Ỷ Thiên Đồ Long Ký - Bản Tân Tu (mới nhất)
Hồi 40 : Bất thức Trương lang thị Trương lang
Sáng hôm sau Trương Vô Kỵ tỉnh dậy nhảy lên trên cây cao nhìn ra thấy dưới chân núi quân địch cờ quạt phất phới, người ngựa chạy qua chạy lại, trong quân tiếng tù và nổi lên đây đó, quả đang điều binh khiển tướng rất là gấp rút. Hỏi thăm giáo chúng thám thính, biết được một vạn quân Nguyên vừa mới tới, tổng cộng đã là hai vạn quân binh. Chàng liền gọi:
– Mẫn muội!
Triệu Mẫn đáp lời:
– Thiếp đây, chuyện gì thế?
Trương Vô Kỵ hơi chần chừ, nói:
– Không có chuyện gì, ta chỉ thuận miệng gọi nàng đấy thôi.
Chàng vốn dĩ muốn bàn với Triệu Mẫn cách thức đánh bại quân Nguyên vì nàng túc trí đa mưu hẳn sẽ có kế sách hay nhưng nghĩ lại: “Nàng vốn là quận chúa trong triều đình, bỏ cha bỏ anh đi theo ta, lại bảo nàng tính kế giết chính người Mông Cổ chẳng ép uổng nàng quá lắm hay sao”. Thành thử lời đã đến cửa miệng lại cố nhịn không nói ra. Triệu Mẫn nhìn mặt chàng hiểu ngay tâm sự, thở dài một tiếng nói:
– Vô Kỵ ca ca, mong chàng hiểu được nỗi khổ tâm của thiếp, thiếp chẳng cần nói ra làm gì.
Trương Vô Kỵ quay trở vào phòng, bàng hoàng không biết tính sao, tiện tay lấy ra hai xấp giấy nhỏ Triệu Mẫn lấy được tối hôm qua, đọc vài chương Cửu Âm Chân Kinh rồi lại quay sang đọc Vũ Mục Di Thư, lướt qua vài đoạn vô tình đọc đến Binh Khốn Ngưu Đầu Sơn trong lòng chợt động, đọc kỹ lại thấy đó Nhạc Phi thuật lại chuyện năm xưa bị quân Kim bao vây thế nào rồi thoát được nguy khốn ra sao, làm thế nào đột xuất kỳ binh, nội ngoại giáp công đi đến toàn thắng, các phương lược đều nói rõ.
Trương Vô Kỵ vỗ bàn kêu lên:
– Đúng là trời giúp mình!
Chàng gập sách lại ngồi suy tính, tình thế trên ngọn Thiếu Thất ngày hôm nay tuy khác hẳn việc Nhạc Phi bị vây tại núi Ngưu Đầu, nhưng cái ý người xưa truyền lại trong phép dụng binh là làm sao xuất kỳ bất ý đánh thắng địch quân. Chàng càng nghĩ càng thêm khâm phục Nhạc Vũ Mục quả là thiên tài, trong khi nguy nan nào có ai nghĩ ra được, lại xem ra dụng binh và võ công cũng cùng một đường, nếu
như chưa được cao nhân chỉ điểm, cao thấp khéo vụng thì thật khó mà có thể nghĩ ra được kế này.
Chàng nhúng ngón tay vào nước trà, vẽ lên bàn các địa hình, tuy thấy là làm như thế thật nguy hiểm,
không khỏi cầu may nhưng nghĩ bụng lấy ít chống nhiều không thể đường đường chính chính đánh một trận mà thắng được. Tính toán xong xuôi chàng bèn đi qua Đại Hùng Bảo Điện nhờ Không Văn phương trượng chiêu tập quần hùng.
Chỉ giây lát mọi người đã tề tựu đến đầy đủ, Trương Vô Kỵ đứng giữa sảnh nói:
– Hiện nay binh mã Thát tử đã tập trung dưới chân núi, ắt là chẳng bao lâu sẽ tấn công lên. Chúng ta hôm qua tuy thắng được một trận nhỏ, làm nhụt nhuệ khí của quân Nguyên nhưng nếu chúng bất kể sống chết đánh ùa lên thì thật khó mà chống đỡ. Tại hạ bất tài được chúng vị anh hùng cử ra tạm giữ công việc chủ soái. Hôm nay cùng chung kẻ địch mong các vị nghe lệnh tại hạ.
Mọi người cùng hô to:
– Nếu có lệnh gì nhất nhất tuân theo không dám vi phạm.
Trương Vô Kỵ đáp:
– Hay lắm, Ngô kỳ sứ nghe đây!
Chưởng kỳ sứ Nhuệ Kim Kỳ Ngô Kình Thảo hiên ngang bước ra, khom lưng nói:
– Thuộc hạ nghe lệnh.
Y trong bụng nghĩ thầm: “Giáo chủ ra lệnh, người đầu tiên sai ngay đến ta, thực là vinh dự biết mấy. Bất kể bảo ta làm gì nguy nan đến đâu, ta nhất quyết xả mệnh thi hành”.
Trương Vô Kỵ nói tiếp:
– Ngô huynh tất lãnh các huynh đệ trong kỳ, chấp chưởng quân pháp, bất kể vị nào không tuân theo hiệu lệnh, trường thương đoản phủ trong kỳ sẽ nhắm ngay người đó mà phóng tới. Dẫu người đó là bậc kỳ túc trong bản giáo, trưởng bối trong võ lâm cũng không ngoại lệ.
Ngô Kình Thảo dõng dạc đáp:
– Đắc lệnh!
Y móc trong bọc ra một lá cờ trắng nhỏ, cầm sẵn trên tay. Võ công tiếng tăm Ngô Kình Thảo vốn dĩ không phải là loại hạng nhất trên giang hồ, người ngoài không coi y vào đâu. Thế nhưng từ hôm Ngũ Hành Kỳ đại hiển thần uy trên bãi đất, mọi người ai ai cũng biết rằng lá cờ trắng trong tay y ném tới đâu lập tức nơi đó sẽ có năm trăm mũi tên, năm trăm chiếc giáo, năm trăm cái búa ngắn đồng loạt tấn công tới, dẫu có bản lãnh thông thiên thì chỉ chớp mắt cũng thành một đống thịt nát thành thử trông thấy lá cờ đó phất phới ai cũng rùng mình.
Thì ra Trương Vô Kỵ đọc trong Vũ Mục Di Thư thấy điều đầu tiên có chép: “Đạo trị quân, trước hết là lệnh lạc phải nghiêm”. Chàng biết giới giang hồ hào sĩ vốn dĩ tự phụ, muốn làm gì là làm tuy ai ai cũng võ công cao cường nhưng tụ lại cũng chỉ là một bầy ô hợp, nếu không có quân lệnh ước thúc để mọi người tuân theo thì không cách nào kháng cự được với quân Mông Cổ thành thử việc đầu tiên phải làm là sai Nhuệ Kim Kỳ giám lệnh chấp pháp.
Trương Vô Kỵ chỉ vào một bức tường ngang ngay trước điện, nói:
– Các vị anh hùng, những ai khinh công cao cường nhảy một cái lên được trên tường kia thì xin biểu diễn.
Trong số quần hùng không ít người lộ vẻ bất mãn, nghĩ thầm: “Không biết làm trò gì mà lại bảo mình ra nhảy lên hụp xuống, việc chẳng hề liên can đến khẩn cấp cả?”. Một số tiền bối cao thủ thì lại nghĩ chàng coi thường mọi người nên không khỏi bực mình.
Trương Tòng Khê vượt mọi người bước ra, nói:
– Ta có thể nhảy được.
Ông nhảy lên trên tường rồi nhẹ nhàng nhảy qua phía bên kia. Công phu Thê Vân Tung của phái Võ Đang nổi danh thiên hạ, với tài nghệ của Trương Tòng Khê thì nhảy qua bức tường ngang kia thật dễ như thổi tro trong bếp thế nhưng ông không khoe khoang chỉ theo đúng lệnh nhảy qua một cách thật tầm thường.
Kế đó Du Liên Châu, Dương Tiêu, Phạm Dao, Vi Nhất Tiếu, Ân Dã Vương các cao thủ cũng tuân lệnh thi hành. Chỉ thấy quần hùng như bướm vờn hoa, hết người này đến người khác nhảy qua tường, có người thi triển khinh công trên lưng chừng còn biểu diễn những thức ngoạn mục. Sau khi hơn bốn trăm người nhảy rồi những người còn lại không ai ra thử nữa.
Bức tường chắn đó không phải thấp, nếu như khinh công không cao cường không phải dễ dàng nhảy lên được. Trong số người ở đây mỗi người tập luyện một cách, có người chuyên luyện binh khí quyền cước, khinh công chỉ bình bình. Những nhân vật thành danh ai cũng biết người biết ta, không dại gì lộ cái sở
đoản trước mặt mọi người.
Trương Vô Kỵ thấy trong số hơn bốn trăm người đó, tăng chúng Thiếu Lâm chiếm đến tám chín phần mười, nghĩ thầm: “Thiếu Lâm là đệ nhất đại môn phái trong võ lâm, quả thực danh bất hư truyền. Chỉ cần luận riêng khinh công thôi hảo thủ đã đông hơn các môn phái khác”. Chàng bèn truyền lệnh:
– Du nhị bá, Trương tứ bá, Ân lục thúc xin ba vị dẫn các vị khinh công khá trên đây, hư trương thanh thế, giả vờ làm người trong chùa rủ nhau đào tẩu, dụ cho chúng đuổi theo, qua đến hậu sơn rồi cứ như thế như thế.
Du Trương Ân tam hiệp của phái Võ Đang cùng lên tiếng nhận lệnh. Trương Vô Kỵ từng nhóm từng nhóm phân phái, ai mai phục, ai đoạn hậu, ai tấn công, ai đánh vào ngang hông sắp xếp thật rõ ràng.
Bọn Dương Tiêu thấy chàng bày kế thật khôn khéo, lại dàn binh ngự địch xem ra có phép tắc đâu ra đấy những ai mưu lược đều không khỏi cảm phục, có biết đâu chàng bắt chước theo Vũ Mục Di Thư chỉ nhân địa hình khác biệt, bộ thuộc không giống nên hơi cải biến chút đỉnh cho thích hợp.
Trương Vô Kỵ điều động xong rồi, sau cùng mới nói:
– Không Văn phương trượng, Không Trí thần tăng hai vị xin cùng các vị trong phái Nga Mi, cứu chữa săn sóc cho những người bị thương.
Chu Chỉ Nhược không có mặt trên núi, phái Nga Mi không người dẫn đầu, Trương Vô Kỵ biết mình có hiềm khích rất sâu với phái Nga Mi không tiện chỉ huy nên nhờ hai vị thần tăng đức cao vọng trọng tất lãnh, chắc hẳn các đệ tử phái Nga Mi không dám phản đối. Lệnh đưa ra quả nhiên nam nữ đệ tử phái Nga Mi lẳng lặng thi hành không nói nửa câu.
Trương Vô Kỵ dõng dạc nói:
– Hôm nay các chí sĩ trung nguyên đồng tâm hiệp lực nhất quyết một phen sống mái với quân Thát tử. Các vị sư phụ của phái Thiếu Lâm lo việc chiêng trống, xin đánh trống gióng chuông cho.
Quần hùng nghe thế đều hoan hô vang dậy, rút đao tuốt kiếm, khí thế bừng bừng. Liệt Hỏa Kỳ đem củi cỏ tích chứa ra xếp thành đống trước cửa chùa, châm lửa đốt lên, chả mấy chốc khói bốc lên thấu trời xanh. Còn Hậu Thổ Kỳ thì đem bùn đất trét lên các nóc chùa sau đó Liệt Hỏa Kỳ mới xếp củi, lấy dầu đổ lên trên mặt bùn, châm lửa lên tuy không cháy các điện nhưng ở dưới chân núi và các nơi xa xa nhìn vào, thấy mấy trăm gian tự viện chỗ nào cũng khói lửa bốc lên ngùn ngụt.
Quân Nguyên dưới chân núi mới đầu thấy chiêng trống vang lừng đã chuẩn bị canh phòng, đến khi lửa bốc lên đều bàn nhau:
– Không xong, bọn man tử nổi lửa đốt chùa, chắc toan đào tẩu.
Du Liên Châu dẫn trên một trăm năm mươi người khinh công trác tuyệt, từ phía bên trái núi Thiếu Thất chạy xuống. Chạy đến lưng chừng núi thì đã nghe quân
Nguyên quát tháo reo hò, dàn thành trận đuổi theo. Mọi người chạy tứ tán thành thử quân Nguyên không sao có thể tập trung cung tên mà bắn được. Nhóm thứ hai do Trương Tòng Khê dẫn đầu, nhóm thứ ba do Ân Lê Đình chỉ huy, người nào trên lưng
cũng mang một cái bọc to, bên trong nếu không là thanh gỗ thì cũng là quần áo. Quân Nguyên trông thấy lại tưởng bọn họ bỏ chùa chạy thục mạng, tên bắn trúng những bao đó không xuyên qua được. Trong khói lửa mịt mù quân Mông Cổ không biết rõ có bao nhiêu người nên chia ra một vạn quân đuổi theo còn hơn một vạn nữa vẫn đóng tại chỗ đề phòng biến cố.
Trương Vô Kỵ nói với Dương Tiêu:
– Dương tả sứ, tướng chỉ huy Thát tử điều binh khá giỏi, không dùng toàn quân truy kích, thế mới thật phiền.
Dương Tiêu đáp:
– Đúng thế, quả là đáng lo.
Bỗng nghe dưới chân núi tiếng tù và vang động, hai nghìn quân Nguyên hai bên sườn núi đánh lên, đường núi gập ghềnh hiểm trở vậy mà những con ngựa nhỏ bé của người Mông Cổ vẫn chạy như bay, trường mâu thiết giáp, thế quân thật uy mãnh. Đợi cho quân tiên phong Mông Cổ tới sát bên sơn đình ở ngang núi, Trương Vô Kỵ phất tay một cái, người trong Liệt Hỏa Kỳ hai bên liền xông ra, nằm phục dưới đám cỏ. Đến khi quân Nguyên tiến thêm chừng hơn trăm trượng nữa, Tân Nhiên huýt một tiếng còi, dầu thô trong các ống phun liền phụt ra, lửa bùng lên, cháy lem lém ngay vào những con ngựa. Đoàn ngựa
đau quá kinh hãi hí vang lên, hơn một nửa lăn xuống dưới núi, lập tức trận thế loạn cả lên.
Quân Nguyên kỷ luật nghiêm minh, tiền đội tuy thua nhưng hậu đội không vì thế mà tan vỡ, lại ra lệnh hơn ba nghìn binh sĩ bỏ ngựa chạy bộ tấn công lên. Liệt Hỏa Kỳ lại phun lửa ra lại đốt cháy mấy trăm người, những người còn lại vẫn tiếp tục ùa tới. Chưởng kỳ sứ Hồng Thủy Kỳ là Đường Dương vẫy chiếc cờ đen, nước độc phun ra, kế đó Hậu Thổ Kỳ ném độc sa xuống đánh cho quân Nguyên tan tác. Tuy cũng có mấy trăm tên quân Mông Cổ lên được trên núi nhưng đều bị Nhuệ Kim,
Cự Mộc Kỳ tiêu diệt.
Bỗng nghe dưới chân núi tiếng trống đánh thật gấp gáp, năm nghìn người giương lá chắn lên, dàn hàng ngang như một bức tường sắt từ từ tiến lên. Việc như thế khiến cho lửa nóng, nước độc, cát độc không
làm gì được nên Cự Mộc Kỳ vội tiến lên giao chiến, xem ra chỉ phá vỡ được vài lỗ thủng không ăn thua gì.
Không Văn phương trượng thấy sự tình khẩn cấp nói:
– Trương giáo chủ, xin các vị mau rút đi để bảo tồn nguyên khí võ lâm Trung Nguyên. Hôm nay có thua thì mai sau còn có cơ phản công trở lại.
Trong cơn hoảng hốt, bỗng nghe dưới chân núi tiếng chiêng vang dội, một hỏa tiễn bắn vọt lên trời, kế đến tiếng hò hét chém giết bốn bề nổi lên. Dương Tiêu mừng lắm, nói:
– Giáo chủ, viện binh của ta đến rồi.
Từ trên đỉnh núi nhìn xuống không thấy rõ tình hình bên dưới nhưng thấy khói bụi mù mịt, quân reo ngựa hí, hiển nhiên quân cứu viện tới rất đông. Trương Vô Kỵ lớn tiếng ra lệnh:
– Quân cứu viện đến rồi, tất cả cùng xông ra.
Quần hùng trên núi ai nấy rút binh khí ra, xông xuống chém giết. Trương Vô Kỵ lại kêu lên:
– Các vị anh hùng, giết quan trước, giết lính sau.
Tất cả mọi người cùng reo lên:
– Giết quan trước, giết lính sau.
Quân Mông Cổ cứ mười người làm thành một đội, do một thập trưởng cai quản, lên trên có đội trăm người, đội nghìn người, đội vạn người, cứ từng lớp từng lớp, khi ra trận trên truyền xuống dưới chẳng khác thân thể chỉ huy cánh tay, cánh tay chỉ huy bàn tay, bàn tay chỉ huy ngón tay. Trương Vô Kỵ truyền lệnh giết các quan trưởng Mông Cổ, nếu như hai bên đối trận thì phép này khó mà thi hành nhưng hiện nay quân Mông Cổ đang dàn rộng trên sườn núi, quân địch tuy tinh nhuệ thật nhưng quan trưởng võ
công làm sao bì được với những nhân vật võ lâm Trung Nguyên, nên chỉ chốc lát mấy tên thiên phu
trưởng, bách phu trưởng đã bị giết chết. Một nhánh quân Mông Cổ lập tức loạn cả lên.
Bọn Trương Vô Kỵ xông tới lưng chừng núi, thấy dưới núi cờ xí bay tung, lá cờ phía nam trên có một chữ Từ, lá cờ phía bắc có một chữ Thường, biết ngay là Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đã tới. Từ Thường hai người phụng mệnh đem binh tấn công Dự Nam, vừa nghe Bố Đại hòa thượng Thuyết Bất Đắc truyền tin giáo chủ và quần hùng bị vây trên núi Thiếu Thất liền đem hết bộ thuộc, ngày đêm chạy tới cứu. Quân sĩ theo Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đều là những người chinh chiến lâu năm nhiều kinh nghiệm, lại đông hơn nhiều nên liền ép quân Nguyên phải lùi về hướng tây.
Còn một vạn quân Nguyên đuổi theo đám hào sĩ giả vờ bỏ chùa mà chạy mãi đến tận sơn cốc. Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình dẫn theo mấy trăm hảo hán khinh công trác tuyệt, vừa đánh vừa chạy vào trong thung lũng. Tên vạn phu trưởng quân Mông Cổ thấy trong sơn cốc ba mặt là vách đá dựng đứng, địa thế hung hiểm nhưng thấy bên địch nhân số chẳng bao nhiêu, dẫu bên trong thung lũng có mai phục chăng nữa thì cũng thừa sức đối phó nên liền xua quân đuổi cho nhanh.
Bọn Du Liên Châu chạy đến dưới chân vách đá, từ trên cao có sẵn mấy chục sợi dây thòng xuống từ bao giờ mọi người vội vàng trèo lên. Tên vạn phu trưởng thấy bị trúng kế vội ra lệnh lùi lại, ngờ đâu ngoài cửa thung lũng đã bị liệt hỏa, độc sa, vũ tiễn, độc thủy bắn tới như mưa, Cự Mộc Kỳ lại từng súc, từng súc gỗ đẩy lăn xuống, chặn mất đường đi rồi.
Ngay khi đó, lộ quân thứ hai của quân Nguyên thua chạy tới nơi thấy đường đi đằng trước đã bị chặn mất rồi liền tứ tán trèo lên các triền núi chung quanh đào tẩu. Trương Vô Kỵ và Từ Đạt trước sau tới nơi đều kêu lên:
– Tiếc quá!
Nếu như đã liên lạc được với nhau từ trước thì cứ để đạo quân thứ hai của Mông Cổ xua luôn vào trong thung lũng thì chỉ một chuyến là xong. Trương Vô Kỵ cũng không ngờ quân Nguyên chỉ chia ra một nửa đuổi theo, cũng không ngờ quân tiếp viện đến nhanh như thế. Dẫu sao thì chỉ huy quân chiến đấu không phải là sở trường của chàng, chiến pháp trong Vũ Mục Di Thư tuy hay thật nhưng vừa học đem ra ứng dụng ngay dù sao cũng chưa vận dụng được tinh diệu, lập nên kì công. Vả lại tình hình xưa và nay khác nhau, quân Nguyên khác xa với quân Kim khỏe mạnh tinh nhuệ năm xưa. Nếu như Từ Đạt, Thường Ngộ
Xuân không kịp thời tới nơi thì kiếp số chùa Thiếu Lâm cũng khó tránh khỏi, còn một vạn quân Nguyên bị chặn trong sơn cốc cũng sẽ được lộ quân kia cứu thoát.
Từ Đạt liền sai quân vần đá chặn thêm ở cửa thung lũng, các đội cung tiễn trèo lên những mỏm đá, từ cao bắn xuống. Quân Nguyên lâm vào tuyệt địa, không có cách gì chống trả chỉ còn nước trốn sau những tảng đá. Chẳng mấy chốc Thường Ngộ Xuân cũng đem binh tới nơi, hội kiến với Trương Vô Kỵ, lâu ngày xa nhau nay gặp lại hai người hết sức vui mừng. Chu Nguyên Chương biết Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân hai người giao hảo với Trương Vô Kỵ, vì thế mà nửa tháng trước đến Đăng Phong bức cung đều hạn chế dùng binh mã của hai người. Thường Ngộ Xuân oang oang nói:
– Mau giỡ đá ra, mình xông vào giết sạch bọn Thát tử.
Từ Đạt cười:
– Trong sơn cốc không gạo không nước, chỉ bảy tám ngày, Thát tử cũng chết khát, chết đói việc gì phải để các cách em mất công ra tay?
Thường Ngộ Xuân cũng cười:
– Thế nhưng tự tay mình giết vẫn thích hơn.
Y tuổi tác tuy hơi lớn hơn Từ Đạt nhưng bình thời vẫn phục Từ Đạt mưu trí, cũng không bàn thêm gì nữa.
