Tiếu Ngạo Giang Hồ - Bản Tân Tu (Mới nhất)

Hồi 23: Phục Kích

4,5 / 5 (10 lượt)

Trong đêm khuya giữa chốn hoang sơn, bỗng nhiên có người kêu họ tên mình ra rất rõ khiến Lệnh Hồ Xung không khỏi giật mình. Chàng chợt nghĩ chắc là sư phụ của bọn chúng.

 

Nhưng thanh âm rõ ràng là của phụ nữ, cũng không phải là sư nương, càng không phải là Nhạc Linh San. Tiếp theo lại nghe giọng nói của một người con gái, nhưng khoảng cách đã xa mà giọng nói lại nhỏ, nên nghe không rõ cô nói cái gì. Lệnh Hồ Xung nhìn lên sườn núi, chỉ thấy có ba bốn chục bóng đen. Lòng chàng hơi chua xót: “Không biết là ai đang chửi mình? Nếu quả thật là người phái Hoa Sơn, tiểu sư muội nghe người khác chửi mình như vậy, không biết tiểu sư muội sẽ nói thế nào?”

 

Lệnh Hồ Xung liền cúi thấp người chui vào lùm cây bên vệ đường, đi vòng qua bên sườn núi, khom người chạy nhanh đến phía sau một gốc cây to. Tiếng một phụ nữ nói:

 

– Sư bá, Lệnh Hồ sư huynh hành hiệp trượng nghĩa…

 

Lệnh Hồ Xung chỉ nghe được nửa câu thì trong đầu đã hiện lên gương mặt trái xoan thanh tú. Ngực cảm thấy nóng ran, chàng biết người nói là tiểu ni cô Nghi Lâm phái Hằng Sơn. Lệnh Hồ Xung biết những người này là người phái Hằng Sơn chứ không phải là phái Hoa Sơn nên thất vọng vô cùng. Giữa lúc tâm thần bị kích động, Nghi Lâm nói tiếp mấy câu nhưng chàng không nghe được nữa.

 

Giọng người phụ nữ lớn tuổi rất đanh thép lúc trước tức giận nói:

 

– Ngươi còn nhỏ tuổi sao cố chấp vậy? Chẳng lẽ lá thư của Nhạc tiên sinh chưởng môn phái Hoa Sơn là giả sao? Nhạc tiên sinh đã truyền thư khắp thiên hạ, trục xuất Lệnh Hồ Xung ra khỏi môn tường, nói là hắn cấu kết với người trong Ma giáo. Còn oan ức cho hắn lắm sao? Trước đây Lệnh Hồ Xung cứu ngươi, chắc hắn sẽ dựa vào chút ân tình nhỏ đó để ám toán hạ thủ chúng ta…

 

Nghi Lâm nói:

 

– Sư bá, đó không phải là chút ân tình nhỏ đâu. Lệnh Hồ sư huynh tình nguyện liều cả tính mạng của mình…

 

Giọng người phụ nữ lớn tuổi quát:

 

– Ngươi còn gọi hắn là Lệnh Hồ sư huynh ư? Hắn là tên ác tặc tâm địa hiểm độc, giả nhân giả nghĩa để gạt bọn con nít như ngươi. Người trên giang hồ tâm địa hiểm độc, quỷ quyệt muôn mặt đều có cả. Các ngươi còn nhỏ chưa hiểu biết nhiều thì dễ bị lừa lắm.

 

Nghi Lâm nói:

 

– Lời sư bá dạy bảo, đệ tử không dám không nghe, nhưng… nhưng… Lệnh Hồ…

 

Chữ “huynh” cô chưa nói ra miệng liền kìm lại được. Người phụ nữ lớn tuổi hỏi:

 

– Nhưng thế nào?

 

Dường như Nghi Lâm rất sợ hãi, cô không dám nói nữa.

 

Người phụ nữ lớn tuổi nói:

 

– Lần này Tả minh chủ phái Tung Sơn truyền tin tức, rất nhiều người Ma giáo vào đất Mân với mưu đồ cướp đoạt Tịch tà kiếm phổ của nhà họ Lâm ở Phúc Châu. Tả minh chủ muốn Ngũ Nhạc kiếm phái cùng tìm cách ngăn cản để những kẻ yêu ma đen tối không đoạt được kiếm phổ. Võ công chúng đại tiến thì Ngũ Nhạc kiếm phái người người bị chết không có đất mà chôn. Con trai nhà họ Lâm ở Phúc Châu đã đầu nhập vào môn hạ của Nhạc tiên sinh, nếu phái Hoa Sơn được kiếm phổ dĩ nhiên là hay biết mấy. Chỉ e Ma giáo lắm quỷ kế lại thêm đồ đệ cũ của phái Hoa Sơn là Lệnh Hồ Xung biết rõ nội tình, khiến chúng ta vô cùng bất lợi. Chưởng môn nhân đã giao phó trọng trách cho ta gánh vác, ra lệnh cho ta thống lãnh mọi người vào đất Mân. Chuyện này có liên quan đến vận mạng của hai phe chính tà, vạn lần không được khinh suất. Còn ba mươi dặm nữa thì đến chỗ giao giới Triết, Mân. Hôm nay mọi người chịu vất vả một chút, phải đi suốt đêm đến Trấp Bát phố hãy nghỉ ngơi. Chúng ta đón đầu, đợi lúc bọn người Ma giáo kéo đến thì chúng ta chiếm được tiện nghi dĩ dật đãi lao. Nhưng mọi chuyện phải thật cẩn thận.

 

Chỉ nghe tiếng mười mấy phụ nữ đồng thanh dạ. Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: “Vị sư thái này không phải là chưởng môn phái Hằng Sơn, Nghi Lâm sư muội lại gọi bà ta là sư bá, Hằng Sơn Tam Định, chắc là Định Tĩnh sư thái rồi. Bà ta nhận được thư của sư phụ, xem mình là kẻ phản đồ cũng không trách được. Bà ta muốn mau lên đón đầu mà không biết giáo chúng Ma giáo đã mai phục trước rồi. May mà ta phát giác, phải tìm cách báo cho bọn họ biết mới được”.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Khi vào đất Mân phải đề phòng từng bước, bốn bề đều là địch nhân. Không chừng cả điếm tiểu nhị trong phạn điếm hay tên hầu trà trong quán trà đều là gian tế trong Ma giáo. Đừng nói tai vách mạch rừng, dù ở trong bụi cỏ cũng khó tránh khỏi có địch nhân ẩn núp. Từ giờ trở đi, mọi người không được nhắc tới Tịch tà kiếm phổ, ngay cả những cái tên Nhạc tiên sinh, Lệnh Hồ Xung, Đông Phương Bất Bại… cũng không được nhắc đến.

 

Bọn nữ đệ tử đồng thanh đáp dạ.

 

Lệnh Hồ Xung biết giáo chủ Ma giáo Đông Phương Bất Bại thần công vô địch. Lão tự xưng là Bất Bại, nhưng người trong chính giáo lúc nhắc đến lão thì thường gọi là Tất Bại, chuyển âm đi là có hàm ý đề cao chí khí của mình mà giảm bớt oai phong của địch. Lệnh Hồ Xung nghe bà ta đem tên của mình sắp ngang hàng với sư phụ và Đông Phương Bất Bại thì không khỏi cười khổ não, thầm nghĩ: “Ta là tên vô danh tiểu tốt mà được tiền bối phái Hằng Sơn xem trọng như vậy, quả thật không dám nhận”.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Chúng ta lên đường thôi.

 

Chúng đệ tử đồng thanh đáp dạ. Bảy tên nữ đệ tử từ trên sườn núi chạy nhanh xuống, một lúc sau lại có bảy người nữa chạy xuống theo. Khinh công của phái Hằng Sơn đặc biệt có thanh danh trong võ lâm, bảy người trước cách bảy người sau xa gần giống nhau, giống như kết thành trận pháp, tay áo rộng của mười bốn người bay bay phất phới đồng bộ tiến về trước, từ xa nhìn rất đẹp mắt. Một lúc sau nữa lại có bảy người chạy xuống núi.

 

Không bao lâu, chúng đệ tử phái Hằng Sơn từng tốp đều động thân. Tất cả có sáu tốp, tốp sau cùng có tám người. Chắc là có thêm Định Tĩnh sư thái. Những nữ đệ tử này không phải là nữ ni mà là đệ tử tục gia. Trong bóng đêm, Lệnh Hồ Xung khó nhận ra Nghi Lâm ở trong tốp nào. Chàng thầm nghĩ: “Tuy những sư tỉ sư muội phái Hằng Sơn mỗi người đều có tuyệt kỹ, nhưng lên tới sườn núi, hai bên núi cao mà đường hẹp, giáo chúng Ma giáo tập kích bất ngờ tất thương vong nặng nề”.

 

Lệnh Hồ Xung liền bứt một tí cỏ vắt lấy nước thoa lên mặt, lại móc một ít bùn bôi lên mặt và tay. Chàng đi qua mé trái của sơn đạo, đề khí đuổi theo. Khinh công của Lệnh Hồ Xung vốn cũng không giỏi gì, nhưng khinh công cao hay thấp là hoàn toàn lệ thuộc vào nội lực mạnh hay yếu, trên người chàng đang có một phần nội lực của đám Đào Cốc lục tiên, Bất Giới hòa thượng, Phương Sinh đại sư, Hắc Bạch Tử, so với cao thủ đương thời là đã hơn xa, lúc này cứ tùy ý cất bước là một bước nhảy được rất xa. Lệnh Hồ Xung đề khí chạy rất gấp, trong khoảnh khắc đã đuổi kịp đám người phái Hằng Sơn. Chàng sợ Định Tĩnh sư thái võ công cao cường nghe được tiếng bước chân của mình, nên chạy theo đường vòng đón đầu mọi người. Sau khi đến sơn đạo chàng chạy càng nhanh.

 

Lệnh Hồ Xung chạy đến dưới chân núi, đứng lại lắng nghe, không một chút động tĩnh nào. Chàng thầm nghĩ: “Nếu không phải ta tận mắt thấy giáo chúng Ma giáo mai phục ở sườn núi, làm sao mà nghĩ được nơi đây nguy cơ bốn bề. Thật là nguy hiểm”.

 

Lệnh Hồ Xung từ từ đi lên sườn núi, đến chỗ đường hẹp giữa hai ngọn núi, cách chỗ mai phục của giáo chúng Ma giáo khoảng hơn một dặm, ngồi xuống thầm nghĩ: “Người trong Ma giáo chắc đã thấy ta rồi, nhưng bọn họ sợ rút dây động rừng, sẽ không động thủ với ta đâu”.

 

Chàng đợi một lúc, liền nằm xuống giữa đường, nghe có tiếng bước chân ở dưới núi truyền lên. Lệnh Hồ Xung xoay chuyển ý nghĩ: “Hay nhất là ta dụ được giáo chúng Ma giáo xuống động thủ với ta. Chỉ cần đánh nhau thì phái Hằng Sơn biết ngay”.

 

Lệnh Hồ Xung nghĩ vậy liền nói lớn:

 

– Bình sinh lão tử ghét nhất kẻ bắn lén đả thương người. Có bản lãnh sao không vung đao múa thương đánh nhau một trận mà lại ẩn núp lén lút hại người. Đó là hành vi của kẻ đê tiện vô liêm sỉ.

 

Lệnh Hồ Xung quay về hướng núi cao đề khí mà nói, thanh âm nương vào nội lực sung mãn truyền đi rất xa, đoán rằng bọn Ma giáo nhất định phải nghe được. Nào ngờ bọn Ma giáo im hơi lặng tiếng, không thèm để ý tới.

 

Không bao lâu bảy tên nữ đệ tử phái Hằng Sơn đi đầu đã đến trước Lệnh Hồ Xung. Dưới ánh trăng, bảy nữ đệ tử thấy một tên quan sải tay sải chân nằm ngủ dưới đất. Đường núi này chỉ đủ một người đi qua, hai bên đều là vách núi cao chót vót, nếu muốn đi lên thì phải bước qua người của hắn mới được. Bọn nữ đệ tử chỉ cần nhảy một cái thì đã qua khỏi người hắn, nhưng vì nam nữ khác biệt, nhảy qua đầu người đàn ông thì không khỏi quá vô lễ.

 

Một nữ ni trung niên lớn tiếng nói:

 

– Cảm phiền quan gia cho mượn đường đi.

 

Lệnh Hồ Xung ú ớ hai tiếng rồi bỗng nhiên ngáy o o. Nữ ni đó pháp danh là Nghi Hòa nhưng tính tình lại không hòa hoãn chút nào. Cô thấy viên quan này nửa đêm khuya khoắt mà ngủ giữa đường đã là chuyện bê bối, lại còn lớn tiếng ngáy, chín mười phần là đang làm bộ làm tịch. Cô cố dằn nỗi tức giận nói:

 

– Nếu quan gia không nhường lối, thì bọn bần ni phải nhảy qua người quan gia đó.

 

Lệnh Hồ Xung ngáy o o, mơ màng nói:

 

– Trên đường này yêu ma quỷ quái nhiều lắm, đi qua không được đâu. Ơ ờ ờ, khổ hải vô biên, hồi… hồi đầu thị ngạn.

 

Nghi Hòa ngẩn người ra, nghe hắn nói mấy câu này dường như có ẩn ý. Một tên nữ ni kéo tay áo Nghi Hòa, cả bảy người đều lui mấy bước.

 

Một người nhỏ nhẹ nói:

 

– Sư tỷ, người này kỳ quặc quá.

 

Lại một người nói:

 

– Chỉ sợ hắn là gian nhân của Ma giáo, chực chờ ở đây để khiêu chiến với chúng ta.

 

Một người khác nói:

 

– Người trong Ma giáo quyết không đi làm quan binh cho triều đình, dù có cải trang cũng không cải trang như vậy.

 

Nghi Hòa nói:

 

– Mặc kệ hắn! Hắn không tránh ra thì chúng ta nhảy qua luôn.

 

Nghi Hòa bước lên quát:

 

– Quan gia không chịu nhường đường thì bọn bần ni phải đắc tội thôi.

 

Lệnh Hồ Xung vươn vai ngáp dài từ từ ngồi dậy. Chàng sợ bị Nghi Lâm nhận ra nên quay mặt về hướng sườn núi, lưng quay về phía bọn đệ tử phái Hằng Sơn. Lệnh Hồ Xung chống tay phải lên sườn núi, thân người loạng choạng giống tên say rượu, nói:

 

– Rượu ngon, rượu ngon thật!

 

Lúc này tốp đệ tử thứ hai phái Hằng Sơn đã đến, một tên nữ đệ tử tục gia hỏi:

 

– Nghi Hòa sư tỷ, người này ở đây làm gì vậy?

 

Nghi Hòa chau mày nói:

 

– Ai mà biết hắn làm gì?

 

Lệnh Hồ Xung lớn tiếng nói:

 

– Vừa rồi ta mổ một con chó ăn nên bụng phát trướng ra rồi uống quá nhiều rượu, chỉ e phải nôn ra mới hết. Trời ơi, không xong rồi, nôn thật rồi.

 

Lập tức nghe tiếng nôn ọe liên tục. Bọn nữ đệ tử chau mày bịt mũi dần dần lùi bước. Lệnh Hồ Xung ọe mấy tiếng mà không nôn ra cái gì cả. Mọi người còn đang thì thào bàn tán thì tốp thứ ba đã đến.

 

Nghe một giọng trong trẻo mềm dịu nói:

 

– Người này đã say rồi, thật tội nghiệp. Để người này nghỉ ngơi một chút rồi chúng ta đi cũng không muộn.

 

Lệnh Hồ Xung nghe giọng nói này, lòng chợt động, thầm nghĩ: “Nghi Lâm tiểu sư muội có tấm lòng thật nhân hậu”.

 

Nghi Hòa nói:

 

– Người này cố tình gây rối chứ không phải đàng hoàng gì.

 

Nói xong, Nghi Hòa bước lên trước quát:

 

– Tránh ra!

 

Nghi Hòa vung chưởng nhắm đánh vào vai phải của Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung loạng choạng mấy cái rồi la lên:

 

– Trời ơi, đừng làm vậy mà!

 

Lệnh Hồ Xung chân thấp chân cao khập khiễng đi lên trước mấy bước, đường đi càng bế tắc, cả người chàng chắn ngang lối nhỏ chật hẹp, người phía sau trừ phi nhảy qua đầu, nếu không thì không cách nào vượt qua được.

 

Nghi Hòa cũng đi theo Lệnh Hồ Xung rồi quát:

 

– Tránh ra!

 

Lệnh Hồ Xung đáp:

 

– Dạ, dạ!

 

Rồi chàng lại đi thêm mấy bước. Lệnh Hồ Xung càng đi lên cao, thì đường núi càng chật hẹp hơn. Đột nhiên hắn lớn tiếng nói:

 

– Này, các bằng hữu mai phục ở phía trên để ý, người các vị đợi đang lên đây. Các vị nhào ra đánh thì không ai trốn khỏi được.

 

Bọn Nghi Hòa nghe vậy liền lùi lại. Một người nói:

 

– Nơi này địa thế cực kỳ nguy hiểm, nếu địch nhân ở đây mai phục đánh úp thì chúng ta khó mà chống đỡ nổi.

 

Nghi Hòa nói:

 

– Nếu có người mai phục, thì sao hắn còn gọi ra? Hư là thực mà thực là hư, phía trên nhất định không có người. Nếu chúng ta sợ mà thoái lui khiến cho địch nhân cười nhạo sao?

 

Hai nữ ni trung niên cùng nói:

 

– Đúng vậy, ba người chúng ta đi trước mở đường, bọn sư muội đi theo sau.

 

Ba người rút trường kiếm ra rồi chạy đến sau lưng Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung thở hổn hển nói:

 

– Cái sườn núi này dốc quá. Ôi, lão gia lớn tuổi rồi, đi không nổi nữa.

 

Một nữ ni quát:

 

– Này, quan gia tránh qua một bên để bọn ta đi lên trước có được không?

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Người xuất gia đừng nóng nảy như vậy, đi nhanh cũng đến nơi mà đi chậm cũng đến nơi. Hà hà, đến Quỷ môn quan thì đi chậm một chút vẫn hay hơn.

 

Nữ ni hỏi:

 

– Có phải quan gia nói lòng vòng để chửi người ta không?

 

Vèo một tiếng, trường kiếm của Nghi Hòa đã nhắm đâm vào Lệnh Hồ Xung. Bà chỉ muốn dọa cho tránh ra, lúc chiêu kiếm này đâm đến người Lệnh Hồ Xung liền dừng lại.

 

Ngay lúc đó Lệnh Hồ Xung quay người lại thấy mũi kiếm chỉ vào ngực mình. Chàng liền lớn tiếng quát:

 

– Này! Ngươi… ngươi… ngươi làm cái gì vậy? Ta là mệnh quan của triều đình mà ngươi dám vô lễ như vậy sao? Người đâu, bắt tên nữ ni này lại cho ta.

 

Mấy nữ đệ tử trẻ không nhịn được, bật cười lên. Người này ở chốn hoang sơn dã lĩnh mà còn ra oai là quan lớn thì thật là buồn cười.

 

Một ni cô cười nói:

 

– Quan gia, bọn ta có chuyện gấp, phải lên đường ngay. Phiền quan gia tránh sang một bên.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Cái gì quan gia với không quan gia? Ta đường đường là một tham tướng, ngươi phải gọi ta là tướng quân mới phải.

 

Bảy tám nữ đệ tử cùng cười rồi gọi:

 

– Tướng quân đại nhân, xin tướng quân đại nhân tránh sang một bên cho.

 

Lệnh Hồ Xung cười ha hả, ưỡn ngực ra chiều đắc ý. Đột nhiên chàng trượt chân té ngã. Bọn nữ đệ tử kinh hãi la hoảng:

 

– Cẩn thận!

 

Có hai người chụp được cánh tay Lệnh Hồ Xung kéo lại. Chàng lại trượt thêm một chút nữa mới đứng vững, liền chửi:

 

– Tổ mẹ nó… đường gì mà trơn quá. Lũ quan địa phương toàn là bọn ăn hại, không sai vài dân phu tu sửa con đường núi này cho tốt.

 

Lệnh Hồ Xung trượt chân hai cái như vậy, thân người đã đứng co ro vào chỗ lõm của vách núi.

 

Bọn nữ đệ tử triển khai khinh công, từng người vượt qua hắn. Có người cười nói:

 

– Quan địa phương nên phái tám người mang kiệu đến đây khiêng tướng quân đại nhân lên núi mới phải.

 

Có người nói:

 

– Tướng quân thì cưỡi ngựa chứ không ngồi kiệu.

 

Người trước nói:

 

– Vị tướng quân này khác quan thường, nếu cưỡi ngựa thì chỉ e bị té ngã ngay.

 

Lệnh Hồ Xung tức giận nói:

 

– Nói tầm bậy tầm bạ! Ta có bao giờ cưỡi ngựa mà bị té đâu? Tháng trước, một con hổ súc sinh đáng chết nhảy ra, ta mới từ trên ngựa lăn xuống, bị thương ở tay nhưng có nhằm nhò gì đâu.

 

Bọn nữ đệ tử cười to một trận rồi phóng lên núi nhanh như gió.

