Thiên Long Bát Bộ

Hồi 50: Trung nghĩa khó toàn đành tự vẫn, thân tàn chưa tỉnh mộng quân vương

trước
tiếp

Về đến Vương phủ, Gia Luật Hồng Cơ không gặp Tiêu Phong nữa, chỉ hạ lệnh cho Ngự Doanh chỉ huy sứ giam chàng lại. Chỉ huy sứ nghĩ rằng Tiêu đại vương thần lực trời sinh, nhà lao thông thường giữ làm sao nổi? Hắn liền nghĩ ra một kế, sai người lấy xích sắt vừa to vừa nặng khóa chân tay Tiêu Phong lại, rồi nhốt chàng vào một cái cũi sắt khổng lồ. Đây là cái cũi sắt trước kia A Tử nhốt sư tử, song sắt lớn bằng cánh tay trẻ con.

Bên ngoài cũi sắt lại còn hơn trăm quân ngự lâm cầm trường mâu đứng canh bốn mặt, hễ thấy Tiêu Phong có hành động gì khả nghi là đâm vào trong cũi. Dù sức lực chàng mạnh tới đâu cũng không thể phá kịp cũi sắt này mà tẩu thoát. Ngoài Vương phủ lại còn một đội binh tuần tiễu nghiêm mật. Gia Luật Hồng Cơ cẩn thận điều động hết tướng sĩ bộ thuộc của Tiêu Phong ở Nam Kinh ra ngoài thành, để đề phòng chúng nổi loạn cứu chủ.

Tiêu Phong ngồi dựa vào lan can cũi sắt, nghiến răng chịu đau, chẳng còn lòng dạ suy nghĩ gì nữa. Đến tối hôm sau, qua mười hai giờ, độc tính từ từ giảm đi, Tiêu Phong mới thấy bớt đau. Tuy khí lực chàng đã hồi phục, nhưng tình hình bên ngoài như vậy thì làm sao trốn thoát được? Tiêu Phong tự nghĩ: “Mình có phiền não cũng vô ích. Tiêu Phong này một đời oanh liệt, trải qua vô số nguy nan đều vô sự, lẽ nào bây giờ lại chết trong cũi sắt này ư?” May mà bọn thân binh kính trọng chàng là bậc anh hùng, tuy canh giữ nghiêm mật nhưng rất lễ độ, đưa cơm rượu đầy đủ. Tiêu Phong thản nhiên ăn uống, mới có mấy ngày mà vỏ bì rượu đã chất đống.

Hồng Cơ trước sau vẫn không tới gặp Tiêu Phong, chỉ phái mấy tên thuyết khách hàng ngày đến khuyến dụ. Đại khái chúng nói hoàng thượng khoan hồng đại độ, nhớ lại tình nghĩa năm xưa mà không nỡ gia hình, chỉ mong Tiêu Phong hối lỗi xin tha. Tiêu Phong chẳng thèm để mắt nhìn tới chúng, cứ tự mình rót rượu uống tì tì.

Cứ thế gần một tháng, bọn thuyết khách vẫn không nản chí, ngày nào cũng đến, nói đi nói lại chỉ có mấy câu, nào là: “Hoàng thượng đối với Tiêu đại vương ân đức nặng như non, đại vương nghe lời hoàng thượng là có con đường sống”, nào là: “Hoàng thượng là bậc thần minh trông xa vạn dặm, đã quyết định điều gì là chẳng sai lầm. Đại vương nên theo con đường hoàng thượng đã vạch cho…” vân vân. Chúng cũng biết những lời khuyến dụ đó chẳng lay chuyển được Tiêu Phong, mà cứ nói tới nói lui không ngán.

Một hôm Tiêu Phong bỗng sinh lòng ngờ vực, tự hỏi: “Hoàng thượng không phải hồ đồ, chắc biết khuyên mình cũng vô ích, mà sao cứ cho bọn này đến lải nhải hoài? Nhất định phải có kế hoạch bên trong.” Chàng cúi đầu ngẫm nghĩ, đột nhiên la thầm: “Phải rồi! Hoàng thượng đã đem binh đi đánh Nam triều, ngài sai bọn vô dụng này hàng ngày đến khuyên nhủ, chẳng qua là để mình yên lòng ngồi trong cũi. Nhưng rõ ràng là mình đã hết đường phản kháng, sao người không hạ lệnh giết đi, lại còn uổng công làm như vậy?”