Từ Thường hai người chinh chiến lâu năm nên lệnh lạc gì cũng đều chu đáo đâu ra đấy. Trương Vô Kỵ biết mình kém xa nên mời Từ Thường hai người chỉ huy, tìm kiếm giết sạch những quân Nguyên bỏ chạy.
Đêm hôm đó tiếng reo hò vang động chân núi Thiếu Thất, nghĩa quân Minh Giáo cùng anh hùng tứ xứ ăn mừng chiến thắng. Quần hùng mấy hôm liền ở trong chùa Thiếu Lâm ăn toàn đồ chay, mồm miệng thấy nhạt thếch, nay được rượu thịt no nê, ai nấy ăn đến căng cả bụng.
Trong tiệc Trương Vô Kỵ hỏi lại Thường Ngộ Xuân thân thể độ này thế nào, có theo
những toa thuốc
chàng cắt mà chữa trị không. Thường Ngộ Xuân cười ha hả nói:
– Giáo chủ chớ có lo lắng, lão Thường này khỏe như trâu, mỗi bữa ăn ba cân thịt, sáu chén cơm, đi đánh trận ba ngày ba đêm liền không ngủ cũng chẳng hề hấn gì.
Nói như thế ý bảo chẳng cần phải thuốc thang cho thêm phiền. Trương Vô Kỵ nghĩ đến lời Hồ Thanh Ngưu năm xưa nói, khẩn khoản khuyên ông ta nên uống thuốc, giữ gìn sức khỏe. Thường Ngộ Xuân chỉ ậm ừ vâng dạ nhưng trong bụng chẳng coi vào đâu.
Từ Đạt rót đầy một chén rượu bưng đến trước mặt Trương Vô Kỵ, nói:
– Chúc mừng giáo chủ, xin cạn chén rượu này.
Trương Vô Kỵ cầm lấy uống cạn, Từ Đạt nói tiếp:
– Thuộc hạ vẫn thường khâm phục giáo chủ can đảm hơn người, võ công tuyệt luân ngờ đâu dùng binh lại thần diệu đến thế, thực là phúc của bản giáo, là cái may của dân đen.
Trương Vô Kỵ cười ha hả nói:
– Từ đại ca, đại ca chẳng nên khen ngợi tôi làm gì. Chiến thắng hôm nay, trước là Từ Thường hai vị đại ca đến thật thần tốc, thứ đến nhờ lời dậy bảo để lại của Nhạc Vũ Mục, tiểu đệ hoàn toàn chẳng có chút công lao nào.
Từ Đạt ngạc nhiên hỏi:
– Di giáo của Nhạc Vũ Mục là sao? Xin giáo chủ giảng rõ cho.
Trương Vô Kỵ móc trong túi ra một cuộn sách màu vàng, trên bìa viết Vũ Mục Di Thư, lật đến tiết Binh Khốn Ngưu Đầu Sơn đưa cho Từ Đạt xem. Từ Đạt hai tay cầm lấy, đọc kỹ một lượt, không khỏi vừa kinh hoàng, vừa bội phục, thở dài nói:
– Vũ Mục dụng binh như thần, người đời sau thật không sao theo kịp. Nếu như Nhạc Vũ Mục còn sống đến hôm nay, tất lãnh hào kiệt trung nguyên, lo gì không đuổi được quân Thát tử trở về sa mạc phía bắc.
Nói xong cung kính giao lại di thư. Trương Vô Kỵ không cầm nói:
– Võ lâm chí tôn, Bảo đao Đồ Long, Hiệu lệnh thiên hạ, Mạc cảm bất tòng. Nghĩa thực sự của mười sáu chữ đó đến nay ta mới hiểu. Gọi là “võ lâm chí tôn” không phải là bản thân thanh đao mà là ở di thư dấu trong thanh đao này. Nếu dùng binh pháp này đối phó với địch đánh thể nào cũng đánh đâu được đó nên mới gọi là “hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng”. Còn như chỉ riêng một thanh đao mà thôi thì làm thế nào mà hiệu lệnh được thiên hạ? Từ đại ca, bộ binh thư này ta tặng cho đại ca đó, mong đại ca nối chí Nhạc Vũ Mục, đường mây thẳng tiến, thu phục giang sơn.
Từ Đạt giật mình kinh hãi, vội nói:
– Thuộc hạ có tài đức gì mà dám nhận món quà hậu hĩ như thế của giáo chủ?
Trương Vô Kỵ nói:
– Từ đại ca chớ có từ chối. Ta vì trăm họ mà giao binh thư này lại cho đại ca.
Từ Đạt tay run run cầm lấy binh thư. Trương Vô Kỵ nói tiếp:
– Trong võ lâm truyền ngôn còn hai câu nữa: “Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?”. Nay kiếm Ỷ Thiên gãy làm hai rồi nhưng về sau thể nào cũng nối lại được. Bên trong kiếm có dấu một bộ võ công bí cập thật là ghê gớm, ta cũng hiểu được chân ý của hai câu này là binh thư để đuổi quân Thát tử thế nhưng nếu có người
nào sau này chấp chưởng đại quyền nhưng rồi tác oai tác phúc, lấy bạo ngược thay bạo
ngược, bách tính lại chịu lầm than thì thể nào cũng có một vị anh hùng tay cầm kiếm Ỷ Thiên đến lấy đầu bạo chúa. Kẻ thống lãnh bách vạn hùng binh quyền khuynh thiên hạ nhưng chưa chắc đã chống đỡ nổi một cái đánh của kiếm Ỷ Thiên, câu đó mong đại ca ghi nhớ.
Từ Đạt mồ hôi lạnh chảy ròng ròng trên lưng không dám từ chối nữa nói:
– Thuộc hạ cẩn tuân lệnh chỉ của giáo chủ.
Y nghĩ thầm: “Giáo chủ đem Vũ Mục Di Thư tặng cho ta, ta tự nhiên nghiêm túc tuân mệnh, sử dụng tốt di thư này”, rồi cầm Vũ Mục Di Thư để trên bàn, cung kính lạy bốn lạy rồi bái tạ Trương Vô Kỵ đã ban tặng cho quyển sách. Quả nhiên từ đó Từ Đạt dụng binh như thần, liên tiếp đánh bại quân Nguyên, sau cùng thống lãnh quân đội đánh lên phương bắc, đuổi được người Mông Cổ ra ngoài biên ải, uy chấn vùng mạc bắc lập nên công nghiệp hiển hách một thời.
Từ đó anh hùng Trung Nguyên đều nức lòng quy phục Minh Giáo, hiệu lệnh của Trương Vô Kỵ đến đâu không ai không theo. Mấy trăm năm qua Minh Giáo bị người đời chê trách, coi như yêu ma dâm tà, kể từ đại biến long trời lở đất này trở nên thủ lãnh quần hùng, trung hưng được cơ nghiệp của con cháu Hán tộc. Tuy về sau Chu Nguyên Chương thay lòng đổi dạ, thi hành gian mưu lên ngôi hoàng đế, nhưng y mưu đồ giáo chủ Minh giáo cuối cùng không thành, có điều những người phò tá y đều là người trong Minh Giáo cho nên quốc hiệu không thể không xưng là nhà Minh. Minh triều từ Hồng Võ nguyên niên Mậu Thân cho tới Sùng Trinh năm thứ mười tám Giáp Thân, tổng cộng hai trăm bảy mươi bảy năm cũng do Minh Giáo phò trợ mà có.
Sau khi Chu Nguyên Chương đăng cơ, không muốn nhường lại nghiệp lớn đã thành của mình, Minh giáo có rất nhiều công tích, lại không muốn chính vụ triều đình bị giáo chủ Minh giáo ràng buộc can thiệp, bởi vậy cố gắng làm mờ đi dấu vết liên quan đến Minh giáo, không ít công thần đại tướng xuất thân từ Minh giáo, chỉ vì không ủng hộ y làm giáo chủ Minh giáo, liền không biết tại sao bị sát hại không
minh bạch.
Bọn Phùng Thắng, Phó Hữu Đức, Lam Ngọc đại tướng cả nhà bị giết, liên luỵ rất lớn, sử đều ghi rõ. Mà theo dã sử đồn đại, Thường Ngộ Xuân bị bệnh chết sớm, Từ Đạt lại bị Chu Nguyên Chương hạ độc ám hại mà chết. Trong các đại tướng khai quốc Minh triều, người có thể được bảo thọ mà chết già chỉ có một mình Thang Hòa mà thôi. Người này rất bình thường, từ trước đến nay chỉ nghe đúng mệnh lệnh của Chu Nguyên Chương nên không bị Chu Nguyên Chương kiêng dè.
Sau đó đám người Trương Vô Kỵ tiếp tục tạm gác lại trong Thiếu Lâm tự, chữa trị bảo vệ cho quần hào bị
thương trong chiến trận, cũng chờ Lý Thiên Viên đón Ỷ Thiên kiếm cùng Đồ Long đao trở về. Quần hào quá nửa đều muốn chính mắt thấy hai loại thần binh lợi khí thịnh truyền hơn mười năm trên giang hồ này, mắt thấy tả hữu vô sự, cũng đã phần ở lại núi Thiếu Thất.
Lại qua hơn mười ngày, Lý Thiên Viên cùng Bành Oánh Ngọc từ tiểu đảo trở về, cưỡi ngựa quay về núi Thiếu Thất, đem theo hai chiếc hộp gỗ nộp cho Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ mở hộp gỗ, chỉ thấy Đồ Long đao cùng Ỷ Thiên kiếm đều đã bị chém làm hai đoạn ở chỗ gần chuôi. Ở chỗ đứt của Đồ Long đao có một chỗ hổng, Trương Vô Kỵ đem thiết phiến có vẽ bản đồ để vào thì thấy vừa vặn, chặt chẽ, khi vũ động bảo đao sẽ không phát ra tiếng vang. Chỗ đứt của Ỷ Thiên kiếm có thể đút vừa khối thiết phiến viết “Phổ Độ Sơn Đông Đào Hoa đảo”.
Quần hùng biết được Đồ Long đao tái xuất, đều kéo đến quảng trường quan sát.
Trương Vô Kỵ ba ngón tay giữ sống dao, nhấc nửa thanh Đồ Long đao lên, cầm trong tay vẫn là có chút nặng, chỉ một thoáng trăm mối ngổn ngang, cha mẹ mình chính vì đao này mà chết, hơn hai mươi năm trên giang hồ hỗn loạn không ngớt cũng là vì đao này. Quần hùng tụ tập ở Thiếu Lâm mục đích chính cũng là vì bảo đao này. Nghĩ đến lúc bảo đao xuất hiện, không ngờ rốt cuộc lại gãy đôi vô dụng.
Chàng còn đang trầm ngâm, Chưởng Kỳ Sứ của Nhuệ Kim Kỳ là Ngô Kình Thảo tiến lên nói:
– Khải bẩm giáo chủ, thuộc hạ vốn xuất thân thợ rèn, đã từng học qua phép đánh đao đánh kiếm, để thuộc hạ làm thử, biết đâu không nối lại được bảo đao, bảo kiếm như cũ.
Dương Tiêu vui mừng đáp lời:
– Thuật rèn kiếm của Ngô kỳ sứ thiên hạ vô song, xin giáo chủ để y thử xem sao.
Trương Vô Kỵ gật đầu:
– Hai loại lợi khí này bị gãy quả thực đáng tiếc. Ngô kỳ sứ nếu nối lại được thì còn gì bằng.
Ngô Kình Thảo quay sang nói với Liệt Hỏa Kỳ Sứ Tân Nhiên:
– Rèn đao rèn kiếm, cốt nhất là ở sức lửa, nhờ Tân huynh giúp cho một tay. Xem tình cảnh này, quân Thát Đát nhất thời chưa đánh lên núi, hai anh em ta làm ngay được chăng?
Tân Nhiên cười đáp:
– Cái gì chứ nhóm củi, đốt lửa thì vốn là nghề của huynh đệ.
Lập tức hai người chỉ huy thuộc hạ, đắp ngay một cái lò lớn, miệng lò rộng không đầy một thước. Ngô Kình Thảo lấy mảnh mũi đao Đồ Long xếp vào, chỗ gẫy ngay tại miệng lò. Nhiên liệu của Liệt Hỏa Kỳ đã sẵn sàng, chẳng mấy chốc lửa đã bừng bừng bốc lên. Ngô Kình Thảo tay phải đã đứt, chỉ còn lại một cánh tay trái. Bên cạnh y để hơn một chục loại binh khí khác nhau, mắt chăm chăm, mỗi khi thấy lửa biến màu, lại đem một món binh khí ném vào để xem sức nóng. Đợi đến khi lửa từ xanh biến thành trắng, tay trái mới cầm kìm, kẹp mảnh thanh đao Đồ Long còn lại chắp vào đầu bên kia để nung. Nửa thân trên y để trần, đốm lửa bắn tung tóe lên người nhưng dường như không cảm giác, vẫn hết tâm để vào việc. Trương Vô Kỵ nghĩ thầm: “Rèn đao kiếm tuy là việc nhỏ, nhưng cũng phải học tập nhiều, bản lãnh lắm mới làm được. Nếu như loại thợ rèn tầm thường, chỉ chịu nóng không cũng không nổi”.
Bỗng nhiên lịch kịnh mấy tiếng, hai tên giáo chúng kéo bễ ngã lăn xuống đất, bất tỉnh nhân sự. Tân Nhiên và Liệt Hỏa Kỳ Chưởng Kỳ Phó Sứ lập tức xông lên, gạt hai tên đó sang một bên, tự tay kéo bễ thổi lửa. Hai người nội lực không phải là yếu nên vừa sử kình quạt lò, lửa đã bốc lên, ngọn cao cả trượng, cảnh tượng thật là đẹp mắt.
Độ tàn nửa nén hương, Ngô Kình Thảo bỗng kêu lên: “Ối chà”, tung mình nhảy vọt về phía sau, mặt đầy vẻ thất vọng. Mọi người ai nấy kinh hãi, nhìn lại trong tay
y, thấy cái kềm đã bị nóng chảy, méo mó
không còn hình thù gì, còn thanh đao Đồ Long vẫn không suy suyển. Ngô Kình Thảo lắc đầu:
– Thuộc hạ vô năng, thanh đao Đồ Long này quả thực danh bất hư truyền!
Tân Nhiên và Chưởng Kỳ Phó Sứ tạm ngưng thổi bễ, đứng lui sang một bên. Hai người áo quần ướt đẫm mồ hôi, tưởng như vừa ở dưới nước trèo lên. Triệu Mẫn bỗng nói:
– Vô kỵ ca ca, có phải thánh hỏa lệnh đao Đồ Long chặt không đứt phải không?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Ừ, đúng vậy!
Chàng lấy trong bọc ra sáu tấm thánh hỏa lệnh, giao cho Ngô Kình Thảo:
– Đao kiếm không hàn lại được, cũng chẳng quan hệ gì. Thánh hỏa lệnh là vật chí bảo của bản giáo, không thể để cho hư hỏng.
Ngô Kình Thảo cúi mình tiếp lấy, đáp:
– Xin vâng lệnh!
Y thấy sáu thanh thánh hỏa lệnh không phải sắt, cũng chẳng phải vàng, cứng rắn vô cùng, nặng trình trịch, nên cúi đầu suy nghĩ.
Trương Vô Kỵ nói:
– Nếu thấy không ổn thì cũng đừng mạo hiểm làm gì.
Ngô Kình Thảo không trả lời, một hồi sau mới tỉnh giấc trầm tư, đáp:
– Thuộc hạ quả là không phải, xin giáo chủ thứ tội. Thánh hỏa lệnh này vốn là bạch kim trộn với huyền thiết và cát kim cương đúc thành, lửa nóng không làm chảy nổi. Thuộc hạ quả thật hồ nghi, không biết khi xưa làm sao đúc được, cho nên suy nghĩ nhất thời như mất cả hồn vía.
Triệu Mẫn liếc Trương Vô Kỵ một cái, nhoẻn miệng cười:
– Sau này giáo chủ sẽ có dịp sang Ba Tư để gặp một nhân vật thật là quan trọng, lúc đó Ngô huynh có thể đi theo, hỏi các thợ đúc cao thủ của họ xem làm cách nào.
Trương vô Kỵ ngượng nghịu nói:
– Ta sang Ba Tư để làm gì?
Triệu Mẫn mỉm cười:
– Chuyện đó không nói ra được.
Lại quay sang Ngô Kình Thảo:
– Ngươi xem, trên thánh hỏa lệnh còn có khắc hoa văn và chữ. Dù có sắc bén như đao Đồ Long hay kiếm Ỷ Thiên cũng không làm suy suyển được, thì những đường nét, văn tự ấy làm sao đục thành?
Ngô Kình Thảo đáp:
– Muốn khắc hoa văn, văn tự không có gì khó. Chỉ cần dùng sáp trắng phủ lên trên thánh hỏa lệnh, trên sáp khắc hình vẽ chữ, sau đó đem ngâm trong cường toan, chỉ vài tháng sau sẽ ăn mòn. Sau đó đem ra cạo hết sáp đi, các hình và chữ sẽ hiện ra. Điều tiểu nhân không hiểu là làm sao nung cho chảy được.
Tân Nhiên kêu lên:
– Thế thì có định làm không đây?
Ngô Kình Thảo hướng về phía Trương Vô Kỵ:
– Giáo chủ đừng ngại. Liệt hỏa của Tân huynh đệ tuy ghê gớm thật, nhưng không tổn hại được thánh hỏa lệnh đâu.
Tân Nhiên trong lòng hơi sợ, vội nói:
– Tôi chỉ hết sức thổi lửa, nếu như làm hỏng Thánh vật của bản giáo, thì không chịu tội đâu nhé.
Ngô Kình Thảo mỉm cười:
– Chỉ sợ ngươi không đủ nhẫn nại, có gì ta chịu hết.
Nói rồi lấy hai miếng thánh hỏa lệnh kẹp một nửa thanh đao, sau đó dùng một chiếc kìm mới kẹp lấy thánh hỏa lệnh đưa bảo đao vào trong lò nung lần nữa. Lửa mỗi lúc một bốc lên cao, nung đến hơn nửa giờ, chỉ thấy Ngô Kình Thảo, Tân Nhiên, Liệt Hỏa Kỳ phó sứ ba người thấp thoáng trong ánh lửa, mỗi lúc một thêm uể oải, xem chừng không còn chịu nổi.
Thiết Quan đạo nhân Trương Trung liếc mắt ra hiệu cho Chu Điên, phất tay một cái, hai người cùng xông lên nhảy vào thay cho Tân Nhiên và Liệt Hỏa Kỳ phó sứ, ra sức kéo bễ. Trương Chu hai người nội lực so với những người kia cao hơn nhiều, lửa trong lò bốc vút lên thẳng một làn trắng xóa.
Ngô Kình Thảo bỗng dưng quát lớn:
– Cố huynh đệ, ra tay đi.
Chưởng kỳ phó sứ Nhuệ Kim Kỳ tay cầm dao nhọn, chạy tới bên lò, chỉ thấy lấp lánh, đã giơ dao đâm thẳng vào ngực Ngô Kình Thảo. Quần hùng đứng chung quanh không khỏi thất sắc, đều lớn tiếng kêu la. Máu từ trên bộ ngực trần của Ngô Kình Thảo phun ra tung tóe trên thanh đao Đồ Long, gặp nóng lập tức bốc lên một làn khói xanh khét lẹt. Ngô Kình Thảo la lớn:
– Thành rồi.
Y lui lại mấy bước, ngồi phịch xuống đất, tay cầm một thanh đao đen sì. Quả thực hai mảnh của đao Đồ Long đã liền lại thành một. Mọi người bấy giờ mới biết, mỗi khi những người thợ đúc đao rèn kiếm không thành, phải nhỏ máu vào. Thời xưa, vợ chồng Can Tương, Mạc Tà thậm chí phải nhảy vào lò, mới đúc thành vô thượng lợi kiếm. Việc Ngô Kình Thảo làm chính là theo phong cách của những người xưa truyền lại.
Trương Vô Kỵ vội đỡ Ngô Kình Thảo lên, xem xét vết thương, thấy dao đâm không sâu, chẳng có gì đáng lo ngại. Chàng lấy kim sang rắc vào, dùng vải buộc lại, nói:
– Ngô huynh việc gì phải làm như thế. Đao này nối lại được hay không, không phải là quan trọng, đâu đáng để Ngô huynh phải chịu khổ đến vậy.
Ngô Kình Thảo đáp:
– Vết thương nhỏ ngoài da thịt, có đáng gì để giáo chủ phải lo lắng.
Y đứng dậy, cầm thanh đao Đồ Long lên xem, thấy liền lạc không dấu vết, chỉ lờ mờ một lằn máu nhỏ, không khỏi mười phần đắc ý. Trương Vô Kỵ xem lại hai thanh thánh hỏa lệnh mới nung trong lò thấy không suy tổn mảy may, yên chí tiếp lấy thanh đao Đồ Long, chém xuống hai lưỡi mâu chàng vừa cướp được của lính Mông Cổ, chỉ nghe một tiếng soẹt nhỏ, hai món võ khí đứt ra làm đôi, đúng là chặt sắt như bùn.
Mọi người ai nấy reo lên:
– Đao tốt quá! Đao tốt quá!
Ngô Kình Thảo cầm hai mảnh kiếm Ỷ Thiên lên, nghĩ đến chưởng kỳ sứ Nhuệ Kim Kỳ Trang Tranh cùng mấy chục anh em chết vì kiếm này, nhịn không nổi nước mắt chảy ròng ròng nói:
– Thưa giáo chủ, thanh kiếm này đã giết chết Trang đại ca, giết thêm bao nhiêu là anh em bằng hữu của bản giáo, Ngô Kình Thảo này hận nó tận xương tủy, không muốn nối lại làm gì, xin giáo chủ trách phạt cho!
Nói xong rồi khóc òa lên. Trương Vô Kỵ nói:
– Đó chẳng qua là nghĩa khí của Ngô đại ca, đâu có tội vạ gì?
Chàng cầm lấy hai mảnh thanh kiếm gãy, đến trước mặt Tĩnh Huyền của phái Nga Mi nói:
– Kiếm này nguyên là của quý phái, xin sư thái giữ giùm, chuyển lại cho Chu… cho Tống phu nhân.
