếu kỳ bịa đặt ra. Nhưng hai mươi lăm năm về
trước, tại hạ đã thấy được phổ đồ của cuộc đấu giữa Lưu Trọng Phủ và tiên bà ở
núi Ly Sơn. Nước cờ tuyệt diệu, người thường không thể bì được nên tại hạ mới
tin những chuyện đó có thực chứ không phải là bịa đặt. Tiền bối cũng thích chơi
cờ lắm phải không?
Đan Thanh Sinh cười ha
hả, bộ râu dài của lão bay phấp phới.
Hướng Vấn Thiên hỏi:
– Sao tiền bối lại
cười?
Đan Thanh Sinh nói:
– Các hạ hỏi nhị ca
của ta có thích đánh cờ không? Ha ha, nhị ca ta có đạo hiệu là Hắc Bạch Tử, các
hạ nói xem nhị ca thích hay không thích đánh cờ? Nhị ca mê cờ cũng như ta mê
rượu vậy.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tại hạ nói bậy, thật
là múa rìu qua mắt thợ, xin nhị trang chủ đừng trách.
Hắc Bạch Tử nói:
– Có thật ngươi đã
thấy qua đồ phổ cuộc đấu cờ giữa Lưu Trọng Phủ và tiên bà trên núi Ly Sơn
không? Ta xem trong bút ký của tiền nhân có ghi lại rằng Lưu Trọng Phủ là quốc
thủ đương thời bị đại bại dưới tay của một bà già thôn quê ở chân núi Ly Sơn
nên thổ huyết mấy tháng trời. Do vậy, kỳ phổ đó được gọi là “Ẩu huyết phổ”.
Chẳng lẽ trên đời này thật có cuộc Ẩu huyết phổ này ư?
Lúc lão vào phòng, vẻ
mặt rất lạnh lùng, bây giờ lại rất hớn hở.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Hai mươi lăm năm về
trước, tại hạ đã từng thấy qua kỳ phổ trong một nhà thế gia ở Thành Đô, Tứ
Xuyên. Chỉ vì cuộc cờ này có những nước đi kinh tâm động phách, nên tuy chuyện
đã qua hai mươi lăm năm, toàn bộ có một trăm mười hai nước cờ đến hôm nay tại hạ
vẫn còn nhớ rõ.
Hắc Bạch Tử nói:
– Tất cả có một trăm
mười hai nước ư? Lão huynh thử bày ra cho ta coi. Nào nào, đến kỳ thất của ta
để bày cờ đi.
Đan Thanh Sinh dang
tay cản lại nói:
– Khoan đã. Nhị ca,
nhị ca không làm cho tiểu đệ một tảng băng thì tiểu đệ không cho nhị ca đi đâu.
Lão vừa nói vừa bưng
một chậu bằng sứ trắng đựng đầy nước đến.
Hắc Bạch Tử thở dài
nói:
– Tứ đệ cũng có cái
say mê, thôi ta đành chịu vậy.
Lão đưa ngón trỏ của
tay phải ra nhúng vào chậu nước. Trong khoảnh khắc, mặt nước nổi lên một tia
bạch khí, không bao lâu quanh miệng chậu đã có một lớp sương trắng. Tiếp theo
trên mặt nước kết thành từng miếng băng mỏng. Lớp băng kết càng lúc càng dày,
trong khoảng thời gian uống cạn một chén trà nhỏ, nước trong chậu sứ đều biến
thành băng.
Hướng Vấn Thiên và
Lệnh Hồ Xung lớn tiếng khen ngợi. Hướng Vấn Thiên nói:
– Công phu Hắc phong
chỉ nghe nói thất truyền trong võ lâm đã lâu, thì ra nhị trang chủ…
Đan Thanh Sinh ngắt
lời:
– Đây không phải là
Hắc phong chỉ mà là Huyền thiên chỉ, nó cùng với công phu bá đạo Hắc phong chỉ
có chỗ sai biệt rất lớn.
Lão vừa nói vừa đem
bốn cái chén để lên chậu băng, rót đầy rượu Bồ đào vào chén. Không bao lâu,
trên mặt rượu nổi lên những hạt khí trắng li ti. Lệnh Hồ Xung nói:
– Được rồi.
Đan Thanh Sinh cầm
chén rượu uống một hơi, quả nhiên lão cảm thấy vị rượu vừa đậm vừa ngon, một
luồng thanh lương thấm nhập vào tâm phế. Lão lớn tiếng khen:
– Tuyệt diệu! Rượu này
ta cất đã ngon, cách bình phẩm rượu của Phong huynh đệ thật cao, băng của nhị
ca làm cũng tuyệt. Còn lão huynh?
Lão quay sang Hướng
Vấn Thiên nói:
– Lão huynh ngồi bên
cạnh lúc tung lúc hứng lại càng tuyệt.
Đan Thanh
Sinh lại rót thêm bốn chén rượu. Tính lão nôn nóng, liền muốn đặt chậu sứ
đựng băng lên phía trên các chén rượu, nói:
– Hàn khí từ trên
xuống dưới, khí lạnh đi xuống sẽ nhanh hơn.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Khí lạnh tuy
xuống nhanh thật, nhưng như vậy thì cả chén rượu từ trên xuống dưới đều lạnh
như nhau, không thể xem là thượng phẩm. Nếu để hàn khí từ phía dưới thấm dần
lên trên, trong rượu sẽ từng tầng từng tầng có sự khác biệt chút đỉnh về độ
lạnh ấm, có thể từng chút một phân biệt sự khác nhau trong hương vị của mỗi
tầng.
Đan Thanh
Sinh thấy chàng bàn chuyện thưởng rượu tinh tế tỉ mỉ đến vậy, trong lòng
vừa khâm phục vừa vô cùng thích thú. Hắn làm theo cách ấy để uống thử, cẩn thận
phân biệt vị rượu, quả nhiên nhận ra có chút khác biệt nhỏ.
Hắc Bạch Tử cũng cầm
bát rượu đưa lên miệng uống nhưng không nói vị rượu ngon hay dở mà kéo tay
Hướng Vấn Thiên nói:
– Đi đi! Đi bày cuộc
cờ Ẩu huyết phổ của Lưu Trọng Phủ cho ta xem.
Hướng Vấn Thiên kéo
tay áo Lệnh Hồ Xung, Lệnh Hồ Xung hiểu ý nói:
– Tại hạ cũng đi xem.
Đan Thanh Sinh nói:
– Có gì hay đâu mà
xem, chi bằng ta với lão đệ ở đây uống rượu.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Chúng ta vừa uống
rượu vừa xem cờ.
Lệnh Hồ Xung nói xong
liền đi theo Hắc Bạch Tử và Hướng Vấn Thiên. Đan Thanh Sinh không còn cách nào
khác, đành ôm thùng rượu lớn đi vào kỳ thất.
Đó là một gian phòng
rất lớn, ngoài cái bàn đá với hai cái ghế mềm ra, không có cái gì khác. Trên
cái bàn đá khắc ngang dọc mười chín đường, bên cạnh đặt một hộp cờ đen và một
hộp cờ trắng. Trong kỳ thất ngoài bàn ghế ra, không bày một vật gì khác để
người đấu cờ khỏi bị phân tâm.
Hướng Vấn Thiên đi đến
trước bàn đá, bày ra bốn thế bình, thượng, khứ, nhập ở bốn góc bàn cờ. Tiếp
theo lão đặt vào vị bình ở điểm lục tam một con cờ trắng, sau đó đặt ở điểm cửu
tam một con cờ đen, ở điểm lục ngũ đặt một con cờ trắng, ở điểm cửu ngũ đặt một
con cờ đen. Cứ như vậy lão đặt không nghỉ, dần dần lão đặt càng lúc càng chậm
lại.
Lão bày xong, song
phương cờ đen, cờ trắng thành thế tỉ đấu kịch liệt, ở giữa không còn một chỗ
trống. Hắc Bạch Tử xem đến toát mồ hôi trán.
Lệnh Hồ Xung ngấm ngầm
sửng sốt. Chàng thấy vừa rồi lão dùng Huyền thiên chỉ để hóa nước thành băng,
thì biết nội lực tu luyện của lão cao cường đến thế nào. Lúc đó lão rất bình
thường. Còn đánh cờ chỉ là chuyện nhỏ mà lão nhìn đến toát mồ hôi; có thể thấy
lão chẳng quan tâm chuyện gì khác để khỏi loạn thần trí. Lão này say mê cờ đến
nỗi trở thành điên khùng, chắc Hướng Vấn Thiên đã tìm được nhược điểm của lão
mà tấn công. Nghĩ thầm : “Không biết vị danh y kia có quan hệ gì với bọn họ”.
Hắc Bạch Tử thấy Hướng
Vấn Thiên đi xong nước cờ thứ sáu mươi sáu thì một lúc sau không đi thêm nước
cờ nào nữa. Không nhịn được, lão hỏi:
– Nước kế tiếp đi thế
nào?
Hướng Vấn Thiên mỉm
cười nói:
– Đây là nước cờ then
chốt, theo cao kiến của nhị trang chủ thì nên đi thế nào?
Hắc Bạch Tử suy nghĩ
hồi lâu, trầm ngâm nói:
– Nước cờ này ư? Bỏ
thì không ổn, liên cũng không phải, xông ra thì không được, làm cho sống cũng
không xong. Cái này… cái này… cái này…
Lão cầm một con cờ
trắng gõ lách cách lên bàn đá, qua khoảng thời gian một bữa ăn, không biết đi
nước nào. Lúc này Đan Thanh Sinh và Lệnh Hồ Xung đã uống mười bảy, mười tám
chén rượu Bồ đào.
Đan Thanh Sinh thấy
sắc mặt của Hắc Bạch Tử càng lúc càng xanh mét, lão nói:
– Đồng lão huynh, Ẩu
huyết phổ này chẳng lẽ Đồng huynh muốn nhị ca của ta phải thổ huyết mới được ư?
Nước cờ kế tiếp ra sao, lão huynh thẳng thắn nói ra thôi.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Được! Nước cờ thứ
sáu mươi bảy đặt ở chỗ này.
Nói rồi lão đặt con cờ
xuống điểm thất tứ ở thượng bộ. Hắc Bạch Tử vỗ bốp một cái vào đùi, reo lên:
– Hay! Nếu bên
kia đánh chỗ nào cũng không ổn, thì tốt nhất là ‘thoát tiên tha đầu’. Nước cờ
này đặt ở đây, quả thật là tuyệt diệu! (Thoát tiên tha đầu là Bỏ dở chỗ này, đi
sang chỗ khác)
Hướng Vấn Thiên nói:
– Nước cờ ấy
của Lưu Trọng Phủ dĩ nhiên vô cùng xuất sắc, nhưng đó cũng chỉ là
diệu kỳ của bậc quốc thủ nhân gian mà thôi. So với tiên thủ của Ly Sơn Tiên Mỗ
thì lại còn kém xa lắm.
Hắc Bạch Tử vội
hỏi:
– Tiên thủ của Ly
Sơn Tiên Mỗ thì lại ra sao?