Tiêu Phong nghĩ một lúc nữa liền hiểu rõ nguyên nhân: “Hoàng thượng tự cho là anh hùng, muốn tự mình dẫn binh Nam chinh để lấy giang sơn nhà Đại Tống, bắt mình phải khâm phục. Ngài muốn khi trở về sẽ gặp ta mà diễu võ giương oai, nhưng sợ tính khí ta cương cường có thể tuyệt thực tự tận, bèn phái người đến nói hươu nói vượn.”

Sự sống chết an nguy thì từ lâu chàng đã không để dạ. Tiêu Phong nằm trong cũi không còn kế thoát thân, chẳng buồn suy nghĩ gì nữa. Chàng vì lo âu cho thiên hạ mà không muốn dẫn quân Nam chinh, nhưng nghĩ Gia Luật Hồng Cơ đã động binh rồi, không thể vãn hồi được nữa. Ngoài những tiếng thở dài, chàng chỉ biết uống thật nhiều rượu để đỡ phải suy nghĩ.

Bốn tên thuyết khách vẫn tiếp tục lảm nhảm không dứt. Đột nhiên Tiêu Phong hỏi: “Quân ta đã qua sông Hoàng Hà chưa?” . Bọn thuyết khách ngạc nhiên nhìn nhau, chẳng biết trả lời ra sao. Rồi một tên đáp: “Tiêu đại vương nói rất đúng, đại quân ta sắp khởi hành, chuyện vượt sông Hoàng Hà là lẽ tất nhiên.” Tiêu Phong gật đầu nói: “Thì ra đại quân chưa khởi hành, không hiểu ngày nào là ngày hoàng đạo để xuất quân?” Bốn tên thuyết khách liếc mắt ra hiệu cho nhau, một tên đáp: “Bọn tại hạ chỉ là tiểu tốt, không được nghe đại sự.”

Một tên khác nói: “Chỉ cần Tiêu đại vương hồi tâm nghĩ lại là hoàng thượng tới đây ngay để thương nghị đại sự.” Tiêu Phong hắng giọng một tiếng, không hỏi gì nữa, nghĩ thầm: “Nếu hoàng thượng thắng như chẻ tre, lấy xong Đại Tống chắc sẽ giải mình về Biện Lương tương kiến. Nhưng nếu ngài thua trận trở về thì xấu hổ không gặp mình nữa, người bị giết trước tiên chính là mình. Nhưng mình mong ngài lấy được Đại Tống, hay mong ngài bại trận? Ha ha! Tiêu Phong ơi là Tiêu Phong, e rằng ngươi khó trả lời!”

Hoàng hôn ngày hôm sau, bốn tên thuyết khách lại khệnh khạng đến. Bọn thân binh canh giữ Tiêu Phong đã nghe chúng nói đến phát ngán, nên vừa thấy thì bất giác chau mày, tránh ra mấy bước. Đã hơn một tháng rồi chàng không có ý định trốn đi, lúc này binh sĩ đã không còn canh gác chặt chẽ như trước.

Một tên thuyết khách hắng giọng, rồi lên tiếng: “Tiêu đại vương! Hoàng thượng có chiếu chỉ. Đại vương mà không tuân chỉ thì phạm tội đại ác!” Tiêu Phong nghe câu này không biết đã mấy trăm lần, nhưng lần này thanh âm có điều khác lạ, tựa như người nói bị viêm họng. Bất giác chàng đưa mắt nhìn ra, lại càng thấy ngạc nhiên.