Tĩnh Huyền không nói một lời, cầm lấy hai mảnh kiếm gãy. Trương Vô Kỵ cầm thanh đao Đồ Long, suy nghĩ rồi quay sang nói với Không Văn:
– Phương trượng, thanh đao này do nghĩa phụ tôi mà có, hiện nay ông ta đã quy y tam bảo, thuộc về phái Thiếu Lâm, thanh đao này vậy do phái Thiếu Lâm chấp chưởng.
Không Văn xua tay rối rít nói:
– Thanh đao này đổi chủ mấy lần, sau cùng chính Trương giáo chủ cướp được trong đám thiên quân vạn mã, ai ai cũng chính mắt trông thấy, lại do Ngô đại ca của quý giáo nối lại. Huống chi hôm nay anh hùng thiên hạ đều suy cử Trương giáo chủ lên làm võ lâm chí tôn, luận tài luận đức, luận cả nguồn gốc, danh vị, đao này phải do Trương giáo chủ chưởng quản mới phải, có thế mới đúng là danh chính ngôn thuận.
Quần hùng cùng lên tiếng phụ họa, nói:
– Mọi người đều mong mỏi như vậy, Trương giáo chủ xin đừng thoái thác nữa.
Trương Vô Kỵ đành cầm lấy, nghĩ thầm: “Nếu như nhờ có thanh bảo đao này mà hiệu lệnh được anh hùng hào kiệt thiên hạ, cùng chung sức đuổi quân Hồ Lỗ thì đúng là việc mình phải làm”. Lại nghe mọi người lao xao nói:
– Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng.
Hai câu tiếp “Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?” không ai đề cập đến vì thấy thanh kiếm nay đã gãy liệu rằng không nối lại được nữa. Người trong Nhuệ Kim Kỳ của Minh Giáo hận thanh kiếm Ỷ Thiên này biết bao nhiêu, nay thấy thanh đao Đồ Long trở lại nguyên vẹn như cũ, còn Ỷ Thiên kiêm chỉ là hai mảnh kiếm gãy, ai nấy đều hả dạ.
Quần hùng thấy bảo đao đã luyện thành, vui say đến tận sáng, ai nấy túy lúy mới thôi. Đến quá trưa, mọi người lục tục cáo từ hai vị thần tăng Không Văn, Không Trí. Trương Vô Kỵ thấy đệ tử phái Nga Mi tả tơi tan tác, trong lòng thương hại, thấy Tống Thanh Thư vẫn còn nằm trên cáng, qua hơn mười ngày trị liệu vẫn không thấy khỏe lên, đến gần nói với Tĩnh Tuệ:
– Để ta xem thương thế Tống đại ca thế nào!
Tĩnh Tuệ lạnh lùng đáp:
– Rõ khéo mèo khóc chuột, đừng có giả nhân giả nghĩa.
Chu Điên đứng gần ngay đó, nhịn không nổi chửi lại ngay:
– Giáo chủ ta chỉ vì chút tình cũ với chưởng môn các ngươi cho nên mới trị thương cho họ Tống kia, chứ cái thứ khi sư phản phụ này, chi bằng một đao giết quách đi. Con mụ ác ni cô kia còn lèm bèm cái gì?
Tĩnh Tuệ muốn cãi lại vài câu nhưng thấy Chu Điên mặt mày hung ác, thần sắc bặm trợn, trên mặt lộ ra hai vết chém, trông thật đáng sợ, chỉ sợ y không biết phải quấy ra tay đánh mình thì thiệt vào thân, nên cố nén lòng, cười khẩy nói:
– Phái Nga Mi ta đời này truyền đời khác, chưởng môn nhân đều là phận nữ nhi băng thanh ngọc khiết. Chu chưởng môn nếu không phải là hoàng hoa khuê nữ giữ mình như ngọc thì làm chưởng môn bản phái làm sao được? Hừ, Tống Thanh Thư tên gian tặc đó ở trong bản phái chỉ làm ô danh cho Chu chưởng môn. Lý sư điệt, Long sư điệt, mau đem gã này trả lại cho phái Võ Đang.
Hai tên đệ tử Nga Mi liền đáp lời, khiêng cái cáng đến trước mặt Du Liên Châu, bỏ đó rồi đi về.
Ai nấy ngạc nhiên khôn xiết, Du Liên Châu nói:
– Cái… cái gì? Y không phải là trượng phu của chưởng môn các ngươi sao?
Tĩnh Tuệ hậm hực đáp:
– Hừ, chưởng môn chúng ta có coi cái gã này vào đâu? Chưởng môn bực mình chuyện Trương Vô Kỵ thay lòng đổi dạ, đang hôn lễ bỏ đi làm nhục bản phái trước mặt anh hùng thiên hạ nên giả vờ gọi tên tiểu tử này là chồng. Nếu biết… nếu biết… hừ hừ, nếu sớm biết thế, chưởng môn chúng ta việc gì phải chịu cái tiếng xấu làm chi? Xem ra… xem ra…
Trương Vô Kỵ đứng bên nghe mà sững sờ, nhịn không nổi tiến lên hỏi:
– Sư thái nói Tống phu nhân… nàng… nàng thực ra không phải Tống phu nhân sao?
Tĩnh Tuệ quay đầu sang chỗ khác, hậm hực nói:
– Ta không thèm nói chuyện với ngươi.
Ngay lúc đó, Tống Thanh Thư nằm trên cáng khẽ động đậy, rên lên mấy tiếng:
– Giết… giết được Trương Vô Kỵ chưa?
Tĩnh Tuệ cười nhạt:
– Thôi đừng mơ ngủ. Chết đến nơi rồi còn ham chuyện viển vông.
Ân Lê Đình thấy Tĩnh Tuệ giận bừng bừng, nói năng không rõ ràng nên hỏi nhỏ một nữ đệ tử của phái Nga Mi là Bối Cẩm Nghi:
– Bối sư muội, đầu đuôi ra thế nào?
Bối Cẩm Nghi năm xưa giao tình rất thân với Kỷ Hiểu Phù, nghe ông ta hỏi, trầm ngâm giây lát rồi nói:
– Tĩnh Tuệ sư tỉ, Ân lục hiệp không phải người ngoài, tiểu muội nói cho ông ta nghe có được không?
Tĩnh Tuệ đáp:
– Cái gì mà người ngoài với chẳng người trong? Không phải người ngoài cũng nói, người ngoài lại càng
nên nói. Chu chưởng môn của chúng ta thanh bạch, không có liên hệ gì đến tên gian đồ họ Tống kia. Các ngươi thấy rõ thủ cung sa trên cánh tay chưởng môn rồi, chuyện này cần phải cho đồng đạo võ lâm khắp thiên hạ biết, để khỏi làm tổn hại đến quy củ của phái Nga Mi chúng ta hơn trăm năm nay…
Ân Lê Đình nghĩ thầm: “Vị Tĩnh Tuệ sư thái này đầu óc xem ra không được minh bạch cho lắm, nói năng chẳng có đầu có đuôi gì cả”. Ông quay sang nói với Bối Cẩm Nghi:
– Bối sư muội, nếu đã như thế vậy nói cho rõ ràng. Tống sư điệt của ta vì sao lại gia nhập quý phái, có can hệ thế nào với quý chưởng môn để cho tiểu huynh mai này bẩm lại với sư phụ. Việc này có quan hệ hai phái Nga Mi và Võ Đang, nếu không tổn thương hòa khí hai phái thì thật hay.
Bối Cẩm Nghi thở dài nói:
– Cứ như võ công, nhân phẩm của vị Tống thiếu hiệp này cũng vào loại bậc nhất trong võ lâm, nhưng cũng chỉ vì si tình mà rơi vào nghiệp chướng. Dường như chưởng môn nhân có hẹn, đợi đến khi giết được Trương Vô Kỵ rồi, rửa được cái nhục bỏ ngày cưới mà đi thì sẽ thành hôn với y. Vì thế y cam tâm đầu nhập bản phái, để được chưởng môn dạy cho võ công kỳ diệu. Thiên chân vạn xác, hai người vẫn chưa thành thân. Hôm trước ngay giữa anh hùng đại hội, chưởng môn đột nhiên tự xưng mình Tống phu nhân, là vợ của Tống thiếu hiệp, mọi người trong bản phái đều thật ngạc nhiên. Hôm đó chưởng môn uy chấn quần hùng, nhiếp phục các môn phái…
Chu Điên liền chen vào:
– Đó là giáo chủ chúng ta cố ý nhường đấy thôi có gì mà khoe khoang.
Bối Cẩm Nghi không thèm để ý đến y, nói tiếp:
– Tuy đệ tử bản phái ai nấy hết sức cao hứng nhưng đến tối hôm đó, mọi người mới hỏi ba chữ Tống phu nhân đó là như thế nào mà ra. Chưởng môn nhân mới lộ cánh tay trái ra, thản nhiên nói: “Mọi người hãy nhìn đây”. Chúng tôi ai ai cũng thấy rõ, trên cánh tay điểm thủ cung sa vẫn đỏ chon chót như xưa, quả nhiên vẫn là một xử nữ giữ mình trong trắng. Chưởng môn nhân nói rằng: “Ta tự xưng Tống phu nhân,
chẳng qua chỉ là cái kế quyền nghi nhất thời, cốt để chọc tức tiểu tử Trương Vô Kỵ, khiến cho y tâm thần bất định, khi tỉ võ mới thừa cơ mà thắng được y. Tên tiểu tử đó võ công trác tuyệt, ta xem ra không sao bằng y được. Nếu so với anh danh của bản phái thì cái tiếng của ta nào có sá gì?”.
Mấy câu đó nàng ta nói oang oang, cố ý để mọi người chung quanh ai cũng nghe rõ, rồi tiếp:
– Nam nữ đệ tử bản phái, nếu không xuất gia tu đạo, vốn không cấm lấy vợ lấy chồng, có điều từ sáng phái Quách tổ sư cho tới nay, những võ công tối cao thâm thì chỉ truyền cho con gái đồng trinh giữ mình như ngọc. Mỗi nữ đệ tử khi bái sư, sư phụ đều điểm một chấm thủ cung sa trên cánh tay. Hàng năm vào ngày giỗ Quách tổ sư, tiên sư đều kiểm soát, năm đó Kỷ sư tỉ… vì chuyện đó…
Nàng ta nói tới đây ậm ậm ừ ừ không nói tiếp nữa. Bọn Ân Lê Đình ai cũng hiểu rằng Bối Cẩm Nghi muốn nói tới việc Kỷ Hiểu Phù bị thất thân với Dương Tiêu nên thủ cung sa biến mất mới bị Diệt Tuyệt sư thái phát giác. Ân Lê Đình cùng Dương Bất Hối thành hôn rồi, vợ chồng ái tình nồng thắm nhưng lúc này nghĩ đến chuyện Kỷ Hiểu Phù trong lòng không khỏi bồi hồi, nhịn không nổi đưa mắt liếc Dương Tiêu một cái, thấy ông ta mắt rưng rưng quay đầu sang chỗ khác.
Bối Cẩm Nghi nói tiếp:
– Ân lục hiệp, chưởng môn chúng tôi có ý muốn chọc tức Minh Giáo Trương giáo chủ, khéo thay vị Tống thiếu hiệp kia lại si mê chưởng môn theo đuổi không rời khiến xẩy ra bao nhiêu chuyện. Đợi đến khi nào Tống thiếu hiệp khỏi bệnh, xin Ân lục hiệp lựa lời bẩm lại với Trương chân nhân và Tống đại hiệp vài câu để cho quý phái và chúng tôi khỏi gây hiềm khích.
Ân Lê Đình gật đầu nói:
– Hẳn là như thế. Gã sư điệt của tôi phạm thượng phản nghịch, có chết cũng đáng,
quả là một điều xấu hổ cho tệ phái, tôi chỉ mong nó chết cho xong.
Ông vốn yếu lòng, nghĩ đến Tống Thanh Thư giết chết Mạc Thanh Cốc, càng nói về sau, thanh âm như nghẹn lại. Còn đang nói chuyện, bỗng nghe từ xa vẳng tới một tiếng thét lanh lảnh, dường như giọng
Chu Chỉ Nhược sợ hãi xem ra đang gặp chuyện gì hết sức nguy hiểm. Mọi người nghe thấy thế không khỏi nổi gai ốc, đang lúc trời trong mây tạnh, trước mặt sau lưng đầy người nhưng nghe tiếng kêu đó tưởng chừng ác quỷ xuất hiện không bằng. Mọi người không hẹn mà cùng quay sang nhìn về phía có tiếng kêu. Trương Vô Kỵ, Tĩnh Tuệ, Bối Cẩm Nghi cả bọn vội chạy về hướng đó.
Trương Vô Kỵ sợ Chu Chỉ Nhược gặp phải địch nhân nào ghê gớm nên ra sức thật nhanh, chỉ nhô lên hụp xuống mấy cái đã vượt qua được rừng cây, thấy một bóng xanh đang ra chạy chính là Chu Chỉ Nhược.
Chàng vội vàng chặn nàng lại hỏi:
– Chỉ Nhược, chuyện gì thế?
Chu Chỉ Nhược mặt hết sức kinh khiếp, kêu lên:
– Ma, ma, có ma đuổi muội!
Nàng nhảy vào ôm chặt lấy Trương Vô Kỵ nhưng người vẫn còn run bần bật. Trương Vô Kỵ thấy nàng sợ đến mất hết hồn vía, nhẹ nhàng vỗ vỗ lên vai, an ủi:
– Đừng sợ! Đừng sợ! Làm gì có ma. Muội nhìn thấy gì thế?
Chàng thấy áo nàng bị gai cứa rách tả tơi, trên mặt cũng có mấy đường xước rướm máu, một nửa tay áo bên trái bị rách, để hở cánh tay trắng như ngọc, trên da có một điểm đỏ chót như san hô, bóng như hồng ngọc, chính là dấu thủ cung sa của người xử nữ.
Trương Vô Kỵ tinh thông y dược biết rằng con gái điểm thủ cung sa rồi, nếu chưa thất thân hay lập gia thất thì sẽ suốt đời không phai. Lúc nãy chàng nghe Tĩnh Tuệ và Bối Cẩm Nghi nói vẫn còn bán tín bán nghi, bây giờ chính mắt trông thấy nên không còn ngờ gì nữa, nhất thời trong đầu qua lại bao nhiêu ý nghĩ: “Nàng bảo nàng lấy Tống Thanh Thư gì gì đó chỉ toàn là chuyện giả, thế nhưng tại sao nàng lại muốn đánh lừa ta? Sao nàng lại muốn chọc cho ta bực tức? Chẳng lẽ nàng
tham cái danh vị “đương thế võ công đệ nhất” thực hay sao? Hay là muốn thử xem mình đối với nàng như thế nào?”. Chàng lại nghĩ thêm: “Trương Vô Kỵ ơi là Trương Vô Kỵ, Chu cô nương là người đã giết biểu muội của ngươi, nàng còn
là con gái cũng thế, mà nàng có đi lấy người khác thì cũng thế, có còn liên hệ gì đến ngươi nữa đâu?”. Thế nhưng chàng thấy Chu Chỉ Nhược sợ đến khiếp vía, không nỡ đẩy nàng ra, tay trái ôm lấy nàng.
Chu Chỉ Nhược nằm gục trong lòng Trương Vô Kỵ, cảm thấy bộ ngực ấm áp rắn chắc của chàng, mũi ngửi thấy mùi đàn ông nồng nàn dần dần trấn tĩnh lại hỏi:
– Vô Kỵ ca ca, có phải chàng đấy chăng?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Chính ta đây. Muội cảm thấy thế nào? Có gì mà sợ đến như thế?
Chu Chỉ Nhược lại đột nhiên kinh hoảng, òa lên một tiếng, nước mắt trào ra, gục vào vai chàng khóc thút thít không ngừng. Lúc đó Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, Tĩnh Tuệ, Ân Lê Đình tất cả đã chạy đến, thấy cảnh tượng đó, người nọ đưa mắt nhìn người kia, ai nấy rón rén quay trở lại. Mọi người vẫn chưa quên được mối thù ngày nào với Triệu Mẫn, huống hồ Triệu Mẫn đã thề quay về Mông Cổ, nếu như Trương Vô Kỵ đi thèo nàng e rằng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến Minh giáo.
Chu Chỉ Nhược khóc một hồi đột nhiên nói:
– Vô Kỵ ca ca, có ai đuổi theo không?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Không có ai cả! Thế ai đuổi muội vậy? Có phải Huyền Minh nhị lão chăng? Hai người này võ công đã mất, không cần sợ bọn họ.
Chu Chỉ Nhược đáp:
– Không, không phải đâu! Chàng có nhìn rõ chưa, không có ai thật… không, không phải người… không có gì đuổi theo chứ?
Trương Vô Kỵ mỉm cười nói:
– Giữa thanh thiên bạch nhật không lẽ lại còn nhìn không rõ.
Giọng chàng trở nên dịu dàng:
– Chỉ Nhược, chắc mấy ngày liền muội sử lực quá độ nên mệt mỏi thành ra váng đầu hoa mắt nhìn lầm chứ gì?
Chu Chỉ Nhược đáp:
– Không phải đâu, nhất định không phải. Muội thấy nó ba lần, liên tiếp ba lần mà!
Giọng nàng run run dường như cơn khiếp sợ vẫn chưa hết hẳn. Trương Vô Kỵ hỏi:
– Muội ba lần thấy cái gì?
Chu Chỉ Nhược vịn vào vai chàng, lẩy bẩy đứng lên, quay lại nhìn khắp lượt. Nàng xem ra phải thu hết
can đảm nhìn xong vội quay lại ngay, nhìn Trương Vô Kỵ thấy sắc mặt chàng đầy vẻ quan hoài trìu mến, trong lòng chua xót, bao nhiêu sức lực trong người mất hết, lại khuỵu xuống nói:
– Vô Kỵ ca ca, muội… mọi việc… muội đều lừa dối chàng. Kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long chính muội lấy cắp… Ân… Ân… cô nương cũng do tay muội giết… Tạ đại hiệp chính tay muội điểm huyệt, muội… muội cũng chẳng lấy Tống Thanh Thư. Trong tim muội chỉ… trước sau lúc nào cũng chỉ có một hình bóng
chàng thôi.
Trương Vô Kỵ thở dài nói:
– Những việc đó ta đều biết cả rồi. Có điều… có điều sao nàng lại làm khổ nàng như thế?
Chu Chỉ Nhược khóc nói:
– Chàng chưa biết sư phụ muội ở trên tháp chùa Vạn An đã nói với muội những gì. Sư phụ nói cho muội nghe bí mật trong đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên, bắt muội phải thề lấy được đao kiếm này làm rạng rỡ cho phái Nga Mi. Sư phụ bắt muội phải thề độc giả vờ yêu chàng nhưng không được thực lòng…
Trương Vô Kỵ nhẹ nhàng vuốt ve cánh tay nàng, nghĩ đến năm xưa chính mắt trông thấy Diệt Tuyệt sư thái đánh chết Kỷ Hiểu Phù, rồi nghe bà ta trên sa mạc thề quyết tiêu diệt Minh Giáo, tay cầm kiếm Ỷ Thiên loạn sát giáo chúng trong Nhuệ Kim Kỳ, sau này nơi tháp chùa Vạn An thà chịu chết chứ không nhờ mình giúp đỡ mới thấy bà ta oán hận Minh Giáo biết chừng nào. Chu Chỉ Nhược kế thừa y bát, nhận di mệnh của sư phụ nên bao nhiêu hành vi tàn ác độc địa kia cũng đều do Diệt Tuyệt sư thái trối trăn cả.
Chàng vốn tính tình dễ tha thứ người khác, xưa nay không ghi nhớ hận thù, nghĩ lại năm xưa trên dòng Hán Thủy nàng đút cơm cho mình ăn, trên Quang Minh Đỉnh ác đấu với vợ chồng Hà Thái Xung và Hoa Sơn nhị lão, nếu không có nàng đứng bên chỉ điểm, sau tuân mệnh sư phụ đâm mình một kiếm, lại cố ý đâm lệch; trên tiểu đảo, hai người thề non hẹn biển, lời thề còn văng vẳng bên tai; nghĩ cho sâu xa, những hành vi giảo trá tàn ác của nàng cũng chỉ vì mối thâm tình với mình, lúc này nàng thật yếu đuối đáng thương, nằm gục trong lòng không khỏi ngậm ngùi, bèn dịu dàng nói:
– Chỉ Nhược, muội thấy cái gì mà lại sợ hãi đến vậy?
Chu Chỉ Nhược đứng bật dậy nói:
– Muội không nói. Cái hồn ma đó quấn quýt muội, bản thân muội làm nhiều điều tàn ác cho nên nó mới báo oán. Muội nói thật cho chàng hay… chắc muội… chắc muội không sống được bao lâu nữa đâu…
Nói xong nàng ôm mặt chạy vụt về phía núi. Trương Vô Kỵ chẳng hiểu đầu đuôi, nghĩ thầm: “Cái gì mà lại hồn ma báo oán, theo đuổi quấn quýt nàng? Không lẽ bang chúng Cái Bang trả thù, làm ma làm quỷ dọa nàng hay sao?”. Chàng lững thững đi theo thấy nàng chạy vào trong đám đệ tử phái Nga Mi, Bối Cẩm Nghi đem một chiếc áo khoác đắp lên cho nàng. Chu Chỉ Nhược nói nhỏ mấy câu gì đó, mọi người khom lưng nghe lệnh.
Khi đó trên núi Thiếu Thất quần hùng một số đông đang chuẩn bị về, Không Văn, Không Trí hai người
đang chào từ giã. Dương Tiêu, Phạm Dao cả bọn cũng đến tụ tập chung quanh Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ nói:
– Thôi mình cũng sắm sửa về đi thôi.
Chàng thấy Chu Chỉ Nhược đến trước mặt Không Văn nói nhỏ mấy câu gì đó, sắc mặt nhà sư đại biến, sững sờ một hồi, rồi cương quyết lắc đầu dường như không tin. Chu Chỉ Nhược lại nói mấy câu, đột nhiên quỳ xuống, chắp hai tay, lẩm bẩm nói gì đó. Không Văn thần sắc trang nghiêm, miệng tụng nam mô. Chu Điên nói:
– Giáo chủ, giáo chủ phải ngăn lại ngay mới được, không thì không xong.