 

Lệnh Hồ Xung thấy một bóng người mảnh mai lướt qua, chính là Nghi Lâm. Chàng liền đi theo sau cô ta. Thế là bọn đệ tử đi phía sau bị cản lại. Tuy bước nặng nề, thở hồng hộc cứ ba bước thì trượt hết hai, vừa leo vừa trượt nhưng Lệnh Hồ Xung đi cũng khá nhanh. Một nữ đệ tử phía sau vừa cười vừa than:

 

– Vị tướng quân đại nhân này thật là… ôi, không biết một ngày bị té bao nhiêu lần.

 

Nghi Lâm quay đầu lại nói:

 

– Nghi Thanh sư tỉ, sư tỉ đừng thúc giục tướng quân, khiến tướng quân lật đật lại bị té ngã thật. Sườn núi này rất dốc, bị té xuống thì không phải chuyện đùa đâu.

 

Lệnh Hồ Xung thấy đôi mắt to của Nghi Lâm sáng lấp lánh giống như hai dòng suối biếc, một gương mặt nhỏ nhắn đẹp tuyệt trần dưới ánh trăng, không vương chút khói lửa nhân gian nào. Lệnh Hồ Xung nhớ lại ngày chạy trốn sự truy kích của phái Thanh Thành, ở trong thành Hành Sơn cô ta ôm mình chạy đi, mình cũng từng nhìn ngắm cô như vậy. Bỗng nhiên tận đáy lòng chàng nổi lên một thứ tình cảm êm dịu. Lệnh Hồ Xung nghĩ: “Trên dốc núi cao này, có bọn cường thù đại địch mai phục muốn hại cô ta, ta sẽ không màng tính mạng để bảo vệ cho cô thật an toàn”.

 

Nghi Lâm thấy cặp mắt Lệnh Hồ Xung đờ ra, dung mạo lại xấu xí. Cô nhìn hắn khẽ gật đầu, lộ ra nụ cười hiền hòa. Cô nói:

 

– Nghi Thanh sư tỉ, nếu vị tướng quân này trượt chân té, sư tỉ phải mau đỡ tướng quân dậy.

 

Nghi Thanh cười nói:

 

– Tướng quân nặng như vậy làm sao ta đỡ nổi.

 

Phái Hằng Sơn giới luật nghiêm minh, nữ đệ tử không được cười nói với người ngoài. Lệnh Hồ Xung giả bộ yếu đuối như vậy để chọc cười, làm vui lòng các nữ đệ tử trẻ, xung quanh không có trưởng bối, đi đường trong đêm tối nói cười mấy câu cũng không sao, lại tinh thần thêm phấn khởi.

 

Lệnh Hồ Xung tức giận nói:

 

– Bọn con nít các ngươi ăn nói không biết trọng khinh. Ta đường đường là tướng quân, năm xưa nơi chiến trường xông trận giết giặc, oai phong lẫm lẫm, sát khí đằng đằng, nếu các ngươi nhìn thấy thì hì hì, phải phục sát đất. Đường núi nhỏ nhặt này không ăn thua gì với ta, sao ta té ngã được? Thật nói năng tùy tiện… Trời ơi, không xong rồi!

 

Chân Lệnh Hồ Xung dường như dẫm phải một cục đá nhỏ, thân người tuột dài xuống. Hai tay chàng quơ loạn xạ trên không, mấy tên đệ tử sau lưng đều la thất thanh.

 

Nghi Lâm vội quay người, đưa tay ra. Lệnh Hồ Xung nắm bàn tay cô, Nghi Lâm vận kình lực nâng lên. Tay trái Lệnh Hồ Xung chống đất mới đứng vững, khuôn mặt đầy vẻ bối rối. Mấy nữ đệ tử phía sau nhịn không được, cười khanh khách. Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Đôi ủng của ta đi đường núi nặng như đeo đá, nếu mang đôi giày vải như các người thì làm sao mà té. Hơn nữa, ta chỉ trượt chứ không hề té ngã, có chi đâu mà cười?

 

Nghi Lâm buông tay chàng ra, nói:

 

– Đúng vậy, tướng quân mang ủng đi đường núi bất tiện lắm.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Tuy bất tiện nhưng oai phong vô cùng. Nếu như thường dân các ngươi, chân cứ đi giày cỏ thì còn thể diện gì nữa.

 

Bọn nữ đệ tử nghe Lệnh Hồ Xung sợ mất thể diện thì càng cười ầm lên. Lúc này, mấy tốp người phía sau đã đến chân núi, tốp đi đầu tiên đã lên đến đỉnh.

 

Lệnh Hồ Xung lớn tiếng hô hoán:

 

– Bọn giặc cỏ bắt gà trộm chó ở đây rất nhiều, nếu các người không đề phòng thì chúng sẽ đánh người mà cướp tài vật. Các ngươi xuất gia tuy không mang theo nhiều của cải nhưng đồng tiền hóa duyên vất vả mới có được thì cũng nên cẩn thận đừng để bị chúng cướp đoạt.

 

Nghi Thanh cười nói:

 

– Đại tướng quân của chúng ta đang ở đây thì bọn tiểu tặc đó không dám động thổ trên đầu Thái Tuế đâu.

 

Lệnh Hồ Xung la lên:

 

– Này này, cẩn thận đó! Dường như ta nhìn thấy ở trên cao có đầu người lấp ló.

 

Một nữ đệ tử nói:

 

– Tướng quân thật là ba hoa, chẳng lẽ chúng ta mà sợ mấy tên giặc cỏ nhãi nhép đó sao?

 

Bỗng nhiên nghe hai nữ đệ tử la lên:

 

– Chao ôi!

 

Rồi lăn lông lốc xuống. Hai nữ đệ tử khác vội chạy lại đỡ; mấy nữ đệ tử phía trước cũng la lên:

 

– Tặc tử phóng ám khí. Cẩn thận!

 

Tiếng la chưa dứt, lại có người lăn xuống. Nghi Hòa la lớn:

 

– Mọi người cúi xuống, đề phòng ám khí.

 

Mọi người đều nằm phục xuống. Lệnh Hồ Xung chửi:

 

– Giặc cỏ to gan. Các ngươi không biết bản tướng quân đang ở đây sao?

 

Nghi Lâm kéo tay chàng, nói:

 

– Mau phục xuống đi!

 

Bọn nữ đệ tử phía trước lấy ám khí ra, nào tụ tiễn, thiết bồ đề lần lượt ném về phía trước. Nhưng địch nhân ẩn phục sau các mô đá, không thấy một người nào; ám khí đều rơi vào khoảng không.

 

Định Tĩnh sư thái nghe phía trước có địch, vội phóng người lướt qua đỉnh đầu bọn nữ đệ tử đến sau lưng Lệnh Hồ Xung; vù một tiếng bà nhảy qua đầu của chàng.

 

Lệnh Hồ Xung la lên:

 

– Đại cát lợi bố, xui quá, xui quá!

 

Rồi chàng nhổ mấy bãi nước bọt, thấy tay áo rộng thùng thình của Định Tĩnh sư thái bay phấp phới, đang đánh lên phía trước, ám khí của địch nhân bắn ra vù vù, có cái cắm vào tay áo bà, có cái bị lực đạo của tay áo đánh bay đi.

 

Định Tĩnh sư thái nhô lên hụp xuống mấy lần thì đã đến đỉnh núi. Bà còn đứng chưa vững đã nghe tiếng gió rất mạnh. Một cây thục đồng côn đánh xuống đầu bà. Nghe tiếng kình phong bà biết binh khí này rất nặng, không dám đón tiếp mà nghiêng người từ bên cây côn chui qua, lại thấy hai cây liễn tử chùy một trên một dưới đồng thời phóng đến, thế rất mãnh liệt. Địch nhân mai phục ở cửa ải này là ba hảo thủ, trấn giữ yếu đạo. Định Tĩnh sư thái quát:

 

– Vô sỉ.

 

Bà xoay tay rút trường kiếm ra, nhất kiếm phá song thương, gạt ra hết. Thục đồng côn lại đánh quét ngang lưng bà. Trường kiếm của Định Tĩnh sư thái đáp trên cây côn rồi thừa thế chém xuống, cây liễn tử chùy đã phóng đến vai phải của bà. Chỉ nghe bọn nữ đệ tử ở lưng chừng sườn núi la thất thanh, tiếp theo nghe tiếng ầm ầm, thì ra địch nhân trên sườn núi đẩy những tảng đá to xuống.

 

Bọn đệ tử phái Hằng Sơn chen nhau trên con đường nhỏ, thụp lên thụp xuống để né những tảng đá to, trong khoảnh khắc có mấy người bị đá lớn làm bị thương. Định Tĩnh sư thái lùi lại hai bước la lên:

 

– Tất cả rút lui, xuống chân núi rồi hãy tính.

 

Bà múa kiếm chặn phía sau để cản sự truy kích của địch nhân. Lại nghe tiếng ầm ầm không dứt, đá to trên đỉnh núi không ngừng ném xuống, tiếp theo mấy tiếng binh khí giao nhau ở phía dưới, thì ra dưới chân núi cũng có địch nhân mai phục. Đợi bọn Hằng Sơn lên núi hết, phía trên phát ra tiếng động thì bọn chúng xuất hiện để chặn đường lui của họ.

 

Ở phía dưới truyền tin lên:

 

– Sư bá, bọn tặc tử cản đường công phu cứng cỏi quá, không xông xuống được.

 

Tiếp theo lại có người truyền tin lên:

 

– Hai vị sư tỉ bị thương rồi.

 

Định Tĩnh sư thái tức giận, chạy như bay xuống núi, thấy hai tên hán tử tay cầm cương đao đang bức bách hai nữ đệ tử phải lùi ngược lại. Định Tĩnh sư thái quát lên một tiếng thật to, phóng nhanh trường kiếm về phía trước, bỗng nghe vù vù hai tiếng, hai quả bát giác chùy bằng thép nguyên chất có dây xích dài từ dưới tấn công lên trước mặt Định Tĩnh sư thái. Định Tĩnh sư thái phóng trường kiếm ra gạt, một trái chùy đè xuống trường kiếm còn quả kia đập vào đỉnh đầu bà. Định Tĩnh sư thái kinh hãi: “Sức người này quá mạnh!”

 

Nếu gặp chỗ đất bằng, Định Tĩnh sư thái cũng không để tâm đến loại võ công ngạnh tạp như vậy, bà chỉ cần triển khai công phu tiểu xảo thì có thể đoạt công sang bên, nhưng đường núi chật hẹp, ngoài cách đánh chính diện ra không còn cách nào khác nữa. Hai quả bát giác thiết chùy của địch nhân múa tít như hai cái vòng đen tấn công trước mặt nên Định Tĩnh sư thái không sao triển khai kiếm thuật tinh diệu, bà đành phải từng bước từng bước lên trên núi.

 

Bỗng nghe phía trên có tiếng la oai oái không ngớt, lại có mấy tên đệ tử bị trúng ám khí ngã xuống. Định Tĩnh sư thái định thần lại, bà cảm thấy võ công của bọn địch nhân ở trên đỉnh núi không mạnh, dễ đối phó, liền nhảy qua đầu bọn nữ đệ tử, tiếp theo bà vượt qua đầu Lệnh Hồ Xung.

 

Lệnh Hồ Xung lớn tiếng la:

 

– Trời ơi, làm cái trò gì mà nhảy như ếch đồng vậy? Già rồi mà còn ham vui. Ngươi nhảy qua nhảy lại trên đầu thì làm sao ta đánh bạc cho được?

 

Định Tĩnh sư thái vội phá vòng vây địch, chẳng để ý đến những lời của chàng. Nghi Lâm từ tốn nói:

 

– Xin lỗi quan gia, sư bá của tiểu ni không cố ý đâu.

 

Lệnh Hồ Xung lầm bầm mắng:

 

– Ta đã nói rồi, ở đây có giặc cỏ mà các ngươi không tin.

 

Lệnh Hồ Xung nghĩ bụng: “Ta chỉ thấy bọn Ma giáo mai phục trên đỉnh núi, thì ra dưới chân núi cũng có bọn cao thủ mai phục, người phái Hằng Sơn tuy đông nhưng tụ tập trên sơn đạo nhỏ hẹp này thì làm sao triển khai thủ cước được, đại sự thật không may”.

 

Định Tĩnh sư thái lên đến đỉnh núi bỗng thấy bóng một cây trượng thấp thoáng đánh xuống, thì ra địch nhân điều động những tay hảo thủ trấn ở đây. Định Tĩnh sư thái nghĩ: “Nếu hôm nay ta không xông phá vòng vây này dẫn bọn đệ tử ra ngoài thì e rằng phải bỏ mạng nơi đây”.

 

Bà né người tránh, tay phóng trường kiếm chênh chếch ra, thân người cách thiền trượng không quá mấy tấc, thoáng một cái, cả người và kiếm đã phóng về phía trước. Bà vội đâm vào gã đầu đà mập ú sử thiền trượng. Chiêu kiếm này có thể nói cực kỳ nguy hiểm, là cách đánh liều mạng hai bên cùng lưỡng bại câu thương. Gã đầu đà không kịp đề phòng, không kịp thu thiền trượng lại, choang nhẹ một tiếng, trường kiếm đã đâm vào sườn gã.

 

Gã đầu đà vô cùng dũng mãnh, quát to một tiếng. Gã đánh ra một quyền, trường kiếm của Định Tĩnh sư thái bị gãy làm đôi, máu từ tay gã chảy ra bê bết.

 

Định Tĩnh sư thái gọi:

 

– Mau lên đây đưa kiếm cho ta!

 

Nghi Hòa phi thân lên, đưa ngang kiếm nói:

 

– Sư bá, kiếm đây.

 

Định Tĩnh sư thái quay người nhận lấy, một cây liễn tử thương đâm chênh chếch về phía Nghi Hòa, một cây liễn tử thương khác đâm về phía Định Tĩnh sư thái. Nghi Hòa đành vung kiếm lên gạt đỡ, người sử liễn tử thương tiến đến bức Nghi Hòa phải lùi xuống núi, trường kiếm không sao đưa đến tay Định Tĩnh sư thái.

 

Phía trên có ba người xông ra, hai người sử đao, một người sử một đôi phán quan bút vây quanh Định Tĩnh sư thái. Định Tĩnh sư thái một đôi nhục chưởng trên dưới tung bay, sử Thiên trường chưởng pháp phái Hằng Sơn, xuyên qua xuyên lại giữa bốn cây binh khí. Định Tĩnh sư thái tuổi gần sáu mươi, nhưng thân thủ mau lẹ không thua gì thời còn trẻ. Bốn tên hảo thủ Ma giáo hợp lực vây đánh cũng không làm gì được một lão ni tay không.

 

Nghi Lâm kinh hãi la khẽ:

 

– Trời ơi, phải làm sao đây? Phải làm sao đây?

 

Lệnh Hồ Xung lớn tiếng nói:

 

– Mấy tên giặc cỏ này đâu thành vấn đề, tránh đường, tránh đường, bổn tướng quân muốn đi lên bắt giặc cỏ.

 

Nghi Lâm vội nói:

 

– Đừng đi! Chúng không phải là giặc cỏ, toàn là người võ công cao cường, quan gia lên trên thì bọn chúng giết ngay.

 

Lệnh Hồ Xung vỗ ngực, hiên ngang nói:

 

– Giữa thanh thiên bạch nhật…

 

Chàng ngửng đầu lên, thấy trời chưa sáng, không thể nói “thanh thiên bạch nhật” được, nhưng cũng lờ đi, tiếp tục nói:

 

– Mấy tên giặc cỏ này chặn đường cướp của, ăn hiếp hạng nữ lưu, hừ hừ, chẳng lẽ bọn bay không sợ vương pháp sao?

 

Nghi Lâm nói:

 

– Bọn tiểu ni đâu phải hạng nữ lưu bình thường, địch nhân cũng không phải là giặc cỏ chặn đường cướp của…

 

Lệnh Hồ Xung khoa chân bước lên trước, chen người vào bọn nữ đệ tử mà đi. Bọn nữ đệ tử đành phải nép vào vách đá nhường cho chàng bước qua.

 

Lệnh Hồ Xung lên đến đỉnh núi, đưa tay rút yêu đao ra. Chàng rút một hồi lâu, giả bộ như rút không được bèn chửi:

 

– Tổ mẹ nó, cây đao này thật là bực mình, lúc người ta cần gấp thì lại rỉ sét. Đao của tướng quân bị rỉ sét sao bắt giặc được đây?

 

Nghi Hòa đang vung kiếm đấu kịch liệt với hai tên Ma giáo, liều mạng trấn giữ sơn đạo, nghe Lệnh Hồ Xung ở sau lưng lải nhải vì đao bị rỉ sét không rút ra được, bà vừa bực mình vừa buồn cười bèn la lên:

 

– Mau tránh ra, ở đây nguy hiểm lắm.

 

Bà ta la câu này, hơi bị phân tâm, cây liễn tử thương đâm soạt một tiếng suýt trúng vào vai bà.

 

Nghi Hòa lùi nửa bước, người đó lại vung thương phóng tới.

 

Lệnh Hồ Xung la lên:

 

– Phản rồi, phản rồi! Giặc cỏ to gan không thấy bổn tướng quân ở đây sao?

 

Chàng lạng người qua cản trước mặt Nghi Hòa. Gã hán tử sử liễn tử thương sửng sốt, lúc này trời đã hừng sáng, thấy sắc phục của chàng đúng là mệnh quan triều đình, gã liền dừng thương không đánh nữa, chỉ mũi thương vào ngực Lệnh Hồ Xung quát:

 

– Ngươi là ai? Vừa rồi ở dưới la lối om sòm có phải là cẩu quan ngươi không?

 

Lệnh Hồ Xung chửi:

 

– Tổ mẹ ngươi, ngươi dám gọi ta là cẩu quan hả? Ngươi mới là cẩu tặc, ở đây chặn đường cướp của. Bổn tướng quân đến đây mà các ngươi còn không cút đi thật sự vô pháp vô thiên. Bổn tướng quân bắt các ngươi đem đến huyện nha môn, đánh cho mỗi tên năm mươi trượng để mông nở hoa, máu đầm đìa, phải kêu cha gọi mẹ mới thỏa lòng.

 

Gã hán tử sử thương không muốn giết mệnh quan triều đình sợ phiền phức, liền chửi:

 

– Mẹ kiếp đồ thúi tha mau cút đi! Ở đây mà nói bậy nói bạ nữa thì lão tử sẽ đâm xuyên ba lỗ lên người cẩu quan ngươi đó.

 

Lệnh Hồ Xung thấy Định Tĩnh sư thái nhất thời chưa đến nỗi thất bại mà bọn Ma giáo cũng không ném ám khí, lăn đá nữa. Chàng lớn tiếng quát:

 

– Bọn giặc cỏ to gan, mau quỳ xuống khấu đầu trước bổn tướng quân. Bọn bay có mẹ già tám chục tuổi thì ta có thể giảm tội cho, nếu không thì, hừ hừ, ta sẽ đem cái đầu bọn các ngươi chém đứt từng cái, từng cái một…

 

Bọn đệ tử phái Hằng Sơn nghe nói vậy đều chau mày lắc đầu. Họ thầm nghĩ:

 

– Hắn bị điên rồi.

 

Nghi Hòa bước lên một bước, cầm kiếm tương hộ, nếu địch nhân phóng thương đâm Lệnh Hồ Xung thì cô sẽ vung kiếm gạt đỡ.

 

Lệnh Hồ Xung lại cố rút yêu đao ra rồi chửi:

 

– Tổ mẹ nó, lúc lâm trận cấp bách thì thanh bảo đao tổ truyền này lại han rỉ. Hừ, bảo đao này của bổn tướng mà không bị sét rỉ thì bọn giặc cỏ các ngươi có mười cái đầu cũng bị chém rụng hết.

 

Gã hán tử sử thương cười hô hố, quát:

 

– Cút mẹ ngươi đi!

 

Gã vung thương nhắm đánh vào hông Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung giật mạnh một cái, cả đao lẫn vỏ đều bị giật xuống. Chàng la lên:

 

– Trời ơi!

 

Rồi lao người về trước, ngã nhào xuống. Nghi Hòa la lên:

 

– Cẩn thận!

 

Lúc Lệnh Hồ Xung trượt chân té, yêu đao đã phóng ra, đầu vỏ đao điểm trúng yếu huyệt trên lưng gã hán tử sử thương. Gã hán tử chưa hừ được một tiếng thì đã mềm nhũn ra, té lăn xuống đất.

 

Lệnh Hồ Xung ngã bịch xuống rồi lồm cồm bò dậy, hứ một tiếng rồi nói:

 

– A ha! Ngươi cũng bị té. Mọi người thấy đó, lão tử đâu có sao, chúng ta đánh tiếp đi.

 

Nghi Hòa túm lấy gã hán tử hất về phía sau, thầm nghĩ: “Có một con tin trong tay, cục diện có lợi thế hơn một chút”.

 

Ba người trong Ma giáo xông đến muốn cứu đồng bọn. Lệnh Hồ Xung la lên:

 

– A ha, đâu có dễ như vậy, ta phải bắt hết bọn giặc cỏ các ngươi.