Gã thuyết khách chau mày nheo mắt, nhăn mặt làm bộ điệu rất lạ. Tiêu Phong định thần nhìn kỹ thì thấy tướng mạo người này khác trước nhiều. Chàng lại chú ý quan sát thì không khỏi vừa kinh ngạc vừa hoan hỉ. Mấy sợi râu lưa thưa của gã chỉ là râu giả dán vào, mặt gã cũng bôi bằng mực loãng đen nhẻm thật khó coi, nhưng lại lộ ra mắt hạnh miệng đào, trông thật là xinh đẹp, chính là A Tử. Nàng hạ giọng, giả giọng ồm ồm nói: “Hoàng thượng đã nói là quyết không sai, đại vương cứ tuân theo thánh chỉ mà làm là được! Hừ, đây là thánh dụ của hoàng đế Đại Liêu chúng ta. Đại vương phải kính cẩn đọc mấy lời dụ này.” Nàng nói xong, lấy trong tay áo ra một tờ giấy cho Tiêu Phong đọc.

Lúc này trời sắp tối, nhưng mấy tên quan binh đã thắp đèn lồng sáng cả bốn phía. Tiêu Phong đọc thấy trên giấy vỏn vẹn có tám chữ: “Đại viện đã đến, đêm nay thoát hiểm”. Tiêu Phong hắng giọng một tiếng, rồi lắc đầu. A Tử lại nói: “Chuyến này chúng ta ra quân, binh cường mã tráng, lực lượng hùng hậu, chắc chắn kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công. Đại vương bất tất phải lo phiền nghi ngại.” Tiêu Phong nói: “Ta chỉ vì sợ tổn hại sinh linh mà không muốn Nam chinh, nên mới bị hoàng thượng cầm tù.” A Tử nói: “Thắng trận hay không là nhờ ở mưu cao, cần gì phải giết người cho lắm.”

Tiêu Phong nhìn ba tên thuyết khách kia thì thấy kẻ phe phẩy cây quạt, người giơ tay áo lên, dường như không muốn ai nhìn rõ mặt, dĩ nhiên đều đồng mưu với A Tử. Tiêu Phong thở dài nói: “Bằng hữu có hảo ý, ta rất cảm kích. Nhưng bên địch phòng thủ cực kỳ nghiêm mật, thì việc đánh thành chiếm đất e rằng không chắc thắng được đâu…”

Chàng chưa dứt lời, đột nhiên nghe mấy tên quan binh la hoảng: “Rắn độc! Rắn độc! Ở đâu mà nhiều rắn độc thế này?” Quả nhiên, ngoài cửa lớn, ngoài cửa sổ, vô số rắn độc đang uốn éo bò tới, đầu lắc lư, lưỡi thè ra. Trong sảnh đường nhốn nháo cả lên. Tiêu Phong động tâm nghĩ thầm: “Đàn rắn độc này tựa hồ do huynh đệ Cái Bang điều khiển.”

Bọn thân binh giơ trường mâu đâm túi bụi. Tên đội trưởng thân binh quát lên: “Quân hầu cận Tiêu đại vương không được xê dịch nửa bước, kẻ nào trái lệnh thì phải chém đầu.” Tên đội trưởng này rất minh mẫn, hắn thấy rắn bò đến một cách kỳ lạ, chỉ sợ mọi người hoảng loạn để Tiêu Phong thừa cơ trốn thoát. Quả nhiên bọn thân binh đứng gác cũi sắt không dám nhúc nhích, tên nào cũng cầm trường mâu chĩa vào Tiêu Phong trong cũi. Chúng không dám xê dịch, nhưng mắt vẫn liếc chừng bầy rắn độc, khi rắn đến gần, chúng mới vung đao lên chém.

Đang lúc náo loạn, phía sau Vương phủ lại có tiếng la ó: “Lấy nước chữa lửa! Chữa lửa!”. Tên đội trưởng lại quát lên:”  “Khải Hổ Nhi, ngươi đi báo với Chỉ huy sứ đại nhân, hỏi xem có đưa Tiêu đại vương đi chỗ khác không?” Khải Hổ Nhi là tên trưởng toán bọn lính canh, quay lưng toan chạy đi. Bỗng nghe ngoài sảnh đường có tiếng người quát: “Không được trúng kế điệu hổ ly sơn của quân gian tế. Nếu có người cướp ngục thì đâm chết Tiêu Phong đi!” Người ra lệnh đó chính là Chỉ huy sứ, tay cầm trường đao, đứng chắn ngay cửa, oai phong lẫm liệt.

