Tiếu Ngạo Giang Hồ - Bản Tân Tu (Mới nhất)

Lời Cuối Sách

4,5 / 5 (11 lượt)
Mục lục Chương tiếpTiếp

Người thông minh tài trí, vũ dũng hữu lực, phần lớn đều là những người tích cực tiến thủ. Theo tiêu chuẩn đạo đức thông thường, họ được chia thành hai loại sau, những người nỗ lực vì mục tiêu đem lại phúc lợi cho số đông (quốc gia, xã hội) là người tốt, còn những người chỉ chăm chăm vào quyền lực, địa vị, dục vọng, vật chất của bản thân, đồng thời gây tổn hại cho người khác thì là người xấu. Cái tầm vóc lớn hay nhỏ của người tốt hoặc người xấu, là dựa vào số lượng người nhận ơn và mức độ mà họ ban ơn, hay dựa vào tổn hại mà định đoạt. Trên chính trị, trong phần lớn các thời kỳ lịch sử, người xấu lại nắm quyền. Vì thế luôn có loại người muốn thay thế họ, có loại người muốn tiến hành cải cách, lại có một loại người khác tuy không có hy vọng vào cải cách, cũng không muốn đồng lưu hợp ô với kẻ cầm quyền, nên lựa chọn của họ là rời khỏi vòng xoáy đấu tranh, chỉ lo cho bản thân mình. Bởi vậy từ xưa đến nay luôn tồn tại phe cầm quyền, phe tạo phản, phe cải cách và ẩn sĩ.

 

Quan niệm truyền thống của Trung Quốc khuyến khích con người học giỏi thì ra làm quan, noi theo Khổng Tử với tinh thần "biết là không thể mà vẫn làm”. Nhưng đồng thời, cũng đánh giá rất cao những người ẩn sĩ, cho rằng họ thanh cao. Ẩn sĩ không đóng góp tích cực cho xã hội, nhưng hành vi của họ hoàn toàn khác với những kẻ tranh quyền đoạt lợi, qua đó cung cấp một hình mẫu sống khác. Người Trung Quốc trong đánh giá đạo đức đối với con người vốn khá khoan dung, chỉ cần không làm hại người khác thì đã có thể xem là người tốt. Luận Ngữ ghi chép rất nhiều nhân vật ẩn giả như Thần Môn, Sở Cuồng Tiếp Dư, Trường Thư, Kiệt Nịch, Hà Điều Trượng Nhân, Bá Di, Thúc Tề, Ngu Trọng, Di Dật, Chu Trương, Liễu Hạ Huệ, Thiếu Liên... Khổng Tử đều hết sức kính trọng họ, dù không tán thành lối sống của họ.

 

Khổng Tử chia những người ẩn sĩ thành ba loại. Loại như Bá Di, Thúc Tề, không từ bỏ chí hướng của mình, không làm tổn hại tôn nghiêm của mình (bất giáng kỳ chí, bất nhục kỳ thân). Loại như Liễu Hạ Huệ, Thiếu Liên, chí hướng và tôn nghiêm có phần phải nhượng bộ, nhưng lời nói và hành động vẫn hợp với đạo lý (giáng chí nhục thân hĩ, ngôn trung luân, hành trung lự, kỳ tư nhi dĩ hĩ). Loại như Ngu Trọng, Di Dật, lánh đời ẩn cư, làm càn nói thẳng, nhưng không làm điều xấu, không tham dự chính sự (ẩn cư phóng ngôn, thân trung thanh, phế trung quyền). Khổng Tử đều đánh giá cao cả ba loại người ấy, chứng tỏ ông cho rằng ẩn sĩ cũng có mặt tích cực của họ.

 

Tham gia hoạt động chính trị thì ý chí và tôn nghiêm khó tránh khỏi phải hy sinh một phần, đó là điều bất đắc dĩ. Liễu Hạ Huệ làm quan tư pháp, từng ba lần bị bãi chức, có người khuyên ông xuất ngoại. Ông vẫn kiên trì chính nghĩa và đáp rằng: “Trực đạo nhi sự nhân, yên vãng nhi bất tam truất? Uổng đạo nhi sự nhân, hà tất khứ phụ mẫu chi bang?" (Dùng đạo ngay thẳng mà phụng sự người, thì có đi đâu mà chả bị ba lần bãi chức? Còn như dùng đạo cong queo tà vẹo để phụng sự người, thì hà tất phải rời bỏ quốc gia phụ mẫu?” - (Luận Ngữ). Mấu chốt nằm ở hai chữ “sự nhân” (phụng sự người) cũng như ở chỗ “trực” hay “uổng”. Vì lợi ích của đại chúng mà tham gia chính trị thì không thể không phụng sự người khác, nếu vẫn kiên trì nguyên tắc, phục vụ công chúng, không lấy công danh phú quý của bản thân làm mục tiêu, thì dù phải phục tùng mệnh lệnh cấp trên, cũng có thể xem là một dạng “ẩn sĩ”. Còn đối với ẩn sĩ theo nghĩa thông thường, yêu cầu cơ bản là cá tính giải phóng tự do mà không cần phải phụng sự ai.