 

Lệnh Hồ Xung vung yêu đao lên, chỉ Đông đánh Tây, sử toàn không theo chương pháp. Độc Cô cửu kiếm vốn không có chiêu số, cố nhiên có thể thi triển một cách tiêu sái ưu nhã, nhưng dù có đánh ra một cách vụng về xấu xí thì uy lực vẫn cứ vô cùng to lớn, yếu điểm của nó nằm ở "kiếm ý" chứ không phải ở "chiêu thức". Lệnh Hồ Xung không giỏi về điểm huyệt hay đả huyệt, lúc đang đấu kịch liệt khó mà nhận ra chuẩn xác huyệt đạo đối phương, nhưng kiếm pháp tinh diệu cộng với nội lực hồn hậu tuy không đâm trúng yếu điểm nhưng đâm nghiêng huyệt đạo thì địch nhân cũng chịu không nổi. Chàng cứ tiện tay đâm ra thì người đó té ngã.

 

Bỗng thấy bước chân Lệnh Hồ Xung loạng choạng xiêu vẹo, chàng cầm luôn cả yêu đao lẫn vỏ đao múa loạn xạ. Đột nhiên Lệnh Hồ Xung không dừng chân kịp, va vào một tên Ma giáo, soạt một tiếng, đầu vỏ đao đâm trúng bụng dưới của tên đó. Gã chỉ kịp thở dốc một hơi dài, nhũn ra té xuống. Lệnh Hồ Xung la lên:

 

– Trời ơi!

 

Rồi nhảy lùi ra sau, chuôi đao của chàng đánh trúng vào vai một người đứng phía sau, người đó liền té nhào xuống, lăn long lóc dưới đất. Lệnh Hồ Xung bị vấp lên người gã, chàng chửi:

 

– Mụ nội nó!

 

Lệnh Hồ Xung xông về phía trước, vỏ đao lại đâm trúng một tên giáo chúng sử đao. Tên này là một trong ba hảo thủ vây đánh Định Tĩnh sư thái, lưng gã bị đánh trúng, đơn đao rớt khỏi tay bay đi. Định Tĩnh sư thái thừa cơ vung chưởng, đánh trúng ngực gã. Gã thổ huyết, chắc khó sống nổi.

 

Lệnh Hồ Xung la lên:

 

– Cẩn thận, cẩn thận!

 

Chàng liền lui mấy bước, lưng va vào người sử phán quan bút. Gã này giơ bút lên nhắm điểm vào lưng Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung quờ quạng, xông về phía trước, vỏ đao của chàng lao đến thì lại có hai tên Ma giáo bị chọc cho ngã xuống đất. Gã sử phán quan bút vội lao nhanh về phía chàng, Lệnh Hồ Xung la to:

 

– Chết mẹ rồi!

 

Chàng liền co giò chạy, gã cũng vắt chân đuổi theo. Đột nhiên Lệnh Hồ Xung dừng bước khom người xuống, chuôi đao của chàng dưới nách lộ ra một nửa. Gã đó vạn lần không ngờ đối phương đang chạy nhanh đột nhiên dừng lại, tuy võ công gã cao cường nhưng biến chiêu không kịp, trong lúc chạy vội chỗ giữa ngực và bụng của gã bị chuôi đao Lệnh Hồ Xung thúc trúng. Mặt gã lộ ra vẻ rất sửng sốt, đối với chuyện vừa rồi dường như gã không tin là sự thật, người gã từ từ mềm ra rồi ngã xuống.

 

Lệnh Hồ Xung quay người thấy trận chiến đã ngưng lại. Bọn đệ tử phái Hằng Sơn đã lên đỉnh núi gần được phân nửa, đang đứng đối diện giằng co với bọn Ma giáo, những đệ tử còn lại thì đang tức tốc chạy lên. Lệnh Hồ Xung lớn tiếng nói:

 

– Đồ giặc cỏ, thấy bổn tướng quân ở đây sao không mau quỳ xuống đầu hàng. Thật kỳ cục.

 

Lệnh Hồ Xung múa vỏ đao, quát một tiếng rồi xông vào đám Ma giáo. Bọn Ma giáo liền tấn công, đao thương giao nhau. Bọn đệ tử phái Hằng Sơn muốn lên tương trợ, nhưng thấy Lệnh Hồ Xung la to:

 

– Lợi hại, lợi hại! Bọn giặc cỏ này thật hung hãn.

 

Lệnh Hồ Xung chạy ra khỏi đám đông, chân bước nặng nề, lúc chạy thì quờ quạng, té bịch một cái. Chàng vung vỏ đao lên đánh trúng trán mình, muốn ngất đi. Nhưng chàng vừa vào ra trong đám Ma giáo thì đã chọc ngã năm tên hảo thủ.

 

Song phương thấy Lệnh Hồ Xung như vậy, không khỏi trố mắt kinh ngạc.

 

Nghi Thanh và Nghi Hòa cùng chạy đến gọi:

 

– Tướng quân, tướng quân có sao không?

 

Lệnh Hồ Xung nhắm nghiền hai mắt, giả đò bất tỉnh.

 

Một lão già cầm đầu bọn Ma giáo thấy trong khoảnh khắc mà phe lão bị chết một người, còn mười một người bị viên quan điên khùng này chọc cho ngã. Vừa rồi lão thấy hắn xông trận, chính lão đã liên tục xuất chiêu cầm nã nhưng lại suýt bị vỏ đao của hắn điểm trúng tay. Cái mũi da của vỏ đao điểm không trúng huyệt đạo nhưng thế điểm rất lợi hại, phương vị cổ quái, bình sinh lão chưa bao giờ thấy qua. Võ công của người này cao cường không biết đến đâu mà lường. Lại thấy phe mình có năm người bị hắn điểm ngã đã bị phái Hằng Sơn bắt giữ, bất luận thế nào phe lão cũng không đối phó được. Lão liền lớn tiếng nói:

 

– Định Tĩnh sư thái, bọn đệ tử của ngươi bị trúng ám khí, có cần thuốc giải không?

 

Định Tĩnh sư thái thấy mấy tên đệ tử của bà bị trúng ám khí đang hôn mê bất tỉnh, máu nơi vết thương chảy ra đều màu đen. Bà biết ám khí có tẩm chất kịch độc, vừa nghe lão nói câu này liền biết rõ ý của lão, bèn nói:

 

– Đem thuốc giải đến để đổi lấy người.

 

Lão già gật đầu nói nhỏ mấy câu. Một tên Ma giáo cầm một bình sứ đi đến trước mặt Định Tĩnh sư thái cúi người đưa lên. Định Tĩnh sư thái nhận bình sứ, gằn giọng nói:

 

– Nếu thuốc giải có công hiệu, sẽ thả người.

 

Lão già nói:

 

– Được, Định Tĩnh sư thái phái Hằng Sơn chắc không phải là người nói rồi nuốt lời.

 

Lão huơ tay một cái. Bọn Ma giáo khiêng những người bị thương và xác chết cùng đi theo hướng Tây xuống núi, trong khoảnh khắc tất cả đi hết không còn người nào.

 

Lệnh Hồ Xung từ từ tỉnh lại, hắn la lên:

 

– Đau quá!

 

Rồi liền đưa tay sờ lên trán, chỗ bị đánh sưng lên một cục. Hắn ngạc nhiên hỏi:

 

– Hừ, mấy tên giặc cỏ đâu rồi? Chúng đi đâu hết rồi?

 

Nghi Hòa cười khúc khích, nói:

 

– Vị tướng quân này thật kỳ lạ, cổ quái. Vừa rồi may mà tướng quân xông trận, đánh tán loạn, mấy tên giặc cỏ bị tướng quân hù dọa phải lui hết.

 

Lệnh Hồ Xung cười ha hả nói:

 

– Tuyệt diệu, tuyệt diệu! Đại tướng quân xuất mã, quả nhiên uy phong bát diện. Bọn giặc cỏ cúp đuôi chạy tán loạn, úi chao…

 

Lệnh Hồ Xung đưa tay sờ lên trán, rồi nhăn mặt ra chiều đau đớn vô cùng. Nghi Thanh nói:

 

– Tướng quân, tướng quân bị thương rồi chăng? Bọn bần ni có thuốc trị thương đây.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Không sao, không sao, bậc đại trượng phu chết trong da ngựa, cũng là chuyện nhỏ…

 

Nghi Hòa trề môi cười nói:

 

– Cái gì mà chết trong da ngựa, là da ngựa bọc thây.

 

Nghi Thanh đưa mắt liếc Nghi Hòa một cái rồi nói:

 

– Ngươi thích bới móc, bây giờ nói những thứ đó làm gì?

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Người phương Bắc bọn ta nói là da ngựa bọc thây, còn người phương Nam các ngươi cách đọc có khác một chút.

 

Nghi Hòa quay người lại nói:

 

– Chúng ta cũng là người phương Bắc mà.

(Chú thích: Lệnh Hồ Xung ít chữ nên nói sai cụm từ “Mã cách khỏa thi” thành “Mã cách lý thi”, từ câu nói “Da ngựa bọc thây” của Mã Viện đổi thành “Xác trong da ngựa”)

 

Định Tĩnh sư thái đưa thuốc giải cho người đệ tử bên cạnh và sai mấy cô đem đi cứu đồng môn bị trúng ám khí, rồi bà đi đến trước Lệnh Hồ Xung, cúi đầu thi lễ nói:

 

– Lão ni Định Tĩnh phái Hằng Sơn không dám thỉnh giáo cao danh quý tính của thiếu hiệp.

 

Lệnh Hồ Xung ớn lạnh xương sống, nghĩ: “Vị tiền bối phái Hằng Sơn này quả có con mắt tinh đời, nhìn ra được tuổi ta còn nhỏ mà lại giả mạo làm tướng quân”.

 

Nghĩ vậy chàng liền chắp tay, cúi người cung kính đáp lễ:

 

– Lão sư thái có hỏi thì xin đáp. Bổn tướng quân họ Ngô, quan danh là Thiên Đức. Thiên là trời mênh mông bát ngát, còn Đức là văn chương đạo đức. Bổn tướng được bổ làm chức tham tướng ở Tuyền Châu, bây giờ đang lên đường nhậm chức.

 

Định Tĩnh sư thái liệu đoán chàng không muốn tiết lộ mặt mũi, chưa chắc là tướng quân thật. Nhưng thấy chàng lễ nghĩa chu đáo, liền sinh lòng hảo cảm. Bà bèn nói:

 

– Hôm nay phái Hằng Sơn của bần ni gặp phải đại nạn, nhờ có tướng quân ra tay cứu giúp, đại ân đại đức này không biết làm sao báo đáp cho được. Võ công của tướng quân cao thâm, bần ni lại không biết được sư thừa môn phái của tướng quân, thật là khâm phục.

 

Lệnh Hồ Xung cười ha hả nói:

 

– Lão sư thái quá khen, nhưng ta cũng nói thật. Võ công của bổn tướng có mấy cách đánh, trên đánh tuyết rơi phủ núi, dưới đánh cây già trốc rễ, giữa đánh Hắc hổ thâu tâm… Úi chao, úi chao!

 

Chàng vừa nói vừa múa tay chân, một quyền đánh ra dường như dùng sức quá mạnh, tự làm khớp xương mình đau buốt. Lúc chàng trộm nhìn Nghi Lâm, thấy cô ta giật mình, có ý rất quan tâm lo lắng, thầm nghĩ: “Vị tiểu sư muội này có tấm lòng thật là nhân hậu. Nếu biết đúng là ta, thì không hiểu cô ta nghĩ sao?”

 

Định Tĩnh sư thái dĩ nhiên biết rõ chàng giả bộ, bèn mỉm cười nói:

 

– Tướng quân là chân nhân bất lộ tướng, bần ni chỉ còn cách sớm chiều thắp nén thanh hương, chúc cho tướng quân phúc thể an khang, vạn sự như ý…

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Đa tạ, đa tạ. Sư thái cầu xin đức Bồ Tát phù hộ cho bổn tướng thăng quan phát tài. Tiểu tướng cũng chúc lão sư thái và các vị tiểu sư thái thuận buồm xuôi gió, gặp hung hóa kiết, vạn sự thuận lợi. Ha ha, ha ha.

 

Trong lúc đang cười to, chàng cúi người sát đất hướng về phía Định Tĩnh sư thái rồi nghênh ngang mà đi. Lệnh Hồ Xung tuy là cuồng vọng làm ẩu, nhưng đã lâu ở trong Ngũ Nhạc kiếm phái, đối với vị tiền bối phái Hằng Sơn này không dám thiếu lễ nghĩa.

 

Bọn đệ tử phái Hằng Sơn nhìn theo bước chân xiêu vẹo của chàng đi về phía Nam, rồi vây lấy Định Tĩnh sư thái hỏi không ngớt:

 

– Sư bá, người này lai lịch thế nào?

 

– Hắn khùng thật hay là giả bộ?

 

– Có phải võ công hắn cao cường hay là chẳng qua gặp hên, đánh bừa đánh ẩu mà trúng địch nhân?

 

– Đệ tử thấy hắn không giống tướng quân, dường như tuổi cũng không lớn có phải không?

 

Định Tĩnh sư thái thở dài, quay đầu nhìn các đệ tử bị trúng ám khí, thấy sau khi rịt thuốc giải, máu đen đã chuyển sang đỏ, mạch đập càng mạnh lên, đã qua cơn nguy hiểm. Linh dược trị thương của phái Hằng Sơn có thể coi là hay nhất trong các phái, có thể tự chữa tốt hậu quả. Bà liền giải khai huyệt đạo cho năm tên giáo chúng Ma giáo, thả họ về. Bà nói:

 

– Tất cả đến dưới gốc cây bên đó ngồi nghỉ một chút đi.

 

Một mình bà ngồi tọa định ở bên tảng đá to, nhắm mắt trầm tư: “Lúc người này xông vào trong trận Ma giáo, trưởng lão thủ lĩnh Ma giáo đã động thủ với hắn, nhưng hắn vẫn có thể trong khoảnh khắc điểm ngã năm người, lại không phải là công phu điểm huyệt. Hắn sử chiêu thức cũng không biểu hiện môn phái nào. Trong võ lâm đương thời, có người trẻ tuổi lợi hại như vậy, chắc là đệ tử của một vị cao nhân? Nhân vật như vậy là bạn chứ không phải là địch, thật là may mắn cho phái Hằng Sơn ta”.

 

Bà trầm ngâm một chút rồi sai đệ tử lấy nghiên bút và một tấm giấy lụa mỏng để viết thư. Bà nói:

 

– Nghi Chất, đem chim bồ câu ra đây.

 

Nghi Chất dạ rồi bắt một con chim bồ câu từ lồng trúc đeo trên lưng ngựa ra. Định Tĩnh sư thái cuộn mảnh lụa viết thư thành một cuộn dài dài rất nhỏ, nhét vào trong ống trúc, đậy nắp lại, rồi rót keo, dùng sợi dây thép cột vào chân trái của bồ câu. Bà khấn thầm, rồi tung chim bồ câu lên. Bồ câu vỗ cánh bay về phương Bắc, cao dần xa dần, trong khoảnh khắc chỉ còn là một điểm đen nhỏ xíu trên bầu trời.

 

Định Tĩnh sư thái từ lúc viết thư đến lúc thả bồ câu, mỗi cử chỉ đều rất chậm chạp, hoàn toàn khác hẳn với tình trạng khi bà tung hoành giữa vòng vây địch nhân. Bà ngẩng đầu lên, điểm đen nhỏ đã ẩn vào đám mây trắng từ lâu, nhưng bà vẫn nhìn đăm đăm về hướng Bắc. Bọn đệ tử không dám lên tiếng. Trong trận chiến vừa rồi, tuy có tướng quân đó xen vào đánh giúp, dường như rất hoạt kê, kỳ thực cục diện còn hung hiểm vô cùng. Mọi người đều tìm được đường sống trong chỗ chết.

 

Một lúc lâu sau, Định Tĩnh sư thái quay người lại vẫy gọi một tiểu cô nương mười lăm mười sáu tuổi đến. Thiếu nữ đó liền đứng dậy, đi đến trước bà, gọi khẽ:

 

– Sư phụ!

 

Định Tĩnh sư thái nhè nhẹ vuốt tóc cô hỏi:

 

– Quyên nhi, vừa rồi ngươi có sợ không?

 

Thiếu nữ đó gật đầu nói:

 

– Sợ lắm. May mà vị tướng quân dũng cảm vô cùng, đánh bọn ác nhân này bỏ chạy.

 

Định Tĩnh sư thái mỉm cười nói:

 

– Vị tướng quân này không phải dũng cảm mà là võ công tốt thực sự.

 

Thiếu nữ nói:

 

– Sư phụ, võ công của vị tướng quân này tốt lắm ư? Hài nhi thấy tướng quân đó xuất chiêu loạn xạ đến nỗi không cẩn thận để cả vỏ đao đánh vào trán mình. Tại sao đao của tướng quân đó bị rỉ không rút ra khỏi vỏ được?

 

Tần Quyên này là đệ tử của Định Tĩnh sư thái thu nhận ở quan môn, cô thông minh lanh lợi, rất được sư phụ yêu mến. Trong nữ đệ tử phái Hằng Sơn, ni cô xuất gia chiếm khoảng sáu phần, còn lại bốn phần là đệ tử tục gia, có một số người là phụ nữ trung niên, bà già năm sáu chục tuổi cũng có. Tần Quyên là người nhỏ tuổi nhất trong phái Hằng Sơn. Chúng đệ tử thấy Định Tĩnh sư thái nói chuyện với tiểu sư muội Tần Quyên, từ từ vây lại.

 

Nghi Hòa nói xen vào:

 

– Hắn xuất chiêu có loạn xạ đâu. Hắn giả bộ, đem võ công thượng thừa giấu đi không để lộ một chút dấu vết, cho nên mới càng cao minh. Sư bá, sư bá thấy vị tướng quân này lai lịch thế nào? Thuộc môn phái nào?

 

Định Tĩnh sư thái lắc đầu, nói:

 

– Võ công người này chỉ có thể hình dung qua bốn chữ “thâm bất khả trắc”, ngoài ra ta không biết gì hết.

 

Tần Quyên hỏi:

 

– Sư phụ, phong thư này sư phụ viết cho chưởng môn sư thúc có phải không? Có thể đến ngay được không?

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Con chim bồ câu này bay đến Bạch Y am ở Tô Môn là một trạm rồi đổi con chim khác. Từ Bạch Y am đến Diệu Tướng am ở Tế Nam lại đổi một chim khác nữa, đến Thanh Tịnh am ở Lao Hà Khẩu đổi một lần nữa. Bốn con chim bồ câu tiếp sức nhau mới đưa thư đến núi Hằng Sơn được.

 

Nghi Hòa nói:

 

– May mà chúng ta chưa bị tổn thương người nào, mấy sư tỉ sư muội trúng ám khí độc đã rịt thuốc, qua hai ngày thì chắc không còn lo ngại gì nữa. Những người bị đá làm tổn thương và trúng binh khí cũng không lo gì tính mạng.

 

Định Tĩnh sư thái ngẩng đầu suy tư, nên không nghe những lời Nghi Hòa nói. Bà thầm nghĩ: “Phái Hằng Sơn lần này xuống phương Nam, hành tung vô cùng bí mật, ngày nghỉ đêm đi. Tại sao bọn Ma giáo lại biết được tin, lựa chỗ hiểm này phục kích?”

 

Bà quay lại nói với các đệ tử:

 

– Địch nhân đã chạy xa rồi, chắc trong nhất thời không dám quay lại. Tất cả đã mệt lắm rồi, nên ngồi đây ăn một ít lương khô rồi đến bóng cây bên kia nằm ngủ.

 

Mọi người đáp dạ, người gác bếp nấu nước pha trà. Đoàn người ngủ mấy canh giờ, rồi dùng cơm trưa. Định Tĩnh sư thái thấy những đệ tử bị thương vẻ mặt đờ đẫn, bà nói:

 

– Hành tung của chúng ta đã bị lộ, từ nay về sau không cần đi đêm nữa. Người bị thương phải nghỉ ngơi dưỡng thương, tối nay chúng ta nghỉ ở Trấp Bát phố.

 

Từ trên sườn núi cao đi xuống, hơn ba canh giờ mới đến Trấp Bát phố. Đây là chỗ giao giới quan trọng giữa hai tỉnh Triết Giang và Phúc Kiến dẫn đi mọi hướng, lữ hành lên Tiên Hà Lĩnh phải qua chỗ này. Đoàn người vào trấn, trời còn chưa tối nhưng trong trấn không có một bóng người.

 

Nghi Hòa nói:

 

– Phong tục của Phúc Kiến thật là kỳ lạ, sớm như thế này mà đã ngủ hết rồi.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Chúng ta hãy tìm một khách điếm nghỉ ngơi.

 

Phái Hằng Sơn và các ni am trong võ lâm đều có mối quan hệ với nhau, nhưng Trấp Bát phố không có ni am, không thể đi ngủ nhờ nhà người, đành phải tìm đến khách điếm nghỉ ngơi. Điều bất tiện là người thế tục đối với ni cô có điều úy kỵ, cho rằng gặp ni cô là không may, thường rỗi hơi bàn tán. Nhưng các ni cô quen rồi, cũng không bao giờ chấp nhứt.