Hướng Vấn
Thiên đáp:
– Nhị trang chủ thử
nghĩ xem.
Hắc Bạch Tử suy nghĩ
rất lâu, cảm thấy cục diện bất lợi, khó lòng cứu vãn, bèn lắc đầu nói:
– Đã là tiên thì hàng
phàm phu tục tử như ta sao nghĩ ra được? Đồng huynh đừng đánh đố nữa.
Hướng Vấn Thiên mỉm
cười nói:
– Nước cờ này thần cơ
diệu toán, thật chỉ có thần tiên mới nghĩ ra được.
Hắc Bạch Tử là người
giỏi đánh cờ cũng là người biết dò xét tâm ý của đối phương một cách rất tinh
vi. Lão thấy Hướng Vấn Thiên không chịu nói huỵch toẹt ra nước cờ này khiến cho
lão cảm thấy ngứa ngáy khó chịu, nghĩ rằng Hướng Vấn Thiên chắc là có đòi hỏi
gì đó, bèn nói:
– Đồng huynh, Đồng
huynh cứ đem thế cờ này nói cho ta nghe, ta cũng không nghe chùa của Đồng huynh
đâu.
Lệnh Hồ Xung thầm
nghĩ: “Chẳng lẽ Hướng đại ca biết thần công Huyền thiên chỉ của nhị trang chủ
có thể trị được bệnh cho ta nên mới bày chuyện để cầu xin lão?”
Hướng Vấn Thiên ngẩng
đầu lên cười ha hả, nói:
– Tại hạ và Phong
huynh đệ tuyệt không có yêu cầu gì đối với bốn vị trang chủ. Nhị trang chủ nói
như vậy là coi thường bọn tại hạ rồi.
Hắc Bạch Tử xá dài
nói:
– Tại hạ lỡ lời, xin
miễn thứ.
Hướng Vấn Thiên và
Lệnh Hồ Xung trả lễ. Hướng Vấn Thiên nói:
– Bọn tại hạ đến Mai
trang là muốn đánh cuộc với bốn vị trang chủ.
Hắc Bạch Tử và Đan
Thanh Sinh cùng hỏi:
– Đánh cuộc ư? Đánh
cuộc cái gì?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tại hạ đánh cuộc
trong Mai trang không ai có thể thắng được kiếm pháp của Phong huynh đệ đây.
Hắc Bạch Tử và Đan
Thanh Sinh quay qua nhìn Lệnh Hồ Xung, vẻ mặt của Hắc Bạch Tử thản nhiên, không
nói gì. Đan Thanh Sinh thì cười ha hả nói:
– Đặt cược thế nào?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Nếu bọn tại hạ thua
thì bức họa này xin tặng cho tứ trang chủ.
Lão nói rồi cởi cái
bao cột trên lưng xuống, mở ra. Bên trong có hai cuộn trục. Lão mở một cuộn ra
thì là một bức họa rất cũ, trên góc trái bức họa đề mười chữ “Bắc Tống Phạm
Trung Lập khê sơn hành lữ đồ”. Bức họa vẽ một ngọn núi cao ngất trời, nét mực
đen thẫm, khí thế rất hùng vĩ. Tuy Lệnh Hồ Xung không hiểu về thư họa song cũng
biết bức họa sơn thủy này thật là một tuyệt tác; ngọn núi cao chót vót rậm rạp
tuy chỉ được vẽ trên giấy cũng khiến cho người xem cảm thấy ngưỡng mộ, bất giác
không tự chủ được.
Đan Thanh Sinh reo
lên:
– Úi chà!
Hai mắt lão dán mắt
vào bức họa không chớp. Một lúc sau, lão mới nói:
– Đây là chân tích của
Phạm Khoan đời Bắc Tống. Lão… lão… có được từ đâu vậy?
Hướng Vấn Thiên mỉm
cười không đáp, từ từ cuộn bức họa lại. Đan Thanh Sinh nói:
– Khoan đã!
Lão đưa tay kéo tay
Hướng Vấn Thiên muốn cản không cho Hướng Vấn Thiên cuốn lại. Nào ngờ bàn tay
lão vừa đụng vào tay Hướng Vấn Thiên thì một luồng nội lực nhu hòa nhưng hồn
hậu phát sinh làm cánh tay của lão bị đẩy nhẹ ra.
Hướng Vấn Thiên vờ như
không biết gì, tiếp tục cuộn bức họa lại. Đan Thanh Sinh cảm thấy sửng sốt. Vừa
rồi, lão đụng đến tay của Hướng Vấn Thiên, sợ làm rách bức họa nên trên tay
chưa dùng sức, nhưng Hướng Vấn Thiên vận nội kình hất tay lão ra như vậy, rõ
ràng nội công của Hướng Vấn Thiên vào hàng thượng thừa. Lão ngấm ngầm khâm
phục, nói:
– Lão Đồng, thì ra võ
công của lão Đồng lợi hại như vậy, chỉ e không thua gì Đan Thanh Sinh ta.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tứ trang chủ nói
đùa. Ngoài kiếm pháp ra, môn công phu nào của bốn vị trang chủ Mai trang đều là
vô địch đương thời. Đồng Hóa Kim vô danh tiểu tốt này làm sao dám so với tứ
trang chủ.
Đan Thanh Sinh sa sầm
nét mặt nói:
– Tại sao lão nói
“Ngoài kiếm pháp ra”? Chẳng lẽ kiếm pháp của ta không bằng kiếm pháp của Phong
huynh đệ?
Hướng Vấn Thiên mỉm
cười nói:
– Nhị vị trang chủ,
xin xem bức thư pháp này thế nào?
Lão đem một cuộn trục khác
mở ra. Đây là một bức cuồng thảo thư, nét bút tinh xảo như bút tẩu long xà.
Đan Thanh Sinh lấy làm
lạ thốt lên:
– Úi chà, úi chà, úi
chà!
Lão thốt lên ba tiếng
úi chà rồi đột nhiên lớn tiếng gọi:
– Tam ca, tam ca! Cái
bảo bối mà tam ca quý như tính mệnh đang ở đây này.
Tiếng lão gọi rất vang
dội, làm chấn động cả tường vách cửa sổ, bụi cát ở trên tường rớt xuống. Lão la
lên một cách đột ngột khiến Lệnh Hồ Xung không khỏi giật mình.
Từ xa có người hỏi:
– Chuyện gì mà kinh
động tiểu quái?
Đan Thanh Sinh lại la
lên:
– Tam ca mà không đến
xem, người ta cuốn lại thì tam ca hối hận cả đời.
Bên ngoài có người
nói:
– Ngươi lại tìm được
bức thư pháp giả mạo nào nữa phải không?
Rèm cửa vén ra, một
người đi vào. Người này mập lùn, cái đầu hói bóng lưỡng không có một cọng tóc
nào, tay phải cầm một cây bút lớn, quần áo dính đầy vết mực. Lão đi đến gần vừa
nhìn qua, bỗng hai mắt trợn ngược lên, hơi thở dồn dập, run run nói:
– Đây… đây là chân
tích! Đúng là… đúng là Suất ý thiếp của Trương Húc đời Đường… Không… không giả
được.
Thảo thư trên tấm
thiếp múa lượn giống như một tay cao thủ võ lâm triển khai khinh công, lên cao
rồi xuống thấp, tuy hành động thần tốc nhưng không làm mất đi sự phong lưu tao
nhã. Trong mười chữ này, Lệnh Hồ Xung không đọc được chữ nào, nhưng thấy phía
dưới thiếp viết đầy tên người đề tặng, cũng không ít con dấu đóng lên, hắn đoán
chừng tấm thiếp này không phải tầm thường.
Đan Thanh Sinh nói:
– Vị này là tam ca
Ngốc Bút Ông của ta. Tam ca lấy ngoại hiệu này vì tính tam ca rất mê thư pháp,
tam ca viết cùn hết hàng trăm ngàn cây bút chứ không phải vì đầu tam ca nhẵn
bóng. Điểm này các vị chớ nhầm lẫn.
Lệnh Hồ Xung mỉm cười
đáp dạ.
Ngốc Bút Ông đưa ngón
trỏ tay phải vẽ trong không khí nét móc lên thuận theo đường bút họa Suất ý
thiếp, vẻ mặt say sưa ngây ngất không để ý gì đến Hướng Vấn Thiên và Lệnh Hồ
Xung. Ngay cả Đan Thanh Sinh nói gì lão cũng bỏ ngoài tai.
Trong lúc đó Lệnh Hồ
Xung đột nhiên chấn động đầu óc. Chàng nghĩ: “Hướng đại ca bày chuyện này chỉ e
đã có âm mưu từ trước. Nhớ lần đầu mình gặp đại ca ở trong lương đình thì trên
lưng đại ca đã có bao này rồi”.
Nhưng Lệnh Hồ Xung
chuyển đổi ý nghĩ: “Trong cái bao lúc đó chưa chắc có đựng hai cuộn tròn này.
Nói không chừng vì Hướng đại ca đến cầu bốn vị trang chủ của Mai trang trị bệnh
cho ta, lúc ta nghỉ ngơi trong khách điếm, đại ca đã đi ra ngoài mua hoặc là ăn
trộm về. Hừ, chắc là ăn trộm thì đúng hơn, báu vật vô giá như vậy dễ gì mua
được?”
Tai chàng nghe Ngốc
Bút Ông vẽ chữ trong không khí, chỉ phong phát ra tiếng veo véo nho nhỏ, nội
lực của lão thật mạnh, chẳng thua kém gì Hắc Bạch Tử . Lệnh Hồ Xung lại nghĩ:
“Nội thương của ta là vì Đào Cốc lục tiên và Bất Giới hòa thượng mà ra, mà nội công
của ba vị trang chủ Mai trang dường như mạnh hơn cả Đào Cốc lục tiên và Bất
Giới đại sư. Còn vị đại trang chủ không chừng càng lợi hại hơn nữa. Thêm vào
nội lực của Hướng đại ca, năm người hợp lại thì có thể trị thương cho ta. Nhưng
chỉ mong bọn họ đừng phí công nhiều mới được”.
Hướng Vấn Thiên không
đợi Ngốc Bút Ông viết xong, đã cuộn bức Suất ý thiếp lại, cho vào bao.
Ngốc Bút Ông sửng sốt
nhìn Hướng Vấn Thiên, một lúc sau mới nói:
– Lão huynh đổi cái
gì?
Hướng Vấn Thiên lắc
lắc đầu nói:
– Cái gì cũng không
thể đổi được.
Ngốc Bút Ông nói:
– Hai mươi tám chiêu
Thạch cổ đả huyệt bút pháp được không?
Hắc Bạch Tử và Đan
Thanh Sinh cùng la lên:
– Không được!
Ngốc Bút Ông nói:
– Được chứ, tại sao
không được? Có thể đổi lấy được chân tích bức thảo thư của Trương Húc thì Thạch
cổ đả huyệt bút pháp của ta đâu có gì phải tiếc?
Hướng Vấn Thiên lắc
đầu nói:
– Không được!