 

Tôi viết tiểu thuyết võ hiệp là muốn viết về nhân tính, cũng giống như phần lớn các tiểu thuyết khác. Trong những năm viết Tiếu Ngạo Giang Hồ, cuộc đấu tranh giành quyền lực trong cuộc Cách mạng Văn hóa của Trung Cộng đang diễn ra vô cùng quyết liệt. Phe cầm quyền và phe tạo phản vì tranh đoạt quyền lực mà không từ thủ đoạn nào, khiến sự đê tiện trong bản tính con người bộc lộ tập trung nhất. Hằng ngày tôi viết xã luận cho Minh Báo, sự chán ghét mạnh mẽ đối với những hành vi nhơ bẩn trong chính trị, tự nhiên phản ánh vào từng dòng tiểu thuyết võ hiệp mà tôi viết mỗi ngày. Tác phẩm này không cố ý ám chỉ văn cách, mà là thông qua một số nhân vật trong truyện, rồi khắc họa một số hiện tượng phổ biến của đời sống chính trị Trung Quốc suốt hơn ba nghìn năm qua. Tiểu thuyết ám chỉ tính thời sự, không có nhiều ý nghĩa trường tồn, vì tình hình chính trị sẽ nhanh chóng thay đổi, chỉ có việc khắc họa nhân tính mới có giá trị bền vững hơn. Bất chấp tất cả để giành lấy quyền lực là tình trạng cơ bản của đời sống chính trị nội ngoại suốt cổ kim. Vài nghìn năm trước đã như vậy, và chỉ sợ vài nghìn năm sau cũng vẫn sẽ như thế. Các nhân vật Nhậm Ngã Hành, Đông Phương Bất Bại, Nhạc Bất Quần, Tả Lãnh Thiền trong ý tưởng của tôi, họ chủ yếu không phải là cao thủ võ lâm, mà là những nhân vật chính trị. Lâm Bình Chi, Hướng Vấn Thiên, Phương Chứng đại sư, Xung Hư đạo nhân, Định Nhàn sư thái, Mạc Đại tiên sinh, Dư Thương Hải, Mộc Cao Phong cũng đều là những nhân vật chính trị. Những kiểu người muôn hình muôn vẻ ấy xuất hiện trong mọi triều đại. Tôi tin rằng ở các quốc gia khác cũng đều có, và trong các doanh nghiệp lớn nhỏ, trường học hay các đoàn thể khác nhau cũng đều tồn tại. Khẩu hiệu “Thiên thu vạn tải, nhất thống giang hồ” đã được viết vào sách từ thập niên 1960. Nhậm Ngã Hành bị tha hóa vì nắm giữ đại quyền, đó là hiện tượng phổ biến của nhân tính. Những điều này không phải được thêm vào hay sửa đổi sau khi sách hoàn thành. Điều thú vị là khi “Tứ Nhân Bang” nắm quyền và sửa đổi quốc ca nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong lời ca sửa đổi ấy cũng xuất hiện cụm từ “thiên thu vạn tải”.

 

Khi Tiếu Ngạo Giang Hồ được đăng nhiều kỳ trên Minh Báo, có tới hai mươi mốt tờ báo tiếng Trung, tiếng Việt và tiếng Pháp tại Tây Cống (Sài Gòn) cùng đăng tải. Trong các cuộc tranh luận tại Quốc hội Việt Nam, các nghị sĩ thường chỉ trích đối thủ là “Nhạc Bất Quần” ( ngụy quân tử) hoặc “Tả Lãnh Thiền” (kẻ muốn thiết lập bá quyền). Đại khái là vì tình hình chính trị Việt Nam khi ấy biến động dữ dội, nên công chúng bình thường đặc biệt hứng thú với các cuộc đấu tranh chính trị.