 

Các khách điếm đều đóng cửa. Trấp Bát phố nói lớn cũng không lớn, nói nhỏ cũng không nhỏ, cũng có một hai trăm nhà phố, nhưng nhìn lướt qua thì giống như một thị trấn chết. Mặt trời chưa tắt hết mà trên đường Trấp Bát phố giống như giữa đêm khuya. Đoàn người quẹo qua một con đường, thấy trước một khách điếm treo bảng hiệu bằng vải trắng viết bốn chữ to: “Tiên An khách điếm”, nhưng cửa đóng kín, yên lặng không một tiếng động. Nữ đệ tử tên gọi Trịnh Ngạc liền tiến lên trước gõ cửa. Trịnh Ngạc là đệ tử tục gia, gương mặt trái xoan tròn trịa lúc nào cũng tươi cười, cô lại khéo ăn nói nên rất được nhiều người yêu mến. Trên đường đi, nếu có chuyện cần giao tiếp với người, cô ta thường xuất mã đối đáp, để người ngoài khỏi phải vừa thấy ni cô thì sinh lòng úy kỵ.

 

Trịnh Ngạc gõ cửa mấy cái, ngừng lại một lúc lại gõ mấy cái. Một lúc lâu sau, vẫn không thấy có người mở cửa. Trịnh Ngạc gọi:

 

– Điếm đại gia thúc, xin mở cửa!

 

Giọng cô trong trẻo, lại là người luyện võ cho nên thanh âm có thể truyền đi rất xa, dù ở cách mấy cái sân cũng nghe thấy. Nhưng trong khách điếm vẫn không có người lên tiếng, tình hình hiển nhiên rất kỳ lạ.

 

Nghi Hòa đi đến trước, áp tai lên cánh cửa nghe. Trong điếm hoàn toàn không có động tĩnh gì. Cô quay lại nói:

 

– Sư phụ, trong điếm không có người.

 

Định Tĩnh sư thái lờ mờ cảm thấy có điều khác thường, thấy tấm bảng hiệu của điếm rất mới, cánh cửa cũng lau chùi sạch sẽ, không phải tình trạng của việc ngưng hoạt động. Bà nói:

 

– Đi nữa xem, trong trấn này chắc không chỉ có một khách điếm này.

 

Đoàn người đi qua mấy chục căn nhà, đến Nam An khách điếm. Trịnh Ngạc chạy lên trước đập cửa, cũng giống như trước, vẫn không có người trả lời. Trịnh Ngạc nói:

 

– Nghi Hòa sư tỉ, chúng ta vào xem sao.

 

Nghi Hòa đáp:

 

– Cũng được.

 

Hai người vượt tường vào trong. Trịnh Ngạc lớn tiếng hỏi:

 

– Trong điếm có ai không?

 

Không nghe có người đáp lại. Hai người rút kiếm ra khỏi vỏ, đi song song vào khách đường, đến sau bếp, chuồng ngựa, các phòng các nơi xem xét một lượt, quả nhiên không có một ai. Nhưng trên bàn ghế chưa bám bụi, ngay cả trà trong bình ở trên bàn cũng còn hơi ấm. Trịnh Ngạc mở cửa lớn để Định Tĩnh sư thái và mọi người vào. Cô đem tình hình thuật lại, mọi người đều lẩm bẩm cho là kỳ lạ.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Các ngươi bảy người một tốp, phân ra đi các nơi trong trấn xem sao, hỏi thăm xem vì nguyên nhân gì. Bảy người không được rời nhau, hễ có tung tích của địch thì thổi còi làm hiệu.

 

Chúng đệ tử đồng thanh đáp dạ rồi vội phân ra đi. Khách đường chỉ còn lại một mình Định Tĩnh sư thái. Lúc đầu, bà còn nghe tiếng bước chân của các đệ tử, lúc sau thì tịch mịch không còn một tiếng động. Trấp Bát phố yên tĩnh khiến cho người ta cảm thấy rợn tóc gáy. Một thị trấn to nhường ấy, yên tĩnh không có tiếng người mà ngay cả tiếng gà gáy chó sủa cũng không, thật là bất bình thường.

 

Định Tĩnh sư thái bỗng nhiên lo lắng vô cùng. Bà thầm nghĩ: “Phải chăng Ma giáo bày bố cạm bẫy âm độc? Bọn nữ đệ tử rất ít kinh nghiệm trên giang hồ, mong đừng trúng quỷ kế bị Ma giáo bắt”.

 

Bà đi đến cửa, thấy góc Đông Bắc có bóng người thoáng qua, ở đầu mé Tây có mấy người nhảy vào trong nhà người ta, đều là đệ tử của bổn phái. Bà hơi yên tâm, lại qua một lúc sau, bọn đệ tử từ các nơi về bẩm báo, đều nói trấn này không có một bóng người.

 

Nghi Hòa nói:

 

– Đừng nói là không có người mà ngay cả gà chó cũng không có một con.

 

Nghi Thanh nói:

 

– Xem ra mọi người trên trấn đi không lâu, nhiều nhà rương hòm còn mở ra, chắc là lấy đồ có giá trị đem đi.

 

Định Tĩnh sư thái gật đầu hỏi:

 

– Các ngươi nghĩ thế nào?

 

Nghi Hòa nói:

 

– Đệ tử đoán rằng bọn yêu nhân Ma giáo đã đuổi dân trong trấn đi, không bao lâu sẽ kéo đến rất đông để đánh mình.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Đúng vậy, lần này yêu nhân Ma giáo muốn minh thương giao chiến với chúng ta. Vậy thì càng hay. Các ngươi có sợ không?

 

Chúng đệ tử cùng đáp:

 

– Hàng ma diệt tà là thiên chức của đệ tử Phật môn chúng ta.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Chúng ta ở trong khách điếm này nghỉ ngơi, làm cơm ăn no một bữa rồi hãy hay. Trước tiên thử xem trong nước, gạo, rau có độc dược không?

 

Lúc phái Hằng Sơn ăn cơm, không nói chuyện, ai cũng lắng tai nghe động tĩnh ở bên ngoài. Tốp thứ nhất ăn cơm xong, đi ra ngoài canh giữ, đổi cho những đệ tử kia vào ăn cơm.

 

Bỗng nhiên Nghi Thanh nghĩ ra một kế, bèn nói:

 

– Sư phụ, chúng ta đi vào các nhà thắp đèn lên, làm cho địch nhân không biết chỗ ở của chúng ta.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Kế nghi binh này hay lắm. Bảy người các ngươi đi đốt đèn đi.

 

Từ cửa lớn bà nhìn ra trên đường phía Tây, trong cửa sổ nhiều nhà, chỗ nào cũng có ánh đèn sáng lên, một lúc sau trong cửa sổ nhiều quán điếm ở phía Đông cũng có ánh đèn. Trên đường lớn chỗ nào cũng có ánh đèn nhưng vẫn không thấy động tĩnh gì. Định Tĩnh sư thái ngẩng đầu lên thấy vành trăng lưỡi liềm giữa trời. Bà khấn thầm trong lòng: “ Cầu xin Bồ Tát phù hộ để các đệ tử phái Hằng Sơn lần này được toàn thân quay về. Đệ tử Định Tĩnh nếu trở về được núi Hằng Sơn thì từ nay đèn hương lễ Phật, không động đến đao kiếm nữa”.

 

Năm xưa Định Tĩnh sư thái khét tiếng trên giang hồ, không ít sự tích oanh liệt. Nhưng trận chiến trên Tiên Hà Lĩnh tối hôm qua, cục diện vô cùng hung hiểm, bây giờ nghĩ lại bà còn sợ hãi. Bà lo lắng là vì thống lĩnh nhiều đệ tử, nếu chỉ một mình bà, thì tình cảnh có đáng sợ đến gấp mười lần, bà cũng không ngại. Bà lại thầm cầu nguyện: “Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, nếu lần này mọi người phái Hằng Sơn của đệ tử bị tổn thất, xin để cho một mình đệ tử Định Tĩnh gánh chịu tai họa. Các báo ứng sát nghiệp, chỉ để một mình đệ tử nhận lãnh”.

 

Ngay lúc này bỗng nghe có tiếng phụ nữ ở phía đông bắc truyền lại:

 

– Cứu tôi với, cứu tôi với!

 

Trong đêm tối bốn bề tĩnh lặng, tiếng la thất thanh càng thê thảm. Định Tĩnh sư thái kinh hãi, nghe rõ tiếng la không phải là đệ tử của bổn môn. Bà chăm chú nhìn về phía Đông Bắc, không thấy động tĩnh gì, liền thấy tốp bảy người của Nghi Thanh chạy về hướng đó để quan sát phía trước. Một lúc lâu sau, không thấy bọn Nghi Thanh trở về bẩm báo. Nghi Hòa nói:

 

– Sư phụ, đệ tử và sáu vị sư muội qua xem sao.

 

Định Tĩnh gật đầu. Nghi Hòa thống lĩnh sáu người, gọi một tiếng rồi chạy thẳng đến chỗ đó.

 

Trong bóng đêm kiếm quang lấp loáng, không bao lâu thì mất hút.

 

Một lúc lâu sau, bỗng nghe tiếng phụ nữ lại la thất thanh:

 

– Giết người! Cứu mạng! Cứu tôi với!

 

Bọn đệ tử phái Hằng Sơn ngơ ngác nhìn nhau. Không biết bên đó xảy ra chuyện gì, tại sao hai tốp Nghi Thanh và Nghi Hòa đi lâu như vậy mà vẫn chưa về bẩm báo. Nếu nói gặp phải địch nhân tại sao không có tiếng binh khí đánh nhau. Nghe từng tiếng gọi cứu mạng của người phụ nữ, mọi người nhìn Định Tĩnh sư thái, đợi bà ra lệnh phái người đi cứu.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Vu Tẩu, ngươi dẫn sáu tên sư muội đi trước, bất luận thấy chuyện gì, tức khắc phái người về báo.

 

Vu Tẩu là một phụ nữ trung niên khoảng bốn chục tuổi, nguyên là bộc phụ hầu hạ Định Nhàn sư thái trong Bạch Vân am ở Hằng Sơn, về sau Định Nhàn sư thái thấy bà ta có lòng trung thành, có tài năng bèn nhận làm đệ tử, lần này được theo Định Tĩnh sư thái là lần đầu tiên phiêu bạt giang hồ. Vu Tẩu cúi người đáp dạ rồi dẫn sáu sư muội, nhắm đi về hướng Đông Bắc.

 

Nhưng sau khi bảy người đi, vẫn giống như đá chìm dưới đáy biển, không một ai trở lại. Định Tĩnh sư thái càng lúc càng sợ, đoán rằng địch nhân bày bố cạm bẫy để dụ bọn đệ tử, lần lượt bắt giữ. Lại đợi thêm một lúc nữa, vẫn không có động tĩnh gì, tiếng kêu cứu mạng cũng im bặt. Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Nghi Chất, Nghi Chân, các ngươi ở lại đây, chăm sóc sư tỉ, sư muội bị thương, bất luận thấy cái gì cổ quái cũng không được rời khỏi khách điếm, để khỏi trúng kế điệu hổ li sơn của chúng.

 

Nghi Chất và Nghi Chân cúi người đáp dạ. Định Tĩnh sư thái nói với ba tên đệ tử trẻ là Trịnh Ngạc, Nghi Lâm và Tần Quyên:

 

– Các ngươi đi theo ta.

 

Bà rút trường kiếm ra, chạy về hướng Đông Bắc. Sắp đến gần, thấy một dãy phòng tối thui không có một bóng đèn, cũng không có động tĩnh gì, Định Tĩnh sư thái lớn tiếng quát:

 

– Yêu nhân Ma giáo, có ngon thì ra đây quyết một trận tử chiến, cứ lén lút giả thần làm quỷ thì đâu phải anh hùng hảo hán.

 

Bà dừng một lúc, trong phòng cũng không có người đáp lại. Bà liền phóng chân đá lên cửa lớn nơi đang đứng. Rắc rắc hai tiếng vang lên, then cửa bị gãy, cánh cửa bật vào trong. Trong phòng tối đen như mực, cũng không biết là có người hay không.

 

Định Tĩnh sư thái không dám mạo hiểm xông vào. Bà gọi:

 

– Nghi Hòa, Nghi Thanh, Vu Tẩu, các ngươi có nghe tiếng ta gọi không?

 

Tiếng của bà gọi truyền đi xa dần, một lúc sau từ nơi xa vọng lại. Tiếng vọng dừng hẳn, chỉ còn lại một bầu không khí tĩnh mịch.

 

Định Tĩnh sư thái quay lại nói:

 

– Ba ngươi đi theo sát ta, không được rời xa.

 

Bà cầm kiếm chạy một vòng quanh dãy phòng này, không thấy gì khác lạ. Bà tung mình lên bên trên dãy phòng, chăm chú nhìn bốn phía. Không có một chút gió thổi, cây cối đứng yên, ánh trăng mát lạnh tỏa sáng trên mái ngói, phong cảnh giống như ngày trước ở Hằng Sơn bà đi đạo dưới ánh trăng lúc đêm khuya. Nhưng ở Hằng Sơn là một bầu không khí thanh tĩnh, còn bây giờ bà lại đang đứng vào giữa kỳ bí và sát khí vô cùng đáng sợ.

 

Định Tĩnh sư thái là một người võ công cao cường, địch nhân vẫn không chịu lộ diện thì bà cũng đành chịu bó tay chẳng biết làm thế nào.

 

Bà vừa sốt ruột vừa hối hận:

 

– Ta mà biết trước quỷ kế thâm mưu của yêu nhân thì không nên phái bọn đệ tử phân ra từng tốp đến…

 

Đột nhiên bà phát lãnh, hai tay vỗ một cái bốp, nhảy xuống khỏi nóc nhà, triển khai khinh công chạy nhanh về Nam An khách điếm, gọi:

 

– Nghi Chất, Nghi Chân, có chuyện gì không?

 

Trong khách điếm không có tiếng trả lời.

 

Bà xông vào trong, không thấy một bóng người, mấy tên đệ tử nằm trên giường dưỡng thương cũng không biết biến đi đâu mất.

 

Giờ phút này Định Tĩnh sư thái có hàm dưỡng đến đâu cũng không sao trấn tĩnh được, mũi kiếm ở dưới ánh đèn không ngừng rung động, lấp loáng ánh thanh quang. Trường kiếm cầm trong tay kìm không được, run lên. Mười mấy tên nữ đệ tử đột nhiên mất tích một cách vô duyên vô cớ, rốt cuộc là thế nào? Làm sao bây giờ? Ngay lúc này bà cảm thấy lưỡi ráo môi khô, gân cốt toàn thân đều nhũn ra không sao di động được.

 

Nhưng cảm giác ấy chỉ xảy ra trong khoảnh khắc. Bà hít một hơi chân khí vào Đan điền, gia tâm vận chuyển nội lực, tinh thần liền phấn chấn. Bà chạy nhanh một vòng các phòng các xá, đình, sân một lượt, không thấy có gì đáng ngại. Bà gọi:

 

– Ngạc nhi, Quyên nhi, các ngươi lại đây.

 

Nhưng trong bóng đêm, chỉ nghe tiếng của mình gọi. Trịnh Ngạc, Tần Quyên và Nghi Lâm cả ba người đều không đáp lại. Định Tĩnh sư thái la thầm:

 

– Nguy rồi!

 

Bà vội xông ra cửa gọi:

 

– Ngạc nhi, Quyên nhi, Nghi Lâm, các ngươi ở đâu?

 

Ánh trăng ngoài cửa mờ nhạt, ba tiểu đồ nhi cũng không thấy tông tích đâu.

 

Gặp đại biến như vậy, Định Tĩnh sư thái không kinh hãi mà ngược lại còn tức giận. Bà nhảy vọt lên nóc nhà, lớn tiếng quát:

 

– Bọn yêu nhân Ma giáo, có giỏi thì ra đây quyết một trận tử chiến, giả bộ làm thần làm quỷ thì còn ra thể thống gì nữa?

 

Bà hô hoán mấy tiếng, bốn bề yên lặng tuyệt không một tiếng động. Bà luôn miệng quát tháo om sòm. Trong tòa thị trấn Trấp Bát phố to như vậy dường như chỉ còn lại một mình bà. Đang lúc không biết phải làm sao, bỗng nhiên bà nhanh trí bèn lớn tiếng nói:

 

– Bọn yêu nhân Ma giáo nghe đây. Các ngươi không dám chường mặt ra thì điều đó chứng tỏ rằng Đông Phương Bất Bại là đồ vô sỉ khiếp nhược vô liêm sỉ, không dám phái người ra đánh chính diện với ta. Đông Phương Bất Bại cái gì, chẳng qua là Đông Phương Tất Bại mà thôi. Đông Phương Tất Bại, ngươi có dám ra đây diện kiến với lão ni không? Đông Phương Tất Bại, Đông Phương Tất Bại, ta đoán là ngươi không dám chường mặt ra đâu.

 

Bà biết trong Ma giáo từ trên xuống dưới, đối với giáo chủ phụng thờ như đấng thần linh, nếu có người sỉ nhục tên của giáo chủ, giáo đồ nghe thấy mà không xông ra liều mạng để bảo vệ danh dự cho giáo chủ là phạm tội đại ác. Quả nhiên sau khi bà kêu mấy tiếng Đông Phương Tất Bại, bỗng thấy trong mấy gian phòng xông ra bảy người, khẽ vọt lên nóc nhà không phát ra tiếng động, vây bà vào giữa.

 

Địch nhân vừa xuất hiện thì Định Tĩnh sư thái mừng thầm. Bà nghĩ: “Bọn yêu ma quỷ quái các người rốt cuộc bị ta chửi mà chường mặt ra. Ta thà bị loạn đao phân thây, còn hơn là chỉ nói với bóng ma”.

 

Nhưng bảy người đứng vây quanh bà lặng thinh không nói lời nào. Định Tĩnh sư thái tức giận nói:

 

– Những tên đệ tử của ta đâu? Các ngươi đem bọn họ đi đâu rồi?

 

Bảy người đó vẫn lặng yên không lên tiếng.

 

Định Tĩnh sư thái thấy hai người đứng ở phía Tây khoảng năm chục tuổi, cơ thịt trên mặt như cương thi, không lộ ra vẻ hỉ nộ nào. Bà thở mạnh quát:

 

– Được, xem kiếm đây!

 

Bà vung kiếm lên nhằm đâm vào ngực người đứng ở góc Tây Bắc.

 

Định Tĩnh sư thái biết mình đang ở trong trùng vây thì chiêu kiếm này không tài nào phóng đến hắn được, chẳng qua chỉ là một hư chiêu thôi. Người kia cũng thật sự lợi hại, hắn đoán được chiêu kiếm này chỉ là hư chiêu, nên không thèm né tránh. Chiêu kiếm này Định Tĩnh sư thái vốn đã thu về nhưng bà thấy hắn không màng đến, nên nửa chừng đột ngột biến chiêu, vận lực vào cánh tay phóng nhanh đi. Hai người đứng bên cạnh vội chụp lấy hai vai của bà.

 

Định Tĩnh sư thái né người qua, chuyển động nhanh như gió, xoay mình nhằm tấn công người rất cao bên phía Đông. Người đó trượt đi nửa bước, leng keng một tiếng, đã rút binh khí ra cầm tay. Đó là tấm thiết bài rất nặng. Gã vung thiết bài lên nhằm gạt trường kiếm của bà. Trường kiếm của Định Tĩnh sư thái đã chuyển thành vòng tròn, vèo một tiếng, nhằm phóng đến bên trái của lão già. Lão già đưa tay trái ra toan chụp trường kiếm của bà. Dưới ánh trăng thấp thoáng, bà thấy dường như lão có mang bao tay màu đen. Bà đoán rằng lưỡi kiếm không chém vào được nên lão mới dám tay không mà đoạt trường kiếm.

 

Giao đấu vài hiệp, Định Tĩnh sư thái đã giao thủ với năm người trong bảy tên địch, cảm thấy năm người này đều là những cao thủ. Nếu bà đơn đả độc đấu hoặc lấy một chọi hai, thì bà quyết chẳng sợ gì, còn có thể nắm được bảy tám phần thắng. Nhưng bảy người này cùng tấn công, chỉ cần có chút sơ hở thì người khác liền đánh vào ngay, đẩy bà vào cục diện chỉ bị đánh, khó mà phản kích được.

 

Càng đấu bà càng ngạc nhiên: Những nhân vật có tên tuổi trong Ma giáo, tám chín phần ta đều có nghe biết. Võ công lộ số của bọn chúng, binh khí sử dụng, Ngũ Nhạc kiếm phái ta không phải không biết. Nhưng bảy người này lai lịch thế nào, ta hoàn toàn đoán không ra. Không ngờ mấy năm gần đây thế lực của Ma giáo lại lớn mạnh, thu nạp nhiều cao thủ thân phận bí ẩn đến như vậy.

 

Khó khăn lắm mới đấu được đến sáu bảy chục chiêu, Định Tĩnh sư thái gạt trái hở phải, miệng thở hồng hộc. Bà liếc mắt nhìn, bỗng thấy trên mái nhà đối diện có hơn mười bóng người. Những người này hiển nhiên đã ẩn phục ở đây từ lâu, đến bây giờ mới đột nhiên xuất hiện. Bà la thầm: Thôi rồi, thôi rồi, trước mắt bảy người này ta đã đối phó không xong. Bây giờ lại có thêm những địch nhân ngấm ngầm mai phục bên cạnh, hôm nay Định Tĩnh này khó mà thoát đại nạn. Đằng nào ta cũng chết, để lọt vào tay địch nhân, phải chịu sỉ nhục, chi bằng tự tử sớm một chút thì hơn. Cái bọc thối này chỉ là ngôi nhà tạm thời của ta, hủy nó đi thì đâu có gì mà tiếc. Nhưng mười mấy tên đệ tử ta thống lĩnh cũng bị uổng mạng theo, Định Tĩnh này thật là tủi hổ với liệt vị tiền nhân của phái Hằng Sơn.