Trương Vô Kỵ nói:
– Ngăn cái gì?
Chu Điên nói:
– Chu cô nương định xuất gia làm hòa thượng, cô ta… cô ta vào cửa không rồi thì thật hỏng hết.
Dương Tiêu cười khẩy nói:
– Nếu Chu cô nương muốn xuất gia thì chỉ có thể làm ni cô chứ sao lại làm hòa thượng được? Có lẽ nào lại bái nhà sư chùa Thiếu Lâm làm thầy?
Chu Điên lấy tay cốc lên đầu mìn một cái nói:
– Đúng lắm, đúng lắm! Ta quả là hồ đồ. Thế Chu cô nương cầu khẩn Không Văn đại sư cái gì thế này? Một người là chưởng môn phái Thiếu Lâm, một người là chưởng môn phái Nga Mi, việc gì phải quỳ?
Lại thấy Chu Chỉ Nhược đứng thẳng lên, trên mặt tỏ ra thoải mái hơn. Trương Vô Kỵ thở dài:
– Thôi chuyện của người khác, mình chẳng nên xen vào làm gì.Chàng quay lại nói:
– Mẫn muội, thôi mình cũng đi cho xong.
Ngờ đâu chàng nhìn quanh không thấy bóng dáng Triệu Mẫn đâu cả. Trong mấy hôm nay, Triệu Mẫn lúc nào cũng ở bên cạnh chàng như hình với bóng, Trương Vô Kỵ chột dạ, hỏi:
– Triệu cô nương đâu?
Trong bụng kêu thầm: “Hỏng rồi, chắc là lúc Chỉ Nhược nằm trong lòng ta, Mẫn muội trông thấy, tưởng mình chưa quên tình xưa nghĩa cũ nên bỏ ta mà đi chăng?”. Chàng vội vàng chen vào đám đông tìm kiếm. Chưởng kỳ sứ Liệt Hỏa Kỳ Tân Nhiên nói:
– Khải bẩm giáo chủ, thuộc hạ trông thấy Triệu cô nương xuống núi rồi.
Trương Vô Kỵ lòng đau như cắt: “Mẫn muội bỏ hết mọi thứ để theo ta, cùng nhau trải qua bao nhiêu hoạn nạn, ta phụ nàng sao đành”. Chàng bèn quay sang nói với Dương Tiêu:
– Dương huynh, việc ở đây nhờ ông thay mặt giải quyết, tôi phải đi trước một chút.
Chàng quay sang Không Văn, Không Trí cáo từ, rồi chào Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình mọi người, sau cùng nói với Chu Chỉ Nhược:
– Chỉ Nhược, muội cố bảo trọng, mình sẽ gặp lại sau.
Chu Chỉ Nhược cúi đầu không trả lời, chỉ nhè nhẹ gật đầu, từ khóe mắt mấy giọt lệ long lanh rơi xuống.
Trương Vô Kỵ thi triển khinh công chạy như bay xuống chân núi. Suốt mấy dặm đâu đâu cũng thấy anh hùng hào khách từ chùa Thiếu Lâm trên đường về, chàng không muốn chào hỏi ai, nên lẻn theo ngang hông họ mà chạy nhưng trước sau vẫn không thấy bòng dáng Triệu Mẫn đâu. Chàng chạy một mạch đến ba chục dặm, trời đã về chiều, người đi trên đường mỗi lúc một vắng, bỗng nghĩ ra: “Mẫn muội mưu kế sâu xa, nếu quả như nàng muốn tránh mặt ta hẳn không theo đường lớn mà đi. Nếu không cước trình ta nhanh như vậy hẳn đã phải gặp rồi. Không lẽ nàng trốn trong núi Thiếu Thất, đợi ta đi qua rồi mới đi ngược trở lại?”. Chàng bụng nóng như lửa đốt, chẳng quản đói khát, lại chạy trở vào trong các ngọn núi, thỉnh thoảng lại nhảy lên ngọn cây hay gò đống, nhìn dáo dác chung quanh. Trong núi tịch mịch chỉ thấy những đàn quạ bay về tổ.
Chàng vòng trở lại núi Thiếu Thất rồi vẫn không thấy bóng dáng Triệu Mẫn đâu bụng nhủ thầm: “Dù gì chăng nữa, ta đối với nàng cũng chẳng thay lòng đổi dạ, dẫu phải đến chân trời góc biển cũng phải tìm cho ra được nàng mới thôi. Cho dù không tìm thấy nàng, cả đời ta không cưới ai ngoài nàng, quyết
không thay lòng”. Bụng đã quyết như thế, lòng cũng thấy bình tĩnh lại, thấy nơi thung lũng phía đông bắc có hai cây hòe lớn đứng song song bèn nhảy lên ngọn cây, kiếm một cành đâm ngang, nằm xuống.
Chàng qua một ngày trải bao nhiêu chuyện, người mỏi mệt nên đặt mình chẳng mấy chốc đã thiu thiu ngủ.
Chàng ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe tiếng bước chân ai đó ở cách chừng vài mươi trượng nên lập tức tỉnh dậy. Khi đó vầng trăng đã ngả về hướng tây, dưới ánh sáng thấy một bóng người đang di hành trên sườn núi cực nhanh nhẹn chạy về hướng nam. Người đó dáng thon thả, thắt đáy lưng ong là một thiếu nữ thân hình mảnh dẻ.
Chàng mừng rỡ, đang toan mở miệng kêu lên “Mẫn muội” nhưng lập tức biết là mình nhìn lầm, người
con gái đó so với Triệu Mẫn hơi cao hơn một tí, thân pháp khinh công lại khác hẳn, bước chân nhẹ nhàng hơn Triệu Mẫn nhưng dáng phiêu hốt xem chừng chưa bằng Chu Chỉ Nhược.
Lòng hiếu kỳ của chàng nổi lên: “Cô gái này canh khuya dặm trường, không hiểu có chuyện gì thế?”. Chuyện này vốn dĩ chẳng liên quan gì đến chàng, cũng chẳng muốn đi rình mò chuyện con gái nhà người ta nhưng lúc này chàng toàn tâm toàn ý muốn tìm Triệu Mẫn, không khỏi hi vọng có thể từ cô gái này mà kiếm được Mẫn muội. Lại nghĩ: “Nếu như nàng ta không liên quan gì đến Mẫn muội thì ta cứ len lén bỏ
đi là xong, cũng chẳng có gì đáng ngại. Mình không nên bỏ lỡ bất cứ dịp nào”. Chàng tính thế bèn đánh đu vào cành cây nhẹ nhàng nhảy xuống.
Trương Vô Kỵ sợ bị thiếu nữ kia phát giác nên không dám đến gần, nghĩ thầm canh khuya mình lẻn đi theo một người con gái không quen biết, chẳng khỏi bị nghi là có tính khinh bạc, thấy cô ta mặc một bộ đồ đen, chính là đang đi đến phía chùa Thiếu Lâm. Chàng tự hỏi: “Nếu như nàng ta không có liên quan gì đến Mẫn muội thì cũng có chuyện gì với phái Thiếu Lâm. Nếu như cô ta có ý không tốt với nhà chùa thì việc này ta phải ra tay mới được”. Chàng dừng bước lắng nghe, bốn bề không thấy có ai, biết cô gái này không có ai tương trợ.
Đi được chừng thời gian ăn một bữa cơm, người con gái không hề ngoái cổ lại. Trương Vô Kỵ thấy sau lưng nàng có chiều quen thuộc, dường như trước đây đã từng nhìn qua nghĩ thầm: “Là Võ Thanh Anh cô nương chăng? Hay là một nữ đệ tử nào của phái Nga Mi?”. Đi thêm mấy dặm nữa, chùa Thiếu Lâm đã ở ngay trước mặt, thiếu nữ kia chuyển qua sườn núi đến bên hông chùa. Nàng đi chậm lại, lấp ló trốn sau những tàn cây, khe đá, hiển nhiên sợ người ta nhìn thấy.
Bỗng nghe từ đại điện trong chùa truyền ra mấy tiếng khánh, kế đến là tiếng tụng kinh bằng tiếng phạn của khoảng mấy trăm nhà sư. Trương Vô Kỵ lấy làm lạ: “Sao nửa đêm khuya khoắt các nhà sư lại tụng kinh, mà sao đông người đến thế, không lẽ có một đàn tràng nào thật lớn chăng?”.
Thiếu nữ kia càng di chuyển kỹ lưỡng hơn, tiến lên vài chục trượng đã đến bên đại điện. Bỗng nghe có bước chân nhẹ nhàng, thiếu nữ vội nằm phục xuống đám cỏ, kế đến có bốn nhà sư Thiếu Lâm tay cầm giới đao thiền trượng đi tuần đến. Cô gái đợi cho những nhà sư đi qua mới nhỏm dậy, nhảy một cái đã đến bên cửa sổ của đại điện. Cái nhảy đó thân hình nhẹ nhàng như bay, quả là khinh công của một cao thủ bậc nhất trong võ lâm.
Trương Vô Kỵ thấy cô ta không mang binh khí, chỉ có một thân một mình, xem ra không phải là người
đến sinh sự, muốn xem cho kỹ là người nào, mình có từng quen biết hay không nên khom người xuống rón rén đi qua phía sau lưng tới góc tây bắc của đại điện. Chàng tự biết lúc này hết sức khó ăn khó nói, ví thử những nhà sư Thiếu Lâm phát giác được, với địa vị thân phận như mình, đêm hôm đến chùa dòm dỏ nếu như không thông cảm thì thật là mất mặt cho nên càng thêm cẩn thận, từng bước đi từng hành động nhẹ nhàng như mèo vờn chuột.
Lúc đó trong đại điện tiếng tụng kinh lại nổi lên, chàng ghé mắt qua khe cửa nhìn vào, thấy trong đó có tới mấy trăm tăng nhân, từng hàng từng hàng ngồi trên bồ đoàn, ai nấy khoác hoàng bào, bên ngoài lại thêm đại hồng kim tuyến cà sa, có người tay cầm pháp khí, có người chắp tay cúi đầu tụng niệm, chính là một buổi lễ cầu cho vong hồn được siêu thăng tịnh độ. Chàng lúc ấy hiểu ra: “Kỳ anh hùng đại hội này có biết bao nhiêu người chết, khi quân Nguyên đánh lên, hai bên tử thương lại càng nhiều. Tăng lữ trong chùa ngày đêm cầu siêu cho người tử nạn, nguyện cho những người đó vãng sinh cực lạc”. Chàng thấy Không Văn đại sư đứng ngay trước nơi bàn thờ đích thân chủ tế, nhưng đứng phía bên phải lại là một thiếu nữ.
Trương Vô Kỵ vừa nhìn thấy, hơi lạ lùng. Người con gái đó chính là Chu Chỉ Nhược, tuy chỉ nhìn ngang nhưng thấy rõ thần sắc nàng bất định, đôi lông mày hơi nhíu lại, dường như có chiều lo lắng, nghĩ thầm: “Đúng rồi, ban ngày Chỉ Nhược quỳ trước mặt Không Văn đại sư, chính là cầu xin ông lập đàn tràng, có lẽ nàng sám hối những gì đã làm, dưới tay giết chết nhiều người vô tội”. Chàng nhìn kỹ trên bàn thấy ngay chính giữa là một bài vị trên viết bảy chữ “Nữ hiệp Ân Ly chi linh vị”.
Trương Vô Kỵ đau lòng, nghĩ đến biểu muội cuộc đời khổ sở, đối với mình thật một mối thâm tình, không khỏi bùi ngùi chảy nước mắt. Trong tiếng chuông tiếng mõ, Chu Chỉ Nhược sì sụp lạy, miệng mấp máy, cúi đầu khấn nguyện. Trương Vô Kỵ vận thần công tập trung tinh thần nghe ngóng dường như:
– Ân cô nương… ở trên trời linh thiêng, xin được an nghỉ… đừng hiện về phá tôi…
Chàng vịn vào tường trong đầu rộn lên bao ý nghĩ: “Biểu muội bị Chỉ Nhược ném
xuống biển chết đuối, cố nhiên tội nghiệp thật, thế nhưng trong lòng Chỉ Nhược nỗi ray rứt chắc gì đã ít hơn cô em họ của
mình”. Trong đầu chàng bỗng nhớ lại năm xưa trên Quang Minh Đỉnh nghe giáo chúng Minh Giáo hát mấy câu:
Khi sống có gì vui,
Thì chết có gì khổ?
Thương thay cho con người,
Lo buồn sao lắm vậy.
Thương thay cho con người,
Sao lo buồn lắm vậy.
Chu Chỉ Nhược từ từ đứng lên, hơi nghiêng người, quay đầu sang phía đông, đột nhiên mặt hoảng hốt:
– Ngươi… ngươi… ngươi… lại đến kìa.
Giọng nàng rú lên át hẳn tiếng chuông tiếng khánh trong điện. Trương Vô Kỵ theo hướng mắt nàng nhìn theo, thấy khung giấy dán trên cửa đã bị rách từ bao giờ, nơi vết thủng hiện lên một khuôn mặt con gái, mặt đầy vết sẹo ngang dọc khiến chàng run bần bật, nhịn không nổi phải kêu lên một tiếng.
Thiếu nữ đó trên mặt loang lổ, tuy không còn nổi u từng cục như xưa nhưng rõ ràng chính là người đã chết Ân Ly. Chàng toan tiến lên gọi nhưng chân như dính xuống đất, người chết sững không cách nào cử động được. Chỉ thấy khuôn mặt đó biến ngay mất, trong điện nghe bình một tiếng, Chu Chỉ Nhược đã ngã lăn ra.
Trương Vô Kỵ lúc đó không muốn để cho phái Thiếu Lâm hiềm nghi, lớn tiếng kêu lên:
– Thù Nhi! Thù Nhi! Muội đấy ư?
Thế nhưng không nghe tiếng trả lời. Chàng hơi định thần, phi thân theo đường cũ đuổi theo, chỉ thấy trăng lạnh treo lơ lửng, những cây là cây, người con gái áo đen kia không biết đi nơi nào. Chàng vốn không tin ma quỷ nhưng gặp phải cảnh thế này không khỏi toát mồ hôi lạnh, người nổi da gà, đứng lại lẩm bẩm:
– Đúng nàng rồi! Đúng nàng rồi! Thảo nào sau lưng thấy quen quá, hóa ra là Thù Nhi. Chắc hồn nàng biết được cao tăng Thiếu Lâm tụng kinh siêu độ cho mình nên mới đến nghe kinh chăng? Hay là nàng chết oan chết uổng nên hồn không tan đi được?
Những nhà sư Thiếu Lâm nghe tiếng động đã có mấy người chạy ra xem chuyện gì, thấy Trương Vô Kỵ không khỏi ngạc nhiên. Một tăng nhân lớn tuổi tiến lên hành lễ nói:
– Không biết Trương giáo chủ đêm khuya giáng lâm nên chưa kịp ra đón, xin thứ tội cho.
Trương Vô Kỵ cũng chắp tay chào nói:
– Không dám.
Chàng tiến vào trong điện, thấy Chu Chỉ Nhược hai mắt nhắm nghiền, mặt xanh mét không còn chút máu vẫn chưa tỉnh lại. Chàng lại gần, dùng sức day nhân trung nàng mấy cái lại xoa bóp ở sau lưng.
Chu Chỉ Nhược từ từ tỉnh lại, vừa trông thấy Trương Vô Kỵ liền sà ngay vào lòng ôm chặt lấy chàng, kêu lên:
– Có ma! Có ma!
Trương Vô Kỵ đáp:
– Việc này quả cũng lạ thật, muội đừng sợ. Chung quanh đây có rất nhiều cao tăng, thể nào cũng giải được mối oan nghiệt này.
Chu Chỉ Nhược trước nay đoan trang ổn trọng, lúc này vì quá sợ nên trước mặt mọi người mà vẫn cứ níu chặt lấy chàng, nghe nói thế mặt đỏ lên vội vàng buông Trương Vô Kỵ ra, đứng lên nhưng người vẫn còn run rẩy không thôi, nắm chặt tay chàng không chịu rời.
Trương Vô Kỵ tiến lại chào Không Văn, kể lại chuyện có kẻ ở bên ngoài coi trộm. Không Văn và quần tăng tuy không ai thấy nhưng vết rách trên giấy dán cửa sổ vẫn còn đó. Chu Chỉ Nhược nói:
– Vô Kỵ ca… Trương giáo chủ, tôi thấy rồi, đúng là cô ta.
Trương Vô Kỵ gật đầu, Chu Chỉ Nhược run rẩy hỏi:
– Thế chàng… chàng… thấy ai?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Thấy Ân cô nương, cô biểu muội ta Ân Ly.
Chu Chỉ Nhược kêu khẽ lên một tiếng, lại ngất đi. Lần này Trương Vô Kỵ đang nắm tay nàng nên Chu Chỉ Nhược không ngã, thành thử vừa xỉu là tỉnh lại ngay. Trương Vô Kỵ nói:
– Tôi trông thấy biểu muội, nhưng cô ta là… người chứ không phải là ma.
Chu Chỉ Nhược run run hỏi:
– Cô ta không phải ma sao?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Tôi theo cô ta tới chùa Thiếu Lâm, thấy cô ta đi đứng bình thường, nhất định không thể là ma được.
Mấy câu đó chẳng qua chỉ để an ủi Chu Chỉ Nhược chứ trong bụng chàng, Trương Vô Kỵ cũng không dám chắc. Chu Chỉ Nhược hỏi thêm:
– Có thực chàng thấy cô ta đi đứng bình thường, không phải là ma chứ?
Trương Vô Kỵ nhớ lại quãng đường đuổi theo thiếu nữ áo đen kia đến đây, lại thấy nàng náu mình sau cửa sổ nhìn vào, nhất cử nhất động đều đúng là một cô nương biết võ công, không có gì khác lạ bèn quay sang hỏi Không Văn đại sư:
– Phương trượng, tại hạ có một điều không rõ, mong được thỉnh giáo. Người chết đi rồi, có thật còn hồn ma hay chăng?
Không Văn trầm ngâm một hồi nói:
– Chuyện cõi u minh, quả thực khó nói.
Trương Vô Kỵ hỏi tiếp:
– Thế thì vì cớ gì phương trượng lại thành kính tụng niệm để siêu độ cho các u hồn?
Không Văn nói:
– Thiện tai! Thiện tai! U hồn không thể siêu độ được, người chết đi rồi nhưng nghiệp vẫn còn, thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo. Nhà Phật lập đàn tràng tụng niệm là để cho người sống được an tâm, siêu độ là để người còn sống được siêu độ.
Trương Vô Kỵ bấy giờ mới hiểu, chắp tay nói:
– Đa tạ phương trượng chỉ điểm. Tại hạ canh khuya đến làm rộn, quả thật không an, mong đại sư thứ tội cho.
Không Văn mỉm cười:
– Giáo chủ là đại ân nhân của tệ phái, mấy lần ra tay cứu giúp phái Thiếu Lâm khỏi tai nạn, sao còn khách sáo thế.
Trương Vô Kỵ liền cùng các nhà sư cáo từ rồi quay sang nói với Chu Chỉ Nhược:
– Thôi mình đi chứ.
Chu Chỉ Nhược hơi có vẻ ngần ngừ không dám ra khỏi Phật điện. Trương Vô Kỵ không tiện ép uổng, chắp tay nói:
– Nếu như thế thì mình từ biệt nơi đây.
Nói xong chàng xoay mình đi ra cửa điện. Chu Chỉ Nhược nhìn sau lưng chàng, đột nhiên gọi:
– Vô Kỵ ca ca, chàng có còn gặp muội nữa không? Để muội… muội đi với chàng vậy.
Nàng chạy đến bên chàng, hai người sánh vai đi ra khỏi chùa Thiếu Lâm một quãng xa, Chu Chỉ Nhược liền nép mình vào Trương Vô Kỵ cầm tay chàng. Trương Vô Kỵ biết nàng vẫn còn sợ, cũng nắm chặt bàn tay mềm mại, ngửi thấy bên mình mùi thơm ngây ngất, trong lòng bỗng thấy phiêu phiêu.
Hai người yên lặng một lúc lâu, bỗng nhiên Chu Chỉ Nhược thở dài một tiếng nói:
– Vô Kỵ ca ca, ngày nào hai đứa mình lần đầu gặp nhau nơi sông Hán Thủy, muội được Trương chân nhân cứu thoát, nếu biết sau này phải chịu biết bao nhiêu khổ sở thì giá như chết ngay lúc đó, có phải thoải mái hơn không.
Trương Vô Kỵ không trả lời, nghĩ đến câu hát của giáo đồ Minh Giáo, buột miệng ngâm nga:
Sinh diệc hà hoan?
Tử diệc hà khổ?
Lân ngã thế nhân,
Ưu hoạn thực đa.
(Khi sống có gì vui,
Thì chết có gì khổ?
Thương thay cho con người,
Sao lo buồn lắm vậy)
Chu Chỉ Nhược nghe khúc ca chàng đọc, bàn tay nắm lấy chàng hơi run run. Nàng hạ giọng nói nhỏ:
– Trương chân nhân đưa muội lên núi Nga Mi là để cho muội được sung sướng, thế nhưng nếu như lão nhân gia giữ muội ở lại núi Võ Đang, cho muội gia nhập môn hạ phái Võ Đang thì mọi sự hôm nay đã khác hẳn. Ôi! Ân sư đối với muội có gì không tốt đâu? Có điều… có điều sư phụ bắt muội phải lập độc thệ, ép muội phải hận thù Minh giáo, ép muội phải hận chàng, hại chàng, nhưng trong lòng muội… quả thực…
Trương Vô Kỵ nghe nàng nói thật chân thành, lòng hơi cảm động, biết nàng có nhiều điều khó khăn, bao nhiêu những chuyện tàn độc đều do tuân hành di mệnh Diệt Tuyệt sư thái mà làm, nay thấy nàng sợ hãi đến độ lại càng thương xót hơn.
Trên con đường gió núi vù vù, từng chập thổi tới hương thơm các loài hoa cỏ, lúc này đang cuối thu, đêm thanh vắng sương mát mẻ, tai nghe một thiếu nữ xinh tươi thổ lộ tâm tình, Trương Vô Kỵ không khỏi bồi hồi man mác. Huống chi ở nơi hoang đảo khi chàng giúp nàng đẩy chất độc ra ngoài, hai người đã từng đụng chạm xác thịt, trước kia nàng lại có ơn với mình, cùng nàng ước định hôn nhân làm sao chàng không khỏi đê mê.