Lệnh Hồ Xung là một “ẩn sĩ” bẩm sinh, không hề có hứng thú với quyền lực. Nhậm Doanh Doanh cũng là một “ẩn sĩ”. Nàng có quyền sinh sát đối với các hào kiệt giang hồ, nhưng lại thà sống ẩn dật trong ngõ nhỏ ở Lạc Dương, lấy cầm tiêu làm vui. Trong cuộc đời nàng, điều được coi trọng chỉ là tự do cá nhân, sự phát triển của cá tính, thứ quan trọng duy nhất là tình yêu. Cô gái ấy vô cùng e thẹn, kín đáo, nhưng trong tình yêu lại là người chủ động. Tình ý của Lệnh Hồ Xung vẫn quấn chặt vào Nhạc Linh San, chàng chưa hề được tự do. Chỉ đến khi ở trên con đường lớn ngoài cánh đồng xanh, cùng ngồi trong xe với Doanh Doanh, nỗi si tình đối với Nhạc Linh San mới hoàn toàn tiêu tan, chàng mới đạt được sự giải thoát trong tâm hồn. Ở đoạn kết của tác phẩm, Doanh Doanh đưa tay nắm lấy cổ tay Lệnh Hồ Xung rồi thở dài: “Không ngờ Nhậm Doanh Doanh này lại cũng bị cột cả đời vào một con khỉ bự mà không dứt ra được”. Tình yêu của Doanh Doanh đã được viên mãn, nàng cảm thấy mỹ mãn. Nhưng tự do của Lệnh Hồ Xung thì bị khóa lại một lần nữa. Có lẽ chỉ trong tình yêu đơn phương của Nghi Lâm, cá tính của chàng mới ít bị câu thúc nhất.

 

Nhân sinh trên đời, thứ tự do đầy đủ và viên mãn căn bản là điều không thể. Giải thoát khỏi mọi dục vọng để đạt đến đại triệt đại ngộ, đó là cảnh giới tối cao mà Phật giáo theo đuổi, gọi là “Niết bàn”, không phải điều người bình thường có thể làm được. Những người say mê chính trị và quyền lực, bị dục vọng quyền lực trong lòng thúc đẩy ra roi, thân bất do kỷ mà làm biết bao việc trái với lương tâm của chính mình, thực ra đều rất đáng thương.

 

Trong nghệ thuật truyền thống Trung Quốc, bất luận là thơ từ, tản văn, hí khúc hay hội họa, khát vọng giải phóng cá tính luôn là chủ đề nổi bật nhất. Thời đại càng loạn lạc, đời sống nhân dân càng thống khổ, chủ đề ấy càng được nhấn mạnh.

 

“Người trong giang hồ, thân bất do kỷ”, muốn lui về ẩn dật cũng không phải chuyện dễ dàng. Lưu Chính Phong theo đuổi tự do trong nghệ thuật, coi trọng cả người tâm đầu ý hợp với cả tình hữu nghị, muốn rửa tay chậu vàng, bốn gã ở Mai Trang mong được mai danh ẩn tích nơi Cô Sơn, hưởng lạc thú cầm kỳ thư họa. Nhưng tất cả đều không thể làm được, cuối cùng phải bỏ mạng bởi vì đấu tranh quyền lực (chính trị) không cho phép. Chính trị tồn tại trong bất cứ tổ chức, đoàn thể nào. Vương Mông tiên sinh từng nói rằng khi đọc đến đoạn “Rửa tay chậu vàng” trong tác phẩm này đã rơi nước mắt, tôi tin rằng chính là vì lý do đó.

 

Đối với người dám xả thân cứu nguy cho đất nước như Quách Tĩnh, là bậc đại hiệp biết là không thể mà vẫn làm, về mặt đạo đức đương nhiên đáng được khẳng định cao hơn. Lệnh Hồ Xung không phải đại hiệp, chàng giống như Đào Tiềm, là một ẩn sĩ theo đuổi tự do và giải phóng cá tính. Phong Thanh Dương lui vào ở ẩn vì chán nản, thất vọng và hổ thẹn. Còn Lệnh Hồ Xung thì bẩm sinh không chịu bị ràng buộc. Trên Hắc Mộc Nhai, bất kể là Dương Liên Đình hay Nhậm Ngã Hành nắm đại quyền, người khác chỉ tùy tiện cười một tiếng cũng có thể chuốc họa sát thân, huống hồ là ngạo mạn. Tiếu ngạo giang hồ, tự do tự tại chính là mục tiêu mà những người như Lệnh Hồ Xung theo đuổi.

 

Bởi vì điều tôi muốn viết là một số tính cách phổ biến, là những hiện tượng thường thấy trong đời sống chính trị, nên tác phẩm này không có bối cảnh lịch sử cụ thể. Điều đó có nghĩa là những tình cảnh tương tự có thể xảy ra ở bất kỳ thời đại nào, trong bất kỳ tổ chức nào.