 

Bà phóng ba kiếm veo véo, bức địch nhân lùi lại hai bước, bỗng xoay trường kiếm lại tự đâm vào ngực mình.

 

Mũi kiếm vừa đến ngực, bỗng choang một tiếng, cánh tay bà chấn động, trường kiếm bị hất ra.

 

Một hán tử tay cầm kiếm đứng cạnh bà nói lớn:

 

– Định Tĩnh sư thái chớ có làm vậy. Có bằng hữu phái Tung Sơn đến viện trợ đây.

 

Trường kiếm của bà bị lão đánh gạt ra.

 

Nghe tiếng binh khí chạm nhau chát chúa, mười mấy người mai phục trong bóng tối tới tấp nhảy ra đấu với bảy người bọn Ma giáo. Định Tĩnh sư thái thoát chết, tinh thần phấn chấn, liền chống kiếm tiến lên truy sát. Nhưng thấy những người phái Tung Sơn lấy hai mà địch một, bảy người Ma giáo lập tức xuống hạ phong. Bảy người kia thấy ít không địch lại nhiều, họ huýt lên một tiếng ra hiệu rút lui, chạy về phía Nam.

 

Định Tĩnh sư thái cầm kiếm đuổi theo, bỗng nghe tiếng gió rít lên trước mặt, trên mái nhà mười mấy thứ ám khí đồng thời phát ra. Bà vung trường kiếm lên, ngưng thần lắng nghe từng thứ ám khí bay đến. Trong đêm tối, chỉ có ánh trăng sao lờ mờ, trường kiếm múa tít, những tiếng leng keng vang lên liên tục, mười mấy thứ ám khí bị bà đánh rớt hết. Có điều bà bị ám khí ngăn cản trở như vậy, bọn Ma giáo bảy người đã chạy xa rồi. Người ở phía sau la lên:

 

– Vạn hoa kiếm pháp của phái Hằng Sơn tinh diệu tuyệt luân, hôm nay mới được mở rộng tầm mắt.

 

Định Tĩnh sư thái tra kiếm vào vỏ, từ từ quay người lại. Trong phút chốc từ chỗ động vào chỗ tĩnh, một người cường kiện trong võ lâm còn đang vung kiếm kịch đấu bỗng biến thành một lão ni đắc đạo hiền hòa nhân từ. Bà chắp tay hành lễ, nói:

 

– Đa tạ Chung sư huynh đã giải vây.

 

Bà nhận ra hán tử trung niên này là sư đệ của Tả chưởng môn phái Tung Sơn, họ Chung tên Trấn, ngoại hiệu là Cửu khúc kiếm. Ngoại hiệu đó không phải là do lão sử dụng binh khí là thanh trường kiếm cong, mà là tán dương kiếm pháp của lão biến ảo vô cùng, người khác khó nắm bắt. Năm kia, đại hội Ngũ Nhạc kiếm phái trên ngọn Nhật Quán núi Thái Sơn, Định Tĩnh sư thái đã có duyên gặp lão. Trong những nhân vật còn lại của phái Tung Sơn, bà biết được ba bốn người.

 

Chung Trấn cung tay đáp lễ, mỉm cười nói:

 

– Định Tĩnh sư thái một mình địch lại Thất tinh sứ giả của Ma giáo, quả nhiên kiếm pháp cao siêu. Tại hạ rất khâm phục, khâm phục!

 

Định Tĩnh sư thái thầm nghĩ: Thì ra bảy cái đồ thối tha đó gọi là cái gì Thất tinh sứ giả.

 

Bà không muốn để người ta biết mình kiến thức hạn hẹp nên cũng không hỏi, lòng nghĩ sau này từ từ thăm dò cũng chưa muộn, đã biết danh hiệu của bọn chúng, thì dễ hỏi ra thôi.

 

Những người còn lại của phái Tung Sơn cũng lần lượt đến hành lễ. Có hai người là sư đệ của Chung Trấn, còn lại là hàng đệ tử. Định Tĩnh sư thái đáp lễ xong, rồi nói:

 

– Nói ra thật xấu hổ, lần này phái Hằng Sơn của lão ni đến Phúc Kiến, dẫn theo mười mấy tên đệ tử, đột nhiên chúng mất tích ở trấn này. Chung sư huynh, các vị đến Trấp Bát phố này hồi nào vậy? Có chút manh mối gì để giúp lão ni điều tra không?

 

Bà nghĩ đến những người của phái Tung Sơn đã ẩn phục ở đây từ lâu, muốn đợi bà thế cùng lực kiệt vung kiếm toan tự tử mới ra tay giúp đỡ. Rõ ràng là họ muốn bà lộ chỗ dở ra trước thì oai phong của bọn chúng càng mạnh hơn. Lòng bà rất không vui. Nhưng mấy chục tên nữ đệ tử đột nhiên mất tích thật là chuyện vô cùng trọng đại, không thể không hỏi thăm bọn chúng. Nếu là chuyện cá nhân của bà thì thà chết chứ không mở miệng cầu xin những người này. Bà hỏi Chung Trấn câu này là đã nhịn nhục lắm rồi.

 

Chung Trấn nói:

 

– Yêu nhân Ma giáo quỷ kế đa đoan, chúng biết rõ sư thái võ công trác tuyệt, đấu bằng lực khó mà thủ thắng, nên ngấm ngầm sắp đặt âm mưu, bắt tất cả đệ tử của quý phái đem đi. Sư thái không cần phải sốt ruột, bọn Ma giáo tuy to gan đến đâu cũng không dám lập tức gia hại các vị sư muội của quý phái liền đâu. Chúng ta sẽ thương lượng kế sách cứu người.

 

Lão nói xong xòe tay trái ra mời bà xuống nhà. Định Tĩnh sư thái gật đầu, nhảy xuống đất. Bọn Chung Trấn cũng nhảy theo sau.

 

Chung Trấn đi về hướng Tây, lão nói:

 

– Tại hạ xin dẫn đường.

 

Sau khi đi được mấy chục trượng thì quẹo qua hướng Bắc, đến trước Tiên An khách điếm. Lão đẩy cửa vào, rồi nói:

 

– Sư thái, chúng ta vào đây thương nghị.

 

Hai người sư đệ của lão một người tên là Tiểu thần tiên Đằng Bát Công, còn người kia tên là Cẩm mao sư Cao Khắc Tân, cả ba người đều thuộc Tung Sơn thập tam thái bảo. Ba người dẫn Định Tĩnh sư thái đi vào một gian phòng rộng lớn, đốt nến lên rồi phân ra chủ khách mà ngồi. Bọn đệ tử dâng trà lên rồi lùi ra. Cao Khắc Tân đóng cửa phòng lại.

 

Chung Trấn nói:

 

– Bọn tại hạ ngưỡng mộ kiếm pháp của sư thái thuộc hàng cao thủ đệ nhất phái Hằng Sơn đã lâu…

 

Định Tĩnh sư thái lắc đầu nói:

 

– Không phải đâu, kiếm pháp của lão ni không bằng chưởng môn sư muội, cũng không bằng Định Dật sư muội.

 

Chung Trấn mỉm cười nói:

 

– Sư thái không nên quá khiêm. Hai vị sư đệ của tại hạ ngưỡng mộ anh danh, nên muốn xem cho biết kiếm pháp thần diệu của sư thái, vì vậy vừa rồi mới cứu viện chậm trễ, thực ra không có ác ý. Bây giờ tại hạ có lời xin lỗi, xin sư thái miễn trách.

 

Định Tĩnh sư thái đã hơi nguôi giận. Thấy ba người đứng cung tay hành lễ, bà cũng đứng dậy chắp tay đáp lễ nói:

 

– Hảo thuyết.

 

Chung Trấn đợi Định Tĩnh sư thái ngồi xuống rồi nói:

 

– Sau khi Ngũ Nhạc kiếm phái ta kết minh, đồng khí liên chi, tuy hai mà như một. Có điều mấy năm gần đây mọi người ít khi gặp mặt, có nhiều chuyện lại không liên thủ với nhau mà làm, khiến cho Ma giáo bành trướng ngày càng lớn mạnh.

 

Định Tĩnh sư thái ừm một tiếng, thầm nghĩ: “Lão này lại nói chuyện vòng vo để làm gì?”

 

Chung Trấn lại nói tiếp:

 

– Tả sư ca thường nói: Hợp lại là thế mạnh còn phân ra thì lực yếu. Nếu Ngũ Nhạc kiếm phái ta có thể hợp lại làm một thì Ma giáo không phải địch thủ của chúng ta; Thiếu Lâm, Võ Đang những danh môn đại phái đã lừng danh từ lâu thanh thế cũng không bằng chúng ta. Tả sư ca lão nhân gia có tâm nguyện muốn đem Ngũ Nhạc kiếm phái phân tán quy về làm một Ngũ Nhạc phái. Lúc đó chúng ta người đông thế mạnh, đồng tâm hợp lực, có thể đứng đầu các phái trong võ lâm, không biết ý sư thái thế nào?

 

Định Tĩnh sư thái giương cặp lông mày lên. Bà nói:

 

– Bần ni ở trong phái Hằng Sơn là người nhàn hạ, không để ý đến mọi việc. Đại sự mà Chung sư huynh mới đề cập nên đi nói với chưởng môn sư muội của lão ni mới phải. Việc cấp thiết nhất là phải tìm cách cứu bọn nữ đệ tử của tệ phái mất tích. Còn những chuyện khác sẽ thủng thẳng tính sau.

 

Chung Trấn mỉm cười nói:

 

– Sư thái cứ yên tâm. Đã đến tay phái Tung Sơn thì chuyện của phái Hằng Sơn cũng là chuyện của phái Tung Sơn, không thể để cho các vị sư muội của quý phái chịu ủy khuất có hại.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Vậy thì xin đa tạ. Nhưng không biết Chung huynh có cao kiến gì mà nói chắc như vậy?

 

Chung Trấn mỉm cười nói:

 

– Sư thái là một cao thủ đỉnh đỉnh đại danh của phái Hằng Sơn chẳng lẽ còn sợ mấy tên yêu nhân Ma giáo? Hơn nữa bọn sư huynh đệ của tại hạ và mấy tên sư điệt sẽ tận tâm tận lực, nếu không điều tra được mấy tên lưu manh này trong Ma giáo, hì hì, thì còn làm cái trò gì nữa?

 

Định Tĩnh sư thái nghe nói vòng vo, bà vẫn không điều tra được cái gì. Bà vừa sốt ruột vừa tức giận, đứng dậy nói:

 

– Chung sư huynh đã nói vậy tất nhiên là hay biết mấy. Bây giờ chúng ta đi thôi.

 

Chung Trấn nói:

 

– Sư thái đi đâu?

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Đi cứu người.

 

Chung Trấn hỏi:

 

– Đi đâu để cứu người?

 

Nghe câu hỏi này, Định Tĩnh sư thái bất giác cứng họng không trả lời được. Ngừng lại một lúc, bà nói:

 

– Bọn đệ tử của lão ni mất tích không lâu, thì đương nhiên là ở gần đây, càng chần chờ thì càng khó tìm.

 

Chung Trấn nói:

 

– Theo tại hạ biết, có một sào huyệt là chỗ ở của bọn Ma giáo cách Trấp Bát phố không xa. Các sư muội của quý phái chắc đã bị giam ở chỗ đó, theo tại hạ…

 

Định Tĩnh sư thái vội hỏi:

 

– Sào huyệt đó ở đâu? Chúng ta đi cứu người đi.

 

Chung Trấn thủng thẳng nói:

 

– Bọn Ma giáo đã chuẩn bị sẵn sàng, chúng ta mạo nhiên đến trước, nếu có sự sai lầm, không chừng người chưa cứu được mà bọn ta lại mắc bẫy chúng rồi. Theo ý kiến của tại hạ hãy bàn định kế hoạch rồi đi cứu người cho vẹn mọi bề.

 

Định Tĩnh sư thái không biết làm sao, đành ngồi lại xuống ghế. Bà nói:

 

– Lão ni xin nghe cao kiến của Chung sư huynh.

 

Chung Trấn nói:

 

– Lần này tại hạ phụng mệnh chưởng môn sư huynh đến Phúc Kiến là có một chuyện lớn muốn thương lượng với sư thái. Chuyện này có liên quan đến vận khí võ lâm Trung Nguyên, liên quan đến sự thịnh suy của Ngũ Nhạc kiếm phái ta, thật là chuyện trọng đại. Đợi đại sự thương định xong, thì chuyện cứu người chỉ cần vung tay một cái là xong.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Không biết đại sự đó là chuyện gì?

 

Chung Trấn nói:

 

– Thì là chuyện mà vừa rồi tại hạ đề cập, đem Ngũ Nhạc kiếm phái hợp lại làm một.

 

Hắn luôn mồm tự xưng “tiểu đệ”, cứ như thể Ngũ Nhạc kiếm phái đã sớm hợp nhất thành một phái, còn hắn là sư đệ trong cùng môn phái vậy.

 

Định Tĩnh sư thái vụt đứng phắt dậy, mặt biến sắc xanh mét, nói:

 

Chung huynh… huynh… huynh…

 

Chung Trấn mỉm cười:

 

Sư thái ngàn vạn lần chớ hiểu lầm, cho rằng tiểu đệ nhân lúc giậu đổ bìm leo mà ép sư thái đáp ứng việc này.

 

Định Tĩnh sư thái tức giận nói:

 

– Chính miệng Chung huynh nói ra thì lão ni khỏi phải nói. Đây không phải thừa cơ người gặp nguy khốn thì là cái gì?

 

Chung Trấn nói:

 

– Quý phái là phái Hằng Sơn, tệ phái là phái Tung Sơn. Việc của quý phái tuy tệ phái quan tâm, nhưng là chuyện liều mạng trên đầu đao mũi kiếm. Dù tại hạ tình nguyện vì sư thái mà tận lực nhưng không biết ý của các vị sư đệ, sư điệt thế nào. Nếu hai phái hợp lại làm một thì thành ra chuyện của phái mình, không dễ đùn đẩy trách nhiệm cho ai.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Theo như Chung huynh nói, nếu phái Hằng Sơn lão ni không hợp nhất với quý phái, phái Tung Sơn sẽ tụ thủ bàng quan đối với chuyện đệ tử Hằng Sơn mất tích phải không?

 

Chung Trấn nói:

 

– Sao lại nói vậy. Tại hạ phụng mệnh chưởng môn sư huynh đến đây thương nghị với sư thái đại sự này. Còn chuyện khác chưa được mệnh lệnh của chưởng môn sư huynh, nên tại hạ không dám hành sự bừa. Mong sư thái đừng trách.

 

Định Tĩnh sư thái cả giận, sắc mặt trắng xanh. Bà lạnh lùng nói:

 

– Chuyện hai phái hợp lại, bần ni không làm được. Dù bần ni có ưng thuận mà chưởng môn sư muội của bần ni không ưng thuận cũng vô ích thôi.

 

Chung Trấn đến gần, nói khẽ:

 

– Chỉ cần sư thái ưng thuận rồi thì đến lúc đó Định Nhàn sư thái cũng phải ưng thuận theo. Từ trước đến nay chưởng môn của một môn một phái, tám chín phần là do đại đệ tử chấp chưởng. Luận về đức hạnh, võ công, nhập môn, đáng lẽ sư thái chấp chưởng môn hộ phái Hằng Sơn mới phải…

 

Định Tĩnh sư thái vung chưởng trái lên, bốp một tiếng, đánh gãy một góc bàn. Bà gằn giọng nói:

 

– Chung huynh muốn li gián tỉ muội lão ni sao? Sư muội của lão ni làm chưởng môn là do lão ni năn nỉ với tiên sư rồi hết sức khuyên Định Nhàn sư muội chấp chưởng. Nếu Định Tĩnh này muốn làm chưởng môn thì đã làm từ năm đó rồi, đâu cần người khác đến xúi bẩy?

 

Chung Trấn thở dài nói:

 

– Lời Tả sư ca nói quả thật không sai.

 

Định Tĩnh sư thái hỏi:

 

– Tả chưởng môn nói cái gì?

 

Chung Trấn nói:

 

– Trước khi tại hạ xuống miền Nam, Tả sư ca nói: “Định Tĩnh sư thái phái Hằng Sơn nhân phẩm rất cao, võ công cũng rất tinh thông, xưa nay mọi người ai ai cũng rất khâm phục, nhưng đáng tiếc không hiểu biết đại thể”. Tại hạ hỏi: “Sao sư ca nói vậy?” Tả sư ca nói: “Ta biết con người của Định Tĩnh sư thái. Tính cách của sư thái thanh cao, không màng hư danh, lại không thích tham dự vào chuyện trần tục. Sư đệ đi nói với sư thái chuyện hợp nhất ngũ phái, nhất định sẽ đụng phải một cái đinh to, có điều chuyện này quá trọng đại, chúng ta biết vậy nhưng không thể không làm. Nếu Định Tĩnh sư thái chỉ muốn hưởng phúc thanh nhàn một mình, không màng đến sự sinh tử an nguy của mấy ngàn người trong chính giáo, đó là kiếp nạn khó thoát trong võ lâm, cũng không biết phải làm sao”.

 

Định Tĩnh sư thái đứng dậy lạnh lùng nói:

 

– Chung huynh nói toàn những lời hoa ngôn xảo ngữ trước mặt lão ni cũng vô ích thôi. Phái Tung Sơn của Chung huynh hành động như vậy, là đã giậu đổ bìm leo, như đẩy đá xuống giếng.

 

Chung Trấn nói:

 

– Sư thái nói sai rồi. Nếu sư thái thấy được trách nhiệm, bổn phận đối với đồng đạo võ lâm mà chịu cùng gánh vác trọng trách này, hợp các phái Tung Sơn, Hành Sơn, Thái Sơn, Hằng Sơn, Hoa Sơn lại làm một thì phái Tung Sơn của tại hạ nhất định cử sư thái làm chưởng môn Ngũ Nhạc phái. Có thể thấy Tả sư ca của tại hạ rất công bằng, tuyệt không có chút gì riêng tư…

 

Định Tĩnh sư thái liên tục xua tay nói lớn:

 

– Chung huynh còn nói nữa chỉ tổ làm bẩn tai lão ni.

 

Bà vung song chưởng lên, rồi vận chưởng lực, ầm một tiếng hai cánh cửa gỗ bay đi. Thân người bà chuyển động, thoáng một cái đã ra khỏi Tiên An khách điếm.

 

Bà vừa ra khỏi cửa, một luồng gió thổi vào mặt. Mặt bà đang nóng bừng liền cảm thấy mát mẻ. Bà thầm nghĩ: Theo lời lão họ Chung nói, sào huyệt của Ma giáo ở gần Trấp Bát phố, bọn nữ đệ tử của bổn phái đều bị giam giữ ở đó. Không biết lời nói này có chính xác không?

 

Bà ngập ngừng, không có kế sách gì nữa, lủi thủi đi một mình. Lúc này trăng sắp lặn, bóng người bà đổ dài in trên đường lát đá xanh.

 

Sau khi đi được vài trượng, bà dừng bước thầm nghĩ: “Sức một mình ta không thể cứu được chúng đệ tử. Xưa nay bậc anh hùng hào kiệt phải biết lúc nào đánh lúc nào khuất. Sao ta không tạm thời ưng thuận lời Chung Trấn? Đợi cứu được bọn đệ tử rồi ta liền tự vẫn để tạ tội, làm cho hắn mất bằng chứng vì tử vô đối chứng? Dù hắn có sỉ nhục ta nuốt lời thì Định Tĩnh ta vẫn vui lòng nhận lấy sự ô danh”.

 

Bà thở dài quay người lại, từ từ đi về Tiên An khách điếm. Bỗng nghe bên kia đường có người lớn tiếng quát:

 

– Tổ mẹ nó, bổn tướng quân muốn uống rượu nghỉ ngơi. Tổ mẹ nó, điếm tiểu nhị sao không mau mở cửa?

 

Đúng là thanh âm của tham tướng Ngô Thiên Đức mà tối hôm qua bà vừa gặp ở Tiên Hà Lĩnh. Định Tĩnh sư thái vừa nghe khác nào như người chết đuối vớ được khúc gỗ lớn.

 

Lệnh Hồ Xung ở trên Tiên Hà Lĩnh đã giúp phái Hằng Sơn thoát nguy khốn, lòng rất lấy làm đắc ý, liền đi nhanh đến trấn Trấp Bát phố. Lúc này phạn điếm vừa mở cửa. Chàng đi vào trong điếm, lớn tiếng quát:

 

– Đem rượu ra đây!