Ngốc Bút Ông sốt ruột
hỏi:
– Vậy tại sao huynh
lại đem đến cho ta xem?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Dù tại hạ không phải
nhưng tam trang chủ cứ coi như chưa từng xem qua là được.
Ngốc Bút Ông nói:
– Đã xem qua rồi, làm
sao có thể cho rằng chưa từng xem qua?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tam trang chủ muốn
có được bức chân tích của Trương Húc này cũng đâu có khó, chỉ cần đánh cược với
bọn tại hạ.
Ngốc Bút Ông vội hỏi:
– Đánh cược thế nào?
Đan Thanh Sinh nói:
– Tam ca, người này
hơi khùng khùng điên điên. Lão đánh cược trong Mai trang chúng ta không ai có
thể thắng được kiếm pháp của vị Phong bằng hữu phái Hoa Sơn này.
Ngốc Bút Ông hỏi:
– Nếu có người thắng
được vị bằng hữu này thì sao?
Hướng Vấn Thiên đáp:
– Nếu trong Mai trang
bất luận vị nào thắng được trường kiếm trong tay Phong huynh đệ của tại hạ thì
tại hạ sẽ đem bức Suất ý thiếp chân tích của Trương Húc phụng tặng tam trang
chủ, đem bức Khê sơn hành lữ đồ chân tích của Phạm Khoan phụng tặng tứ trang
chủ, đem hai mươi danh cục cờ vây của thần tiên quỷ quái mà tại hạ thuộc nằm
lòng nhất nhất viết ra để tặng cho nhị trang chủ.
Ngốc Bút Ông nói:
– Còn đại ca của bọn
ta thì sao? Lão huynh sẽ tặng đại ca ta cái gì?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tại hạ có một bộ cầm
phổ “Quảng Lăng tán”, không chừng đại trang chủ…
Hướng Vấn Thiên chưa
nói hết lời thì bọn Hắc Bạch Tử ba người cùng thốt lên:
– “Quảng Lăng tán” ư?
Lệnh Hồ Xung cũng giật
mình: “Cầm phổ “Quảng Lăng tán” này là do Khúc trưởng lão quật mộ cổ mà có
được. Lão đem khúc cầm phổ này đưa vào khúc “Tiếu ngạo giang hồ”, sao Hướng đại
ca lại có nó?”
Lệnh Hồ Xung liền hiểu
ra: “Hướng đại ca là hữu sứ của Ma giáo mà Khúc trưởng lão là trưởng lão trong
Ma giáo, chắc hai người có mối giao hảo. Sau khi Khúc trưởng lão được bộ cầm
phổ này thì vui mừng khôn xiết nên nói với Hướng đại ca. Hướng đại ca muốn mượn
để sao chép, tất nhiên Khúc trưởng lão đồng ý”.
Lệnh Hồ Xung nghĩ đến
khúc phổ của người đã mất, bất giác thở dài. Ngốc Bút Ông lắc đầu nói:
– Từ sau khi Kê Khang
chết, “Quảng Lăng tán” bị thất truyền. Đồng huynh nói vậy chắc để lừa dối
người.
Hướng Vấn Thiên mỉm
cười nói:
– Tại hạ có một vị
bằng hữu thâm giao mê đàn đến hóa điên. Lão nói sau khi Kê Khang chết thì từ đó
thiên hạ không còn nghe khúc “Quảng Lăng tán”. Bộ cầm phổ này sau đời Tây Tấn
thì không còn nữa, nhưng trước đời Tây Tấn thì sao?
Bọn Ngốc Bút Ông ba
người sửng sốt nhìn nhau, nhất thời không hiểu ý Hướng Vấn Thiên muốn nói gì.
Hướng Vấn Thiên nói tiếp:
– Vị bằng hữu này của
tại hạ thông minh hơn người, dám to gan làm càn. Lão đi quật mộ của các danh
nhân gảy đàn trước đời Tấn. Quả nhiên người có chí thì việc hoàn thành, sau khi
lão quật mấy chục ngôi mộ cổ, cuối cùng tìm được trong ngôi mộ cổ của Thái Ung
đời Đông Hán khúc phổ này.
Ngốc Bút Ông và Đan
Thanh Sinh đều giật mình ồ lên một tiếng. Hắc Bạch Tử gật đầu nói:
– Trí dũng song toàn,
thật tuyệt!
Hướng Vấn Thiên mở bao
lấy một cuốn sách, trên bìa sách viết năm chữ “Quảng Lăng tán cầm khúc”. Lão
giở sách ra, quả là cầm phổ. Lão đưa cuốn sách cho Lệnh Hồ Xung rồi nói:
– Phong huynh đệ,
trong Mai trang nếu có vị cao nhân nào thắng được kiếm pháp của huynh đệ thì
huynh đệ đem cầm phổ này tặng cho đại trang chủ.
Lệnh Hồ Xung nhận
sách, bỏ vào trong túi, thầm nghĩ: “Nói không chừng đây là di vật của Khúc
trưởng lão. Khúc trưởng lão đã chết, Hướng đại ca muốn lấy quyển cầm phổ này
thì đâu có khó gì?”
Đan Thanh Sinh cười
nói:
– Vị Phong huynh đệ
này tinh thông tửu lý, kiếm pháp chắc cũng cao minh nhưng tuổi của Phong huynh
đệ còn trẻ, chẳng lẽ trong Mai trang ta, hì hì… hì hì, thật là nực cười.
Hắc Bạch Tử nói:
– Nếu trong Mai trang
ta quả nhiên không ai có thể thắng được Phong thiếu hiệp thì bọn ta phải thua
cuộc cái gì?
Lệnh Hồ Xung và Hướng
Vấn Thiên đều có giao ước trước mọi chuyện phải theo sự sắp đặt của lão. Nhưng
sự việc diễn biến đến thế này, chàng cảm thấy Hướng Vấn Thiên làm hơi thái quá,
đã đến cầu danh y sao lại cuồng vọng coi nhẹ đối phương? Huống hồ nội lực của
mình đã mất hết, làm sao có thể là đối thủ của những cao nhân trong Mai trang
được? Lệnh Hồ Xung nói:
– Đồng đại ca thích
nói đùa. Kẻ hèn này thuộc hàng hậu bối, học chưa đến nơi, sao dám giảng võ luận
kiếm với các vị trang chủ ở Mai trang?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Mấy câu khách khí
này Phong huynh đệ đương nhiên phải nói, nếu không người ta sẽ cho rằng Phong
huynh đệ là kẻ cuồng vọng tự đại.
Dường như Ngốc Bút Ông
chẳng để tai nghe hai người nói, lão lẩm bẩm ngâm: “Trương Húc tam bôi thảo
thánh truyền. Thoát mạo lộ đỉnh vương công tiền. Huy hào lạc chỉ như vân yến”.
Nhị ca, Trương Húc hiệu xưng là Thảo thánh, là thánh của môn chữ thảo, nhưng ba
câu thơ này là của Đỗ Phủ trong bài “Ẩm trung bát tiên ca” viết về Trương Húc.
Người này cũng là một trong Ẩm trung bát tiên. Nhị ca xem Suất ý thiếp này có
tưởng tượng ra tình cảnh năm xưa lúc lão say rượu hạ bút. Ôi, thật là thiên mã
hành không, không có dây cương để dừng lại. Chữ đẹp, chữ đẹp quá!
Đan Thanh Sinh nói:
– Đúng vậy, người này
mê uống rượu thì dĩ nhiên là một đại hảo nhân, nên chữ viết đương nhiên không
chê vào đâu được.
Ngốc Bút Ông nói:
– Hàn Dũ bình phẩm về
Trương Húc rằng: “Hỷ nộ bần cùng, ưu bị sảng khoái, oán hận nhớ thương, say sưa
túy lúy. Lòng động nỗi bất bình, đem phác cả thành chữ thảo”. Vị công chính này
là người cùng làng với ta, hễ lòng có chuyện bất bình thì phác cả vào chữ thảo,
giống như vung kiếm múa trượng há chẳng khoái ư?
Lão đưa ngón tay lên,
lại viết trong không khí, lão viết được mấy nét thì nói với Hướng Vấn Thiên:
– Này, lão huynh mở ra
cho ta xem chút nữa đi.
Hướng Vấn Thiên lắc
đầu cười nói:
– Sau khi tam trang
chủ thủ thắng thì tấm thiếp này là của tam trang chủ. Bây giờ hà tất phải sốt
ruột?
Hắc Bạch Tử giỏi về
đánh cờ, trầm ngâm suy nghĩ đắn đo mãi, không nghĩ thắng mà lo bại trước, lại
hỏi:
– Nếu trong Mai trang
không ai thắng được kiếm pháp của Phong thiếu hiệp thì bọn ta phải thua cái gì?
Hướng Vấn Thiên nói:
– Bọn tại hạ không cầu
chuyện gì, cũng không cầu vật gì. Phong huynh đệ bất quá là tìm đến chỗ võ học
tuyệt đỉnh thiên hạ này để chứng thực kiếm pháp với các tay cao thủ đương thời.
Nếu may mắn thắng được các vị, thì bọn tại hạ quay người đi, cái gì đặt cược ta
cũng không cầu.
Hắc Bạch Tử nói:
– Ồ, vị Phong thiếu
hiệp này chỉ muốn cầu danh tiếng. Một kiếm liên tục đả bại Giang Nam tứ hữu dĩ
nhiên oai danh sẽ chấn động giang hồ.
Hướng Vấn Thiên lắc
đầu nói:
– Nhị trang chủ đoán
sai rồi. Hôm nay Mai trang chứng thực kiếm pháp bất luận ai thắng ai bại, nếu
có một lời tiết lộ ra ngoài thì tại hạ và Phong huynh đệ sẽ bị trời tru đất
diệt, là hạng người không bằng cứt chó.
Đan Thanh Sinh nói:
– Được, được! Nói thật
là hay! Căn phòng này rất rộng, ta và Phong huynh đệ thử tỉ hoạch mấy chiêu.
Phong huynh đệ, kiếm của Phong huynh đệ đâu?
Hướng Vấn Thiên cười
nói:
– Đến Mai trang, sao
dám mang binh khí?
Đan Thanh Sinh lớn
tiếng gọi:
– Đem hai thanh kiếm
ra đây!
Bên ngoài có người đáp
dạ. Đinh Kiên và Thi Lệnh Oai mỗi lão cầm một thanh kiếm đi đến trước mặt Đan
Thanh Sinh cúi người dâng lên. Đan Thanh Sinh nhận kiếm từ tay Đinh Kiên, nói:
– Đưa thanh kiếm này
cho Phong huynh đệ.
Thi Lệnh Oai đáp dạ,
rồi hai tay cầm kiếm đi đến trước mặt Lệnh Hồ Xung.
Lệnh Hồ Xung cảm thấy
lúng túng trước chuyện này, chàng quay đầu nhìn Hướng Vấn Thiên.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Kiếm pháp thần thông
của tứ trang chủ Mai trang, Phong huynh đệ chỉ cần học được một chiêu nửa thức
thì có thể thụ dụng bất tận cả đời.