Đột nhiên có bóng lấp loáng, một con rắn nhỏ sắc xanh nhảy tới đớp vào mặt Chỉ huy sứ, hắn vội vung đao lên chém. Bỗng nghe tiếng ám khí veo véo từ ngoài bắn vào, đèn đuốc trong đại sảnh đều tắt ngấm, trong nhà tối om. Chỉ huy sứ la lên một tiếng: “Úi chao!”, đã trúng ám khí ngã ngửa ra sau.

A Tử rút bảo đao trong tay áo ra chém vào xích sắt trói Tiêu Phong. Mấy tiếng “chát, chát” vang lên, xích sắt đứt liền. Tiêu Phong nghĩ bụng: “Mấy cây song sắt này lớn quá, e rằng đao chặt không đứt. Biết làm thế nào mà ra được?” Đột nhiên chàng thấy đất dưới chân lõm xuống. A Tử bên ngoài cũi sắt nói nhỏ: “Theo đường hầm mà trốn!” Rồi Tiêu Phong thấy hai bàn tay từ dưới đất thò lên, nắm chân mình kéo xuống. Thì ra đây là Hoa Hách Cấn từ Đại Lý đến viện trợ. Y chuyên nghề đào mồ trộm, mà cũng phải mất mười ngày mới đào xong địa đạo từ ngoài vào đến chỗ Tiêu Phong.

Hoa Hách Cấn kéo Tiêu Phong xuống, rồi theo đường địa đạo bò ra, mau lẹ chẳng kém gì người đi trên mặt đất. Chỉ trong khoảnh khắc y đã bò được hơn trăm trượng, rồi đỡ Tiêu Phong đứng dậy. Tiểu Phong vừa ở trong đường hầm chui ra đã thấy ba người đứng ở cửa hầm, vẻ mặt rất hoan hỉ, chính là Đoàn Dự, Phạm Hoa và Ba Thiên Thạch. Đoàn Dự lên tiếng gọi: “Đại ca!” rồi nhảy xổ lại ôm Tiêu Phong.

Tiêu Phong cười ha hả, nói: “Thần kỹ của Hoa tư đồ thật là hiếm thấy. Hôm nay tại hạ mới biết, lấy làm bái phục!” Hoa Hách Cấn nói:”Được kim khẩu Tiêu đại vương khen ngợi, thật là chuyện vinh dự nhất trong đời tiểu nhân!”

Chỗ này cách Vương phủ Nam Viện Đại Vương chưa xa mấy, tiếng Liêu binh la ó reo hò vẫn còn nghe rõ. Bỗng thấy có người cưỡi ngựa chạy qua, vừa thổi tù và vừa lớn tiếng gọi: “Địch nhân đánh vào cửa Đông! Quan binh canh gác ngự doanh phải giữ nguyên vị trí, không được tự tiện chạy đi!” Phạm Hoa nói: “Tiêu đại vương, vậy chúng ta theo cửa Tây mà đánh ra!” Tiêu Phong gật đầu nói: ” Được lắm! Không hiểu mấy người bọn A Tử đã thoát ra chưa?”

Phạm Hoa chưa kịp đáp thì giọng A Tử từ cửa hầm vọng ra: “Tỉ phu! Thì ra huynh còn nhớ đến muội.” Thanh âm của nàng đầy vẻ vui mừng. Nàng từ trong đường hầm chui ra, dưới cằm vẫn dán mấy sợi râu lơ thơ, mặt lem luốc trông rất dơ dáy, nhưng trong mắt Tiêu Phong thì từ ngày biết nàng đến giờ, có lẽ lúc này chàng thấy nàng đẹp nhất. A Tử rút bảo đao ra toan chặt khóa cho Tiêu Phong. Nhưng cái khóa này sát vào da thịt, nếu chém trệch đi một chút là đứt tay ngay. Nàng liền đưa bảo đao cho Đoàn Dự nói: “Ca ca! Huynh cắt đi.” Đoàn Dự đón lấy bảo đao rồi vận nội lực vào, cắt khóa sắt ngọt như gọt gỗ.