Chu Chỉ Nhược nói:
– Vô Kỵ ca ca, hôm đó ở Hào Châu chàng đang cùng thiếp bái đường thành thân, sao Triệu cô nương vừa tới gọi, chàng đã chạy theo cô ta là sao? Trong lòng chàng yêu cô ta đến thế ư?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Ta đang muốn giãi bày chuyện đó với muội đây, mình ngồi xuống
nói chuyện nhé. Nói rồi chàng chỉ một tảng đá lớn bên vệ đường. Chu Chỉ Nhược đáp:
– Không đâu, trong lúc này lòng thiếp đang rối như tơ vò, không nghe vào tai được, đi thêm một lát cho lòng thiếp lắng xuống rồi hãy nói.
Trương Vô Kỵ gật đầu, đưa tay nắm tay nàng, thủng thẳng bước đi. Chu Chỉ Nhược cầm tay chàng vào một con đường mòn, đi đến bốn năm dặm rồi mới nói:
– Được rồi, chàng nói cho thiếp nghe đi.
Nàng đi đến một khối sơn thạch, trước một bụi cây rậm rạp hai người sánh vai ngồi xuống. Trương Vô Kỵ mới đem việc Triệu Mẫn nắm trong tay một nắm tóc vàng của Tạ Tốn khiến chàng không thể nào không chạy theo kể lại đầu đuôi. Chu Chỉ Nhược nghe xong ngồi thừ ra hồi lâu không nói năng gì. Trương Vô Kỵ nói:
– Chỉ Nhược, nàng có trách ta không?
Chu Chỉ Nhược nghẹn ngào đáp:
– Thiếp làm biết bao nhiêu chuyện sai lầm, chỉ trách mình thôi, lẽ nào lại trách chàng? Có điều, Vô Kỵ ca ca, trong lòng thiếp vẫn một lòng một dạ chân tình đối với huynh.
Trương Vô Kỵ vỗ nhè nhẹ lên vai nàng, dịu dàng nói:
– Trên đời này mọi chuyện đưa đẩy tới làm sao liệu trước được, nàng cũng đừng quá đau lòng.
Chu Chỉ Nhược ngẩng mặt lên nói:
– Vô Kỵ ca ca, thiếp có một câu hỏi, chàng phải thật lòng trả lời, không được che đậy chút nào.
Trương Vô Kỵ nói:
– Được, ta sẽ không dấu gì nàng.
Chu Chỉ Nhược nói:
– Thiếp biết được trên đời này có bốn người con gái thực lòng yêu chàng. Một người là Tiểu Chiêu nay đã đi qua Ba Tư, một người là Triệu cô nương, còn một người là… là… cô ta…
Nàng định nói Ân cô nương nhưng không dám nói ra lời, ngừng lại một chút rồi tiếp:
– Nếu như cả bốn người con gái, tất cả đều còn sống lại ở ngay bên cạnh chàng, thì trong lòng chàng thực sự yêu thương là ai?
Trương Vô Kỵ trong lòng mê loạn, ấp úng:
– Cái đó… ồ… cái đó…
Hôm xưa, Trương Vô Kỵ cùng Chu Chỉ Nhược, Triệu Mẫn, Ân Ly, Tiểu Chiêu bốn người cùng trên một con thuyền lênh đênh trên biển chàng đã từng nghĩ ngợi nhiều lần: “Cả bốn nàng này ai đối với ta cũng tình sâu nghĩa nặng, ta phải đối xử thế nào cho phải đây? Dù ta thành hôn với bất cứ người nào thì cũng làm cho ba người còn lại hết sức đau thương. Ở sâu thẳm trong lòng ta, người nào là người ta yêu nhất?”.
Chàng cho đến nay vẫn bàng hoàng không sao quyết định được thành thử cố tránh né không nghĩ tới, khi thì nghĩ rằng: “Thát tử chưa đuổi được, giang sơn chưa khôi phục, Hung Nô chưa diệt thì đâu màng tới chuyện gia đình. Làm trai lẽ nào chỉ vấn vương những chuyện thường tình nhi nữ”.
Cũng có khi chàng nghĩ: “Ta thân làm giáo chủ Minh Giáo, một lời nói một cử động đều có quan hệ đến hưng suy của bản giáo và đồng đạo võ lâm. Ta tự nhủ sẽ không
làm điều gì sằng bậy hại đến phẩm giá, lẽ
nào rơi vào vòng nữ sắc để anh hùng thiên hạ sỉ tiếu, làm hại thanh danh của bản giáo hay sao?”.
Có lúc thì chàng lại nghĩ: “Mẹ ta lúc lâm chung đã từng căn dặn ta rằng, con gái xinh đẹp rất giỏi lừa dối người, bảo ta trên đời phải hết sức đề phòng, di ngôn của má má lẽ nào lại bỏ ngoài tai?”.
Thực ra chàng đã nhiều lần biện giải, chẳng qua là để tự dối mình đấy thôi, chứ nếu quả thực chuyên tâm yêu một người con gái thì có gì là hại đến việc quang phục đại nghiệp, cũng có gì mà hại đến thanh danh Minh Giáo. Nói đúng ra chàng thấy cô này cũng tốt, cô kia cũng tốt, thành ra không dám nghĩ ngợi nhiều. Vô Kỵ võ công cao siêu thật nhưng tính tình có chiều hơi nhu nhược, thiếu quyết đoán, việc gì đến cũng để thuận theo tự nhiên, nếu như không được thì cũng không dám làm nghịch ý người khác, thà chịu bỏ mình mà theo người. Tập Càn Khôn Đại Na Di tâm pháp cũng là do Tiểu Chiêu yêu cầu; làm giáo chủ Minh Giáo cũng do tình thế bức bách, rồi cũng do Ân Thiên Chính, Dương Tiêu khơi dậy cảm tình,
đính hôn với Chu Chỉ Nhược là do lệnh của Tạ Tốn; còn không bái đường thành thân với Chu Chỉ Nhược thì lại do lo lắng đến tính mạng của nghĩa phụ và cũng bị Triệu Mẫn ép buộc.
Năm xưa giá như Kim Hoa bà bà và Ân Ly không hiếp đáp, dùng võ lực cưỡng bách, chỉ dịu ngọt bảo chàng theo ra đảo Linh Xà, chắc hẳn cũng đi theo.
Cũng có khi sâu kín trong nội tâm chàng cũng nghĩ đến: “Giá như ta được cùng với cả bốn nàng sống chung, tất cả hòa thuận thì thật sung sướng biết là bao”. Thời đó là cuối đời Nguyên, dẫu nho sĩ, thương gia hay giang hồ hào khách, việc năm thê bảy thiếp là chuyện thường tình, người một vợ một chồng mới là khó kiếm. Có điều Minh giáo phát xuất từ Ba Tư, giáo chúng xưa nay tiết kiệm khắc khổ, ngoài vợ chính ra ít ai có nàng hầu vợ lẽ.
Trương Vô Kỵ tính tình vốn khiêm hòa, biết rằng trong bốn người lấy được ai thì cũng đã là có phúc lắm rồi, nếu như còn thêm cơ thiếp thì quả là không phải, lại
thấy phụ thân của Ân Ly vì nhiều thê thiếp mà thành thảm kịch gia đình, bởi vậy cái ý nghĩ lấy được cả bốn cô chỉ thoảng qua rồi biến đi, chưa bao giờ dám nghĩ ngợi lâu, nếu có đôi khi chợt đến liền tự trách mình: “Làm người phải biết thế nào là đủ, nếu như ta còn cái ý đó chẳng hóa ra hèn hạ thấp kém lắm hay sao?”.
Đến sau Tiểu Chiêu đi Ba Tư, Ân Ly từ trần, lại nghĩ biểu muội do Triệu Mẫn giết hại, bốn người không còn ai khác ngoài Chu Chỉ Nhược. Ngờ đâu việc lại không đúng như thế, sinh ra việc nọ chuyện kia, dần dà chân tướng lộ ra, hai nàng Triệu Chu ai thiện ai ác lúc thế này lúc thế khác, lại thấy cũng may mình chưa thành hôn với Chu Chỉ Nhược để thành lầm lỡ, còn Triệu Mẫn công nhiên chống lại cha anh, chẳng
còn gì phải khó nghĩ nữa. Ngờ đâu Triệu Mẫn không từ biệt mà ra đi, nay Chu Chỉ Nhược lại đặt câu hỏi như thế này.
Chu Chỉ Nhược thấy chàng trầm ngâm không đáp, nói:
– Thiếp hỏi chàng chẳng qua chỉ là câu chuyện mộng huyễn. Tiểu Chiêu nay đã là xử nữ giáo chủ của Minh Giáo Ba Tư, còn thiếp… thiếp lại sát hại Ân cô nương. Trong bốn người nay chỉ còn một mình cô nương họ Triệu. Thiếp hỏi chàng nếu như cả bốn người đều bình yên vô sự ở bên cạnh, ai cũng chưa làm chuyện gì xấu thì chàng tính sao?
Trương Vô Kỵ nói:
– Chỉ Nhược, việc này ta đã nghĩ ngợi nhiều lắm rồi, dường như không thể nào quyết định được, nhưng đến hôm nay thì ta biết người ai thực lòng yêu hơn cả là ai rồi.
Chu Chỉ Nhược hỏi dồn:
– Ai thế? Có… có phải là Triệu cô nương không?
Trương Vô Kỵ đáp:
– Quả là như thế. Hôm nay ta tìm nàng không ra, thật chỉ mong chết quách cho xong. Nếu như từ nay không còn gặp lại nàng thì chắc ta cũng chẳng sống được bao lâu nữa. Tiểu Chiêu xa ta mà đi, lòng ta biết bao đau khổ. Biểu muội từ trần ta cũng thật xót xa, muội… muội rồi ra như thế, ta lòng càng chua chát lại thêm tiếc nuối dày vò. Nếu không được gặp lại muội, ta vạn lần luyến tiếc. Thế nhưng, Chỉ Nhược, ta cũng chẳng dối muội làm gì, nếu đời này ta không còn gặp lại Triệu cô nương, thì thà ta chết còn hơn. Cái tâm ý đó trước nay ta chưa từng có với ai bao giờ.
Chàng đối với Ân Ly, Chu Chỉ Nhược, Tiểu Chiêu, Triệu Mẫn bốn người vẫn tưởng
không ai hơn kém, nhưng hôm nay khi Triệu Mẫn bỏ đi chàng mới hiểu được rằng, chính nàng là người trong lòng chàng coi
nặng hơn cả, so với ba nàng kia có khác hơn.
Chu Chỉ Nhược nghe chàng nói như thế, u uất nói:
– Hôm đó ở Đại Đô, thiếp thấy chàng đến quán rượu gặp cô ta đã biết ngay trong tim chàng ai là người sâu nặng hơn cả. Có điều thiếp vẫn si tâm vọng tưởng, nếu như cùng chàng… nếu như cùng chàng thành thân rồi, sẽ… sẽ khiến chàng hồi tâm chuyển ý, ai ngờ… ai ngờ… lại cũng chẳng đến đâu.
Trương Vô Kỵ buồn rầu:
– Chỉ Nhược, ta đối với muội trước sau một niềm kính trọng, trong lòng luôn cảm kích, đối với biểu muội Ân gia thật là đáng thương cho cảnh ngộ nàng, đồng cảm với cái si tình của nàng, đối với Tiểu Chiêu tội nghiệp thương xót, yêu quý không cầm lòng được, còn như với Triệu cô nương thì… thì trong lòng… trong lòng quả là khắc cốt minh tâm, hết bụng yêu thương.
Chu Chỉ Nhược lẩm bẩm nhắc lại:
– Khắc cốt minh tâm hết bụng yêu thương, khắc cốt minh tâm hết bụng yêu thương.
Nàng ngừng lại một hồi rồi nói nhỏ:
– Vô Kỵ ca ca… thiếp đối với chàng cũng hết bụng thương yêu khắc cốt minh tâm, chàng có biết nỗi niềm đó hay chăng?
Trương Vô Kỵ hết sức cảm động, nắm chặt tay nàng dịu dàng nói:
– Chỉ Nhược, sao ta lại không biết? Tấm lòng của muội đối với ta, đời này kiếp này ta chẳng biết làm sao báo đáp. Ta… ta thật có lỗi với muội.
Chu Chỉ Nhược nói:
– Chàng chẳng có lỗi gì với thiếp cả, chàng lúc nào cũng thật tốt đối với thiếp, chẳng lẽ thiếp không biết hay sao? Thiếp hỏi chàng: Nếu như Triệu cô nương phen này không từ biệt ra đi, chàng vĩnh viễn không bao giờ gặp lại, ví như nàng bị kẻ gian giết chết rồi, ví như nàng thay lòng đổi dạ, chàng… chàng sẽ ra sao?
Trương Vô Kỵ trong lòng đau khổ đã lâu nay nghe nói như thế, không còn nhịn nổi nước mắt ứa ra, nghẹn ngào nói:
– Ta… ta cũng không biết nữa. Nói cho cùng, trên trời dưới đất, ta thể nào cũng phải tìm nàng cho bằng được mới thôi. Không tìm được nàng, ta phải đi chết!
Chu Chỉ Nhược thở dài nói:
– Nàng ta chẳng thay lòng đổi dạ đâu, chàng muốn kiếm Triệu cô nương cũng chẳng khó gì.
Trương Vô Kỵ vừa kinh hoàng vừa sung sướng, đứng phắt dậy hỏi:
– Nàng đang ở đâu? Chỉ Nhược, mau nói cho ta nghe.
Đôi mắt trong sáng của Chu Chỉ Nhược nhìn thẳng vào mặt Trương Vô Kỵ, thấy chàng vui mừng như muốn phát điên, thủng thẳng nói:
– Chàng đối với thiếp chưa từng bao giờ quan tâm đến thế. Nếu chàng muốn biết Triệu cô nương nay ở đâu thì phải bằng lòng làm cho thiếp một điều, nếu không mãi mãi chàng sẽ không gặp lại cô ta đâu.
Trương Vô Kỵ nói:
– Muội muốn ta làm cho muội điều gì?
Chu Chỉ Nhược đáp:
– Việc đó bây giờ thiếp chưa nghĩ ra, mai sau bao giờ nghĩ được thì sẽ nói cho chàng hay. Nói chung việc đó không vi phạm đạo hiệp nghĩa, cũng không ngăn trở đại nghiệp quang phục đất nước, cũng không làm tổn thương đến thanh danh Minh giáo hay bản thân chàng nhưng ắt là không phải dễ dàng đâu.
Trương Vô Kỵ ngẩn ngơ, nghĩ thầm: “Trước đây Mẫn muội bảo ta làm ba việc, cũng nói là không vi phạm đạo hiệp nghĩa, tính cho đến nay nàng chỉ mới nói ta làm hai điều. Hai việc đó quả thật không phải dễ, sao bây giờ Chỉ Nhược cũng lại học cái trò đó với ta?”.
Chu Chỉ Nhược nói:
– Chàng bằng lòng hay không cũng ở chàng. Có điều đại trượng phu nói ra phải giữ lời, đã bằng lòng rồi thì khi việc đến không thể lần khân được đâu.
Trương Vô Kỵ trầm ngâm nói:
– Muội nói việc đó không vi phạm đạo hiệp nghĩa, cũng không ngăn trở việc quang phục, không tổn thương thanh danh Minh giáo và bản thân ta, phải không?
Chu Chỉ Nhược nói:
– Đúng thế.
Trương Vô Kỵ đáp:
– Vậy thì được, nếu quả không vi phạm đạo hiệp nghĩa, không làm hỏng đại nghiệp quang phục, ta bằng lòng làm cho muội.
Chu Chỉ Nhược nói:
– Vậy thì mình vỗ tay lập lời thề.
Nàng đưa tay ra cho chàng đập vào. Trương Vô Kỵ biết rằng một khi mình đã đập tay xuống lập lời thề rồi thì trên vai mình lại mang thêm một cái gông hết sức nặng nề, nàng con gái họ Chu này bề ngoài hiền thục nho nhã nhưng bụng dạ mưu mô, hành sự sắc sảo thật ngang ngửa với Triệu Mẫn, nên đưa tay lên mà vẫn lừng chừng không dám đánh xuống.
Chu Chỉ Nhược mỉm cười nói:
– Chàng chỉ nhận lời thiếp làm một chuyện là trong khoảnh khắc sẽ gặp lại người trong mộng ngay.
Trương Vô Kỵ lòng rộn ràng, không còn nghĩ ngợi gì thêm nữa, giơ tay đánh xuống ba lần. Chu Chỉ Nhược mủm mỉm:
– Chàng xem ai đây?
Nàng đưa tay vạch bụi cây phía sau, thấy đằng sau đám lá một người ngồi đó, mặt như cười mà không ra cười, chẳng là Triệu Mẫn thì còn ai?
Trương Vô Kỵ vừa mừng vừa sợ kêu lên:
– Mẫn muội!
Đột nhiên từ mấy trượng ở đằng xa, có tiếng con gái “Ồ” lên một tiếng, dường như đột nhiên thấy Triệu Mẫn xuất hiện không khỏi ngạc nhiên kêu thất thanh. Tiếng kêu đó tuy thật nhỏ nhưng Trương Vô Kỵ đã nghe thấy rõ ràng.
Chàng còn đang sững sờ, trong đầu xoay chuyển biết bao nhiêu ý nghĩ, chầm chậm đưa tay ra nắm lấy tay Triệu Mẫn, hai bàn tay chạm nhau thấy tay nàng dường như cứng đơ lập tức hiểu ra, hẳn là sáng này không từ biệt mà bỏ đi chạy kiếm đâu cũng không thấy, hóa ra đã bị Chu Chỉ Nhược bắt giữ rồi, điểm huyệt nàng dấu ở nơi đây. Chu Chỉ Nhược cố ý đưa chàng đến tận đây mới ngồi nói chuyện, cốt để Triệu Mẫn nghe rõ từng câu. Nếu như chàng vì không muốn Chu Chỉ Nhược phải đau lòng nên xuôi theo cho nàng vui, nói rằng đối với nàng tình ý nồng thắm, hay cùng nàng ôm ấp một phen thì đã rơi vào kế của cô ta, khiến cho Triệu Mẫn không thể không bỏ đi. Chàng nghĩ đến lúc này mà Chu Chỉ Nhược vẫn còn dùng xảo trá, không khỏi thầm kêu: “Thật hú vía”, mồ hôi lạnh trên lưng chảy ra đầm đìa, tiện tay bắt mạch cho Triệu Mẫn thấy khí huyết vận hành như thường, không có triệu chứng gì là bị thương.
Dưới ánh trăng suông thấy nàng đầu mày cuối mắt tràn đầy vẻ tươi cười, quả thật kiều mị khả ái không để đâu cho xiết, hẳn là những gì chàng đối đáp với Chu Chỉ Nhược nàng đều nghe cả. Nàng tuy không cử động được, miệng không nói được nhưng nghe chàng thổ lộ tâm sự ở sau lưng mình, đối với nàng một lòng khắc cốt minh tâm thương yêu, tình ý nồng nàn trong lòng không khỏi bừng lên rạng rỡ.
Chu Chỉ Nhược cúi xuống ghé tai nói nhỏ mấy câu với Trương Vô Kỵ, Trương Vô Kỵ cũng thì thầm đáp lại mấy câu. Chu Chỉ Nhược nổi giận quát lớn:
– Trương Vô Kỵ, ngươi không coi ta vào đâu, thử xem lại coi nào? Triệu cô nương trúng độc như thế này liệu có sống nổi hay không?
Trương Vô Kỵ kinh hoảng lắp bắp:
– Nàng… nàng trúng độc sao? Cô hạ độc đấy ư?
Chàng cúi xuống xem xét, vạch mắt bên trái Triệu Mẫn ra coi bỗng thấy sau lưng tê đi, đã bị điểm trúng huyệt đạo. Trương Vô Kỵ kêu lên “Ối chao” một tiếng, thân hình lảo đảo. Chu Chỉ Nhược ra tay nhanh
như gió, ngón tay thon vận kình điểm luôn trên vai, bên hông, sau lưng năm nơi đại huyệt.
Trương Vô Kỵ ngã ngửa, chỉ thấy ánh sáng xanh lóe lên, Chu Chỉ Nhược đã rút phắt trường kiếm đưa vào ngực chàng, quát lên:
– Đã làm thì làm cho trót, hôm nay lấy mạng ngươi cho xong. Nếu không hồn ma Ân Ly cứ quấn quý theo ta, xem ra ta cũng không còn sống được nữa, tất cả cùng chết với nhau một lượt.
Nàng nói xong giơ kiếm lên toan đâm thẳng vào ngực Trương Vô Kỵ.
Bỗng nghe từ đằng sau có tiếng một thiếu nữ kêu lên:
– Khoan đã! Chu Chỉ Nhược, Ân Ly đã chết đâu.
Chu Chỉ Nhược quay đầu lại thấy một thiếu nữ áo đen từ trong đám cỏ chạy vụt ra, vung tay điểm tới. Chu Chỉ Nhược nghiêng qua tránh được, người con gái đó quay đầu lại, dưới ánh trăng xiên xiên, thấy nàng mặt mày hết sức xinh xắn mặc dầu có mờ mờ mấy vết sẹo dài. Trương Vô Kỵ nhìn rõ, người đó chính là biểu muội Ân Ly, những cục sưng trên mặt đã mất hết, tuy những vạch ngang vạch dọc vẫn còn nhưng không dấu được vẻ xinh tươi, chẳng khác gì cô bé con tú lệ đi theo Kim Hoa bà bà đến Hồ Điệp Cốc ngày nào.
Chu Chỉ Nhược lùi lại hai bước, tay trái che lên ngực, mũi kiếm trong tay vẫn chỉ vào Trương Vô Kỵ, quát lên:
– Ngươi còn tiến lên một bước nữa, ta sẽ một kiếm đâm y chết trước.
Ân Ly không dám cử động vội nói:
– Ngươi… ngươi làm bấy nhiêu chuyện ác chưa đủ hay sao?
Chu Chỉ Nhược hỏi lại:
– Thế ngươi là người hay là ma?