Lệnh Hồ Xung đứng
trước tình thế này, biết không thể từ chối trận tỉ kiếm, đành phải cúi người,
hai tay nhận lấy trường kiếm.
Hắc Bạch Tử bỗng nói:
– Tứ đệ khoan đã. Vị
Đồng huynh này đánh cược là bất kỳ ai trong Mai trang chúng ta thắng được Phong
huynh, Đinh Kiên cũng biết sử kiếm mà lão cũng là người trong Mai trang, nên
đâu cần nhất định tứ đệ phải đích thân ra tay.
Lão càng nghe Hướng
Vấn Thiên nói có vẻ chắc chắn thắng thì lão càng cảm thấy chuyện này không ổn,
liền quyết định để Đinh Kiên ra tay thử chiêu trước. Lão nghĩ kiếm pháp của
Đinh Kiên cũng tuyệt diệu mà thân phận chỉ là gia nhân của Mai trang, dù thua
cũng không làm tổn thương oai danh của Mai trang. Chỉ cần lão ra một chiêu thì
có thể biết được thực hư trong kiếm pháp của gã Phong Nhị Trung này.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Phải, phải. Chỉ cần
có người trong Mai trang thắng được kiếm pháp của Phong huynh đệ tại hạ thì coi
như bọn tại hạ đã thua, không nhất định là đích thân tứ trang chủ ra tay. Vị
Đinh huynh này được người trên giang hồ gọi là Nhất tự điện kiếm, kiếm chiêu rất
nhanh, thế gian hiếm thấy. Phong huynh đệ, trước tiên huynh đệ hãy lĩnh giáo
chữ “Điện” trong kiếm pháp của Đinh huynh này là được rồi.
Đan Thanh Sinh ném
trường kiếm qua Đinh Kiên rồi cười nói:
– Nếu ngươi thua, ta
phạt ngươi đi Thổ Lỗ Phồn vận chuyển rượu về đấy.
Đinh Kiên khom người
nhận kiếm bay đến. Lão quay sang nói với Lệnh Hồ Xung:
– Đinh mỗ xin lĩnh
giáo kiếm pháp của Phong gia.
Soạt một tiếng, Đinh
Kiên rút trường kiếm ra. Lệnh Hồ Xung cũng rút trường kiếm ra khỏi vỏ, đặt vỏ
kiếm lên trên bàn đá. Hướng Vấn Thiên nói:
– Ba vị trang chủ và
Đinh huynh, chúng ta chỉ chứng thực kiếm pháp chứ không tỷ đấu nội lực.
Hắc Bạch Tử nói:
– Vậy ai điểm trúng
thì dừng lại.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Phong huynh đệ,
Phong huynh đệ không được sử ra một chút nội lực nào hết. Chúng ta tỉ đấu kiếm
pháp, người nào có chiêu số tinh thục thì thắng, người ra chiêu số sơ hở thì
thua. Khí công của phái Hoa Sơn huynh đệ nổi danh trong võ lâm, nếu huynh đệ
dùng nội lực thủ thắng thì coi như chúng ta thua rồi.
Lệnh Hồ Xung cười thầm
trong bụng, nghĩ: “Hướng đại ca thừa biết ta chẳng có chút nội lực nào. Đây là
nói để lừa người ta”.
Lệnh Hồ Xung liền nói:
– Nội lực của tiểu đệ
mà sử ra thì khiến cho ba vị tiền bối và hai vị huynh đệ Đinh, Thi đây phải
cười đến rớt cả răng, đương nhiên tiểu đệ không dám sử ra chút nào đâu.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Chúng ta đến Mai
trang với tất cả thành ý, nếu Phong huynh đệ quá khiêm tốn thì đối với bốn vị
tiền bối sẽ trở thành bất kính. Tử hà thần công của phái Hoa Sơn huynh đệ còn
hơn cả nội công của phái Tung Sơn ta, trong võ lâm ai cũng biết điều đó. Phong
huynh đệ, huynh đệ hãy đứng vào trong hai vết chân của ta, hai chân không được
di động, để cùng Đinh huynh tỷ thí kiếm chiêu xem sao.
Hướng Vấn Thiên nói
xong liền đứng sang một bên. Trên hai miếng gạch xanh hiện ra dấu ấn hai bàn
chân, sâu đến hai tấc. Thì ra lúc đang nói, lão đã ngấm ngầm vận nội lực ấn
mạnh hai bàn chân xuống nền gạch xanh.
Hắc Bạch Tử, Ngốc Bút
Ông, Đan Thanh Sinh cả ba người cùng reo lên:
– Hảo công phu!
Họ thấy Hướng Vấn
Thiên nói năng hoạt bát, vẻ mặt bình thản, lão chỉ vận nội lực xuống bàn chân
và ấn bàn chân xuống mà không bị sứt mẻ miếng gạch nào, hai vết chân sâu cạn
như nhau giống như dùng đao nhỏ sắc bén điêu khắc tỉ mỉ vậy. Nội lực kinh người
ấy chính mình thực khó bì kịp. Bọn Đan Thanh Sinh chỉ biết là Hướng Vấn Thiên
phô diễn nội công, cách phô trương như vậy tuy không khỏi có chút nông cạn,
không phải là hành vi của bậc cao nhân, nhưng thần công kinh người khiến cho
người ta khâm phục. Bọn họ không biết Hướng Vấn Thiên còn có một thâm ý khác.
Còn Lệnh Hồ Xung đương nhiên là hiểu. Hướng Vấn Thiên tuyên dương nội công của
chàng cao hơn so với lão, nội công của lão đã cao thâm như vậy thì dĩ nhiên
chàng càng lợi hại hơn, lúc đối phương quá chiêu quyết không dám sử dụng nội
lực để khỏi rước nhục vào thân. Vả lại ngoài kiếm pháp ra, những võ công khác
của chàng không có gì đáng nói, còn khinh công quyết không phải là sở trường.
Hai chân đứng vào vết chân của lão, chỉ triển khai kiếm pháp, cũng là cách che
giấu cái sở đoản của mình.
Đinh Kiên nghe Hướng
Vấn Thiên bảo Lệnh Hồ Xung đứng hai chân vào vết chân của lão để tỷ kiếm với
mình, rõ ràng là có ý coi thường lão, nên lòng lão không khỏi tức giận. Nhưng
lão thấy công lực đạp gạch lưu ngấn thâm hậu như vậy cũng không khỏi kinh hãi,
thầm nghĩ: “Bọn này cả gan dám đến khiêu chiến với bốn vị trang chủ, thì dĩ
nhiên không phải là hạng tầm thường. Ta chỉ mong đấu với người này giữ được thế
quân bình coi như đã lập được công cho Cô Sơn Mai trang rồi vậy”.
Năm xưa, lão rất ngông
cuồng kiêu ngạo, về sau gặp phải cường địch bức bách lão lâm vào thế sống dở
chết dở. May mà được Giang Nam tứ hữu ra tay giải cứu khỏi nơi khốn cùng, lão
mới đầu thân vào Mai trang, cam tâm làm đầy tớ, bao nhiêu kiêu ngạo hống hách
đều bỏ hết.
Lệnh Hồ Xung bước vào
vết chân của Hướng Vấn Thiên, mỉm cười nói:
– Mời Đinh huynh!
Đinh Kiên nói:
– Phong gia, tại hạ
xin thất lễ.
Đinh Kiên vung ngang
trường kiếm, véo một tiếng, trước mắt mọi người một đường chớp sáng lướt qua.
Tuy lão đã quy ẩn ở Mai trang hơn mười năm nhưng công phu vẫn không thua kém gì
năm xưa. Mỗi chiêu Nhất tự điện kiếm xuất ra đều như chớp xẹt ngang trời, khiến
cho người nhìn thấy phải kinh tâm động phách. Năm xưa Đinh Kiên bị bại dưới tay
Độc hành đại đạo mù lòa chỉ vì đối thủ mù mắt chỉ nghe tiếng động mà nhắm
phương hướng, nên chiêu Nhất tự điện kiếm khiến người ta phải khiếp mà lão không
thể thi triển ra được. Bây giờ lão đem kiếm pháp này thi triển ra, trong chớp
mắt cả gian phòng đều đầy những tia điện quang làm lóa mắt mọi người.
Nhưng Đinh Kiên vừa
xuất ra một chiêu Nhất tự điện kiếm thì Lệnh Hồ Xung đã thấy được ba chỗ sơ hở
lớn của lão. Đinh Kiên không vội tấn công, lão chỉ vung ngang trường kiếm liên
tục giống như là ra vẻ kính lễ với khách nhưng thực ra lão có dụng ý muốn Lệnh
Hồ Xung bị lóa mắt, thần trí đờ ra, khó chống đỡ những chiêu sau của lão. Lúc
lão sử chiêu thứ năm, Lệnh Hồ Xung đã thấy được mười tám chỗ sơ hở trong kiếm
pháp của lão liền nói:
– Tại hạ thật là đắc
tội.
Lệnh Hồ Xung phóng
trường kiếm chênh chếch ra.
Lúc này Đinh Kiên đang
vung kiếm lướt nhanh từ trái qua phải thì mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung chỉ cách cổ
tay lão khoảng hai thước sáu, bảy tấc. Thế lướt kiếm này của Đinh Kiên là tự
đưa cổ tay của mình đến mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung. Thế kiếm của Đinh Kiên đi
quá mạnh nên không cách nào đổi được. Năm người đứng xem không hẹn mà cùng la
lên:
– Cẩn thận!
Hắc Bạch Tử đang cầm
hai con cờ trong tay, toan ném qua đánh trường kiếm của Lệnh Hồ Xung, để cổ tay
của Đinh Kiên không bị chặt đứt, nhưng lão lại nghĩ: “Nếu mình ra tay hỗ trợ
thì thành thế hai chọi một, Mai trang bị thua trắng rồi, không thể đấu tiếp
nữa”.
Lúc lão đang chần chừ
thì cổ tay của Đinh Kiên đã hướng thẳng vào mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung, Thi Lệnh
Oai lớn tiếng la lên:
– Chao ôi!
Trong khoảng thời gian
điện quang thạch hỏa này, Lệnh Hồ Xung nhẹ xoay chuyển cổ tay nên mũi kiếm
nghiêng lệch qua. Bốp một tiếng, cổ tay của Đinh Kiên đã đánh lên sống kiếm của
hắn nên lão không bị tổn thương gì hết. Đinh Kiên ngẩn người ra, biết Lệnh Hồ
Xung đã hạ thủ lưu tình. Trong khoảnh khắc này lão nhìn lại bàn tay của mình,
nghĩ nếu nó bị chặt đứt thì tàn phế võ công suốt đời, khắp người lão toát mồ
hôi lạnh. Lão cúi người nói:
– Đa tạ Phong lão hiệp
hạ kiếm lưu tình.
Lệnh Hồ Xung cũng khom
người hoàn lễ, nói:
– Không dám! Đa tạ.