 

Điếm tiểu nhị thấy một vị tướng quân, không dám chậm trễ, rót rượu làm cơm, giết gà cắt thịt, cung kính cẩn thận khoản đãi tướng quân ăn một bữa. Lệnh Hồ Xung uống hơi ngà ngà say, nghĩ thầm: “Lần này bọn Ma giáo bị thất bại, nhất định không cam tâm, mười phần sẽ đi sinh sự với phái Hằng Sơn. Định Tĩnh sư thái là người hữu dũng vô mưu, không phải là đối thủ của Ma giáo, ta phải ngấm ngầm chiếu cố bọn họ mới được”.

 

Sau khi tính tiền cơm rượu, Lệnh Hồ Xung đến Tiên An khách điếm mướn phòng ngủ. Chàng ngủ đến chiều mới tỉnh dậy rửa mặt. Bỗng nghe trên đường có mấy người lớn tiếng la hét om sòm:

 

– Bọn cường nhân ở trại Hoàng Phong núi Loạn Thạch đêm nay sẽ đến càn quét Trấp Bát phố, gặp người thì giết người, thấy của thì cướp. Mọi người hãy mau chạy trốn đi.

 

Trong khoảnh khắc tiếng kêu la vang dậy khắp nơi. Điếm tiểu nhị đập cửa phòng của Lệnh Hồ Xung đùng đùng kêu lớn:

 

– Quan gia, quan gia, có chuyện nguy rồi.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Tổ mẹ nó, có chuyện đại sự gì mà nguy?

 

Điếm tiểu nhị nói:

 

– Quan gia, quan gia, bọn đại vương ở trại Hoàng Phong núi Loạn Thạch tối nay sẽ đến càn quét, nhà nào cũng chạy trốn hết rồi.

 

Lệnh Hồ Xung mở cửa phòng ngoác miệng chửi:

 

– Bà mẹ nó, giữa thanh thiên bạch nhật, càn khôn xán lạn, làm gì có trộm cướp? Bổn tướng quân ở đây, bọn chúng dám làm càn không?

 

Điếm tiểu nhị nhăn mặt nói:

 

– Những đại vương đó, hung… hung ác lắm, bọn… bọn chúng lại không biết tướng quân… tướng quân đang ở đây.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Ngươi hãy đi nói với bọn chúng là ta đang ở đây.

 

Điếm tiểu nhị nói:

 

– Tiểu… tiểu nhân vạn lần không dám đi nói, chưa nói xong thì đã bị cường nhân chém rơi cái đầu quả dưa này rồi.

 

Lệnh Hồ Xung hỏi:

 

– Trại Hoàng Phong núi Loạn Thạch ở đâu?

 

Điếm tiểu nhị đáp:

 

– Núi Loạn Thạch nằm ở đâu tiểu nhân cũng chưa nghe nói nhưng biết cường nhân của trại Hoàng Phong vô cùng độc ác, hai ngày trước chúng đã càn quét Phúc Châu cách Trấp Bát phố ba mươi dặm về phía Đông, giết đi sáu bảy chục người, đốt hơn một trăm gian nhà. Tướng quân… tuy tướng quân lão nhân gia võ nghệ cao cường, nhưng song quyền khó địch tứ thủ. Trong trại không tính đại vương gia, nghe nói chỉ riêng đám lâu la cũng có hơn ba trăm tên.

 

Lệnh Hồ Xung chửi:

 

– Tổ mẹ nó, ba trăm tên thì sao nào? Bổn tướng quân xông vào giữa chiến trận với thiên binh vạn mã, cũng bảy tám lần vào bảy tám lần ra.

 

Điếm tiểu nhị nói:

 

– Dạ, dạ!

 

Nói xong gã quay người chạy nhanh đi.

 

Bên ngoài thành nhốn nháo cả lên, tiếng kêu con gọi mẹ vang khắp bốn phía. Tiếng địa phương Triết Mân, Lệnh Hồ Xung không hiểu gì cả, chàng đoán rằng đều là những tiếng nào là “Mẹ của A Mao ơi, bà có đem cái chăn không?” nào là “Đại Bảo, Tiểu Bảo chạy mau, bọn cướp đến rồi”. Lệnh Hồ Xung đi ra ngoài cửa thấy có mấy chục người lưng đeo túi, tay xách rương chạy về hướng Nam.

 

Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: Đây là nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Triết Mân, tướng quân Hàng Châu và Phúc Châu đều không quản nổi, đến nỗi cường tặc tác loạn làm hại muôn dân. Đại tướng quân Ngô Thiên Đức, tham tướng phủ Tuyền Châu ta đã gặp phải giặc loạn thì không thể khoanh tay làm ngơ, đem đầu bọn cường tặc chém hết cũng là một việc công đức. Đây gọi là ăn lộc vua phải trung với vua. Tổ mẹ nó, có gì đâu mà không được, ha ha!

 

Lệnh Hồ Xung nghĩ đến đây không kìm được, hắn bật cười gọi:

 

– Điếm tiểu nhị, đem rượu ra đây! Bổn tướng muốn uống rượu cho say rồi đi giết giặc.

 

Nhưng lúc này trong điếm chủ khách, chưởng quỹ, vợ cả, vợ hai, vợ ba của chưởng quỹ và điếm tiểu nhị, đầu bếp đều trốn sạch, chỉ sợ chạy chậm một bước thì gặp phải cường nhân. Lệnh Hồ Xung gọi một lúc nhưng không nghe ai lên tiếng.

 

Chàng không còn cách nào khác đành phải đi xuống bếp lấy rượu, ngồi trên đại đường rót rượu uống một mình. Nghe tiếng gà kêu, chó sủa, ngựa hí ỏm tỏi, chàng đoán rằng người trong trấn đem súc vật ra đi. Một lúc sau tiếng ồn ào của súc vật dần dần giảm bớt, chàng uống thêm ba bát rượu nữa, tất cả những thanh âm kinh hoàng sợ hãi đều im bặt hết. Bốn bề lặng yên. Lệnh Hồ Xung nghĩ: “Lần này bọn cường nhân trại Hoàng Phong gặp vận xui rồi, không hiểu sao chúng lại để lộ tin tức, lúc đến trấn thì còn cái gì nữa mà cướp”.

 

Cái trấn rộng lớn như vậy chỉ còn lại một mình Lệnh Hồ Xung cũng là chuyện lạ, bình sinh chưa bao giờ gặp. Trong lúc mọi âm thanh đều lắng xuống, bỗng nghe tiếng vó ngựa từ xa vọng lại, bốn kỵ mã từ hướng Nam phi nhanh đến.

 

Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: “Đại vương gia đến sao chỉ có mấy người?”

 

Bốn con ngựa phóng trên đường lớn, vó ngựa nện xuống những phiến đá xanh bật lên những tiếng côm cốp. Một người lớn tiếng nói:

 

– Bọn dê béo ở Trấp Bát phố nghe đây, đại vương trại Hoàng Phong núi Loạn Thạch có lệnh: nam, nữ, già, trẻ đều ra hết ngoài cửa. Ở ngoài cửa thì không bị giết, người nào không ra thì bị chém đầu.

 

Miệng gã vừa quát tháo vừa vọt ngựa chạy trên đường. Lệnh Hồ Xung nhìn từ khe cửa ra ngoài, chỉ thấy bóng kỵ mã vừa vọt ngang qua, thầm nghĩ: “Không xong rồi! Xem ra bốn kỵ mã này là người có võ công không kém. Bọn tiểu lâu la trong đám tiểu lâu la giặc cướp thì làm sao lại có được phong độ như vậy?”

 

Lệnh Hồ Xung đẩy cửa ra, đi hơn mười trượng, không một bóng người. Chàng nhìn thấy một ngôi miếu Thổ địa bên gốc cây hòe cành lá sum suê, liền tung mình lên, Lúc này nội lực đã dồi dào, chỉ khẽ nhún một cái mà thân người đã vượt cao hơn ngọn cây hòe không ít, rồi từ từ đáp xuống cành cây, ngồi trên nhánh ngang cao nhất, xung quanh không có lấy nửa điểm động tĩnh. Đợi càng lâu càng cảm thấy trong chuyện này chắc có điều gì kỳ quặc. Bọn lâu la của trại Hoàng Phong đến trước mà một hồi lâu, đại đội kỵ mã vẫn chưa đến. Chẳng lẽ chúng chỉ phái mấy tên lâu la đến thông báo tin trước để trăm họ trốn chạy hết, còn lại tòa thị trấn trống không?

 

Lệnh Hồ Xung đợi hơn nửa canh giờ mới thấp thoáng nghe tiếng người, mà là tiếng bô lô ba la của phụ nữ. Chàng ngưng thần nghe vài câu thì nhận ra bọn đệ tử phái Hằng Sơn đến. Lệnh Hồ Xung nghĩ: Sao bọn họ bây giờ mới tới đây? Phải rồi, chắc ban ngày bọn họ nghỉ ngơi nơi hoang dã.

 

Tai chàng nghe bọn họ đến gõ cửa Tiền An khách điếm rồi lại đi gõ cửa một vài khách điếm khác nữa. Nam An khách điếm cách miếu Thổ địa rất xa, sau khi bọn phái Hằng Sơn vào khách điếm, họ làm gì nói gì hắn không thể nghe được. Lòng hắn ngờ ngợ: Chắc là bọn Ma giáo sắp đặt cạm bẫy, để phái Hằng Sơn bị lọt vào lưới.

 

Lệnh Hồ Xung vẫn ẩn mình trên ngọn cây, lấy tĩnh đãi biến. Qua một lúc lâu, thấy bọn Nghi Thanh bảy người đi đốt đèn. Trên đường lớn có rất nhiều cửa sổ các cửa hàng có ánh đèn chiếu xuyên ra. Một lúc sau bỗng nghe góc Đông Bắc có tiếng người phụ nữ la lên:

 

– Cứu tôi với!

 

Lệnh Hồ Xung giật mình:

 

– Trời ơi nguy rồi, đệ tử phái Hằng Sơn chắc bị trúng độc thủ của Ma giáo.

 

Lệnh Hồ Xung liền nhảy xuống đất, chạy đến ngoài căn nhà nơi người phụ nữ kêu cứu.

 

Từ khe cửa sổ Lệnh Hồ Xung nhìn vào bên trong thấy trong nhà không có đèn, ánh trăng mờ nhạt chiếu vào cửa sổ, có bảy tên hán tử đứng nép sát vào tường, một người phụ nữ đứng giữa nhà la to:

 

– Cứu tôi với, cứu tôi với, giết người rồi!

 

Lệnh Hồ Xung nhìn được nửa gương mặt của người phụ nữ, nhưng lại thấy nàng mỉm cười, thần sắc nham hiểm, rõ ràng mụ đợi người đến mắc bẫy.

 

Quả nhiên mụ ta kêu cứu chưa dứt thì bên ngoài có người phụ nữ quát:

 

– Kẻ nào hành hung ở đây?

 

Căn nhà này cửa lớn chưa đóng, chỉ đẩy một cái thì mở ra, bảy người phụ nữ liền tiến vào. Người đi đầu chính là Nghi Thanh. Bảy người tay cầm trường kiếm, vì cứu người nên bọn họ vào rất vội.

 

Bỗng thấy tay phải của người phụ nữ kêu cứu phất lên một cái, một tấm vải xanh dài khoảng bốn thước vuông tung lên. Bọn Nghi Thanh bảy người thân hình đều run rẩy, dường như họ bị choáng đầu, hoa mắt. Họ quay người mấy vòng liền ngã xuống. Lệnh Hồ Xung kinh hãi, nghĩ ngay: “Tấm vải trong tay người phụ nữ nhất định có độc dược gây mê rất lợi hại. Nếu ta xông vào cứu người, nhất định cũng bị độc thủ của mụ, đành phải nhẫn nại xem một chút rồi hãy tính”.

 

Một tên hán tử đứng sát vào tường nhảy xổ ra, lấy dây thừng trói tay chân bọn Nghi Thanh lại.

 

Qua một lúc sau, bên ngoài lại có tiếng một phụ nữ quát:

 

– Ai ở trong đó?

 

Lúc Lệnh Hồ Xung qua Tiên Hà Lĩnh đã từng nói chuyện mấy lần với ni cô nóng tính này. Chàng biết Nghi Hòa đến rồi, thầm nghĩ: “Bà này tính tình nóng nảy lỗ mãng, lần này chắc cũng bị biến thành một đòn bánh tét to”.

 

Nghi Hòa lại quát:

 

– Nghi Thanh sư muội, các ngươi đang ở đâu?

 

Tiếp theo nghe binh một tiếng, bà đá cửa lớn ra, bọn Nghi Hòa sóng vai tiến vào. Vừa bước chân vào cửa, họ liền sử khai kiếm hoa, chia ra hai bên tả hữu để hộ vệ, đề phòng địch nhân từ trong bóng tối nhảy ra đánh úp. Người thứ bảy lại xoay người vào trong, sử kiếm hộ đường lui.

 

Trong nhà tất cả mọi người đều nín thở bất động, chỉ đợi khi bảy người cùng vào nhà, người phụ nữ đó lại tung tấm vải xanh khiến bảy người đều mê man ngã xuống đất.

 

Tiếp theo Vu Tẩu thống lĩnh sáu người đi vào nhà, cũng bị trúng thuốc mê ngã xuống. Trước sau hai mươi mốt tên nữ đệ tử phái Hằng Sơn đều hôn mê bất tỉnh, bị cột chặt ở góc nhà. Một lúc sau, một lão già vỗ tay mấy cái, những người đứng trong nhà rút lui theo cửa sau.

 

Lệnh Hồ Xung nhảy lên nóc nhà, cúi người đi theo chúng. Giữa lúc đang đi, bỗng nghe phía trên nóc nhà phía trước có tiếng tay áo bay trong gió. Chàng vội nép vào bên mái nhà, thấy khoảng mười mấy tên hán tử cùng ra hiệu phân ra mai phục trên mái một ngôi nhà lớn, cách chỗ Lệnh Hồ Xung núp không quá vài trượng. Lệnh Hồ Xung bò nhè nhẹ theo sát tường, thấy Định Tĩnh sư thái dẫn ba đệ tử đang đi tới. Lệnh Hồ Xung nghĩ: “Không xong nữa rồi, đây là kế điệu hổ ly sơn. Những ni cô còn ở trong Nam An khách điếm chắc bị nguy mất”.

 

Lệnh Hồ Xung thấy lắc lư mấy cái bóng người chạy nhanh về hướng Nam An khách điếm, định chạy theo xem có chuyện gì. Bỗng nghe có người trên nóc nhà nói khẽ:

 

– Một chút lão ni cô đó lại đây, thì bảy người các ngươi ở đây vây chặt mụ ta lại.

 

Giọng nói này phát ra ngay trên đầu Lệnh Hồ Xung, chỉ cần chàng vừa nhúc nhích thì sẽ bị phát hiện ngay, đành phải đứng nép yên sau góc tường.

 

Tai chàng nghe Định Tĩnh sư thái đá cánh cửa ra rồi lớn tiếng gọi:

 

– Nghi Hòa, Nghi Thanh, Vu Tẩu, các ngươi có nghe ta nói không?

 

Tiếng gọi của bà truyền đi rất xa, lại thấy bà ta chạy vòng quanh nhà, rồi nhảy lên nóc nhà chứ không vào trong nhà quan sát. Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: “Sao Định Tĩnh sư thái không vào trong xem sao? Nếu bà vào thì biết ngay hai mươi mốt tên nữ đệ tử bị cột nằm dưới đất”.

 

Lệnh Hồ Xung liền hiểu ra: “Bà không vào là phải lắm. Bọn người Ma giáo mai phục trên nóc nhà, chỉ cần bà vào nhà thì chúng liền vây chặt bốn phía, đó là thế đưa cá vào rọ”.

 

Trước mắt hắn thấy Định Tĩnh sư thái cứ chạy lui chạy tới rõ ràng bà lục thần vô chủ. Đột nhiên bà chạy một cách thần tốc về Nam An khách điếm, ba tên nữ đệ tử phía sau đuổi theo không kịp. Bỗng thấy mấy người ở bên góc đường chạy ra, vung tấm vải xanh, ba tên nữ đệ tử liền ngã xuống, bị bọn chúng khiêng vào nhà. Dưới ánh trăng lờ mờ, chàng thấy dường như trong ba người đó có bóng Nghi Lâm. Lệnh Hồ Xung động tâm nghĩ thầm: “Có nên đi cứu Nghi Lâm tiểu sư muội ngay không?”

 

Nhưng Lệnh Hồ Xung liền nghĩ lại: “Bây giờ ta xuất hiện thì xảy ra một trận ác đấu. Nhiều người phái Hằng Sơn bị bọn Ma giáo bắt rồi, ném chuột sợ vỡ đồ, ta không nên đấu chính diện với bọn chúng. Ta ngấm ngầm động thủ là hơn”.

 

Lệnh Hồ Xung thấy Định Tĩnh sư thái từ trong Nam An khách điếm chạy ra, trên đường bà lớn tiếng mắng chửi. Bà lại nhảy lên nóc nhà, lớn tiếng chửi Đông Phương Bất Bại, quả nhiên bọn Ma giáo nhẫn nại không được, có bảy người xông ra vây đánh bà. Lệnh Hồ Xung thấy hai bên qua lại mấy chiêu, nghĩ bụng: “Kiếm thuật của Định Tĩnh sư thái tinh thâm, tuy một địch bảy, nhưng nhất thời bà không đến nỗi bị bại. Ta đi cứu Nghi Lâm tiểu sư muội trước là hơn”.

 

Lệnh Hồ Xung liền tung người nhảy vào trong căn nhà kia, thấy một tên đứng cầm đao trong sảnh đường, ba tên nữ đệ tử bị trói nằm ngay cạnh chân gã. Lệnh Hồ Xung nhảy lên trước, vung cả yêu đao lẫn vỏ đâm vào cổ họng gã. Tên này chưa kịp phát giác thì đã toi mạng. Lệnh Hồ Xung ngẩn người ra, nghĩ: “Đao của ta sao mà nhanh dữ vậy? Tay vừa đưa ra thì vỏ đao đã đâm trúng chỗ yếu hại nơi yết hầu của gã”.

 

Chính Lệnh Hồ Xung cũng không biết từ lúc luyện được Hấp tinh đại pháp, những luồng chân khí của Đào Cốc lục tiên, Bất Giới hòa thượng, Hắc Bạch Tử ở trong cơ thể chàng đã tận dụng được hết. Nội lực cao cường lại còn thêm Độc cô cửu kiếm, nên thế không thể cản. Nguyên ý Lệnh Hồ Xung phóng ra đao này để địch nhân vung đao lên đỡ, thì vỏ đao của chàng sẽ đâm vào hai đùi của gã khiến gã bị ngã xuống đất để sau đó hắn cứu người. Không ngờ gã không kịp trở tay liền bị đâm chết tại chỗ.

 

Lệnh Hồ Xung cảm thấy hơi hối hận, liền kéo tử thi ra rồi cúi đầu xuống nhìn, quả thấy trong ba nữ đệ tử nằm dưới đất có cả Nghi Lâm. Lệnh Hồ Xung sờ lên mũi cô ta, thấy hơi thở đều đặn, ngoài việc bị hôn mê bất tỉnh thì không có gì đáng ngại. Lệnh Hồ Xung liền xuống bếp lấy một ca nước lạnh vẩy một ít nước lên mặt cô ta.

 

Trong khoảnh khắc, nghe Nghi Lâm ú ớ rồi tỉnh dậy. Lúc đầu cô ta không biết mình đang ở đâu, cô từ từ mở mắt ra, bỗng cô hiểu ra, liền bật người lên tìm thanh trường kiếm bên mình. Cô mới biết tay chân đã bị trói, suýt chút nữa cô lại bị té ngã.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Tiểu sư thái đừng sợ, người xấu đó đã bị bổn tướng quân giết rồi.

 

Lệnh Hồ Xung rút đao cắt đứt dây trói trên tay chân cô ta. Trong bóng đêm Nghi Lâm nghe giọng nói của vị tướng quân mang máng giống giọng nói của Lệnh Hồ đại ca, người mà cô ngày đêm tưởng nhớ. Cô vừa vui mừng vừa ngạc nhiên gọi:

 

– Tướng quân… tướng quân là Lệnh Hồ đại…

 

Chữ “ca” chưa nói ra cô liền cảm thấy không đúng. Cô xấu hổ đến nỗi mặt đỏ lên, ấp úng hỏi:

 

– Tướng quân… tướng quân là ai?

 

Lệnh Hồ Xung nghe cô ta đã nhận ra được mình nên đổi giọng nói khẽ:

 

– Bổn tướng quân đây mà, bọn giặc cỏ đó không dám ăn hiếp các ngươi nữa đâu.

 

Nghi Lâm nói:

 

– A, thì ra là Ngô tướng quân. Sư… sư bá của tiểu ni đâu?

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Bà ta đang giao chiến với địch nhân ở bên ngoài, chúng ta ra ngoài xem sao.

 

Nghi Lâm nói:

 

– Trịnh sư tỷ, Tần sư muội…

 

Nghi Lâm lấy trong túi ra viên đá lửa quẹt lên thì thấy hai người đang nằm dưới đất, cô bèn nói:

 

– Ồ, bọn họ đều ở đây.

 

Vội cắt đứt dây thừng trói tay chân, rồi lấy nước lạnh hất cho hai người tỉnh lại. Lệnh Hồ Xung liền nói:

 

– Chúng ta mau giúp Định Tĩnh sư thái là cần kíp nhất.