Ân Ly đáp:
– Dĩ nhiên ta là người.
Trương Vô Kỵ đột nhiên kêu lên:
– Thù Nhi!
Chàng nhảy vọt lên, ôm chặt lấy Ân Ly, lắp bắp:
– Thù Nhi, muội… muội… nhớ ta lắm phải không?
Biến cố đó xuất kỳ bất ý khiến Ân Ly sợ hãi đến kêu thét lên, bị Trương Vô Kỵ ôm chặt trong vòng tay không sao cử động được. Nguyên lai lúc trước Chu Chỉ Nhược điểm huyệt chàng chỉ là làm bộ. Chu Chỉ Nhược cười hì hì nói:
– Nếu không làm thế, cô đâu có chịu chui ra.
Nàng quay lại giải khai huyệt đạo cho Triệu Mẫn, giúp nàng xoa bóp gân cốt cho máu chảy đều. Triệu Mẫn bị nàng bỏ nơi đây đã hơn nửa ngày, trong lòng hết sức tức giận, nhưng cũng may được nghe Trương Vô Kỵ thổ lộ tâm tình nên đổi giận làm vui. Có điều đột nhiên có thêm một nàng Ân Ly nên lại cũng thêm biết bao nhiêu mối khúc mắc, hận cũ chưa qua, sầu mới đã tới.
Ân Ly hậm hực nói:
– Huynh làm gì mà ôm chặt lấy tôi? Triệu cô nương, Chu cô nương có ở đây còn ra thể thống gì nữa?
Triệu Mẫn nói:
– Thế nếu như tôi và Chu cô nương không có ở đây thì thành thể thống hay sao?
Trương Vô Kỵ cười nói:
– Ta thấy muội chết rồi sống lại, quá đỗi vui mừng. Biểu muội, muội… muội mọi sự đầu đuôi thế nào?
Ân Ly nắm lấy cánh tay chàng, xoay mặt chàng ra phía có ánh trăng, chăm chú nhìn một hồi, đột nhiên nắm tai Trương Vô Kỵ, nghiến răng véo một cái. Trương Vô Kỵ đau quá kêu lên:
– Ối ối! Muội làm gì thế?
Ân Ly đáp:
– Ngươi đúng là một tên xú bát quái đáng phải lăng trì tùng xẻo. Ngươi… ngươi sao lại đem chôn sống ta, khiến ta chịu biết bao nhiêu đắng cay khổ sở.
Nói xong đấm luôn vào ngực chàng ba cái, nghe kêu bình bịch. Trương Vô Kỵ không dám vận Cửu Dương thần công lên chống lại, cố chịu đựng ba quyền của nàng, cười nói:
– Thù Nhi! Ta quả là tưởng muội… tưởng muội chết rồi, khiến ta đau lòng khóc lóc một phen. Muội còn
sống thật hay biết bao nhiêu, quả đúng là trời xanh có mắt.
Ân Ly giận dữ nói:
– Trời xanh có mắt, còn tên xú bát quái là ngươi quả là mù, ngươi tinh thông y đạo đến người chết hay sống cũng không biết. Ta không tin ngươi được, chắc ngươi hiềm ta mặt mũi sưng húp xấu xí, chẳng thèm chờ cho tắt hơi đã đem chôn ngay xuống đất. Ngươi là đứa vô lương tâm, là tên chết tiệt lang tâm đoản mệnh.
Trương Vô Kỵ chỉ cười hì hì đứng nghe, gãi đầu nói:
– Muội cứ chửi đi, càng nhiều càng tốt. Lúc đó ta quả là hồ đồ, thấy muội mặt mũi đầy máu me, không còn thở gì cả, tim cũng ngừng đập, lại tưởng rằng không còn đường cứu, trong lòng đau thương, không kịp kiểm tra kĩ…
Ân Ly nhảy tới, giơ tay kéo tai chàng. Trương Vô Kỵ cười hềnh hệch tránh qua một bên, chắp tay nói:
– Hảo Thù Nhi, tha cho ta!
Ân Ly nói:
– Ta không tha cho ngươi. Hôm đó chẳng hiểu sao ta tỉnh lại, thấy bốn bề chung quanh toàn là đá lạnh như băng. Ngươi định chôn sống ta sao lại chất lên người ta nào cành cây, nào đá cục? Sao không dùng đất mà vùi, ta không thở được có phải chết luôn rồi không?
Trương Vô Kỵ nói:
– Ta sợ bùn đất là tổn hại đến khuôn mặt muội, trong lòng luyến tiếc… Tạ trời tạ đất, may quá ta chỉ đắp lên người cô bằng cành cây và đá cục.
Chàng nhịn không nổi liếc qua Chu Chỉ Nhược một cái. Ân Ly hậm hực nói:
– Người đó xấu xa lắm, tôi không muốn huynh nhìn cô ta.
Trương Vô Kỵ nói:
– Sao lại thế?
Ân Ly đáp:
– Cô ta là hung thủ giết tôi, sao huynh còn ngó ngàng đến cô ta làm gì?
Triệu Mẫn chen vào:
– Thế nhưng cô có chết đâu, cô ấy đâu có còn là hung thủ giết cô được.
Ân Ly nói:
– Nhưng tôi đã chết một lần, cô ta đã là hung thủ một lần rồi.
Trương Vô Kỵ khuyên nhủ:
– Hảo Thù Nhi, muội thoát hiểm trở về, bọn ta ai cũng mừng hết sức. Muội cứ thủng thẳng ngồi xuống đây, kể lại cho tất cả nghe muội đã chết đi sống lại như thế nào.
Ân Ly đáp:
– Cái gì mà bọn ta hay không bọn ta. Tôi hỏi huynh, huynh nói bọn ta là gồm những ai?
Trương Vô Kỵ cười nói:
– Ở đây chỉ có bốn người, lẽ dĩ nhiên là gồm ta, Chu cô nương và Triệu cô nương.
Ân Ly cười khẩy nói:
– Hứ, tôi không chết chắc huynh còn có đôi phần hoan hỉ, chứ còn Chu cô nương và Triệu cô nương ư? Liệu họ có hoan hỉ hay không?
Chu Chỉ Nhược nói:
– Ân cô nương, hôm đó tôi nổi lòng xấu xa, làm hại đến cô, việc đó sau này thật hết sức ăn năn, ngay trong giấc ngủ cũng không yên ổn, nếu không hôm nay đột nhiên gặp lại cô trong rừng đâu có sợ hãi đến mức đó. Bây giờ thấy cô bình an không sao, miễn tội nghiệt cho tôi, có trời trên cao làm chứng lòng tôi cực kỳ sung sướng.
Ân Ly nghiêng đầu ngẫm nghĩ một hồi, gật đầu nói:
– Cái đó cũng có lý vài phần. Ta vốn định tìm cô hỏi tội nếu đã như thế thì thôi vậy.
Chu Chỉ Nhược quỳ phục xuống, nghẹn ngào nói:
– Tôi… tôi quả thực đối với cô chẳng ra gì.
Ân Ly trước nay tính tình hay chấp nê nhưng nay thấy Chu Chỉ Nhược chịu lép vế, trong lòng cũng thấy an ủi vội đỡ cô ta dậy nói:
– Chu tỉ tỉ, chuyện đã qua không ai nên để trong lòng, dẫu sao thì tôi cũng chưa chết.
Nàng cầm tay Chu Chỉ Nhược, hai người cùng ngồi xuống. Ân Ly vuốt lại mái tóc kể tiếp:
– Cô lấy kiếm vạch trên mặt tôi mấy nhát cũng không phải là không tốt. Mặt tôi vốn sưng vù, trúng kiếm rồi bao nhiêu máu độc chảy ra hết, vết sưng trên mặt dần dần xẹp đi.
Chu Chỉ Nhược thấy thế lòng thật vui mừng không biết nói sao cho phải. Trương Vô Kỵ đáp:
– Ta và nghĩa phụ, Chỉ Nhược còn ở lại trên đảo rất lâu. Thù Nhi, muội ở trong mộ chui ra, sao không tìm đến bọn ta?
Ân Ly giận dữ đáp:
– Tôi không muốn gặp huynh. Huynh và Chu cô nương lúc ấy chàng chàng thiếp thiếp, nghe mà muốn lộn ruột. Hừ, “Từ nay trở đi ta chỉ có yêu nàng hơn, chiều nàng hơn thôi. Hai đứa mình vợ chồng là một, lẽ nào ta lại còn chọc giận nàng?”.
Nàng bắt chước giọng Trương Vô Kỵ nói mấy câu đó, rồi lại bắt chước Chu Chỉ Nhược trả lời:
– “Nếu như thiếp có làm điều gì sai lầm, đắc tội với chàng, chàng có đánh thiếp, mắng thiếp, giết thiếp không? Thiếp từ nhỏ không được cha mẹ dạy dỗ, không khỏi có lúc hồ đồ”.
Ân Ly tằng hắng một tiếng, lại bắt chước giọng nam ồm ồm nói:
– “Chỉ Nhược, nàng là vợ yêu quý của ta, dẫu có sai sót điều gì ta cũng không nói nặng nàng nửa câu đâu”.
Nàng chỉ tay lên vầng trăng đang ở phía tây nói:
– “Có vầng trăng kia làm chứng cho đôi ta”.
Thì ra đêm hôm đó Trương Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược sau khi đã đính ước rồi nói với nhau những gì, Ân Ly đều nghe thấy hết, lúc này kể lại một lượt khiến cho Chu Chỉ Nhược mặt đỏ bừng, Trương Vô Kỵ cũng sượng sùng ngượng nghịu. Chàng lén liếc Triệu Mẫn một cái, thấy nàng giận đến mặt trắng bệch nên đưa tay sang nắm cổ tay nàng. Triệu Mẫn lật tay một cái, hai móng tay dài cấu vào lưng bàn tay chàng. Trương Vô Kỵ đau điếng nhưng không dám kêu lên thành tiếng, cũng không dám động đậy.
Ân Ly đưa tay vào bọc, lấy ra một thanh gỗ, vứt vào trước mặt Trương Vô Kỵ nói:
– Huynh nhìn cho rõ xem đây là cái gì?
Trương Vô Kỵ vừa thoạt nhìn, thấy có khắc một hàng chữ: “Ái thê Thù Nhi Ân Ly chi mộ. Trương Vô Kỵ cẩn lập”, chính là tấm bia gỗ chàng đã dựng nơi mộ của Ân Ly. Ân Ly hậm hực nói:
– Tôi từ trong một bò ra, thấy thanh gỗ này chẳng hiểu ra sao? Tên lang tâm đoản mệnh Trương Vô Kỵ nào đây? Tôi suy nghĩ mãi không hiểu được, mãi sau nghe lén hai người này nói chuyện “Vô Kỵ ca ca” này, “Vô Kỵ ca ca” nọ mới chợt hiểu ra. Thì ra Trương Vô Kỵ chính là Tăng A Ngưu, Tăng A Ngưu chính là Trương Vô Kỵ. Ngươi là tên vô lương tâm lừa dối ta đến nỗi này!
Nói xong giơ thanh gỗ lên đánh mạnh xuống đầu Trương Vô Kỵ, nghe cạch một tiếng gãy ra làm mấy mảnh văng tung tóe. Triệu Mẫn giận dữ nói:
– Cái gì mà cứ động một tí là đánh người ta?
Ân Ly cười khanh khách nói:
– Tôi đánh y thì đã sao nào? Cô đau lòng lắm phải không?
Triệu Mẫn mặt đỏ lên nói:
– Đó là huynh ấy nhường nhịn cô, cô đừng có lấn lướt.
Ân Ly cười nói:
– Cái gì mà lấn lướt? Cô cứ yên tâm, tôi không có tranh giành cái tên xú bát quái này với cô đâu, tôi chỉ một lòng một dạ thương yêu một người, là thằng bé Trương Vô Kỵ đã cắn chảy máu tay tôi nơi Hồ Điệp Cốc. Còn tên quái trước mặt tôi đây, gọi y là Tăng A Ngưu cũng thế, gọi y là Trương Vô Kỵ cũng thế, tôi chẳng yêu thương một tí nào.
Nàng quay đầu qua nhỏ nhẹ nói với Trương Vô Kỵ:
– A Ngưu ca ca, huynh trước sau đối với muội thật tốt, muội thật là cảm kích. Thế nhưng lòng muội đã sớm trao cho tên lang tâm hung ác tiểu Trương Vô Kỵ kia rồi. Huynh không phải là y, không, không phải là y…
Trương Vô Kỵ lấy làm lạ lùng nói:
– Chính ta là Trương Vô Kỵ, sao lại… sao lại…
Ân Ly dịu dàng nhìn chàng, ngơ ngẩn một hồi, ánh mắt thần tình biến đổi sau cùng lắc đầu nói:
– A Ngưu ca ca, huynh không hiểu gì cả. Nơi sa mạc bên Tây Vực, muội với huynh đồng sinh cộng tử, ở nơi hòn đảo trên biển cả, huynh đối với muội hết lòng hết dạ. Huynh là người tốt bụng, huynh đối đãi tốt với muội như vậy, muội đáng ra phải yêu thương huynh, nhưng muội đã nói với huynh rồi, lòng muội sớm trao cho tên Trương Vô Kỵ. Muội sẽ đi tìm y, nếu muội tìm được, huynh thử nghĩ xem y có đánh muội, chửi muội, cắn muội không?
Nàng nói xong không đợi cho Trương Vô Kỵ trả lời, quay mình lặng lẽ đi thẳng. Trương Vô Kỵ bấy giờ mới biết, người mà nàng thực bụng yêu thương là một tên Trương Vô Kỵ tưởng tượng trong tim, là tên Trương Vô Kỵ nàng nhớ trong đầu từng gặp nơi Hồ Điệp Cốc, đã từng đánh nàng cắn nàng, một tên Trương Vô Kỵ ngang bướng hung hăng, chứ không phải Trương Vô Kỵ đàng hoàng chân chính, nhân hậu khoan thứ nay đã trưởng thành ngay trước mặt nàng.
Trong lòng chàng ba phần thương xót, ba phần lưu luyến, lại thêm ba phần an ủi, nhìn theo bóng lưng nàng khuất dần trong bóng đêm. Chàng biết Ân Ly chỉ nhớ tới đứa trẻ bạo tợn trong Hồ Điệp Cốc lúc nào cũng chỉ muốn đi tìm y. Lẽ dĩ nhiên nàng làm sao tìm thấy được nhưng cũng có thể nói, nàng đã tìm ra rồi vì thiếu niên đó đã mãi mãi nằm sâu trong đáy lòng. Người thực việc thực làm sao có thể bằng được bóng hình đang ở trong tim?
Chu Chỉ Nhược thở dài một tiếng nói:
– Cũng chẳng qua lỗi tại muội, làm cho nàng bây giờ thành khùng khùng điên điên như vậy.
Thế nhưng Trương Vô Kỵ lại nghĩ: “Quả nàng có phần hơi dở hơi thật nhưng đó chính là lỗi ở ta. Thế nhưng so với con người đầu óc tỉnh táo, chắc gì đã sướng hơn nàng?”.
Triệu Mẫn trong đầu lại nghĩ đến một chuyện khác. Ân Ly đến rồi lại đi, còn Chu Chỉ Nhược thì sao? Nếu Ân Ly không chết, Tạ Tốn cũng bình an vô sự, võ công binh thư trong kiếm Ỷ Thiên, đao Đồ Long luôn cả thanh đao nữa nay cũng đã thuộc về Trương Vô Kỵ rồi, những tội lỗi mà Chu Chỉ Nhược phạm phải nay xem ra cũng chẳng có gì ghê gớm nữa. Dĩ nhiên Tống Thanh Thư vì nàng mà giết chết Mạc Thanh Cốc nhưng đó là tội của riêng Tống Thanh Thư, việc đó Chu Chỉ Nhược không dính líu tới, cũng chẳng xúi bẩy gì. Trương Vô Kỵ đã từng có ước định hôn nhân với cô ta, mà chàng nào có phải là người không giữ lời,
tuyệt tình tuyệt nghĩa được.
Chu Chỉ Nhược đứng lên nói:
– Thôi mình đi chứ? Triệu Mẫn hỏi lại:
– Đi đâu?
Chu Chỉ Nhược đáp:
– Lúc tôi ở trong chùa Thiếu Lâm có thấy Bành Oánh Ngọc hòa thượng lật đật đi kiếm anh, dường như có chuyện gì khẩn cấp trong Minh giáo.
Trương Vô Kỵ giật mình, nghĩ thầm: “Ta không thể vì chuyện nhi nữ thường tình làm hỏng đại sự của Minh giáo”. Chàng vội nói:
– Vậy mình mau đến coi.
Ba người liền rảo bước ra đi, chẳng mấy chốc đã đến nơi doanh trướng đóng quân của Minh Giáo. Dương Tiêu, Phạm Dao, Bành Oánh Ngọc đang nóng ruột sai người đi khắp nơi kiếm giáo chủ, thấy chàng trở về, ai nấy vui mừng, nhưng lại thấy thêm Triệu Chu hai nàng cùng đi không khỏi ngạc nhiên.
Trương Vô Kỵ thấy mọi người mặt mày ủ rũ, xem chừng có chuyện không hay, vội hỏi:
– Bành đại sư, ông có chuyện kiếm tôi chăng?
Bành Oánh Ngọc chưa kịp trả lời, Chu Chỉ Nhược đã nắm tay Triệu Mẫn nói:
– Thôi mình ra bên kia ngồi chơi.
Triệu Mẫn biết nàng tránh không muốn nghe chuyện bí mật của Minh Giáo nên hai người cùng sóng bước đi ra. Dương Tiêu, Phạm Dao cả bọn thấy vậy cũng thật kỳ lạ, nghĩ thầm: “Hôm làm lễ cưới ở Hào Châu, hai vị cô nương này đánh nhau một trận thật là long trời lở đất, lúc này sao lại thân mật như chị với em, không biết giáo chủ làm cách nào mà giảng hòa cho hai người được, đúng là có tài thì làm gì cũng khéo, môn Càn Khôn Đại Na Di công phu này thật đáng nể quá”.
Bành Oánh Ngọc đợi cho Triệu Chu hai nàng đi rồi mới nói:
– Khải bẩm giáo chủ, Long Phượng Hoàng Đế đáp ứng lời thỉnh của Ngô Quốc Công, từ Trừ Châu rời sang Ứng Thiên, đến bến thuyền bên bờ sông Trấn Giang, ngồi thuyền bị lật, băng hà trên sông Trường Giang.
Trương Vô Kỵ đau đớn kêu lên:
– Ối trời!
Trong lòng cực kì thương tiếc. Hàn Lâm Nhi là người trung hậu, năm đó từng cùng Trương Vô Kỵ và Chu Chỉ Nhược du ngoạn hoàng thành Đại Đô, có chút giao hảo.
Bành Oánh Ngọc bí mật nói với Trương Vô Kỵ:
– Hàn Lâm Nhi qua bến thuyền bị lật thuyền chết chìm, phụ trách hộ tống là đại tướng Liêu Vĩnh Trung. Ngô Quốc Công Chu Nguyên Chương biết tin rất giận dữ, đã hạ chỉ đem xử tử Liêu Vĩnh Trung, coi như trừng phạt hộ tống chúa thượng bất trung bất lực.
Trương Vô Kỵ gật đầu nói:
– Mặc kệ nói như thế nào, Hàn huynh đệ là đại thủ lĩnh khăn đỏ quân đông lộ của bản giáo, Liêu Vĩnh Trung thật đáng chết.
Bành Oánh Ngọc thấp giọng nói:
– Khởi bẩm giáo chủ, Liêu huynh đệ thật là bị oan.
Trương Vô Kỵ ngạc nhiên nói:
– Bị oan thế nào?
Bành Oánh Ngọc nói:
– Liêu huynh đệ là chiến tướng đắc lực, chính là thủ hạ của Thường Ngộ Xuân huynh đệ, luôn luôn chiến đấu dũng cảm, làm gương cho binh sĩ, y bị Chu Nguyên Chương lén lút giao mật chỉ, cố ý lật thuyền chết đuối Hàn huynh đệ. Thường huynh đệ biết được việc này, đã cùng Chu Nguyên Chương cãi nhau lớn, trong quân không ít người biết. Từ Đạt huynh đệ bên cạnh khuyên bảo, nói chỉ cần đem Liêu Vĩnh Trung lén thả ra, giết một tên tội phạm cho đủ số, coi như không có gì. Nhưng Chu Nguyên Chương đã phái người bắt giữ Liêu Vĩnh Trung, không cho Thường huynh đệ bọn họ đánh tráo, muốn giết Liêu Vĩnh Trung diệt khẩu. Bọn họ tố giác với tôi, thuộc hạ không dám làm chủ, việc này xin giáo chủ định đoạt.
Trương Vô Kỵ đầy vẻ phiền não, cảm thấy việc này khó có thể lưỡng toàn, không thể để cho cái đại án oan này phát sinh trong Minh giáo, nhưng nếu công nhiên chỉ trích Chu Nguyên Chương, hắn nắm giữ trọng binh, thế lực rất lớn, nếu như điều tra đến cùng, Minh giáo không khỏi bởi vậy mà chia rẽ, rất bất lợi cho nghiệp lớn kháng Nguyên, liền nói:
– Mau mời Quang Minh Tả Hữu Sứ, Vi Pháp Vương, Ngũ Tản Nhân, Ngũ Kỳ Sứ đến cùng thương nghị.
Đây là đại sự trong giáo, Trương Vô Kỵ mượn một phòng xá yên lặng của Thiếu Lâm tự, phái hảo thủ canh gác bảo vệ, phòng ngừa tin tức tiết lộ ra ngoài. Đám người Dương Tiêu vốn biết Bành Oánh Ngọc khôn khéo lão luyện, nhân nghĩa công chính, y đã nói như vậy, trước đó tất đã điều tra rõ ràng, quyết không báo sai sự tình.
Chu Điên kêu đầu tiên:
– Chu Nguyên Chương, thằng cha này thật không bằng thứ đồ vật! Lúc trước hắn còn muốn tranh đoạt chức giáo chủ. Nếu hắn liên tiếp lừa gạt, đổ oan người tốt, dù hắn có đuổi Thát tử chạy ra ngoài, chính hắn làm giáo chủ, làm hoàng đế, so với Thát cổn tử cũng không khá hơn bao nhiêu, còn không bằng không đuổi Thát cổn tử, mọi người đỡ phải tốn chút khí lực tính toán. Giáo chủ, theo ta tổng đàn chúng ta phải phái người đi thăm dò rõ ràng, cách tước phong của hắn, lại chặt một cánh tay của hắn, đền mạng cho Hàn Lâm Nhi huynh đệ!