Hắc Bạch Tử, Ngốc Bút
Ông và Đan Thanh Sinh thấy Lệnh Hồ Xung nghiêng mũi kiếm để Đinh Kiên không bị
đả thương thì lòng họ đều nẩy ra mối thiện cảm. Đan Thanh Sinh rót đầy một chén
rượu nói:
– Phong huynh đệ, kiếm
pháp của Phong huynh đệ thật tinh kỳ, ta kính huynh đệ một chén.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Tại hạ không dám.
Lệnh Hồ Xung liền đón
chén rượu uống cạn. Đan Thanh Sinh bồi tiếp một chén nữa rồi lại rót đầy rượu
vào chén của Lệnh Hồ Xung, nói:
– Phong huynh đệ, tấm
lòng nhân hậu của Phong huynh đệ đã bảo toàn được bàn tay của Đinh Kiên. Ta
kính huynh đệ một chén nữa.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Đó chẳng qua là may
mắn, đâu có gì đáng kể?
Lệnh Hồ Xung đưa hai
tay bưng chén rượu uống. Đan Thanh Sinh lại rót thêm một chén nữa, nói:
– Đây là chén thứ ba,
hai chúng ta không ai được uống trước. Ta và huynh đệ cùng đấu chơi, nếu ai
thua thì phải uống chén rượu này.
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Nếu vậy thì dĩ nhiên
tại hạ thua, chi bằng để tại hạ uống trước.
Đan Thanh Sinh xua tay
nói:
– Đừng vội, đừng vội!
Lão đặt chén rượu lên
bàn đá, nhận trường kiếm từ tay của Đinh Kiên nói:
– Phong huynh đệ,
huynh đệ xuất chiêu trước đi.
Lúc Lệnh Hồ Xung uống
mấy chén rượu, lòng đã tính toán: “Lão tự xưng là đệ nhất hảo tửu, đệ nhị hảo
họa, đệ tam hảo kiếm, tất nhiên kiếm pháp của lão rất tinh thâm. Ta xem bức
tranh tiên nhân mà lão họa treo ở trong đại sảnh, bút pháp rất mạnh mẽ mà dường
như có một chút gì đó bản thân lão không quản được. Nếu kiếm pháp của lão cũng
như vậy thì tất nhiên sẽ nhiều sơ hở”.
Lệnh Hồ Xung cúi người
nói:
– Tứ trang chủ, xin
trang chủ nhẹ tay cho.
Đan Thanh Sinh nói:
– Phong huynh đệ không
cần phải khách khí, xuất chiêu đi.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Xin tuân mệnh!
Lệnh Hồ Xung đưa
trường kiếm lên, vung kiếm nhắm đâm vào đầu vai của Đan Thanh Sinh.
Chiêu kiếm này phóng
ra thế đi xiêu vẹo rõ ràng không có chút khí lực nào, càng không ra chiêu pháp
gì. Kiếm pháp trong thiên hạ quyết không có chiêu nào như vậy. Đan Thanh Sinh
ngạc nhiên nói:
– Sao kỳ vậy?
Lão đã biết Lệnh Hồ
Xung là người phái Hoa Sơn nên trong đầu lão đã hiện lên các đường kiếm pháp
của phái Hoa Sơn, nào ngờ Lệnh Hồ Xung xuất ra chiêu này ngoài sự tưởng tượng
của lão.
Nó không những không
phải là kiếm pháp của phái Hoa Sơn, thậm chí cũng không phải là kiếm pháp nữa.
Lệnh Hồ Xung học kiếm
pháp của Phong Thanh Dương, ngoài học được Độc Cô cửu kiếm độc bộ cổ kim, còn
lĩnh ngộ được tinh nghĩa trong kiếm học là “Lấy vô chiêu thắng hữu chiêu”. Yếu
chỉ này và Độc Cô cửu kiếm hỗ trợ lẫn nhau. Độc Cô cửu kiếm tinh vi ảo diệu đạt
đến cực điểm, nhưng rốt cuộc vẫn là từng chiêu từng thức, vẫn có vết tích để
đối phương lần ra, đến khi đem kiếm lý “Lấy vô chiêu thắng hữu chiêu” kết
hợp vận dụng vào, thì sẽ càng thêm không linh phiêu hốt, khiến người ta không
thể nào nắm bắt. Lệnh Hồ Xung chỉ mới xuất một chiêu thì Đan Thanh Sinh đã ngẩn
người, liền cảm thấy nếu chống đỡ thì thực lão không biết nên chống đỡ ra sao.
Lão đành phải lùi ra hai bước né tránh. (Không linh phiêu hốt là linh hoạt
kỳ ảo, nhẹ nhàng không thể biết trước)
Một chiêu của Lệnh Hồ
Xung đã bức được Đinh Kiên phải buông kiếm chịu thua, tuy Hắc Bạch Tử và Ngốc
Bút Ông đã ngấm ngầm khen kiếm pháp của Lệnh Hồ Xung nhưng hai lão cũng chẳng
ngạc nhiên mấy, nghĩ rằng Lệnh Hồ Xung đã dám đến Mai trang khiêu chiến, nếu
ngay cả một tên đầy tớ của Mai trang mà đấu cũng không lại tất khiến người ta
quá nực cười. Nhưng khi thấy Đan Thanh Sinh bị một kiếm của Lệnh Hồ Xung bức
bách phải thối lui hai bước thì hai lão không khỏi kinh hãi.
Sau khi Đan Thanh Sinh
lùi lại hai bước liền tiến lên hai bước. Trường kiếm của Lệnh Hồ Xung liền
phóng ra, lần này nhắm kiếm đâm vào sườn trái của lão, vẫn thuận tay đâm kiếm
ra hoàn toàn không theo chiêu thức nào hết. Đan Thanh Sinh quét ngang kiếm toan
đỡ nhưng song kiếm chưa giao nhau thì lão liền cảm thấy mũi kiếm của Lệnh Hồ
Xung đã chỉ chênh chếch vào dưới sườn phải của mình, nơi này môn hộ rộng mở,
đối phương mà thừa thế tấn công thì không sao cứu vãn được. Chiêu đỡ gạt của
lão vạn lần không thể thực hiện được, trong lúc nguy cấp liền biến chiêu, đẩy
mạnh hai chân nhảy lùi về phía sau hơn một trượng. Lão lớn tiếng khen:
– Hảo kiếm pháp!
Lão không ngừng nghỉ
chút nào, vội xông đến, cả người lẫn kiếm nhắm đâm nhanh về hướng Lệnh Hồ Xung,
thế đạo uy mãnh.
Lệnh Hồ Xung thấy
khuỷu tay phải của lão có một chỗ sơ hở rất lớn, liền vung trường kiếm nhắm hớt
vào khuỷu tay phải của lão. Nếu Đan Thanh Sinh không biến chiêu thì khuỷu tay
phải của lão sẽ bị Lệnh Hồ Xung chém trúng. Võ công của lão cũng thật lợi hại,
trong lúc nguy cấp lão vội trầm cổ tay xuống, lão đâm trường kiếm xuống đất,
mượn thế phóng lộn người ra sau, trầm ổn mà đáp xuống cách xa hai trượng. Lúc
này, lưng lão cách vách tường không quá mấy tấc, nếu lúc lộn người lão dùng lực
quá mạnh thì lưng đã đập vào vách tường, làm mất đi oai phong của một cao nhân.
Trong phút chốc, lão đã tránh đến mức luống cuống, mặt lão nổi lên sắc đỏ tía.
Lão là người phóng
khoáng đầy khí phách, không thẹn hay tức giận mà trái lại còn bật cười ha hả,
đưa ngón tay cái lên khen:
– Hảo kiếm pháp!
Lão múa tít trường
kiếm xuất ra chiêu Bạch hồng quán nhật, kế tiếp lão biến chiêu Xuân phong dương
liễu rồi lại biến chiêu Đằng giao khởi phụng. Ba chiêu kiếm này xuất ra liên
tục, dường như không thấy chân lão xê dịch nhưng lúc lão sử ba chiêu kiếm ra,
mũi kiếm đã đến gần trước mặt Lệnh Hồ Xung.
Lệnh Hồ Xung liền nhẹ
nghiêng kiếm, đánh lên lưng kiếm của lão, phương vị rất chuẩn xác. Trường kiếm
của Đan Thanh Sinh phóng tới thì bao nhiêu tinh thần khí lực đều tập trung vào
mũi kiếm còn trên sống kiếm lại không có chút lực đạo nào. Chỉ nghe keng một
tiếng nhẹ, trường kiếm của lão bị đè xuống. Trường kiếm của Lệnh Hồ Xung hất ra
rồi chỉ vào ngực lão. Đan Thanh Sinh a lên một tiếng, nhảy người né sang bên
trái.
Tay trái của lão nắm
chặt kiếm quyết, trường kiếm trong tay phải tấn công qua, lần này lão ngạnh
phách ngạnh chém. Đang lúc vung kiếm lên cao chém xuống, lão la to:
– Cẩn thận!
Lão cũng không muốn
làm tổn thương Lệnh Hồ Xung nhưng thế kiếm Ngọc long đảo huyền rất lợi hại, nếu
Lệnh Hồ Xung không tránh kịp thì lão không thu kiếm về kịp, chỉ e lão sẽ chém
Lệnh Hồ Xung bị thương thật.
Lệnh Hồ Xung đáp “được”,
rồi hất trường kiếm lên, choang một tiếng, lưỡi kiếm của chàng đã chênh chếch
dính vào lưỡi kiếm của lão. Nếu chiêu kiếm này của Đan Thanh Sinh thừa thế chém
xuống thì lúc lưỡi kiếm chưa đến đỉnh đầu Lệnh Hồ Xung, năm ngón tay cầm kiếm
của lão đã bị Lệnh Hồ Xung chém rớt. Thấy trường kiếm của Lệnh Hồ Xung trượt
lên trên lưỡi kiếm của mình, chiêu này lão không thể phá được. Lão đành phải
đánh mạnh chưởng trái xuống mặt đất. Ầm một tiếng, lão mượn lực vọt người nhảy
về phía sau hơn một trượng.
Lão chưa đứng vững đã
liên tục vạch trường kiếm ba vòng trước mặt tựa hồ như ba vòng hào quang trắng
xóa. Ba vòng ánh quang này giống như vật hữu hình ngừng lại trên không gian một
lúc rồi từ từ dịch chuyển đến trước người Lệnh Hồ Xung. Mấy luồng kiếm khí xoay
thành vòng tròn, ánh bạch quang dường như không lợi hại bằng Nhất tự điện kiếm
nhưng kiếm khí tỏa ra đầy nhà, khí lạnh ào ạt. Lệnh Hồ Xung phóng trường kiếm
ra, đâm tạt ngang vào vòng ánh quang từ mé trái, do lực đạo chiêu thứ nhất của
Đan Thanh Sinh vừa đi qua mà kình lực của chiêu thứ hai chưa phát sinh nên có
một cái khe hở đấy. Đan Thanh Sinh la úi chà một tiếng, liền nhảy lùi ra, vòng
kiếm quang cũng lùi ra theo lão. Vòng kiếm quang bỗng nhiên co lại rồi trương
rộng ra, lại xông về hướng Lệnh Hồ Xung. Cổ tay Lệnh Hồ Xung rung một cái,
phóng trường kiếm đâm ra, Đan Thanh Sinh lại la úi chà một tiếng rồi vội nhảy
lùi ra.