 

Cả ba người Nghi Lâm, Trịnh Ngạc, Tần Quyên cùng nói:

 

– Đúng vậy.

 

Lệnh Hồ Xung quay người đi ra ngoài. Nghi Lâm cùng Trịnh Ngạc, Tần Quyên đi theo sau. Đi chưa được mấy bước, thấy bảy bóng người lao ra như bay, tiếp theo nghe leng keng tiếng ám khí bị đánh rơi xuống, lại nghe có người lớn tiếng khen ngợi Định Tĩnh sư thái kiếm pháp cao cường, và bà cũng nhận ra đối phương là người phái Tung Sơn. Không bao lâu, thấy Định Tĩnh sư thái đi theo mười mấy tên hán tử vào Tiên An khách điếm. Lệnh Hồ Xung vẫy Nghi Lâm ngấm ngầm đi theo bọn họ, đến khách điếm đứng ngoài cửa sổ nghe trộm.

 

Định Tĩnh sư thái đang nói chuyện với Chung Trấn ở trong nhà, Chung Trấn luôn miệng ép Định Tĩnh sư thái đồng ý chuyện đem phái Hằng Sơn hợp làm một với phái Tung Sơn mới chịu giúp bà đi cứu người. Lệnh Hồ Xung thấy lão nhân cơ hội người gặp nguy mà bắt chẹt thì lòng ngấm ngầm tức giận, lại nghe Định Tĩnh sư thái càng nói càng nổi nóng, rồi bà bỏ đi ra khỏi khách điếm.

 

Lệnh Hồ Xung đợi Định Tĩnh sư thái đi xa rồi mới đến ngoài Tiên An khách điếm gõ cửa gọi:

 

– Tổ mẹ nó, bổn tướng quân muốn uống rượu rồi nghỉ ngơi. Tổ mẹ nó điếm tiểu nhị sao không mau mở cửa?

 

Định Tĩnh sư thái đang lúc không biết làm sao, chợt nghe vị tướng quân quát tháo, lòng bà vui mừng liền vọt đến. Trịnh Ngạc, Tần Quyên cùng Nghi Lâm ra đón. Tần Quyên hốc mắt rưng rưng, kêu lên:

 

– Sư phụ!

 

Định Tĩnh sư thái càng mừng hơn, vội hỏi:

 

– Vừa rồi ngươi ở đâu vậy?

 

Trịnh Ngạc nói:

 

– Đệ tử bị yêu nhân Ma giáo bắt giữ, vị tướng quân này đã cứu đệ tử…

 

Lúc này Lệnh Hồ Xung đã đẩy cửa tiến vào.

 

Trên đại đường đốt hai cây nến sáng trưng. Chung Trấn ngồi trên ghế chính giữa, gằn giọng nói:

 

– Tên nào ở đây quát tháo ầm ĩ, mau cút ngay đi.

 

Lệnh Hồ Xung ngoác miệng chửi:

 

– Tổ mẹ nó, bổn tướng quân đường đường là mệnh quan của triều đình mà ngươi dám to gan ăn nói hỗn xược. Chủ quán, chưởng quỹ, điếm tiểu nhị đâu, mau đuổi chúng cút khỏi đây cho ta!

 

Bọn người phái Tung Sơn nghe Lệnh Hồ Xung sau khi chửi, liền gọi chưởng quỹ, chủ quán, hiển nhiên mặt lim gan sứa, lòng đã có ý sợ hãi nên chúng cảm thấy tức cười. Chung Trấn nghĩ mình đang làm đại sự, nửa đêm nửa hôm lại gặp phải tên cẩu quan này liền nói khẽ:

 

– Điểm huyệt cho cái thứ điên khùng này ngã chứ đừng làm tổn thương tính mạng.

 

Cẩm mao sư Cao Khắc Tân gật đầu, cười hì hì đi đến trước mặt Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Thì ra là một vị quan lão gia, vậy xin thất kính.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Ngươi biết vậy là tốt rồi. Các ngươi là những hạng dân đen ngang ngạnh, không hiểu vương pháp…

 

Cao Khắc Tân cười nói:

 

– Dạ, dạ!

 

Lão lạng người lên trước, đưa ngón tay trỏ ra nhắm điểm vào bên hông Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung thấy phương vị của lão điểm, vội vận nội tức vào cổ và hông. Cao Khắc Tân điểm trúng huyệt Tiếu yêu của Lệnh Hồ Xung, người bị điểm trúng huyệt này sẽ cười một trận rồi ngất đi. Không ngờ Lệnh Hồ Xung chỉ cười hì hì rồi nói:

 

– Ngươi là kẻ không biết vương pháp gì hết, dám động thủ động cước để làm trò cười với bổn tướng quân hả?

 

Cao Khắc Tân vô cùng kinh ngạc. Lão lại phóng chỉ ra điểm lần nữa, lần này lão vận đủ mười thành kình lực vào trong ngón tay. Lệnh Hồ Xung cười ha hả, nhảy người lên, vừa cười vừa chửi:

 

– Tổ mẹ nó, cứ rờ mó hông của bổn tướng quân để trộm bạc hả? Hay là thấy bổn tướng quân tuấn tú lịch sự? Trông tướng mạo cái thứ như ngươi đường đường là một hán tử ra dáng nhân tài, sao không ăn học cho đàng hoàng?

 

Cao Khắc Tân xoay tay trái lại, đã nắm chặt cổ tay phải của Lệnh Hồ Xung hất sang phải một cái. Lão muốn lôi cho Lệnh Hồ Xung ngã lăn xuống đất. Không ngờ bàn tay lão vừa đụng đến cổ tay của Lệnh Hồ Xung thì nội lực trong người lão liền từ trong lòng bàn tay tiết ra ồ ạt, không thu về được. Bất giác lão kinh hãi vô cùng, muốn la to nhưng há miệng ra cũng không nói được tiếng nào.

 

Lệnh Hồ Xung cảm thấy nội lực của đối phương đang truyền vào cơ thể của mình giống như tình trạng hôm mình nắm chặt cổ tay của Hắc Bạch Tử. Lòng chàng sợ hãi, thầm nghĩ: “Tà pháp này không thể sử dụng được”.

 

Lệnh Hồ Xung liền dùng lực giật ra khỏi bàn tay của lão. Cao Khắc Tân giống như được hoàng ân đại xá. Lão ngẩn người ra, nhảy lùi về sau, cảm thấy toàn thân mềm nhũn như người bị bệnh nặng mới khỏi. Lão la lên:

 

– Hấp tinh đại pháp, Hấp… Hấp tinh đại pháp.

 

Giọng lão nghèn nghẹn đầy vẻ kinh hoàng. Chung Trấn, Đằng Bát Công và bọn đệ tử phái Tung Sơn đều cùng nhảy vọt lên, hỏi:

 

– Sao?

 

Cao Khắc Tân nói:

 

– Người… người này biết sử Hấp… Hấp tinh đại pháp.

 

Chỉ một thoáng ánh sáng lóe loạn lên, tiếng leng keng vang lên. Mỗi người đều rút trường kiếm ra khỏi vỏ. Thần tiên Đằng Bát Công tay cầm cây nhuyễn tiên. Kiếm pháp của Chung Trấn nhanh nhất, ánh quang mới lấp loáng, thì kiếm quang đã phóng tới yết hầu của Lệnh Hồ Xung.

 

Lúc Cao Khắc Tân ngoác miệng kêu la, Lệnh Hồ Xung đã đoán rằng bọn phái Tung Sơn nhất định sẽ xông lên tấn công. Thấy chúng đã cầm trường kiếm ở tay, chàng lấy đao ra, dùng cả đao lẫn vỏ để làm trường kiếm, cổ tay rung lên nhằm điểm vào mu bàn tay của bọn chúng. Nghe tiếng loảng xoảng liên tục, trường kiếm của bọn chúng đều bị rơi xuống đất. Võ công của Chung Trấn rất cao, tuy mu bàn tay của lão bị đầu vỏ đao của Lệnh Hồ Xung đâm trúng nhưng trường kiếm của lão cũng không bị rơi xuống đất. Lão kinh hãi nhảy lùi ra sau. Đằng Bát Công bị thảm hại nhất, cây nhuyễn tiên rớt khỏi tay lão rồi lại quấn chặt vào cổ của lão. Nó quấn chặt đến nỗi lão bị nghẹt thở.

 

Chung Trấn tựa lưng vào tường, mặt không còn chút máu. Lão nói:

 

– Trên giang hồ đồn rằng tiền nhiệm giáo chủ của Ma giáo tái xuất giang hồ. Ngươi… ngươi… là Nhậm giáo chủ… Nhậm Ngã Hành ư?

 

Lệnh Hồ Xung cười nói:

 

– Tổ mẹ nó cái gì Nhậm Ngã Hành với Nhậm Nị Hành, mặc xác Hành. Bổn tướng quân ngồi không đổi họ, đi chẳng thay tên, họ Ngô, quan hiệu húy là Thiên Đức. Các ngươi là bọn tiểu mao tặc ở trại nào, núi nào?

 

Chung Trấn cung tay nói:

 

– Các hạ trở lại giang hồ. Chung mỗ tự biết không phải là địch thủ, vậy xin cáo từ.

 

Lão tung người lên, phá cửa sổ bay ra. Cao Khắc Tân cũng phóng theo sau. Những người còn lại lần lượt nhảy cửa sổ ra ngoài, trường kiếm văng đầy đất không ai dám nhặt lấy.

 

Lệnh Hồ Xung tay trái cầm vỏ đao, tay phải cầm chuôi đao liên tục rút mấy lần mà đao vẫn không rút ra được. Chàng nói:

 

– Cái bảo đao này han rỉ tệ hại quá, ngày mai phải đi tìm tên thợ mài đao để mài nó mới được.

 

Định Tĩnh sư thái chắp tay nói:

 

– Ngô tướng quân, chúng ta đi cứu mấy tên đồ nhi ra được chăng?

 

Lệnh Hồ Xung đoán bọn Chung Trấn đã đi hết rồi, không còn tên nào chống đỡ nổi thần kiếm của Định Tĩnh sư thái. Chàng bèn nói:

 

– Bổn tướng quân muốn ở đây uống mấy bát rượu. Lão sư thái, lão sư thái cũng uống một bát nhé?

 

Nghi Lâm nghe Lệnh Hồ Xung lại nhắc đến rượu, lòng nghĩ: “Nếu vị tướng quân này mà gặp Lệnh Hồ đại ca, thì hai người sẽ là một đôi bằng hữu hảo tửu nhất thiên hạ”.

 

Cô đưa mắt trộm nhìn Lệnh Hồ Xung, thấy ánh mắt của tướng quân cũng đang chăm chú nhìn mình. Mặt cô hơi ửng hồng, liền cúi đầu xuống.

 

Định Tĩnh sư thái nói:

 

– Bần ni không được phép uống rượu, xin tướng quân thông cảm.

 

Bà chấp tay hành lễ rồi quay người đi. Nghi Lâm cũng đi theo sau. Lúc ra đến cửa, cô nhịn không được, quay đầu nhìn Lệnh Hồ Xung một cái, thấy Lệnh Hồ Xung vừa đi tìm rượu vừa lớn tiếng chửi mắng:

 

– Bà mẹ nó, người trong khách điếm này đều chết sạch cả rồi hay sao mà không thấy ló mặt ra?

 

Nghi Lâm thầm nghĩ: “Giọng nói của người này dường như hơi giống Lệnh Hồ đại ca. Nhưng vị tướng quân này mở miệng ra là chửi thề, mỗi câu đều có tiếng chửi, Lệnh Hồ đại ca quyết không giống như vậy. Võ công của người này cao hơn Lệnh Hồ đại ca nhiều. Ta… ta lại nghĩ vẩn nghĩ vơ, ôi, thật là…”

 

Lệnh Hồ Xung tìm được rượu, liền kề miệng vào vò uống hết một nửa. Chàng nghĩ: “Mấy ni cô, bà nương, cô nương này sẽ quay trở lại, cứ bô lô ba la người này nói chưa hết câu thì người kia tiếp lời, ứng phó không xong thì sẽ bị lộ tẩy, cứ để bọn họ đi hết là hay hơn. Nếu ta cứu từng người một cũng mất hết một canh giờ, mà bụng thì đã đói cồn cào rồi, phải tìm chút gì ăn trước đã”.

 

Chàng uống cạn vò rượu rồi đi xuống bếp tìm cái gì đó để ăn, bỗng nghe xa xa có tiếng Tần Quyên gọi thất thanh:

 

– Sư phụ, sư phụ ở đâu vậy?

 

Thanh âm của cô rất hoảng sợ.

 

Lệnh Hồ Xung vội xông ra khỏi điếm, chạy theo hướng phát ra tiếng gọi, thấy ba người Trịnh Ngạc, Nghi Lâm và Tần Quyên đứng trên đường lớn lớn tiếng gọi:

 

– Sư bá, sư phụ!

 

Lệnh Hồ Xung hỏi:

 

– Sao vậy?

 

Trịnh Ngạc nói:

 

– Tiểu ni cùng Nghi Lâm sư muội, Tần Quyên sư muội đi tìm chúng sư tỷ bị trói, rối ren một lúc, rồi… rồi không biết lão nhân gia đi đâu.

 

Lệnh Hồ Xung thấy Trịnh Ngạc không đến hai mươi mốt hai mươi hai tuổi, Tần Quyên còn nhỏ tuổi hơn nữa, chỉ khoảng mười lăm mười sáu. Chàng nghĩ: “Những cô nương trẻ tuổi này không có chút hiểu biết, phái Hằng Sơn phái bọn họ đi để làm gì?”

 

Lệnh Hồ Xung cười nói:

 

– Ta biết bọn họ đang ở đâu, các ngươi đi theo ta.

 

Tất cả chạy nhanh về ngôi nhà hướng Đông Bắc, đứng ngoài cửa. Lệnh Hồ Xung đá tung cánh cửa ra, nhưng sợ người phụ nữ còn ở trong đó lại vẫy mê hồn dược để hại người bèn nói:

 

– Các ngươi dùng khăn tay bịt mũi lại, bên trong có một mụ thúi tha biết phóng độc.

 

Lệnh Hồ Xung giơ tay phải bịt mũi lại, mím chặt môi xông thẳng vào trong nhà. Vừa vào trong đại đường, chàng không khỏi sửng sốt.

 

Trong đại đường lúc nãy các nữ đệ tử phái Hằng Sơn còn nằm đầy, bây giờ không thấy tung tích ai cả. Lệnh Hồ Xung ối lên một tiếng, thấy trên bàn có một ngọn nến, bèn điểm lửa đốt lên; trong sảnh đường trống không, không một bóng người. Chàng lục soát một lượt các nơi trong nhà, cũng không tìm ra chút manh mối gì, bèn la lên:

 

– Chuyện này kỳ quặc thật.

 

Nghi Lâm, Trịnh Ngạc, Tần Quyên, cả ba người nhìn Lệnh Hồ Xung với ánh mắt nghi ngờ. Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Tổ mẹ nó, các sư tỷ của các ngươi đều bị một mụ phóng độc làm cho mê man rồi bị bó lại thành bánh tét Phúc Kiến, mới trong chốc lát sao không thấy ai cả.

 

Trịnh Ngạc hỏi:

 

– Ngô tướng quân, tướng quân thấy những sư tỷ của bọn tiểu ni bị hôn mê ngã ở đấy ư?

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Bổn tướng nằm mơ thấy rất nhiều ni cô, bà vãi nằm ngổn ngang trên sảnh đường này, sao mà nhầm lẫn được?

 

Trịnh Ngạc nói:

 

– Tướng quân… tướng quân…

 

Cô ta muốn nói tướng quân nằm mơ thấy sao mà đúng được? Nhưng không chừng tướng quân thích nói đùa, nói là nằm mơ thật ra là tận mắt thấy. Cô liền đổi lời nói:

 

– Tướng quân nghĩ bọn họ đi đâu cả rồi?

 

Lệnh Hồ Xung trầm ngâm nói:

 

– Không chừng bọn họ đến nơi nào có lắm cá nhiều thịt ăn uống cho thỏa thích hay là đến nơi nào có kịch để xem.

 

Lát sau, chàng vẫy tay nói:

 

– Ba cô bé, tốt nhất hãy đi sát sau ta, không nên cách xa. Muốn ăn thịt xem kịch nhất thời không nên vội vàng.

 

Tần Quyên tuy nhỏ tuổi nhưng biết tình thế đang nguy hiểm, các sư tỷ đều lọt vào tay địch, tướng quân này chỉ nói đùa chứ không phải vậy. Mấy chục người phái Hằng Sơn cùng đến đây mà bây giờ chỉ còn lại ba đệ tử nhỏ tuổi, ngoài việc nghe lời tướng quân này dặn bảo ra, cô không biết nên làm gì. Cô liền theo Nghi Lâm, Trịnh Ngạc đi cùng Lệnh Hồ Xung ra ngoài cửa.

 

Lệnh Hồ Xung lẩm bẩm:

 

– Chẳng lẽ đêm qua ta nằm mơ không đúng, mắt hoa nhìn lầm người ư? Đêm nay phải nằm mơ cho đàng hoàng mới được.

 

Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: Những nữ đệ tử này coi như bị bắt đi, tại sao Định Tĩnh sư thái cũng đột nhiên mất tích? Chỉ e rằng bà lọt vào ổ phục kích, gặp địch nhân ám toán, phải lập tức truy tìm mới được. Bọn Nghi Lâm ba người tuổi còn trẻ, nếu để họ lại Trấp Bát trấn thì không ổn, đành phải dẫn bọn họ cùng đi.

 

Lệnh Hồ Xung bèn nói:

 

– Bây giờ chúng ta không có chuyện gì thì đi tìm sư bá của các ngươi, để xem bà ta đang vui chơi ở đâu. Các ngươi nghĩ có được không?

 

Trịnh Ngạc nói:

 

– Hay lắm! Tướng quân võ nghệ cao cường, kiến thức hơn người, nếu tướng quân không dẫn bọn tiểu ni đi, chỉ sợ bọn tiểu ni khó mà tìm được.

 

Lệnh Hồ Xung cười nói:

 

– Võ nghệ cao cường, kiến thức hơn người, tám chữ này ngươi nói đúng lắm. Bổn tướng sau này được mang ấn soái đi bình Phiên, thăng quan phát tài, thì nhất định sẽ tặng một hai trăm lạng bạc để ba cô bé mua quần áo mới mặc chơi.

 

Lệnh Hồ Xung miệng nói huênh hoang. Đi đến cuối Trấp Bát phố, chàng nhảy lên nóc nhà nhìn bốn phía. Lúc này trời đã hừng sáng, sương trắng còn phủ đầy, trên ngọn cây màn sương rực rỡ.

 

Chàng nhìn ra xa, thấy hai bên đường lớn không một bóng người. Bỗng thấy trên đường lớn phía Nam có một vật màu xanh, khoảng cách rất xa nên nhìn không rõ. Nhưng trên con đường mênh mông rộng lớn, vật đó nằm ngay giữa đường, hiển nhiên tạo ra sự chú ý. Lệnh Hồ Xung nhảy xuống nhà, co giò chạy đi lượm vật đó lên. Đó là một chiếc hài bằng vải xanh, giống chiếc hài Nghi Lâm đang mang.

 

Lệnh Hồ Xung đợi một lúc, bọn Nghi Lâm chạy đến. Chàng đưa chiếc hài cho Nghi Lâm rồi hỏi:

 

– Đây là hài của ngươi phải không? Sao nó bị rớt ở đây?

 

Nghi Lâm nhận chiếc hài, cô biết rõ mình đang mang hài, nhưng cũng liếc nhìn xuống chân xem, thấy hai chân đều mang hài đầy đủ. Trịnh Ngạc nói:

 

– Đó… đó là hài sư tỷ, sư muội của tiểu ni mang, sao lại rớt ở đây?

 

Tần Quyên nói:

 

– Nhất định là vị sư tỷ sư muội đó bị địch nhân bắt đem đi, giãy giụa ở đây nên chiếc hài rớt lại.

 

Trịnh Ngạc nói:

 

– Không chừng họ cố ý để lại chiếc hài này để cho chúng ta biết mà truy tìm.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Đúng vậy, ngươi thật là võ nghệ cao cường, kiến thức hơn người. Chúng ta nên đuổi về hướng Nam hay hướng Bắc?

 

Trịnh Ngạc nói:

 

– Dĩ nhiên là hướng Nam.

 

Lệnh Hồ Xung liền chạy nhanh về hướng Nam, trong khoảnh khắc đã chạy được hơn mấy chục trượng. Lúc đầu bọn Trịnh Ngạc còn cách chàng không xa, về sau khoảng cách xa dần. Lệnh Hồ Xung quan sát đường, thỉnh thoảng quay đầu lại nhìn bọn họ, chỉ sợ khoảng cách quá xa thì cứu viện không kịp nếu ba người này bị địch nhân bắt đi. Vì vậy chàng chạy hơn một dặm liền dừng chân lại đợi.

 

Đợi ba người chạy đến, Lệnh Hồ Xung lại chạy lên trước, cứ như vậy mấy lần, đã chạy được hơn mười dặm. Trước mặt đường sá gập ghềnh, cây cối hai bên rất nhiều, nếu địch nhân mai phục ở góc đường, bắt bọn Nghi Lâm đi thì chàng cứu viện không kịp. Lại thấy Tần Quyên chạy lâu, hai má đỏ lên; chàng biết cô còn nhỏ tuổi, không đủ sức chạy đường dài, liền bước chậm lại rồi lớn tiếng nói:

 

– Tổ mẹ nó, bổn tướng quân chân mang giày ủng mà còn chạy nhanh nên thủng cả đế, thật bất tiện. Vậy chúng ta cứ đi từ từ thôi.