 

Tháng 5 năm 1980

 

---

 

Có một số nhà phê bình văn học ở Trung Quốc đại lục bình luận rằng việc Nhạc phu nhân Ninh Trung Tắc biết được chồng mình đê tiện vô sỉ rồi tuyệt vọng tự sát là không hợp tình lý, bà hoàn toàn không cần phải tự sát. Cũng có người cho rằng việc Tiêu Phong tự sát là không hợp lý, hoặc việc chàng chưởng A Châu cũng không hợp lý. Dĩ nhiên, nhân vật Anna Karenina dưới ngòi bút của Tolstoy nước Nga cũng hoàn toàn không nhất thiết phải tự sát. Quan niệm về giá trị nhân sinh của mỗi người đều khác nhau. Có người dùng tâm lý thực dụng của con người hiện đại để đánh giá nhân vật võ hiệp, có người dùng “hệ giá trị Vi Tiểu Bảo” để bình luận Tiêu Phong hay Ninh Trung Tắc. Điều đó cũng giống như có người cho rằng Sử Khả Pháp, Văn Thiên Tường không chịu đầu hàng, hay Nhạc Phi không chịu trái lệnh mà kháng chiến, đều là những hành động thập phần “ngu xuẩn”. Ở Hồng Kông có người bình luận rằng con cháu họ Xà ở Bắc Kinh qua hơn mười đời vẫn giữ mộ cho Viên Sùng Hoán là “ngu trung”. Tất nhiên cũng có người cho rằng Đổng Tồn Thụy hay Lôi Phong là những nhân vật “không hợp tình lý”. Nếu dùng động cơ của giới con buôn để nhìn nhận nhân vật lịch sử, thì chỉ có hôn quân, gian thần, tham quan ô lại và tiểu nhân đê tiện mới là hợp lý.

Có nhà phê bình hỏi rằng: “Việc Đông Phương Bất Bại sau khi tự cung rồi, về sau trở thành người đồng tính luyến ái thì có khả thi hay không?”. Tự cung không phải là điều kiện cần thiết, cũng không phải kết quả tất yếu dẫn đến đồng tính luyến ái. Đồng tính nam là có thật trong lịch sử. Ở quân đội Hy Lạp, La Mã và Ấn Độ cổ đại, hiện tượng này rất phổ biến, các di vật khảo cổ được khai quật cũng rất nhiều. Ngày nay nếu tới thành cổ Pompeii ở Ý tham quan di tích, vẫn có thể thấy dấu vết. Trong các đền tháp cổ ở miền đông Ấn Độ cũng có rất nhiều. Sử gia người Anh Edward Gibbon trong cuốn Sự suy tàn và sụp đổ của Đế quốc La Mã viết rằng trong mười bốn vị hoàng đế đầu tiên của Đế quốc La Mã, ngoại trừ một người, mười ba người còn lại đều thích nam sắc hoặc đồng thời thích cả nam lẫn nữ. Ở Trung Quốc hiện tượng này còn phổ biến hơn. Các điển tích cổ như “Long Dương”, “Phân Đào”, “Đoạn Tụ”, hay các nhân vật như Đổng Hiền, Đặng Thông đều là có thật trong lịch sử, ngay cả Hán Văn Đế là một vị minh quân cũng không tránh khỏi điều này. Thói quen và xu hướng tình dục vốn từ trước đến nay luôn là vấn đề kín đáo. Việc đồng tính có hợp pháp hay không thường không được luật pháp quy định rõ. Ngày nay, một số quốc gia Âu Mỹ đã cho phép hai người nam chính thức kết hôn. Những người đồng tính nam tự nhận mình là phụ nữ thường thích mặc trang phục nữ giới. Đó là một sở thích giới tính, không liên quan đến việc có tự cung hay không. Cũng có những người vốn là đồng tính trước rồi mới thực hiện phẫu thuật chuyển giới. Trong cung đình Ai Cập và Trung Quốc suốt hàng nghìn năm đều có thái giám, họ không còn đặc trưng sinh lý nam giới, nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả đều chuyển sang tính cách nữ giới.

 

Tác phẩm này đã được sửa đổi nhiều lần, nhưng tình tiết cải biến rất ít.

 

Tháng 5 năm 2003.

Bình luận chương

Dưới chương này đang có gì?

Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.

0 ý kiến
Đăng nhập để tham gia bàn luận.

Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.