Đan Thanh Sinh cứ chợt
tiến chợt thoái, lão tấn công càng nhanh thì thoái cũng càng nhanh. Trong
khoảnh khắc lão đã tấn công mười một chiêu và lùi mười một lần. Bỗng thấy râu
tóc lão dựng đứng, luồng kiếm quang cực mạnh chiếu vào mặt lão khiến mặt lão
bao phủ một làn thanh khí. Mấy chục luồng bạch quang lớn nhỏ cùng xông vào Lệnh
Hồ Xung. Đây là tuyệt tác đăng phong tạo cực trong kiếm pháp của lão, lão đem
mấy chục chiêu kiếm pháp hợp lại làm một. Mỗi chiêu trong mấy chục chiêu kiếm
pháp đều có sát chiêu, mỗi chiêu đều có biến hóa, nên khi mấy chục chiêu hợp
lại làm một thì phức tạp vô cùng.
Lệnh Hồ Xung lấy giản
ngự phồn. Người chùn xuống, chàng hất ngược mũi kiếm từ phía dưới mấy chục vòng
bạch quang lên rồi chỉ thẳng vào bụng dưới của Đan Thanh Sinh.
Đan Thanh Sinh lại la
to, lão cố hết sức nhảy lùi ra. Bịch một tiếng, lão ngồi phịch lên bàn đá, tiếp
theo nghe mấy tiếng loảng xoảng, mấy cái chén rượu trên bàn bị chấn động rớt
hết xuống đất, bể nát vụn ra. Lão cười ha hả nói:
– Tuyệt quá, tuyệt
quá! Phong huynh đệ, kiếm pháp của Phong huynh đệ cao hơn ta rất nhiều. Nào,
nào! Ta kính huynh đệ ba chén rượu.
Hắc Bạch Tử và Ngốc
Bút Ông từng biết tạo nghệ kiếm pháp của tứ đệ, trước mắt thấy lão đã tấn công
mười sáu chiêu mà hai chân của Lệnh Hồ Xung vẫn không rời khỏi vết chân của
Hướng Vấn Thiên, lại bức Đan Thanh Sinh phải thối lui đến mười tám lần. Kiếm pháp
của Lệnh Hồ Xung quá cao cường thật khiến cho người khác vừa khiếp sợ vừa khâm
phục.
Đan Thanh Sinh rót
rượu ra cùng uống với Lệnh Hồ Xung ba chén rồi nói:
– Trong Giang Nam tứ
hữu thì ta là người có võ công thấp kém nhất, tuy ta chịu thua nhưng nhị ca và
tam ca chắc lại không phục. Chắc các vị đều muốn tỉ thí với huynh đệ đó.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Hai người chúng ta
đã chiết mười mấy chiêu, tứ trang chủ đâu có thua chiêu nào, làm sao nói thắng
hay bại được?
Đan Thanh Sinh lắc đầu
nói:
– Ngay từ chiêu đầu
tiên đã thua thì mười bảy chiêu sau đều là thừa. Đại ca nói phong độ của ta
không đủ, quả thật không sai chút nào.
Lệnh Hồ Xung cười nói:
– Phong độ của tứ
trang chủ cực cao, tửu lượng cũng cực cao.
Đan Thanh Sinh cười
nói:
– Đúng, đúng, chúng ta
uống rượu nữa.
Trước đây lão rất tự
phụ về kiếm thuật của mình. Vậy mà hôm nay lão bị thua dưới tay một kẻ hậu sinh
không tiếng tăm nhưng lão không có chút gì tức giận. Tính lão tiêu sái rộng
rãi, thật là người có phong độ vào hàng đệ nhất khiến cho Hướng Vấn Thiên và
Lệnh Hồ Xung đều không kìm được sự nể phục, cảm thấy người này phẩm cách rất
cao.
Ngốc Bút Ông nói với
Thi Lệnh Oai:
– Thi quản gia, phiền
quản gia đem cây ngốc bút đến cho ta.
Thi Lệnh Oai đáp dạ
rồi đi lấy một món binh khí vào, hai tay đưa lên. Lệnh Hồ Xung nhìn thấy đó là
cây phán quan bút đúc bằng thép nguyên chất dài một thước sáu tấc. Điều kỳ lạ
là ở chỗ trên đầu phán quan bút lại buộc một túm lông cừu dính đầy mực giống như
một cây bút để viết chữ to. Cái đầu bút của những cây phán quan bút bình thường
dùng để điểm huyệt, nhưng thứ binh khí này của lão lại dùng lông cừu mềm mại
làm đầu bút, khi điểm huyệt đạo trên người đối phương thì làm sao có thể khắc
địch chế thắng được. Lệnh Hồ Xung nghĩ võ công của lão chắc có gia số khác mà
nội lực của lão tất nhiên rất hùng hậu, nội lực vận lên sợi lông cừu cũng có
thể đả thương người.
Ngốc Bút Ông cầm cây
phán quan bút mỉm cười nói:
– Phong huynh, Phong
huynh vẫn để hai chân không rời khỏi vết chân ư?
Lệnh Hồ Xung vội lùi
lại hai bước, cúi người nói:
– Không dám. Vãn bối
xin thỉnh giáo tiền bối, đâu dám tự cao tự đại.
Đan Thanh Sinh gật đầu
nói:
– Đúng vậy, huynh đệ
đấu kiếm với ta đứng yên một chỗ thì được nhưng tỷ kiếm với tam ca của ta thì
không được đâu.
Ngốc Bút Ông giơ phán
quan bút lên mỉm cười nói:
– Mấy đường bút pháp
này của ta là từ trong bút thiếp danh gia mà biến hóa ra, Phong huynh văn võ
song toàn tất nhiên nhìn thấy được bút pháp của ta. Phong huynh là hảo bằng hữu
nên ta không tẩm mực vào ngốc bút này.
Lệnh Hồ Xung hơi ngẩn
ra, thầm nghĩ: “Nếu mình không là hảo bằng hữu của lão thì lão tẩm mực vào bút.
Bút tẩm mực để làm gì?”
Lệnh Hồ Xung không
biết khi Ngốc Bút Ông lâm địch, lão tẩm lên phán quan bút một thứ mực chế bằng
dược liệu đặc biệt, sau khi quệt vào da người thì mực thấm sâu vào, trong mấy
năm không rửa sạch, dao cắt cũng không hết. Năm xưa cao thủ trong võ lâm đối
địch với Giang Nam tứ hữu, cảm thấy ngán nhất là Ngốc Bút Ông. Nếu không cẩn thận
thì bị lão vẽ một cái vòng tròn hoặc gạch chéo lên mặt, thậm chí còn viết lên
mặt một hai chữ thì phải mấy năm trời không dám nhìn mặt ai. Thà bị ai chém một
đao, chặt đứt một cánh tay còn hơn là bị lão quẹt mực vào mặt. Ngốc Bút Ông
thấy lúc Lệnh Hồ Xung động thủ với Đinh Kiên và Đan Thanh Sinh, chàng xuất kiếm
rất nhân nhượng nên lão không tẩm mực vào bút. Tuy Lệnh Hồ Xung không hiểu ý
của lão nhưng cũng nghĩ lão đối với mình rất khách khí. Chàng liền cúi người
nói:
– Đa tạ thịnh tình của
tam trang chủ. Vãn bối chữ nghĩa kém cỏi nên không thể hiểu được bút pháp của
tam trang chủ.
Ngốc Bút Ông hơi cảm
thấy thất vọng. Lão nói:
– Phong huynh không
hiểu thư pháp ư? Thôi được, ta giải thích cho Phong huynh nghe. Bộ bút pháp của
ta gọi là Bùi tướng quân thi, từ thư thiếp của Nhan Chân Khanh biến hóa ra, tất
cả gồm hai mươi ba chữ, mỗi chữ từ ba chiêu đến mười sáu chiêu không đều nhau.
Phong huynh hãy nghe rõ “Bùi tướng quân! Đại quân chế lục hợp. Mãnh tướng thanh
cửu cai. Chiến mã như long hổ. Đằng lăng hà tráng tai”.
Lệnh Hồ Xung nói:
– Đa tạ tiền bối đã
chỉ giáo.
Lệnh Hồ Xung lại nghĩ:
“Bất luận thi từ, thư pháp gì của lão mình cũng chẳng hiểu”.
Ngốc Bút Ông dựng phán
quan bút lên, hướng về má trái của Lệnh Hồ Xung liên tục điểm ba chấm, đúng là
ba nét chấm đầu của chữ “Bùi”. Ba điểm này chỉ là hư chiêu. Lão lại giơ bút
lên, muốn vạch từ trên xuống dưới. Lệnh Hồ Xung vung trường kiếm ra đâm nhanh vào
vai phải của lão để chế ngự tiên cơ. Ngốc Bút Ông bất đắc dĩ phải giơ ngang cây
bút để đỡ thì Lệnh Hồ Xung đã rút trường kiếm về rồi. Binh khí của hai người
chưa giao nhau, chiêu sử ra đều là hư chiêu, nhưng chiêu thứ nhất trong bút
pháp Bùi tướng quân thi của Ngốc Bút Ông chỉ sử được nửa chiêu, không cách nào
sử ra hết được. Cây bút của lão đỡ vào khoảng không. Lão liền sử ra chiêu thứ
hai. Lệnh Hồ Xung không chờ đầu bút của lão đâm ra, vung trường kiếm tấn công
buộc lão phải tự cứu mình. Ngốc Bút Ông hồi bút về đỡ, Lệnh Hồ Xung cũng rút
trường kiếm về; chiêu thức thứ hai của Ngốc Bút Ông vẫn chỉ sử ra được nửa
chiêu.
Ngốc Bút Ông vừa xuất
chiêu thì bị Lệnh Hồ Xung liên tiếp phong tỏa hai chiêu, bộ bút pháp vô cùng
đắc ý của lão không sao sử ra được. Lão vô cùng bực bội, giống như một người
viết chữ đẹp nhưng vừa để bút lên viết được vài nét thì bị đứa con nít đứng bên
cạnh cản bút, kéo cánh tay khiến cho người đó không sao viết xong một chữ. Ngốc
Bút Ông thầm nghĩ: “Ta lỡ đem nội dung bài thơ “Bùi tướng quân thi” ngâm cho
hắn nghe nên hắn biết đường bút của ta mà kìm chế tiên cơ. Từ giờ trở đi, mỗi
chiêu ta đánh không theo thứ tự bài thơ nữa”.