Thiết quan đạo nhân nói:
– Giáo chủ, thánh hỏa lệnh đại giới, cấm tàn sát huynh đệ bản giáo. Chu Nguyên Chương làm như vậy, nếu không trừng phạt, sau này mọi người ngươi giết ta, ta giết ngươi, còn tuân thủ đại giới tiểu giới thánh hỏa lệnh nữa không?
Trương Vô Kỵ nói:
– Tàn sát huynh đệ bản giáo chắc chắn không nên. Chuyện trước tiên của chúng ta là cứu Liêu huynh đệ, điều y đến tổng đàn, hỏi y tỉ mỉ.
Thuyết Bất Đắc nói:
– Giáo chủ nói vậy rất đúng. Tôi lập tức đi Ứng Thiên phủ, cứu Liêu huynh đệ thoát hiểm.
Vi Nhất Tiếu nói:
– Liêu huynh đệ tự nhiên là phải cứu. Nhưng liêu huynh đệ nhất cứu ra, Chu Nguyên Chương lập tức biết tổng đàn đã tra rõ việc này. Đặng Dũ, Ngô Lương, Phùng Thắng, Phó Hữu Đức bọn họ, ai ai cũng nghe lệnh của Chu Nguyên Chương, phải nhất nhất trừ khử bọn họ mới được.
Trương Vô Kỵ nghe xong, thở dài một tiếng, nói:
– Giết người này, rồi lại giết một người khác. Mọi người đều là hảo huynh đệ, ta cũng thật không nỡ xuống tay. Có thể mở đại hội chư tướng, đem sự tình ra đàm luận, mọi người vừa được nói rõ công đạo, lại vẫn giữ được hòa khí hay không?
Bành Oánh Ngọc lắc đầu nói:
– Đáng tiếc, không làm được!
Trương Vô Kỵ lúng túng không biết làm sao, nói với Dương Tiêu, Phạm Dao:
– Dương tả sứ, Phạm hữu sứ, hai vị nghĩ thế nào?
Dương Tiêu nói:
– Mặc kệ binh cách chiến trận, Minh giáo quang minh lỗi lạc!
Y giải thích sơ lược: nghĩa quân Minh giáo ở các nơi khởi sự, giết quan tạo phản, huyên náo Mông Nguyên chân tay luống cuống, chiến trận có thành có bại, bọn họ vừa không bẩm báo đến tổng đàn, tổng đàn cũng không xen vào chuyện của bọn họ. Chi khăn đỏ quân ở Ứng Thiên phủ này, xưa nay làm theo ý mình, thanh thế tráng thịnh, tổng đàn không thể giết thủ lĩnh bọn họ, cũng không thể lấy giáo quy Minh giáo ràng buộc ước thúc, chỉ có thể mặc cho tự nhiên. Nhưng quyết không thể tùy ý bọn họ đến tranh chức giáo chủ, tùy bọn họ đến chỉ huy Minh giáo.
Phạm Dao cất cao giọng nói:
– Dương tả sử nói như vậy chính hợp ý tôi. Chúng ta sau này phải làm cho Minh giáo quang minh lỗi lạc, hừng hực thánh hỏa cháy mãi không tắt. Chúng ta trong tay cầm bảo đao Đồ Long, Chu Nguyên Chương nếu đối xử tử tế với dân chúng, sẽ đi theo hắn. Nếu không chúng ta vung bảo đao Đồ Long lên, chém đầu của hắn!
Trương Vô Kỵ vỗ mạnh tay xuống bàn, nói:
– Đúng là như thế! Minh giáo chính trực quang minh, vĩnh bảo lê dân bách tính!
Bọn Vi Nhất Tiếu, Ân Dã Vương, Ngũ Tản Nhân, Ngũ Kỳ Sứ đồng loạt lớn tiếng hô ứng:
– Minh giáo chính trực quang minh, vĩnh bảo lê dân bách tính!
Đến đây nghị sự đã định, nhưng Trương Vô Kỵ vẫn không khỏi trong lòng buồn bực, cảm thấy quyết định như thế, có phần thiếu ý nhân hiệp. Liêu Vĩnh Trung bị đổ oan xử tử, tổng đàn không thể rửa sạch tội cho y, rốt cuộc lương tâm khó an, nhưng nếu một mực can thiệp, liên lụy quá lớn, chính mình lại không có lực lượng để xử lý công đạo.
Đến khi ra khỏi phòng thì đêm đã khuya. Sáng hôm sau Triệu Mẫn nói:
– Chu tỉ tỉ đêm hôm qua đã ra đi, không kịp từ biệt chàng.
Trương Vô Kỵ bồi hồi, nghĩ lại đã lâu không về thăm Trương Tam Phong, bây giờ nhớ nhung nên cùng Triệu Mẫn, Tống Thanh Thư, Du Liên Châu cùng về núi Võ Đang.
Núi Thiếu Thất không xa núi Võ Đang bao nhiêu, chỉ vài ngày đã đến. Trương Vô Kỵ theo Du Liên Châu, Trương Tòng Khê, Ân Lê Đình vào bái kiến Trương Tam Phong, rồi qua thăm Tống Viễn Kiều và Du Đại Nham.
Tống Viễn Kiều nghe nói con mình đang ở bên ngoài, mặt tím lại, tay cầm trường kiếm chạy vụt ra. Trương Vô Kỵ cả bọn biết có khuyên giải cũng không xong, không khuyên cũng không được nên cùng theo ra ngoài đại sảnh. Trương Tam Phong cũng ra theo.
Tống Viễn Kiều quát lớn:
– Tên súc sinh bất hiếu khốn kiếp đâu rồi?
Ông trông thấy Tống Thanh Thư nằm trên cáng, đầu quấn đầy băng vải trắng, đến mắt cũng che kín mít liền nhắm ngay người y đâm thẳng trường kiếm ra, nhưng nửa chừng tay chùn lại không đâm nổi. Trong một thoáng, ông nghĩ đến tình cha con, nghĩa đồng môn, trong lòng ngổn ngang trăm mối, xoay kiếm lại đâm thẳng vào bụng mình.
Trương Vô Kỵ vội vàng giơ tay ra đoạt thanh kiếm trong tay Tống Viễn Kiều, khuyên:
– Đại sư bá, chớ có như thế. Việc này giải quyết ra sao, để xin thái sư phụ dạy bảo.
Trương Tam Phong thở dài:
– Phái Võ Đang chúng ta có một đứa đệ tử chẳng ra gì, Viễn Kiều, chẳng phải mình con bất hạnh. Cái thứ nghịch tử này, có cũng như không!
Tống Thanh Thư đột nhiên kêu to:
– Phụ thân, phụ thân!
Nghĩ muốn nhảy ra khỏi cáng, quỳ gối trước thái sư phụ cùng phụ thân, đang lúc dùng lực, vết thương vỡ toang, xương sọ vỡ nát, một hơi cũng không tiếp tục được, như vậy khí tuyệt. Trương Vô Kỵ vội xông đến phía trước, hai tay giữ hậu tâm, đan điền của y, truyền đẩy chân khí, muốn kéo dài thêm tính mạng. Lập tức thỉnh Du Liên Châu, Trương Tòng Khê hai người thế chỗ, tự mình nhảy ra chữa trị xương đầu vỡ vụn của y. Nhưng Tống Thanh Thư hơi thở đã tuyệt, tim đập đã ngừng.
Tống Viễn Kiều xoa xoa xác chết của con trai, vừa giận vừa buồn, nhất thời xoay chuyển chân khí, ngã ngửa người ra sau. Trương Vô Kỵ vội vàng nâng dậy, điều thuận lại chân khí cho ông. Tống Viễn Kiều quỳ xuống khóc nói:
– Sư phụ, đệ tử không biết dạy con, để lụy thất đệ phải chết dưới tay y. Đệ tử đối với lão nhân gia và thất đệ biết thế nào cho phải đây?
Trương Tam Phong nói:
– Việc này con quả có sai lầm, chức vị chưởng môn bản phái, từ hôm nay do Du Liên Châu tiếp nhiệm. Con chuyên tâm nghiên cứu cho tinh vi thái cực quyền pháp, còn tục vụ chưởng môn không cần phải lo tới làm gì.
Tống Viễn Kiều bái tạ phụng mệnh. Du Liên Châu từ chối không nhận song Trương Tam Phong cương quyết giao cho nên đành bái lãnh.
Mọi người thấy Trương Tam Phong cách chức Tống Viễn Kiều, đổi chưởng môn nhân, quy môn nghiêm nhặt như thế trong lòng ai nấy kinh hãi. Trương Tam Phong lại hỏi tình hình anh hùng đại hội ra sao, nghĩa quân kháng Nguyên thế nào, đối với Trương Vô Kỵ càng thêm ân cần.
Triệu Mẫn đi tới khấu đầu trước Trương Tam Phong, tạ tội năm xưa vô lễ. Trương Tam Phong cười khà khà, tuyệt nhiên không để bụng. Du Đại Nham tàn phế,
Trương Thúy Sơn bỏ mình cũng toàn do những thủ hạ cũ của cô ta như A Đại, A Nhị mà ra, nhưng khi đó Triệu Mẫn chưa ra đời, không thể nào trách nàng được. Trương Tam Phong biết được nàng cam tâm chống lại cha anh để đi theo Trương Vô Kỵ bèn cười:
– Hay lắm, hay lắm! Thật khó lắm thay, thật khó lắm thay.
Trương Vô Kỵ ở trên núi Võ Đang cùng Trương Tam Phong tụ hội mấy ngày rồi cùng Triệu Mẫn trở về Ứng Thiên. Trên đường đi chỗ nào cũng nghe tin quân bản giáo thắng trận, lại nghe đâu đâu cũng đang nổi lên, Trương Vô Kỵ trong lòng rất đỗi vui mừng, cùng Triệu Mẫn ngày đêm chạy về hướng đông, trước mắt sơn hà chẳng mấy chốc khôi phục được, mong sao thiên hạ thái bình, trăm họ an cư lạc nghiệp, không uổng mấy năm nay vào sinh ra tử, lo lắng ngược xuôi.
Chàng không muốn kinh động anh em nên trên đường không gặp gỡ các tướng lãnh nghĩa quân, chỉ ngầm dò hỏi thấy nghĩa quân kỷ luật nghiêm minh, không quấy nhiễu bách tính đâu đâu cũng ca tụng nguyên soái Chu Nguyên Chương và đại tướng quân Từ Đạt.
Hôm đó chàng đến bên ngoài thành Ứng Thiên, Chu Nguyên Chương được tin liền sai Thang Hòa, Đặng Dũ hai tướng đem quân ra nghênh đón, mời vào tân quán. Thanh Hòa bẩm:
– Ngô Quốc Công và Từ đại tướng quân, Thường tướng quân đang lúc thương nghị quân tình khẩn cấp, nghe tin giáo chủ đến nơi, thật mừng quá đỗi. Có điều quân vụ cần kíp, không tự mình ra đón được, xin giáo chủ tha cho cái tội không cung kính.
Trương Vô Kỵ cười nói:
– Chúng ta là huynh đệ cả, sao còn hiềm chuyện hư văn đón đưa? Việc quân mới là quan trọng.
Tối hôm đó ở tân quán bày đại tiệc, rượu được ba tuần, Chu Nguyên Chương cùng đại tướng Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Đặng Dũ, Thang Hòa, Hoa Vân lật đật chạy đến, trước bàn quỳ phục xuống. Trương Vô Kỵ vội đỡ lên, Chu Nguyên Chương tự mình rót rượu, cung kính mời Trương Vô Kỵ uống đủ ba chén, chàng
liền đưa lên uống cạn.
Trên bàn rượu nói chuyện quân tình các nơi, Chu Nguyên Chương bẩm lại việc đánh thành chiếm đất các chiến tích thế nào, ngôn ngữ có phần đắc ý, Trương Vô Kỵ hết sức khen ngợi.
Quá không nhiều ngày, chúng thủ lĩnh Minh giáo đều từ các nơi đến Ứng Thiên phủ tụ hội, bọn Dương Tiêu, Phạm Dao, Vi Nhất Tiếu, Ân Dã Vương, Ngũ Tản Nhân, Ngũ Kỳ Sứ trước sau tới. Lần này thủ lãnh Minh giáo đại hội ở Ứng Thiên là ý muốn phụng giáo chủ Trương Vô Kỵ chính thức làm thủ lĩnh nghĩa quân, xưng là Minh Vương, sau khi giành chính quyền đăng vị hoàng đế, thành lập vương triều Đại Minh. Đại đa số binh lính trong Ứng Thiên phủ là dưới tay Minh giáo, các đại tướng Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, nhân vật thủ lãnh trong giáo Dương Tiêu, Phạm Dao, Vi Nhất Tiếu, Bành hòa thượng, đối Trương Vô Kỵ trước nay tôn sùng tín phục, nhất trí tán đồng, chỉ có bọn Chu Nguyên Chương, Lý Văn Trung, Hồ Đình Thụy không muốn đem cơ nghiệp tốt dâng tặng cho Trương Vô Kỵ, nhưng thấy chiều hướng chung, cũng không dám có ý phản đối. Chỉ vì cục diện lúc ấy, một lời phản đối chính là “tạo phản”, lập tức có họa sát thân.
Trương Vô Kỵ lại kiên quyết không đồng ý, nói rằng nhậm chức giáo chủ đã làm trái bản ý, muốn làm thủ lĩnh nghĩa quân xưng vương, lại càng trăm triệu không thể, mọi người nếu bức bách, ngay cả giáo chủ cũng không làm nữa. Trương Vô Kỵ từ lúc không thay đổi được cái chết oan của Hàn Lâm Nhi, không cứu được tính mạng Liêu Vĩnh Trung, mặc cho Chu Nguyên Chương hoành hành, trong lòng vẫn canh cánh, tự thấy mình không đủ tài năng, không xử lý được đại sự, nghĩ muốn thoái vị. Mọi người nghị luận không quyết định được, Trương Vô Kỵ vỗ án tức giận. Lúc đó Ân Thiên Chính qua đời, Tạ Tốn xuất gia, trong giáo đã mất đi các bậc trưởng bối mà Trương Vô Kỵ vẫn tín phục, Ân Dã Vương tuy là cậu, nhưng lại phải tuân lệnh giáo chủ, thấy y nổi giận, cũng không dám nhiều lời, lại hùa theo, nói:
– Giáo chủ thích tiêu dao tự tại, không ưa quyền vị, chúng ta tôn trọng ý nguyện của y, nhất thiết phải bàn bạc kĩ càng.
Mọi người không biết làm sao, tất cả đều chán nản. Chu Điên nói hươu nói vượn, làm loạn nhân ý. Bỗng nhiên ngoài cửa giáo chúng báo lại:
– Tổng giáo Ba Tư phái một đoàn đặc phái viên, đến tham kiến giáo chủ.
Trương Vô Kỵ vội suất lĩnh mọi người, ra ngoài nghênh đón.
Đi ra ngoài cửa, chỉ thấy xa xa một đội nhân mã, ăn mặc rực rỡ gấm hoa, chậm rãi mà đến, ngay cả trên ngựa cũng treo dải lụa hồng, dáng vẻ vui mừng, đội nhạc đi đầu thổi sáo, gảy đàn tì bà. Vài tên người Hồ
thấy đám người Trương Vô Kỵ đi ra, liền tức xuống ngựa, chạy lên phía trước, cung kính khom mình hành lễ. Một gã cầm đầu nói:
– Thánh giáo chủ Minh giáo Ba Tư trịnh trọng phái tại hạ đến Trung Hoa, bái kiến Trương giáo chủ Minh giáo Trung Hoa.
Triệu Mẫn theo bên cạnh Trương Vô Kỵ, cao giọng nói:
– Quý sứ vất vả từ xa tới, chúng ta rất hoan nghênh, xin chớ đa lễ. Quý sứ chính là Đại Thánh Bảo Thụ Vương ư?
Người Hồ kia đúng là Đại Thánh Bảo Thụ Vương, nghe Triệu Mẫn gọi tên y, kinh hãi bội phục, nói:
– Đúng vậy, đúng vậy! Quý nữ này có phép thần thông, lại biết ngoại hiệu nho nhỏ của tệ nhân, tệ nhân bái phục vô cùng.
Triệu Mẫn cất cao giọng nói:
– Tệ nữ không có phép thần thông, lúc trước ở ngoài đại hải, từng gặp qua quý sứ giả, người theo quý sử đến là Trí Tuệ Bảo Thụ Vương và Thường Thắng Bảo Thụ Vương đúng không?
Trí Tuệ, Thường Thắng nhị vương đang ở sau Đại Thánh Vương. Trí Tuệ Vương cười ha hả, nói:
– Quý nữ đại trí đại tuệ, đã gặp qua là không quên được. Hôm nay được gặp Trương giáo chủ, lại gặp trí tuệ quý nữ, rất hân hạnh, rất hân hạnh!
Triệu Mẫn mỉm cười nói:
– Trí Tuệ Vương tinh thông ngôn ngữ Trung Hoa chúng tôi, Thường Thắng Vương võ công cao cường,
từng cùng Trương giáo chủ bản giáo đấu ngang tay, rất bội phục, rất bội phục!
Qua vài câu chào hỏi, song phương tình nghĩa hòa hợp, trong tiếng cười ha ha, Trương Vô Kỵ đưa tân khách vào trong, tới đại sảnh phân chủ khách ngồi xuống.
Triệu Mẫn ngồi bên dưới Trương Vô Kỵ, nói:
– Ba vị phụng mệnh thánh giáo chủ quý giáo đến Trung Hoa, ngàn dặm xa xôi, có bằng hữu từ phương xa tới, rất vui mừng, rất vui mừng!
Đại Thánh Vương đứng dậy, khom người nói:
– Thánh giáo chủ tệ giáo lệnh cho ba người chúng tôi, cung phụng lễ vật cho Trương giáo chủ.
Nói rồi vỗ tay, bốn gã cẩm y người Ba Tư nâng một cái rương màu bạc chiếu sáng lấp lánh, khom người đặt tới trước mặt Trương Vô Kỵ. Mở nắp rương ra, bên trong lót gấm, đặt sáu tấm thánh hỏa lệnh song song.
Trương Vô Kỵ lắp bắp kinh hãi, vội đứng dậy. Minh giáo Trung Hoa vốn có mười hai tấm thánh hỏa lệnh, trước đây giáo chủ đánh mất, lần trước hội đấu ở Linh Xà đảo, Trương Vô Kỵ đoạt lại sáu tấm, bởi vậy mà biết ngọn nguồn võ công Ba Tư cổ, không tưởng tượng được Tiểu Chiêu lại đem tới sáu tấm còn lại. Nếu như mười hai tấm thánh hỏa lệnh về với chủ, chàng lại danh chính ngôn thuận làm giáo chủ, phần lễ vật này của Tiểu Chiêu, có thể nói là cực kỳ long trọng. Trong lòng chàng đau xót, vành mắt lại đỏ lên.
Trí Tuệ Vương từ trong rương bạc lấy ra một phong thư bọc gấm, hai tay trình lên Trương Vô Kỵ. Trương Vô Kỵ tiếp nhận, nói:
– Trí Tuệ Vương mời ngồi.
Trí Tuệ Vương thấy Trương Vô Kỵ mở phong thư của giáo chủ bản giáo, liền đứng sang một bên, Đại Thánh, Thường Thắng hai vị Bảo Thụ Vương cũng đứng dậy. Trương Vô Kỵ mở thư ra, thấy trên thư viết chữ Trung Hoa:
Trương công tử tôn giám: từ lúc chia tay tới nay, không một canh giờ nào là không nghĩ đến ngươi. Ngươi có mạnh khỏe không? Nghiệp lớn phản Mông có thuận lợi không? Dâng tặng sáu tấm thánh hỏa lệnh, này vốn là vật của thánh giáo Trung Hoa. Ngươi khi nhìn thấy thánh hỏa lệnh, xin nhớ đến tiểu nha đầu Tiểu Chiêu ở ngàn dặm xa xôi. Số mệnh của nàng ngay cả tấm thánh hỏa lệnh này cũng không bằng, bởi vì nàng không thể nhìn thấy ngươi, không thể mỗi ngày bầu bạn bên cạnh ngươi. Nguyện minh tôn bảo hộ ngươi! Tôi hy vọng cuối cùng có một ngày được trở về bên cạnh ngươi, lại làm tiểu nha đầu của ngươi. Khi đó giáo chủ tổng giáo ta cũng không làm.
Dưới góc thư có vẽ một ngọn lửa nho nhỏ màu đỏ, ngoài ra còn vẽ đôi tay nhỏ nhắn, hai tay bị buộc bởi một sợi dây xích sắt, nhưng sợi xích sắt đã bị cắt đứt.
Trương Vô Kỵ nhìn phong thư, ngơ ngẩn thần ra một hồi lâu, cuối cùng gập phong thư lại, cất vào trong người. Từ trong rương bạc lấy thánh hỏa lệnh ra, đặt ở chính giữa bàn, cao giọng tuyên bố với mọi người:
– Năm đó bản giáo không may, mười hai tấm thánh lỏa lệnh bị mất, may mà tổng giáo Ba Tư thay mặt bảo quản. Hiện nay nghiệp lớn sắp thành, tâm nguyện giáo chủ đời trước được đền đáp, bản giáo từ cao đến thấp, vĩnh viễn cảm tạ tấm lòng cao cả của tổng giáo.
Từ trong lòng lấy ra sáu tấm thánh hỏa lệnh đoạt được lúc trước, song song đặt lên bàn, gập hai đầu gối, quỳ xuống trước mười hai tấm thánh hỏa lệnh trên bàn.
Quần hào Minh giáo đều quỳ xuống, Triệu Mẫn không trong Minh giáo, nhưng mọi người cùng quỳ, không tiện đứng một mình, cũng quỳ xuống theo mọi người. Sứ giả Minh giáo Ba Tư, từ Đại Thánh, Trí Tuệ, Thường Thắng tam Bảo Thụ Vương
xuống dưới, cũng đều hướng thánh hỏa lệnh quỳ lạy.