Lúc ấy trong hầm lại có ba người nữa chui lên. Một là Chung Linh, hai là Mộc Uyển Thanh, còn người thứ ba là một đệ tử Cái Bang tám túi. Y là tay thiện nghệ về nuôi rắn độc, vừa rồi đã huy động đàn rắn xông vào đại sảnh làm náo động đối phương. Tên đệ tử này thấy Tiêu Phong vô sự thì mừng chảy nước mắt, gọi: “Bang chủ! Lão nhân gia…”

Tiêu Phong lại được nghe đệ tử Cái Bang gọi mình bằng Bang chủ với giọng trung thành, trong lòng không khỏi cảm động, ngắt lời: “Làm khó cho ngươi rồi!” Câu nói của chàng làm y cảm động đến rơi lệ.

Phạm Hoa nói: “Binh mã nước Đại Lý đang đánh nhau với Liêu binh ở cửa Đông, chúng ta nên nhân lúc lộn xộn mà chạy đi thôi. Tiêu đại vương đừng ra tay, để họ khỏi nhận ra.” Tiêu Phong đáp: “Đúng thế!” Chín người từ trong cửa lớn xông ra. Tiêu Phong quay đầu nhìn lại, thì đây vốn là một tòa nhà lợp ngói, nhưng đã bị tàn phá, nhìn không còn ra hình thù gì nữa. A Tử la lên bằng tiếng Khất Đan: “Cứu hỏa! Cứu hỏa!” Phạm Hoa, Hoa Hách Cấn cũng bắt chước la theo. Ba Thiên Thạch khinh công tuyệt diệu, thấy ngoài đường không có quân lính liền chạy đi trước, chạy đến đâu phóng hỏa đến đấy. Chỉ một lát đã có bảy tám chỗ lửa bốc ngùn ngụt.

Chín người chạy về phía tây. Bọn Đoàn Dự hóa trang làm người khất Đan, lúc này trong thành cực kỳ hỗn loạn nên không ai để ý. Thỉnh thoảng nghe tiếng vó ngựa kỵ binh Khất Đan chạy đến, thì chín người lại dạt ra ẩn nấp. Đoàn người chạy qua đến chín mười đường phố, bỗng nghe tù và thổi inh ỏi, tiếng người la ó: “Không xong rồi! Quân địch phá cửa Bắc, bắt hoàng thượng đem đi rồi!”

Tiêu Phong kinh hãi dừng lại, hỏi Đoàn Dự:”Liêu đế bị bắt rồi ư? Tam đệ! Liêu đế đã là nghĩa huynh của ta, tuy người bất nhân với ta, song ta không thể bất nghĩa với người. Vạn vạn lần không thể…” A Tử cười đáp: “Tỉ phu cứ yên tâm! Đó là bọn ba mươi sáu Động chúa, bảy mươi hai Đảo chúa thuộc hạ cung Linh Thứu đã phao ngôn để náo loạn lòng người. Trong thành Nam Kinh có trọng binh đóng giữ, hoàng đế lại có hơn một vạn thân binh bảo vệ, làm sao mà bắt được?” Tiêu Phong vừa lo vừa mừng, hỏi lại: “Thuộc hạ của nhị đệ cũng đến đây ư?”

A Tử đáp: “Chẳng những thuộc hạ của tiểu hòa thượng, mà chính tiểu hòa thượng cùng vợ y cũng đến.” Tiêu Phong ngạc nhiên hỏi: “Tiểu hòa thượng có vợ rồi ư?” A Tử cười đáp: “Tỉ phu chưa biết đâu, vợ của Hư Trúc Tử chính là công chúa nước Tây Hạ. Nhưng nàng lúc nào cũng lấy khăn che mặt, ngoài tiểu hòa thượng ra không một ai được nhìn thấy dung nhan. Muội đã hỏi tiểu hòa thượng xem vợ y có đẹp không, nhưng y chỉ cười mà không đáp.”

Tiêu Phong đang chạy trốn rất nguy hiểm, nhưng được nghe chuyện lạ này cũng bất giác thấy mừng cho Hư Trúc, quay lại nhìn Đoàn Dự một cái. Đoàn Dự cười nói: “Đại ca bất tất phải nghĩ ngợi. Tiểu đệ chẳng để tâm gì đâu, mà nhị ca cũng không thất tín. Chuyện này kể ra dài lắm, chúng ta từ từ rồi hãy nói.”