Lão liền giơ bút lên
không, điểm một cái rồi từ góc phải kéo xuống đến chỗ quanh bên góc trái, kình
lực của lão dư thừa, đầu bút vẽ chữ “Như” theo lối viết chữ thảo, Lệnh Hồ Xung
vung trường kiếm ra nhắm vào sườn phải của lão đâm tới. Ngốc Bút Ông giật mình
kinh hãi, vội xoay phán quan bút về để đỡ trường kiếm của chàng. Lệnh Hồ Xung
phóng ra chiêu này kỳ thực không phải muốn đâm vào lão mà chỉ bày ra tư thế của
chiêu thức thôi. Ngốc Bút Ông lại chỉ sử được nửa chiêu. Trong nét chữ thảo,
lão đã tập trung bao nhiêu tinh thần khí lực, bỗng nhiên nửa chừng phải chuyển
hướng, không những đường bút bị gián đoạn mà đồng thời nội lực bị đổi hướng nên
nội tức bị cản, lão cảm thấy khí huyết trong huyệt Đan điền nhộn nhạo rất khó
chịu khó nói nên lời.
Lão thở mạnh, múa tít
phán quan bút toan sử ra chiêu thức của chữ “Đằng” nhưng chỉ sử ra được nửa
chiêu thì bị Lệnh Hồ Xung tấn công, lão phải hồi bút về để chiết giải. Ngốc Bút
Ông tức giận quát:
– Hảo tiểu tử, chỉ
giỏi quấy rối!
Lão sử phán quan bút
càng nhanh, nhưng dù lão chuyển dịch, biến hóa thế nào thì bút pháp của mỗi chữ
nhiều lắm chỉ viết được hai nét liền bị Lệnh Hồ Xung kìm chế, không cách nào
viết được nữa.
Lão quát to một tiếng
liền biến hóa bút pháp, không phóng túng như vừa rồi mà tập trung kình lực vào
đầu ngọn bút, lối viết ngưng trọng, đường bút phóng ra như tuốt kiếm giương
cung, mang phong thái bút ý lỗi lạc với những nét ba nét phẩy đầy sức
mạnh. Lệnh Hồ Xung không biết đường bút pháp này của lão là mô phỏng cách viết
của Trương Phi, đại tướng đời Thục Hán để viết chữ “Bát mông sơn minh” nhưng
Lệnh Hồ Xung cũng nhận thấy đường bút này khác hẳn trước. Chàng mặc kệ cho lão
sử chiêu thức gì, cứ thấy phán quan bút của lão vừa nhấc lên thì liền tấn công
vào chỗ sơ hở của lão. Ngốc Bút Ông tức quá la oai oái, bất luận lão biến hóa
ra sao rốt cuộc cũng chỉ sử được nửa chiêu, không cách nào sử được trọn vẹn.
Ngốc Bút Ông lại biến
đổi bút pháp, lão viết lối chữ thảo trong bài Hoài Tố tự sự thiếp, nét bút tung
hoành, lưu chuyển vô phương. Lão nghĩ: “Chữ thảo của Hoài Tố vốn rất khó nhận
ra, nếu mình càng viết tháu thêm thì chắc tiểu tử này không phát hiện được lối
cuồng thảo trên đầu bút của ta”.
Lão cho rằng vừa rồi
Lệnh Hồ Xung kìm chế được lão là vì hắn đoán mò được đường bút. Nào ngờ
Lệnh Hồ Xung đừng nói chữ thảo, đến cả chữ khải viết ngay ngắn rõ ràng chàng
cũng chẳng nhận được bao nhiêu. Ngốc Bút Ông cứ tưởng Lệnh Hồ Xung có
thể ra tay chế ngự trước mình là vì đã đoán được đường bút của mình. Kỳ thực
trong mắt Lệnh Hồ Xung, tất cả chỉ đơn thuần là chiêu số của binh khí, rồi nhắm
chỗ hở mà đánh vào, chàng chỉ tấn công vào chỗ sơ hở trong chiêu số của đối
phương mà thôi.
Trong đường cuồng thảo
này của Ngốc Bút Ông, mỗi chiêu lão vẫn chỉ có thể sử được nửa chiêu. Lão càng
tức giận, đột nhiên quát to:
– Không đấu nữa, không
đấu nữa!
Lão nhảy ra phía sau,
bê thùng rượu của Đan Thanh Sinh để trên bàn đổ xuống thành một vũng trên ghế
đá rồi thấm cây bút to vào vũng rượu, viết lên trên bức tường bài “Bùi tướng
quân thi”. Cả hai mươi ba chữ lão viết với tinh thần sảng khoái, nhất là chữ
“Như” lão viết tưởng chừng như muốn phá bức tường mà bay đi. Lão viết xong, thở
phào nhẹ nhàng, cười ha hả, nghiêng đầu thưởng thức các chữ to trên bức tường,
rồi nói:
– Thật tuyệt! Thư pháp
trong đời của ta chỉ có bức này là tuyệt nhất.
Lão càng xem càng đắc
ý, nói:
– Nhị ca, gian kỳ thất
này của nhị ca nên nhường lại cho tiểu đệ ở thôi. Tiểu đệ không thể rời bức
này, chỉ e rằng từ nay về sau tiểu đệ không thể viết được chữ đẹp như vậy nữa.
Hắc Bạch Tử nói:
– Được thôi. Trong kỳ
thất này của ta, ngoài cái bàn cờ ra chẳng có gì cả. Dù tam đệ không muốn thì
ta cũng đổi đi chỗ khác vì trước mấy chữ lớn rồng bay phượng múa của đệ thì làm
sao ta có thể tĩnh tâm đánh cờ được?
Ngốc Bút Ông cứ nhìn
mấy chữ vừa viết, nghiêng đầu lắc cổ, lẩm bẩm tự khen: Dù Nhan Lỗ Công sống lại
cũng chưa chắc viết được như vậy.
Lão quay sang Lệnh Hồ
Xung nói:
– Huynh đệ, nhờ huynh
đệ đã áp bức khiến bút ý đầy bụng ta không cách nào thi triển được, mới đột
nhiên bật lên ngón tay, viết thành một kiệt tác chưa từng có trong trời đất.
Kiếm pháp của huynh đệ thật tuyệt, thư pháp của ta cũng thật tuyệt, thế này gọi
là mỗi người có một sở trường, nên cuộc tỷ đấu này bất phân thắng bại.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Đúng vậy, mỗi người
có một sở trường, bất phân thắng bại.
Đan Thanh Sinh nói:
– Còn nữa, còn nhờ vào
rượu của tiểu đệ nữa.
Hắc Bạch Tử nói:
– Con người tam đệ ta
thật hồn nhiên, say mê thư pháp như kẻ điên khùng đến độ tỉ thí thua rồi mà
không chịu nhận.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Tại hạ hiểu. Cuộc cá
cược của chúng ta như tại hạ đã nói là trong Mai trang không ai có thể thắng
kiếm pháp của Phong huynh đệ. Chỉ cần song phương bất phân thắng bại thì cuộc
cá cược này bọn tại hạ cũng chưa thua.
Hắc Bạch Tử gật đầu
nói:
– Đúng vậy.
Lão thò tay vào dưới
bàn đá, kéo ra một tấm thiết bản hình vuông. Trên thiết bản khắc mười chín
đường cờ ngang dọc, thì ra đó là một cái bàn cờ đúc bằng sắt. Lão nắm góc bàn
cờ giơ lên nói:
– Phong huynh, ta dùng
cái bàn cờ này làm binh khí, xin lãnh giáo cao chiêu của Phong huynh.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Nghe nói cái bàn cờ
này của nhị trang chủ là một báu vật, có thể hút được các loại binh khí, ám
khí?
Hắc Bạch Tử nhìn chằm
chằm vào Hướng Vấn Thiên rồi nói:
– Đồng huynh thật là
bác văn cường ký. Khâm phục, khâm phục! Kỳ thực binh khí của ta không phải là
báu vật, nó được chế từ sắt và nam châm dùng để hút những con cờ làm bằng sắt.
Ta đấu cờ với ai trên thuyền hay trên ngựa, dù bị chao lắc, các con cờ cũng
không bị rối loạn.
Hướng Vấn Thiên nói:
– Thì ra là vậy.
Lệnh Hồ Xung nghe xong
liền nghĩ: “May nhờ Hướng đại ca chỉ giáo, nếu không thì thanh trường kiếm của
ta bị bàn cờ của lão hút vào, chưa đánh đã thua rồi. Đối địch với người này
không thể để bàn cờ của lão chạm vào trường kiếm của ta”.
Lệnh Hồ Xung liền
hướng mũi kiếm xuống, cung tay nói:
– Xin nhị trang chủ
chỉ điểm.
Hắc Bạch Tử nói:
– Không dám. Kiếm pháp
của Phong huynh thật cao minh, bình sinh tại hạ chưa từng thấy qua. Xin tiếp
chiêu.
Lệnh Hồ Xung thuận tay
quét kiếm ra, trường kiếm trong không trung cong cong quẹo quẹo tiến về phía
trước. Hắc Bạch Tử ngẩn người ra, thầm hỏi: “Đây là thủ đoạn gì?”
Lão thấy mũi kiếm nhắm
chỉ vào yết hầu của mình liền giơ bàn cờ lên gạt. Lệnh Hồ Xung chuyển đầu kiếm
toan đâm vào vai phải của lão, Hắc Bạch Tử lại giơ bàn cờ lên đỡ. Lệnh Hồ Xung
không để trường kiếm đến gần bàn cờ; chàng liền rút kiếm về rồi vung kiếm hướng
vào bụng dưới của lão mà đâm.
Hắc Bạch Tử lại giơ
bàn cờ gạt, thầm nghĩ: “Nếu ta không phản kích thì làm sao chiếm được tiên cơ?”
Đánh cờ cần chú trọng
chiếm tiên cơ, tỉ võ quá chiêu cũng chú trọng chiếm tiên cơ. Hắc Bạch Tử tinh
thâm kỳ lý, đương nhiên lão cũng tinh thông nguyên tắc chiếm tiên cơ. Lão vung
bàn cờ nhắm đánh nhanh lên vai phải của Lệnh Hồ Xung. Cái bàn cờ này dài hai
thước vuông, dày cỡ một tấc, là một thứ binh khí rất nặng. Nếu nó đập vào kiếm
dù từ trường trên bàn cờ không hút vào thì trường kiếm cũng bị gãy.
Lệnh Hồ Xung hơi
nghiêng người, kiếm chênh chếch đâm vào sườn phải của lão. Hắc Bạch Tử thấy
chiêu kiếm này của Lệnh Hồ Xung dường như không thành chiêu thức nhưng chỗ hắn
tấn công cần phải ứng phó. Lão liền nghiêng bàn cờ để gạt trường kiếm của Lệnh
Hồ Xung đồng thời đẩy bàn cờ về trước. Chiêu Đại phi này vốn trong thế thủ có
thể tấn công, chỉ cần Lệnh Hồ Xung ra tay đối phó chiêu này thì những chiêu sau
sẽ ồ ạt xông tới. Nào ngờ Lệnh Hồ Xung lại bỏ mặc, trường kiếm đâm chênh chếch
ra tấn công lão. Trong chiêu Đại phi này của Hắc Bạch Tử vừa thủ vừa công nên hiệu
lực chỉ có một nửa, chỉ còn lại thế đỡ mà không có lực để phản kích.