 

Bốn người lại đi thêm bảy tám dặm, đột nhiên Tần Quyên la lên:

 

– Ô kìa!

 

Cô chạy đến dưới một bụi cây, lượm lên một cái mũ chóp xanh, chính là mũ các nữ ni phái Hằng Sơn đội. Trịnh Ngạc nói:

 

– Tướng quân, những sư tỷ của bọn tiểu ni đúng là bị địch nhân bắt đi rồi, chúng ta cứ đi theo con đường này.

 

Ba tên nữ đệ tử thấy mình chạy đúng đường liền phấn khởi càng bước nhanh hơn, ngược lại Lệnh Hồ Xung bị rớt lại đằng sau.

 

Đến giữa trưa, bốn người đi vào một quán cơm nhỏ, nghỉ ngơi ăn uống. Chủ quán thấy một tướng quân dẫn một tiểu ni cô và hai cô nương nhỏ tuổi cùng đi thì rất lấy làm lạ, nghiêng mắt nhìn bọn họ chằm chằm. Lệnh Hồ Xung vỗ bàn chửi:

 

– Tổ mẹ nó, có gì mà nhìn? Ngươi chưa từng thấy ni cô, hòa thượng hả?

 

Gã chủ quán nói:

 

– Dạ, dạ! Tiểu nhân không dám.

 

Trịnh Ngạc hỏi:

 

– Đại thúc ơi, đại thúc có thấy nhiều người xuất gia đi qua đây không?

 

Gã hán tử nói:

 

– Mấy người thì không nhưng một người thì có. Có một lão sư thái, so với tiểu sư thái này bà còn lớn tuổi hơn nhiều…

 

Lệnh Hồ Xung quát:

 

– Ăn nói tầm phào! Một vị lão sư thái chẳng lẽ lại nhỏ tuổi hơn tiểu sư thái?

 

Gã hán tử nói:

 

– Dạ, dạ.

 

Trịnh Ngạc vội hỏi:

 

– Lão sư thái đó thế nào?

 

Hán tử đáp:

 

– Lão sư thái đó vội vàng hỏi tại hạ có thấy nhiều người xuất gia đi qua đây không. Tại hạ nói không thấy, bà ta liền chạy đi. Ối, lớn tuổi như vậy mà chạy rất nhanh, trong tay bà còn cầm bảo kiếm sáng loáng, trông giống như người hát kịch trên sân khấu.

 

Tần Quyên vỗ tay nói:

 

– Đúng là sư phụ rồi, chúng ta mau đuổi theo đi.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Đừng vội, ăn no rồi hãy tính.

 

Bốn người vội vã ăn cơm. Lúc sắp ra đi, Tần Quyên mua bốn cái bánh bao nói là để cho sư phụ ăn. Lòng Lệnh Hồ Xung chua xót: “Cô ta có hiếu với sư phụ như vậy, còn ta có muốn tận hiếu với sư phụ cũng không được”.

 

Cả bốn người chạy đến tối vẫn không thấy tung tích của Định Tĩnh sư thái và bọn đệ tử phái Hằng Sơn. Đưa mắt nhìn ra xa, toàn thấy rừng hoang cỏ rậm, đường sá càng lúc càng chật. Đi một lúc nữa, cỏ mọc cao đến lưng, đường cũng không nhìn rõ nữa.

 

Bỗng nhiên ở góc phía Bắc loáng thoáng nghe có tiếng binh đao giao đấu truyền lại.

 

Lệnh Hồ Xung la lên:

 

– Ở đó có người đánh nhau, có cuộc náo nhiệt để xem rồi.

 

Tần Quyên nói:

 

– Chao ôi, phải chăng là sư phụ của tiểu nữ?

 

Lệnh Hồ Xung chạy theo hướng phát ra tiếng binh khí. Chạy được mấy chục trượng, trước mặt chàng bỗng nhiên sáng rực lên. Mấy chục cây đuốc đang rực cháy, tiếng binh khí giao nhau vang dội.

 

Lệnh Hồ Xung càng chạy nhanh hơn. Đến gần thấy mấy chục người cầm đuốc vây thành vòng tròn, trong vòng vây một người tay áo rộng thùng thình bay phấp phới, trường kiếm múa tít, cố địch với bảy người. Đó chính là Định Tĩnh sư thái. Bên ngoài vòng vây nằm la liệt mấy chục người, vừa nhìn sắc phục biết ngay là bọn đệ tử phái Hằng Sơn. Lệnh Hồ Xung thấy đối phương ai ai cũng bịt mặt, liền đi đến gần. Mọi người đều ngưng thần quan sát trận đấu, nhất thời không ai phát hiện. Lệnh Hồ Xung cười ha hả la lên:

 

– Bảy người đánh một thì có hay ho gì đâu?

 

Bọn người che mặt thấy Lệnh Hồ Xung bỗng nhiên xuất hiện đều giật mình quay đầu lại nhìn. Chỉ có bảy người đang đấu kịch liệt hoàn toàn như không hay biết gì, chúng đang vây Định Tĩnh sư thái, binh khí đang vờn quanh người bà. Lệnh Hồ Xung thấy trên vạt áo bào của Định Tĩnh sư thái đã có nhiều vết máu, ngay cả mặt bà cũng dính không ít máu, đồng thời bà sử kiếm bằng tay trái, rõ ràng tay phải của bà đang bị thương.

 

Lúc này trong đám người có người quát:

 

– Ai đó?

 

Hai hán tử đang cầm đơn đao nhảy đến trước mặt Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung quát:

 

– Bổn tướng quân Đông chinh Tây chiến, không ngừng vó ngựa, ngày nào cũng gặp phải bọn giặc cỏ các ngươi. Mau thông danh báo họ, lưỡi đao của bổn tướng không bao giờ chém kẻ vô danh.

 

Một tên hán tử cười nói:

 

– Thì ra là một thằng hỗn đản.

 

Gã vung đao lên nhắm chém vào đùi của Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung la lên:

 

– Trời ơi, động đao thật sao?

 

Chàng lạng người một cái đã xông vào vòng chiến. Lệnh Hồ Xung vung thanh yêu đao có cả vỏ, bốp bốp liên tục bảy tiếng, đánh trúng cổ tay của bảy người, bảy thứ binh khí lần lượt rớt xuống. Tiếp theo nghe soạt một tiếng, Định Tĩnh sư thái đâm một kiếm vào ngực một tên địch nhân. Gã đó bỗng nhiên bị đánh rớt binh khí, trong lúc sửng sốt nên không kịp né tránh một kiếm thần tốc như điện chớp của Định Tĩnh sư thái.

 

Định Tĩnh sư thái loạng choạng mấy cái, bà không đứng vững được nữa, phải ngồi phệt xuống đất. Tần Quyên gọi:

 

– Sư phụ, sư phụ!

 

Cô chạy đến muốn đỡ bà đứng dậy. Một tên bịt mặt vung đơn đao lên kề vào cổ một tên nữ đệ tử phái Hằng Sơn rồi quát:

 

– Lùi ra ba bước, nếu không ta chém chết tên đệ tử này.

 

Lệnh Hồ Xung cười nói:

 

– Hay lắm, hay lắm, lùi thì lùi, có gì lạ đâu? Đừng nói lùi ba bước mà ba chục bước cũng được.

 

Chàng bỗng nhiên phóng yêu đao ra, đầu vỏ đao đâm vào ngực gã. Gã bịt mặt la lên một tiếng to, thân người bay thẳng về phía sau. Lệnh Hồ Xung không ngờ nội lực của mình lại cường mạnh như vậy. Chàng cũng ngẩn ra, thuận tay vung vỏ đao bốp bốp mấy tiếng, đánh ngã ba tên hán tử bịt mặt rồi quát:

 

– Các ngươi còn không tránh ra, ta phải bắt các ngươi đưa về quan phủ, đánh mỗi tên ba chục trượng thấy bà nội các ngươi luôn.

 

Tên đầu sỏ bịt mặt thấy võ công của Lệnh Hồ Xung cao cường thật ngoài sức tưởng tượng. Lão bèn cung tay nói:

 

– Nể mặt Nhậm giáo chủ, bọn ta tạm nhường một bước.

 

Lão vẫy tay, quát:

 

– Ma giáo Nhậm giáo chủ ở đây, chúng ta phải biết điều một chút, đi thôi!

 

Bọn bịt mặt khiêng một cái xác và bốn tên bị đánh ngã chạy về hướng Tây Bắc, trong khoảnh khắc đã mất hút trong đám cỏ rậm.

 

Tần Quyên lấy linh dược trị thương của bổn môn đưa cho sư phụ uống. Nghi Lâm và Trịnh Ngạc đi cởi dây trói cho các sư tỷ. Bốn tên nữ đệ tử lượm đuốc ở dưới đất lên đứng bốn phía quanh Định Tĩnh sư thái. Bọn đệ tử thấy bà bị trọng thương, vẻ mặt ai cũng lo buồn, lặng yên không lên tiếng.

 

Ngực của Định Tĩnh sư thái thở phập phồng. Bà từ từ mở mắt ra rồi nói với Lệnh Hồ Xung:

 

– Tướng quân… tướng quân quả thật là giáo… giáo chủ… Nhậm… Nhậm Ngã Hành của Ma giáo năm xưa ư?

 

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

 

– Không phải.

 

Ánh mắt của Định Tĩnh sư thái lờ đờ vô thần, bà thở dốc, hiển nhiên khó chi trì. Bà thở ra một hơi dài rồi đột nhiên gằn giọng nói:

 

– Nếu ngươi là Nhậm Ngã Hành thì dù phái Hằng Sơn của ta bị thất bại thảm hại, bị… bị tiêu diệt hết, cũng không… không cần…

 

Bà nói đến đây, không còn đủ sức nói được nữa.

 

Lệnh Hồ Xung thấy tính mệnh của bà lâm nguy trong chốc lát, nên không dám nói càn nữa, chàng nói:

 

– Tại hạ tuổi còn nhỏ, chẳng lẽ là Nhậm Ngã Hành ư?

 

Định Tĩnh sư thái hỏi:

 

– Vậy thì tại sao… tại sao ngươi biết sử Hấp tinh đại pháp? Ngươi là đệ tử của Nhậm Ngã Hành…

 

Lệnh Hồ Xung nhớ lại lúc ở Hoa Sơn, sư phụ và sư nương thường kể về vô số hành vi độc ác của Ma giáo. Hai ngày nay chàng lại tận mắt thấy bọn Ma giáo tập kích phái Hằng Sơn bằng hành động quỷ quyệt, bèn nói:

 

– Ma giáo làm những chuyện độc ác, tại hạ làm sao có thể cùng hòa mình với bọn chúng? Nhậm Ngã Hành không phải là sư phụ của tại hạ. Sư thái hãy an tâm, ân sư của tại hạ là người có nhân phẩm cao đẹp, hành hiệp trượng nghĩa, là bậc tiền bối anh hùng mà người trong võ lâm ai ai cũng kính phục và cũng có quan hệ thâm sâu với sư thái.

 

Mặt Định Tĩnh sư thái lộ ra chút tươi cười, bà nói đứt đoạn:

 

– Vậy… vậy ta yên lòng rồi. Ta… ta không xong rồi, cảm phiền túc hạ đưa giùm bọn đệ tử… phái Hằng Sơn này, đến… đến…

 

Bà nói đến đây, hơi thở dồn dập, một lúc sau mới nói tiếp:

 

– Đến Vô Tướng am ở Phúc Châu… cho yên ổn. Chưởng môn sư muội của ta… trong ngày… thì sẽ đến.

 

Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Sư thái hãy an tâm, dưỡng thương vài ngày thì sẽ khỏi thôi.

 

Định Tĩnh sư thái hỏi:

 

– Ngươi… ngươi có đồng ý không?

 

Lệnh Hồ Xung thấy hai mắt bà chăm chú nhìn mình, vẻ mặt đầy tha thiết, chỉ sợ mình không đồng ý. Chàng bèn nói:

 

– Sư thái dặn bảo như vậy, đương nhiên tại hạ làm theo.

 

Định Tĩnh sư thái mỉm cười nói:

 

– A Di Đà Phật, trọng trách này, ta… ta vốn… vốn không gánh nổi. Thiếu hiệp… rốt cuộc thiếu hiệp là ai?

 

Lệnh Hồ Xung thấy ánh mắt của bà tán loạn, hơi thở thoi thóp, tính mệnh sẽ mất trong khoảnh khắc. Chàng không nỡ giấu diếm nữa, liền nói khẽ vào tai bà:

 

– Định Tĩnh sư bá, vãn bối là khí đồ Lệnh Hồ Xung, môn hạ cũ của phái Hoa Sơn.

 

Định Tĩnh à một tiếng rồi nói:

 

– Thiếu hiệp… thiếu hiệp… Đa tạ thiếu hiệp.

 

Bà run run đưa tay ra nắm lấy tay của Lệnh Hồ Xung, trong ánh mắt toàn là tỏ ý cảm kích, đột nhiên một hơi không thở lên được nữa, liền tắt thở.

 

Lệnh Hồ Xung gọi to:

 

– Sư thái, sư thái!

 

Chàng đưa tay sờ lên mũi bà, thấy hơi thở đã ngừng, không kìm được nỗi thê lương. Bọn đệ tử phái Hằng Sơn khóc to lên, nơi hoang dã, tiếng khóc nghe rất bi ai. Mấy cây đuốc rớt xuống đất rồi tắt dần, bốn bề tối đen như mực.

 

Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: “Định Tĩnh sư thái cũng là một tay cao thủ đương thời, lại bị tiểu nhân ám toán, phải mất mạng nơi hoang dã. Bà là một người xuất gia không tranh danh đoạt lợi với ai, sao bọn Ma giáo vẫn không buông tha bà?”

 

Đột nhiên Lệnh Hồ Xung giật mình nghĩ: “Lúc tên đầu sỏ bịt mặt đó sắp đi, lão nói ‘Nhậm giáo chủ Ma giáo ở đây, chúng ta nên biết điều một chút, đi thôi’. Người trong Ma giáo tự xưng bổn giáo là Nhật Nguyệt thần giáo, nghe đến hai chữ ‘Ma giáo’ thì cho đó là tiếng gọi sỉ nhục, nên hễ ai nói hai chữ này thì bị giết ngay. Lão đã nói hai chữ “Ma giáo” thì quyết không phải là người trong Ma giáo. Huống hồ, người này nếu là nhân vật thủ lĩnh trong Ma giáo, vì sao không nhận ra được Nhậm giáo chủ mà nhầm sang ta? Vậy thì bọn người này rốt cuộc lai lịch thế nào?”

 

Lệnh Hồ Xung nghe tiếng khóc của bọn nữ đệ tử rất bi thương. Chàng không làm phiền họ nữa, ngồi tựa vào gốc cây, trong khoảnh khắc đã ngủ thiếp đi.

 

Sáng sớm hôm sau thức dậy, Lệnh Hồ Xung thấy mấy tên đệ tử lớn tuổi đang giữ thi thể của Định Tĩnh sư thái, mấy cô nương, nữ ni trẻ tuổi đều ngủ co ro bên cạnh. Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: “Nếu tướng quân thống lãnh một đám phụ nữ đi Phúc Châu thì thật là chuyện cổ quái hiếm thấy, lố lăng chẳng ra sao cả. May mà ta cũng muốn đi Phúc Châu để gặp sư phụ sư nương, việc trực tiếp dẫn họ đi cũng không cần thiết lắm, dọc đường ta quan tâm bảo vệ họ là được rồi”.

 

Lệnh Hồ Xung liền ho lên một tiếng rồi cất bước đi. Bọn Nghi Hòa, Nghi Thanh, Nghi Chất, Nghi Chân là mấy tên đệ tử đứng đầu hướng về Lệnh Hồ Xung chắp tay hành lễ rồi nói:

 

– Bọn bần ni nhờ đại hiệp ra tay giải cứu, đại ân đại đức này không biết lấy gì để báo đáp. Sư phụ không may gặp nạn, lúc viên tịch đã ủy thác trọng trách cho đại hiệp. Từ đây về sau, tất cả mọi chuyện bọn bần ni đều nghe theo sự chỉ bảo của đại hiệp.

 

Bọn họ không gọi Lệnh Hồ Xung là “tướng quân” nữa, đương nhiên họ biết rõ Lệnh Hồ Xung là tướng quân giả rồi. Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Cái gì đại hiệp với không đại hiệp, khó nghe quá đi. Nếu các ngươi còn coi trọng ta, cứ gọi ta là tướng quân được rồi.

 

Bọn Nghi Hòa nhìn nhau gật đầu. Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Tối hôm kia ta nằm mơ, thấy các ngươi bị một mụ dùng mê dược đánh ngã, nằm trong một gian nhà lớn. Sau đó sao lại đến chỗ này?

 

Nghi Hòa nói:

 

– Bọn tiểu ni sau khi bị hôn mê ngã xuống thì không biết gì hết. Sau đó những tên tặc tử dùng nước lạnh tạt vào mặt, rồi cởi dây trói chân của bọn tiểu ni ra, dẫn đi vòng một con đường nhỏ ở sau trấn, lôi kéo bắt bọn tiểu ni phải chạy nhanh, chân không dừng bước. Hễ ai đi chậm một chút thì mấy tên tặc tử vung roi lên đánh. Trời tối mà cũng không dừng bước, sau đó sư phụ đuổi đến, thì bọn chúng vây sư phụ lại buộc sư phụ đầu hàng…

 

Bà nói đến đây nghẹn ngào không nói được nữa rồi khóc nức nở. Lệnh Hồ Xung nói:

 

– Thì ra còn có con đường nhỏ khác, thảo nào trong khoảnh khắc các ngươi không còn tung tích gì.

 

Nghi Thanh nói:

 

– Tướng quân, bọn tiểu ni nghĩ chuyện lớn trước mắt là hỏa táng di thể của sư phụ. Sau này hành sự thế nào, xin tướng quân chỉ bảo.

 

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

 

– Chuyện của hòa thượng ni cô, bổn tướng quân không hiểu gì hết, muốn ta dặn dò chỉ bảo, thật là chẳng khác gì mù quáng tụng Kinh Tam Quan. Bổn tướng quân thăng quan phát tài là quan trọng nhất. Bây giờ, ta đi đây.

 

Lệnh Hồ Xung rảo bước đi nhanh về hướng Bắc. Bọn đệ tử lớn tiếng gọi:

 

– Tướng quân!

 

Lệnh Hồ Xung không thèm để ý tới.

 

Sau khi Lệnh Hồ Xung quẹo qua một sườn núi, chàng núp lại trên một cây to, đợi đến hơn hai canh giờ mới thấy bọn đệ tử phái Hằng Sơn vừa đi vừa khóc rất thảm thiết. Lệnh Hồ Xung đi xa xa, từ sau ngấm ngầm bảo vệ họ.

 

Lệnh Hồ Xung đến một khách điếm ở đầu trấn phía trước, nghĩ bụng: “Ta đã động thủ với mấy toán giáo đồ Ma giáo và bọn phái Tung Sơn. Cái bộ mặt râu ria của tham tướng Ngô Thiên Đức phủ Tuyền Châu trên giang hồ đã có tiếng đồn đãi. Tổ mẹ nó, lão tử không làm tướng quân được nữa rồi”.

 

Lệnh Hồ Xung liền gọi tiểu nhị, lấy hai lạng bạc mua lại toàn bộ quần áo giày mũ của gã, nói muốn cải trang để phá án bắt giặc, dặn gã không được tiết lộ ra ngoài, nếu để cho gian dương đại đạo biết mà trốn thoát thì sẽ quay lại bắt gã trị tội.

 

Hôm sau Lệnh Hồ Xung đi đến một nơi vắng vẻ, cải trang thành điếm tiểu nhị, lột bỏ bộ râu quai nón. Chàng đem quần áo giày ủng, yêu đao, văn kiện của tham tướng đào hố chôn hết. Nghĩ đến chuyện từ đây không thể làm “tướng quân” nữa, nhất thời hắn hơi thất vọng chán chường.

 

Hai hôm sau, chàng vào trong cửa hiệu bán binh khí ở phủ Kiến Ninh mua một thanh trường kiếm gói vào trong bao.

 

May mắn trên đường bình an vô sự, cho đến khi Lệnh Hồ Xung tận mắt thấy đoàn người phái Hằng Sơn đi vào một ni am ở phía Đông thành Phúc Châu. Trên cổng tòa ni am đề ba chữ “Vô Tướng am”, chàng thở phào nhẹ nhõm, thầm nghĩ: “Trọng trách này xem như đã làm xong. Ta đã đồng ý với Định Tĩnh sư thái là dẫn bọn họ đến Vô Tướng am ở thành Phúc Châu, tuy không tự tay dẫn vào, nhưng chẳng phải tất cả đều bình bình an an mà bước vào Vô Tướng Am rồi sao?”.

 

Bình luận chương

Dưới chương này đang có gì?

Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.

0 ý kiến
Đăng nhập để tham gia bàn luận.

Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.