Mọi người chạy thêm một đoạn đường nữa, bỗng thấy trong quảng trường phía trước có một cái đài cao, lửa cháy rất dữ. Trước đài có dựng hai cột cờ lớn, hai lá cờ cũng đang cháy ngùn ngụt. Tiêu Phong biết đây là võ trường trong thành Nam Kinh, là nơi để quân Liêu tập dượt. Nhưng chàng không biết cái đài này dựng lên từ bao giờ.

Ba Thiên Thạch nói với Đoàn Dự: “Bệ hạ! Tướng đài của Liêu chúa bị cháy, cờ soái cũng ra tro, đó là điềm bất tường. Chuyến này Gia Luật Hồng Cơ đem quân đánh Tống, e rằng bất lợi.” Đoàn Dự gật đầu nói: “Đúng thế.”

Tiêu Phong nghe Ba Thiên Thạch gọi “Bệ hạ” mà Đoàn Dự lại gật đầu, thì lấy làm lạ hỏi: “Tam đệ! Ngươi… ngươi làm hoàng đế rồi ư?” Đoàn Dự buồn rầu đáp: “Tiên phụ bất hạnh lâm chung giữa đường, hoàng bá phụ lánh ngôi đầu Phật, lên Thiên Long Tự xuất gia, bắt tiểu đệ phải tiếp ngôi. Tiểu đệ vô tài vô đức mà phải ở ngôi cao, thật là xấu hổ.”

Tiêu Phong giật mình nói: “Trời ơi, bá phụ mất rồi ư? Tam đệ! Ngươi đã là vua một nước, sao còn vì ta mà dấn thân vào nơi nguy hiểm? Lỡ mà ngươi chỉ tổn thương chút xíu, ta… ta phải đối xử với quân dân cả nước Đại Lý ra sao?”

Đoàn Dự cười hì hì đáp: “Đại Lý chỉ là một nước nhỏ ở trời nam hẻo lánh, hài chữ Hoàng Đế cũng là tiếm hiệu. Tiểu đệ không đáng vị quân vương, có chỗ nào xứng làm hoàng đế đâu? Mỗi khi tiểu đệ nghe người ta kêu bằng bệ hạ, lại thấy hổ thẹn trong lòng. Hai ta tình như cốt nhục, có lẽ đâu đại ca gặp nạn mà tiểu đệ lại không đến chia xẻ với đại ca?”

Phạm Hoa nói: “Tiêu đại vương hết lòng can gián Liêu đế, không chịu đánh Tống, tệ quốc từ trên xuống dưới chẳng ai là không cảm đại đức. Liêu đế lấy được Đại Tống xong, tất nhiên tràn xuống lấy nốt Đại Lý. Tệ quốc tướng sĩ kém cỏi, địch làm sao được với tinh binh Khất Đan? Tiêu đại vương cứu Đại Tống tức là cứu luôn cả Đại Lý. Vậy Đại Lý có phải đem hết sức mà bảo vệ đại vương cũng là hợp lý.”

Tiêu Phong nói: “Ta là một tên dũng phu, chỉ không nỡ nhìn hai nước giao tranh sinh linh chết chóc, làm gì có công lao?”

Lúc ấy thành Nam Kinh đang cháy ngút trời, trăm họ dắt díu nhau chạy loạn, lẫn lộn trong quân mã. Có tiếng la: “Hòa thượng chùa Thiếu Lâm ở Nam triều cùng vô số hảo hán đến đánh phá cửa Nam.” Có người gầm lên: “Nam Viện đại vương Tiêu Phong làm phản, đầu hàng Tống triều, giết chết Liêu chúa rồi!” Mấy tên quân Khất Đan nghiến răng nói: “Tên Tiêu Phong phản quốc hàng giặc, chỉ hận mình không xé xác hắn ra được.” Lại có người hỏi: “Vạn tuế gia bị phản tặc Tiêu Phong gia hại rồi ư?” Một người khác đáp: “Còn chi mà không thật? Chính mắt ta trông thấy thằng khốn Tiêu Phong cưỡi ngựa trắng xông lại trước mặt hoàng thường, Cầm thương đâm thủng ngực ngài!” Một lão già hỏi: “Thằng chó Tiêu Phong sao lại bất lương đến thế? Hắn là người Khất Đan hay là người Hán?” Một đại hán đáp: “Nghe nói hắn là Nam man, ăn mặc giả làm người Khất Đan. Hắn tàn ác hơn cả loài cầm thú.”