Bọn Trương Vô Kỵ hành lễ xong, lại tạ ơn sứ giả Ba Tư, ngôn từ rối ren, đặc phái viên Ba Tư không thể hiểu được. Triệu Mẫn cất cao giọng nói:
– Tổng giáo nghĩa khí đại đại, lễ vật trùng trùng, các vị sứ giả vất vả từ xa tới, rất cảm tạ, rất cảm tạ!
Mọi người cười ha ha, đều vui mừng. Nổi trống tấu nhạc, bài trí tiệc rượu, khoản đãi đặc phái viên tổng giáo.
Trương Vô Kỵ lấy ra tấm da dê Càn Khôn Đại Na Di tâm pháp, trịnh trọng bọc gấm, xin đặc phái viên tổng giáo mang về Ba Tư làm quà đáp lễ thánh giáo chủ tổng giáo. Tâm pháp này vốn thuộc sở hữu của tổng giáo, năm đó lưu nhập vào Trung Hoa, thánh xử nữ tổng giáo Đại Ỷ Ti, Tiểu Chiêu sở dĩ đến Trung Hoa cũng vì mục đích thu hồi tâm pháp. Trương Vô Kỵ đã tu tập được tâm pháp, sau này có thể lựa chọn đồ đệ trong giáo để truyền thụ, khiến cho tâm pháp lưu truyền ở Trung Hoa. Chàng đem tấm da dê làm quà đáp lễ tổng giáo, giá trị cũng giống như thánh hỏa lệnh tổng giáo tặng lại, có thể giúp Tiểu Chiêu lập công lớn, Triệu Mẫn lại lấy ra một cái hộp sắt được sửa lại sau năm đó bị Trương Vô Kỵ dùng lợi kiếm đập vỡ, để vào một đóa châu hoa từng cắm trên mái tóc Tiểu Chiêu, nhờ Đại Thánh Vương giao cho Tiểu Chiêu.
Trương Vô Kỵ nhớ đến tình ý của Tiểu Chiêu, trong lòng không khỏi buồn bực. Trí Tuệ Vương sau tiệc rượu lấy ra một cái bọc nhỏ, lặng lẽ đưa cho Trương Vô Kỵ, nhẹ giọng nói:
– Đây là giáo chủ chúng ta đưa riêng cho Trương giáo chủ.
Trương Vô Kỵ đón lấy, trở lại hậu đường nhìn xem, bên trong là hai bộ nội y, một đôi giày, nhìn cách may vá thì đúng là do Tiểu Chiêu tự tay làm, đi đôi giày vào, kích thước vừa khít, nước mắt không khỏi lã chã rơi xuống. Xa cách tuy lâu, nàng vẫn nhớ rõ kích thước chân của mình, ngày thường nhớ nhung rất nhiều có thể hiểu rõ được.
Trương Vô Kỵ thỉnh ba vị Bảo Thụ Vương đến hậu đường, đem sở ngộ Càn Khôn
Đại Na Di thần công cùng với thánh hỏa lệnh thần công của mình chọn ra truyền thụ cho một ít. Ba vị Bảo Thụ Vương mừng rỡ, cúi sấp bái tạ, nói là chuyến này đến Trung Hoa, lĩnh được thần công, so với lễ vật gì cũng không sánh bằng.
Qua hai ngày, Trương Vô Kỵ truyền thụ thần công đã xong, viết thư trả lời Tiểu Chiêu, Minh giáo trung thổ xếp hàng vui vẻ đưa tiễn, cung tiễn đặc phái viên tổng giáo Ba Tư trở về. Bọn Trương Vô Kỵ, Triệu
Mẫn, Dương Tiêu, Phạm Dao, Chu Nguyên Chương đều có nhiều lễ vật quý trọng đáp lễ.
Mọi người trở lại thánh hỏa đại đường Minh giáo Ứng Thiên phủ, chư thủ lĩnh trong giáo đứng ở phía trước. Trương Vô Kỵ mở một bọc gấm, lấy ra thánh hỏa lệnh di huấn do Dương Đính Thiên tự viết. Năm đó khi Trương Vô Kỵ lệnh cho mọi người tiến vào bí đạo trên Quang Minh Đỉnh, đã từng nói qua cho mọi người. Lúc ấy thế cục khẩn cấp, mọi người chưa kịp nghe kĩ, lúc này nhấn giọng, mọi người thấy nét chữ trong di huấn, lại thấy trên di huấn có đóng ấn đỏ của Dương Đính Thiên, cảm thấy cảm động, bái lạy dưới đất. Trương Vô Kỵ hai tay cầm di huấn, cao giọng đọc:
Các đời giáo chủ truyền lại thánh hỏa lệnh tam đại lệnh, ngũ tiểu lệnh, đã nhiều năm, giáo chúng có phần không tuân thủ bát lệnh đại tiểu, khiến giáo quy suy dần. Ta đức bạc, không thể chỉnh đốn, rất hổ thẹn với trọng trách là các minh tôn giáo chủ trước giao phó. Ngày sau lấy được thánh hỏa lệnh, tam đại lệnh cùng ngũ tiểu lệnh này đem ban hành toàn giáo, Minh giáo Trung Thổ ta được chấn hưng là nhờ chuyện đó. Nay ta đem đại tiểu bát lệnh tổ truyền trình bày chi tiết phía dưới, tổng lĩnh Minh giáo đời sau, hi vọng nhớ đến đại đức ái hộ thế nhân của minh tôn, sự gian nan gây dựng sự nghiệp của tổ tông, đem hết sức lấy lại thánh hỏa lệnh, chấn hưng quang đại lại bản giáo.
Chàng đọc thánh hỏa lệnh tam đại lệnh, ngũ tiểu lệnh viết trong di huấn của Dương giáo chủ:
Thánh hỏa lệnh tam đại lệnh:
Lệnh thứ nhất: không được làm quan, làm vua. Bản giáo từ giáo chủ đến đệ tử mới nhập giáo, đều có ý nghĩ muốn phổ thế cứu nhân, quyết không mưu đồ tư lợi. Cũng không được đi thi khoa cử, không được nghe theo triều đình phân phó, không được làm tướng suất, thừa tướng, không được làm bất kì chức quan lớn nhỏ nào, lại càng không được tự lập làm vua, chiếm đất xưng đế. Lúc tranh đấu với quân binh ngoại tộc có thể tạm lấy danh vương hầu, tướng quân để kêu gọi
giúp đỡ. Một khi đã thành nghiệp lớn, từ giáo chủ cho đến giáo chúng đều phải lui về làm thường dân, sống nơi thảo dã, chuyên tâm tận tụy cứu dân, độ thế, hành hiệp trừ ác, không được nhận vinh hàm, tước vị của triều đình, không được nhận đất đai, kim ngân của triều đình ban tặng. Chỉ người thảo dân mới có thể kháng quan, giết quan hộ dân, một khi làm quan làm vua, chính là đẩy thảo dân ra ngoài rồi.
Lệnh thứ hai: không được ngược dân hại dân. Bản giáo lấy cứu dân hộ dân làm tôn chỉ, phàm những việc có lợi cho bình dân bách tính, đều là những ưu tiên hàng đầu của bản giáo. Bản giáo khi cần, có thể cướp bóc quan phủ, quan thương, quan khố, tài chủ, nhà giàu, có thể do bình dân hiến cho, cũng có thể xin
lương của dân. Nhưng dân chúng phải được ăn no trước, bản giáo chúng mới có thể lấy. Nếu như có nạn đói, có lương thực phải nhường dân chúng trước, bản giáo chúng sau; nếu lương thực không đủ, bản giáo chúng không được lấy. Giáo chúng cùng dân chúng tranh náo ẩu đả, làm tổn thương dân chúng, hai bên đều có lỗi thì phạt giáo chúng trước.
Lệnh thứ ba: không được tự tranh giành đánh nhau. Phàm là giáo chúng bản giáo, bất luận thân là giáo chủ, Quang Minh Tả Hữu Sứ, hộ giáo pháp pương, Kỳ Sứ, Môn Sứ, hoặc đệ tử mới nhập môn, không được tranh đấu với nhau, như ý kiến không hợp, chỉ có thể tranh chấp biện luận, chửi bới lỗ mãng, làm nhục tổ tông cũng không tính phạm lệnh, người nào ra tay ẩu đả, tức là phạm lệnh, nếu sát thương thân thể giáo chúng, tính mạng, tội lại càng lớn. Nếu có chút phân tranh, đưa lên thượng cấp xét xử thị phi, sau này phải tuân lệnh không được tranh đấu, vĩnh viễn hòa hảo.
Thánh hỏa lệnh ngũ tiểu lệnh:
Lệnh thứ nhất: phàm là giáo chúng bản giáo, phải giữ tín nghĩa, nói ra như núi, không được thất tín, đối với nhân sĩ ngoài giáo cũng phải thủ tín.
Lệnh thứ hai: giáo chúng trong giáo đều là huynh đệ tỉ muội, tình đồng cốt nhục, nặng tình nặng nghĩa, sống chết không thay đổi.
Lệnh thứ ba: tôn kính bề trên, hiếu thuận cha mẹ, thân mật huynh đệ, chiếu cố bằng hữu.
Lệnh thứ tư: tôn trọng nữ nhân, không được khinh bạc đùa giỡn. Bất luận xử nữ quả phụ, nếu như muốn làm vợ chồng, lập tức cưới làm vợ, bằng không phải đối xử trang nghiêm. Vợ của bằng hữu không được đùa giỡn, con gái bằng hữu không được loạn ngữ.
Lệnh thứ năm: coi Minh giáo như tính mạng, bề trên có lệnh, phải dốc sức thực
hiện theo, kẻ thông đồng với địch phản giáo giết không tha. Đối đãi với nhân sĩ ngoài giáo điềm đạm, cam nguyện hạ phong, không thể ngông cuồng mà đắc tội, gây thù hằn cho bản giáo. Huân giới sau này xóa bỏ.
Trương Vô Kỵ đọc xong, cầm lấy thánh hỏa lệnh đặc phái viên tổng giáo Ba Tư đưa tới, nói:
– Đây là thánh hỏa lệnh bản giáo ngày trước được tổng giáo Ba Tư trả lại, mặt trên khắc tam đại lệnh, ngũ tiểu lệnh, nội dung văn tự với những gì viết trong di huấn của Dương giáo chủ không khác một chữ. Bản giáo trước khi bị mất thánh hỏa lệnh, đã đem tam đại lệnh, ngũ tiểu lệnh ghi chép lại. Dương giáo chủ chỉ là chép lại bản chép của đời trước mà thôi.
Ngừng lại một chút rồi cất cao giọng nói:
– Các vị huynh đệ, thánh hỏa lệnh trở về với bản giáo, thực là ngàn vạn vui mừng, trên thánh hỏa lệnh ghi đại lệnh đại huấn các đời bản giáo truyền lại, chúng ta có nghiêm túc tuân hành hay không?
Mọi người Minh giáo cùng kêu lên:
– Tự nhiên phải nghiêm túc tuân hành.
Bành Oánh Ngọc nói:
– Bẩm giáo chủ: lúc giáo chủ trước đây khắc tam đại lệnh, ngũ tiểu lệnh trên thánh hỏa lệnh, dân chúng bị quan phủ ức hiếp bóc lột, khổ không nói hết. Bản giáo vì dân chúng ra tay, chính mình tự nhiên không thể làm quan gia, quan phủ. Nhưng hôm nay Thát tử chiếm giang sơn ta, Trung Hoa bị rơi vào tay dị tộc, tôn chỉ lớn nhất của bản giáo, sau khi khu trừ Hồ Lỗ, cứu vớt ngàn vạn dân chúng dưới gót sắt của bọn Thát tử thành công. Giáo chủ làm quan gia, chúng huynh đệ làm quan phủ, không phải vì ức hiếp dân chúng, mà là cứu vớt dân chúng, bảo hộ dân chúng. Bởi vậy chúng thuộc hạ kính xin giáo chủ vì dân chúng mà xưng vương.
Bọn Dương Tiêu, Phạm Dao, Vi Nhất Tiếu đều lập tức phụ họa.
Trương Vô Kỵ nói:
– Các vị huynh đệ, chúng ta vì việc này đã tranh luận nhiều ngày. Bản nhân kiên quyết không muốn xưng đế xưng vương, quyết tâm quyết ý vâng theo thánh hỏa lệnh đại lệnh. Minh giáo Đồ Long đao ta thề giết quân chủ bạo ngược hại dân, giết hết tham quan ô lại, trăm năm ngàn năm, chí này không thay đổi.
Nói xong rút ra Đồ Long đao từ bên hông, nhấc một chiếc ghế gỗ lên, lớn tiếng nói:
– Ta Trương Vô Kỵ thân là giáo chủ Minh giáo Trung Hoa, trước mặt ngàn vạn hảo huynh đệ Minh giáo Trung Hoa, trịnh trọng lập thệ. Nếu vi phạm lời thề, ngàn vạn huynh đệ Minh giáo coi ta là địch; nếu ta vi phạm lời thề thì giống như thế này! .
Ô quang chợt lóe, Đồ Long đao một đao đánh xuống, như nhập vào làn nước xanh, cách một tiếng nhỏ, chém cái ghế làm hai.
Mọi người thấy chàng tâm ý kiên quyết, vả lại có di huấn đời trước, liền không khuyên nhủ Trương Vô Kỵ tự lập làm vua nữa. Mọi người trịnh trọng tuyên thệ, sau này cố gắng phổ huệ thế nhân, thiện tề dân chúng, cứu khổ giúp dân.
Sau này Chu Nguyên Chương đổi tên thành Ngô Vương, cùng Trần Hữu Lượng hội chiến ở Phàn Dương hồ, đám người Chu Điên, Ngũ Hành Kỳ tương trợ Chu Nguyên Chương, đánh cho Trần Hữu Lượng đại bại, chết ngay trong hồ. Sau này lại diệt được Trương Sĩ Thành, Phương Quốc Trân các thế lực đối địch. Chu Nguyên Chương phái Từ Đạt mang binh bắc phạt, đuổi Nguyên Thuận Đế chạy ra sa mạc, triều Nguyên do người Mông Cổ lập ra ở Trung Hoa như vậy diệt vong. Chu Nguyên Chương vẫn còn nhớ Minh giáo, đêm triều đại y lập ra gọi là Minh triều. Nhưng vì Minh giáo bảo hộ dân chúng, triều đình quan phủ liền tàn sát trấn áp, sau thời gian dài, thủ lĩnh đời sau vô năng, Minh giáo rốt cuộc cũng dần dần suy thoái.
Ngày hôm đó Trương Vô Kỵ xử lí sự vụ trong giáo, dặn dò Dương Tiêu, Phạm Dao, Bành Oánh Ngọc tạm thời chấp quyền, ngay hôm đó chàng phải thực hiện lời hứa, đưa Triệu Mẫn đi Mông Cổ, chính mình cũng ở lại Mông Cổ, từ nay về sau không
trở về trung thổ nữa, ngày sau Minh giáo không có giáo chủ, tất phải chọn ra người hiền. Chàng cùng Triệu Mẫn sắp xếp hành trang, mọi việc ổn thỏa, hôm đó vô sự, nhớ tới ngoại hiệu Ngân Câu Thiết Hoạch của phụ thân, vì thế cầm một tấm giấy, tập luyện thư pháp, mong có thể được thừa hưởng từ phụ thân truyền lại. Nhưng lúc cầm bút trên tay, lông bút mềm mại, mặc dù vận Cửu Dương thần công và thủ pháp Càn Khôn Đại Na Di, cũng rất khó điều khiển.
Triệu Mẫn thấy Trương Vô Kỵ cầm cây bút lông chưa để xuống, vẻ mặt không vui liền nói:
– Vô Kỵ ca ca, chàng đáp lời làm cho thiếp ba việc, việc thứ nhất là đi mượn thanh đao Đồ Long cho thiếp xem, việc thứ hai là hôm đó ở Hào Châu không được thành hôn với Chu tỉ tỉ, hai việc coi như đã xong rồi. Còn việc thứ ba, hừ, chàng không được nói rồi nuốt lời đấy nhé.
Trương Vô Kỵ hoảng hốt lắp bắp hỏi lại:
– Nàng… nàng… nàng lại có trò tinh quái gì bắt ta làm đây…
Triệu Mẫn cười tủm tỉm, nói:
– Lông mày thiếp nhạt quá, chàng vẽ lại cho thiếp đi. Chuyện này có gì vi phạm đạo hiệp nghĩa trong võ lâm chăng?
Trương Vô Kỵ cầm bút lên, cười nói:
– Từ nay trở đi, ta sẽ ngày ngày vẽ lông mày cho nàng.
Bỗng từ ngoài cửa sổ có tiếng ai đó cười khúc khích, nói:
– Vô Kỵ ca ca, chàng cũng đã bằng lòng làm cho muội một chuyện nữa đó.
Chính là tiếng của Chu Chỉ Nhược. Cánh cửa từ từ mở ra, khuôn mặt xinh tươi cười nửa miệng của Chu Chỉ Nhược thấp thoáng dưới ánh đèn, Trương Vô Kỵ giật mình:
– Muội… muội… cũng lại đòi ta cái gì nữa đây?
Chu Chỉ Nhược mỉm cười:
– Chàng phải đi ra đây muội mới nói.
Trương Vô Kỵ quay đầu lại nhìn Triệu Mẫn, lại quay sang nhìn Chu Chỉ Nhược, trong đầu ngổn ngang trăm mối chẳng biết nên mừng hay lo, buông cây bút rơi cạch xuống bàn.
Triệu Mẫn đẩy nhẹ Trương Vô Kỵ, nói:
– Chàng tạm đi ra ngoài, nghe nàng nói muốn chàng làm cái gì?
Trương Vô Kỵ nhảy ra cửa sổ, thấy Chu Chỉ Nhược chậm rãi đi xa, liền bước vội vài bước, cùng nàng sóng vai mà đi. Chu Chỉ Nhược hỏi:
– Ngày mai chàng đưa Triệu cô nương đi Mông Cổ, nàng ta từ nay về sau không đến trung thổ nữa, còn chàng thì sao?
Trương Vô Kỵ nói:
– Ta quá nửa cũng từ nay về sau không trở lại. Muội muốn ta làm một chuyện, là cái gì?
Chu Chỉ Nhược chậm rãi nói:
– Nhất báo hoàn nhất báo! Ngày ấy ở Hào Châu, Triệu Mẫn không cho chàng thành thân với muội. Từ nay về sau chàng đến Mông Cổ, chàng cứ việc cả ngày lẫn đêm ở bên cạnh Triệu Mẫn, nhưng không
được bái đường thành thân.
Trương Vô Kỵ cả kinh, hỏi:
– Tại sao vậy?
Chu Chỉ Nhược nói:
– Điều đó không vi phạm đạo hiệp nghĩa chứ?
Trương Vô Kỵ nói:
– Không bái đường thành thân, tự nhiên không vi phạm đạo hiệp nghĩa. Ta với muội vốn có ước hẹn hôn nhân, sau lại cũng không bái đường thành thân. Được! Ta đồng ý với muội. Sau khi tới Mông Cổ, ta không cùng Triệu Mẫn bái đường thành thân, nhưng chúng ta phải làm vợ chồng, cùng nhau sinh con!
Chu Chỉ Nhược mỉm cười nói:
– Vậy là tốt rồi!
Trương Vô Kỵ ngạc nhiên nói:
– Muội muốn kiếm chuyện với chúng ta như vậy, có ích lợi gì?
Chu Chỉ Nhược thản nhiên cười, nói:
– Các người cứ việc làm vợ chồng, sinh con, qua tám năm mười năm, chàng trong lòng chỉ nhớ đến muội, không quên được muội, thế là đủ rồi.
Nói xong thân hình chớp lên, nhẹ nhàng lướt đi, biến mất vào trong bóng tối. Trương Vô Kỵ trong lòng ngơ ngẩn một hồi, nghĩ rằng sau này chỉ cần mỗi ngày cùng Triệu Mẫn như hình với bóng, làm vợ chồng, sinh con, không bái đường thành thân thì cũng chẳng sao. “Vì sao qua tám năm mười năm, trong lòng ta cũng chỉ nghĩ đến Chỉ Nhược, cũng không quên được Chỉ Nhược?”. Lại nghĩ: “Nàng kỳ thật không cùng Tống Thanh Thư thành thân, lại từng có ước hẹn hôn nhân với ta. Nàng làm không ít chuyện có lỗi với ta, lúc này nghĩ lại, cũng không quá xấu xa với ta. Có một số việc nàng làm là do sư phụ bức bách, không làm không được. Nàng mặc dù trộm Đồ Long đao cùng Ỷ Thiên kiếm, nhưng bây giờ Đồ Long đao đã trở về tay ta, biểu muội Ân Ly cũng không chết… Yêu ta sâu đậm, rất muốn lấy ta, ngoài Chỉ Nhược, còn có Mẫn muội, còn có Thù Nhi, còn có Tiểu Chiêu…”.
Thiên tính Trương Vô Kỵ chỉ nhớ những chỗ tốt người khác đối xử với mình, hơn nữa càng nghĩ càng thấy tốt, tự nhiên mà tha thứ khuyết điểm của người khác, người khác sở dĩ đối tốt với chàng cũng là vì yêu chàng, nghĩ muốn sau này, lấy khuyết điểm của người khác biến thành ưu điểm, cho dù trong lòng còn lưu lại một một ít cặn, cũng sẽ nghĩ: “Người đó không sai lầm đâu? Chính mình không phải đã từng có lỗi với người ta? Tiểu Chiêu đối ta thật tốt, nàng đã lấy được Càn Khôn Đại Na Di tâm pháp về, thánh xử nữ giáo chủ không làm cũng không sao. Thù Nhi không luyện Thiên Thù Vạn Độc Thủ, nói không chừng có một ngày lại tìm đến Trương Vô Kỵ ta đây, ta đồng ý lấy nàng làm vợ…”.
Bốn cô nương này, mỗi người đều yêu chàng khắc cốt minh tâm, chàng chỉ nhớ chỗ tốt của người ta, còn toàn bộ khuyết điểm của người ta chàng đều quên hết, vì thế, mỗi người cũng đều rất tốt, rất tốt…
Bình luận chương
Dưới chương này đang có gì?
Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.
Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.