Lệnh Hồ Xung liên tiếp
tấn công hơn bốn chục chiêu không ngừng nghỉ . Hắc Bạch Tử chống bên phải gạt
bên trái rồi chống trước đỡ sau. Lão thủ rất kín kẽ dường như nước cũng không
văng vào được, nghiêm mật vô luân. Nhưng hai người đã chiết hơn bốn chục chiêu
mà Hắc Bạch Tử vẫn giữ thế thủ hơn bốn chục chiêu, không ra tay đánh trả được
chiêu nào.
Ngốc Bút Ông, Đan
Thanh Sinh, Thi Lệnh Oai, Đinh Kiên cả bốn người chỉ trợn mắt há miệng, thấy
kiếm pháp của Lệnh Hồ Xung không nhanh lắm, càng không uy mãnh lợi hại gì, lúc
hắn biến chiêu cũng không có gì đặc biệt xảo diệu nhưng mỗi kiếm hắn phóng ra
đều khiến cho Hắc Bạch Tử đỡ trái hở phải, không thể không phòng thủ chỗ sơ hở.
Ngốc Bút Ông và Đan Thanh Sinh đều biết bất cứ trong chiêu số nào cũng có chỗ
sơ hở, nhưng đã có thể chiếm được tiên cơ một bước, tấn công đánh vào điểm yếu
của đối phương thì chỗ sơ hở của mình không còn là chỗ sơ hở nữa. Cho dù có
trăm ngàn chỗ sơ hở cũng không sao. Lệnh Hồ Xung nguyên nguyên bất tuyệt tấn
công hơn bốn chục chiêu này chính là đã dùng đạo lý đó.
Hắc Bạch Tử càng lúc
càng kinh hãi, chỉ muốn biến chiêu để đánh trả nhưng bàn cờ vừa dịch chuyển thì
mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung đã chỉ vào chỗ sơ hở của lão. Trong hơn bốn mươi
chiêu, ngay cả nửa chiêu lão cũng không kịp đánh trả, chẳng khác nào lão đang
đấu cờ với một tay cao thủ hơn mình xa. Đối phương liên tiếp đi hơn bốn chục
nước cờ mà mình ngay cả một nước cũng không đi được, hoàn toàn không thể tự
chủ.
Hắc Bạch Tử thấy nếu
cứ tỉ đấu tiếp nữa thì dù chiết một chiêu hay hai trăm chiêu cũng vẫn không
cách nào đánh trả được. Lão thầm nghĩ: “Hôm nay, nếu ta không mạo hiểm, nếu bị
gãy gánh giữa đường thì thanh danh cả đời của Hắc Bạch Tử này sẽ trôi theo dòng
nước”.
Lão liền quét ngang
bàn cờ vung mạnh ra, đánh vào hông trái của Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung vẫn
không né tránh, phóng trường kiếm ra trước đâm vào bụng dưới của lão. Lần này
Hắc Bạch Tử lại không thu bàn cờ về để phòng hộ mà vẫn thuận thế đánh giống như
lão quyết ý liều mạng để lưỡng bại câu thương. Đợi trường kiếm của Lệnh Hồ Xung
phóng đến, lão liền đưa song chỉ của tay trái phóng ra nhằm kẹp vào lưỡi kiếm
của chàng. Lão đã luyện thần công Huyền thiên chỉ, nội kình trên hai ngón tay
này rất lợi hại, thật không thua kém gì một thứ binh khí lợi hại nào.
Năm người đứng xem
thấy lão mạo hiểm đi nước cờ này đều la lên, ai cũng hiểu cách đánh như vậy đã
không còn là tỉ võ để so tài mà là cuộc chiến sinh tử. Nếu lão kẹp không trúng
thì mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung sẽ xuyên vào bụng lão. Trong khoảnh khắc, năm
người đều nắm chặt bàn tay, toát mồ hôi hột.
Hai ngón tay của Hắc
Bạch Tử sắp đụng vào lưỡi kiếm, bất luận có kẹp trúng hay không cũng có người
bị thương hoặc chết. Nếu lão kẹp trúng thì trường kiếm của Lệnh Hồ Xung không
cách nào đâm ra được, bàn cờ sẽ đánh lên lưng không thể nào né tránh; nếu lão
kẹp không trúng mà sức của song chỉ cản không nổi thế kiếm thì trường kiếm sẽ
đâm tới, dù Hắc Bạch Tử muốn thoái lui cũng không kịp nữa.
Lúc hai ngón tay của
Hắc Bạch Tử sắp đụng kiếm thì mũi kiếm bỗng hất lên, chỉ vào yết hầu của lão.
Cách biến chiêu của
Lệnh Hồ Xung vượt ra ngoài sự liệu đoán của mọi người. Trong võ học từ xưa tới
nay quyết không thể có chiêu nào như vậy. Nếu như vậy thì chiêu kiếm nhằm đâm
vào bụng dưới vừa rồi lại là hư chiêu, những tay cao thủ tương đấu mà sử hư chiêu
kiểu ấy thì chẳng khác gì trò đùa. Nhưng chiêu này tuyệt không có trong kiếm lý
mà Lệnh Hồ Xung lại sử ra. Mũi kiếm hất lên đâm thẳng vào yết hầu của lão, nếu
bàn cờ của Hắc Bạch Tử tiếp tục đánh tới thì mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung nhất
định đâm xuyên qua yết hầu của lão trước.
Hắc Bạch Tử kinh hãi,
tay phải cố sức giữ cho bàn cờ đứng yên. Lão là người nhanh nhạy, lại giỏi về
kỳ lý, trong lúc tính mạng như ngàn cân treo sợi tóc, lão vẫn đoán được tâm ý
của đối phương. Nếu lão dừng bàn cờ lại thì trường kiếm của hắn cũng không đâm
tới nữa.
Quả nhiên Lệnh Hồ Xung
thấy bàn cờ của lão không đánh đến thì chàng cũng dừng, trường kiếm bất động,
mũi kiếm cách yết hầu của lão không quá vài tấc mà bàn cờ của lão cách lưng
Lệnh Hồ Xung cũng không quá vài tấc. Hai người nhìn nhau giữ thế giằng co nhưng
toàn thân bất động.
Trông cục diện giống
như thế giằng co nhưng kỳ thực Lệnh Hồ Xung đã chiếm thượng phong toàn diện.
Bàn cờ là vật rất nặng, ít nhất phải cách mấy thước vận lực đánh xuống thì mới
có thể đả thương được địch. Bây giờ nó chỉ cách Lệnh Hồ Xung vài tấc thì dù lão
có đánh mạnh đến đâu cũng không đả thương được đối phương. Nhưng trường kiếm
của Lệnh Hồ Xung chỉ cần nhẹ đâm tới thì lão sẽ mất mạng. Tính cách ưu liệt của
hai bên ai cũng thấy được.
Hướng Vấn Thiên cười
nói:
– Bên này cũng không
dám tranh tiên cơ, bên kia cũng không dám tranh tiên cơ, theo kỳ lý đây là thế
Song hoạt. Nhị trang chủ quả là người đại trí đại dũng, đấu với Phong huynh đệ
bất phân thắng bại.
Lệnh Hồ Xung thu
trường kiếm về, lùi ra hai bước, cúi người nói:
– Tại hạ đắc tội!
Hắc Bạch Tử nói:
– Đồng huynh khéo nói
đùa. Cái gì bất phân thắng bại? Kiếm thuật của Phong huynh tinh tuyệt, tại hạ
thảm bại rồi.
Đan Thanh Sinh nói:
– Nhị ca, tài dùng con
cờ làm ám khí của nhị ca là đệ nhất trong võ lâm, ba trăm sáu mươi mốt con cờ
đen trắng bắn ra thì không ai có thể cản được. Sao nhị ca không thử xem công
phu phá ám khí của vị Phong huynh đệ này thế nào?
Hắc Bạch Tử trong lòng
vừa động, thấy Hướng Vấn Thiên khẽ gật đầu. Lão quay qua nhìn Lệnh Hồ Xung thấy
vẻ mặt chàng vẫn thản nhiên, bèn nghĩ bụng: “Kiếm pháp của người này quá cao
minh, trong võ lâm hiện nay e rằng chỉ có người đó mới có thể thắng được vị
khách họ Phong này”.
Nhìn mặt bọn họ vẫn
không có chút gì ra vẻ sợ hãi thì dù lão có sử ám khí xem ra cũng chỉ thêm một
lần xấu hổ nữa mà thôi.
Lão liền lắc đầu cười
nói:
– Ta đã chịu thua rồi,
còn tỉ đấu ám khí gì nữa!
------
Chú thích: Có nhà phê
bình từng bàn về đoạn Đan Thanh Sinh và Lệnh Hồ Xung thưởng rượu ở Mai Trang,
khảo xét rất tỉ mỉ đến mức ấy, quả thực khiến người ta cảm nhận được tấm thịnh
tình của họ. Chỉ có điều, cách nấu rượu và dụng cụ uống rượu của người xưa nước
ta khác xa ngày nay, các nhà bình luận ấy lại lấy chính trải nghiệm cá nhân tại
nước Mỹ làm tiêu chuẩn để luận chuyện thưởng rượu của Đan Thanh
Sinh và Lệnh Hồ Xung, thì chưa hẳn đã thích hợp.
Nếu muốn dùng tiêu
chuẩn hiện đại để bình luận người xưa, thì trong các loại vang hiện đại, chính
tông nhất là vang Pháp, kế đến Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, Bỉ,
Luxembourg, Áo cũng đều có rượu ngon. Những năm gần đây, Penfold Grange
của Úc nổi lên mạnh mẽ, được quốc tế vô cùng ưa chuộng, giá cả tăng vọt.
Ngoài ra, rượu đỏ và rượu trắng của Chile, Argentina, Nam
Phi, New Zealand cũng có loại rất xuất sắc.
Rượu đỏ và rượu trắng
của bang California ở Hoa Kỳ thì phẩm chất kém hơn, trong thực đơn
rượu của các khách sạn và nhà hàng Tây cao cấp trên thế giới thường không đưa
vào, nếu không sẽ tự làm giảm đẳng cấp của nhà hàng.
Người Mỹ uống rượu đỏ
thường pha thêm nước cam có ga và đá lạnh, cũng giống như người Hồng
Kông hay Singapore pha rượu brandy với nước
ngọt 7-up và đá lạnh vậy. Lấy tiêu chuẩn ấy để luận chuyện thưởng
rượu ở Mai Trang của Lệnh Hồ Xung thì dĩ nhiên không thích hợp.
Người Pháp lại đem
rượu vang đi chưng cất thêm, loại thuần chính thường là Cognac hoặc Armagnac.
Trong tiểu thuyết này gọi chúng là “Bồ đào nồng tửu” (rượu nho đặc), nhằm phân
biệt sơ lược với rượu vang thông thường.
Tên gọi “Brandy” vốn
xuất phát từ tiếng Hà Lan. Tuy cùng loại với rượu Pháp, nhưng thường là hỗn hợp
của nhiều loại rượu nho chưng cất khác nhau; thành phần pha trộn của mỗi nhãn
hiệu đều không giống nhau, nên không được xem là thuần chính hoàn toàn.
Bình luận chương
Dưới chương này đang có gì?
Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.
Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.