A Tử thấy bọn người Khất Đan này vừa chạy vừa thóa mạ Tiêu Phong thì tức giận đến cực điểm, vung roi ngựa lên toan đánh. Tiêu Phong vội giơ tay ngăn cản, lắc đầu khẽ nói: “Để mặc họ nói sao thì nói.” Chàng lại hỏi: “Các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm đến đây thật ư?”

Tên đệ tử tám túi đáp: “Tại hạ xin trình với Bang chủ: Đoàn cô nương ra khỏi Nam Kinh thì gặp Ngô trưởng lão bản bang, nói là Bang chủ vì giang sơn nhà Đại Tống cùng trăm họ người Hán mà hết sức ngăn cản Liêu chúa khởi binh đánh Tống, đến nỗi bị người Liêu cầm tù. Ngô trưởng lão không tin, cho rằng Bang chủ vốn người Khất Đan, khi nào còn nghĩ đến Đại Tống? Trưởng lão đích thân trà trộn vào trong thành Nam Kinh, tự mình thám thính mới tin lời Đoàn cô nương là đúng. Ngô trưởng lão bèn lấy Thanh Trúc Lệnh, bảo bọn đệ tử bố cáo cho các vị anh hùng Trung Nguyên biết Bang chủ là bậc đại nhân đại nghĩa. Hết thảy võ lâm Trung Nguyên đều cảm động về tấm lòng hào hiệp của Bang chủ, rồi nhờ các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm dẫn đầu, kéo đến cứu viện Bang chủ.”

Tiêu Phong nhớ lại ngày ở Tụ Hiền Trang, mình đã cùng võ lâm Trung Nguyên thành cừu địch, lại giết bao nhiêu anh hùng hao hán, thế mà nay quần hùng lại đến cứu mình. Trong lòng chàng vừa cảm kích vừa hối hận.

A Tử nói: “Bọn ăn mày Cái Bang mà truyền tin đi bốn phía thì còn gì mau lẹ bằng? Trời ơi! Chết rồi! Đáng tiếc, đáng tiếc!” Đoàn Dự hỏi: “Cái gì mà đáng tiếc?” A Tử đáp: “Lúc này muội đem cái Thần Mộc Vương Đỉnh đốt hương trong nhà đại sảnh để dẫn dụ rắn đến, vội quá mà để quên mất rồi.” Đoàn Dự cười nói: “Cái vật bàng môn tả đạo đó quên mất thì thôi, đem theo bên mình để làm gì?” A Tử nói: “Hừ! Bàng môn tả đạo cái gì? Không có nó thì lấy gì mà dụ đàn rắn độc tới nhanh như thế, tỉ phu muội đâu có thoát thân một cách dễ dàng?”

Nàng chưa dứt lời, đã nghe tiếng binh khí vang lên choang choảng. Dưới ánh lửa, ai nấy trông rõ bọn quân Liêu đang đánh lẫn nhau. Tiêu Phong ngạc nhiên hỏi: “Lạ chưa? Sao bọn chúng lại…” Đoàn Dự ngắt lời: “Đại ca! Những người cổ buộc vải trắng là phe ta.” A Tử lấy ra một miếng vải trắng đưa cho Tiêu Phong rồi nói: “Tỉ phu buộc vào!”

Tiêu Phong nhìn rất rõ ràng, quân Liêu không phân biệt được địch ta nên đâm chém loạn xạ, tự tàn sát rất nhiều. Còn quân Liêu giả, cổ buộc vải trắng, cứ nhằm quân Liêu thật mà đâm chém. Tiêu Phong thấy người Liêu máu bắn tứ tung, thây nằm chật đất, bất giác la lớn: “Ta là người Khất Đan, không phải người Hán! Ta là người Khất Đan, không phải người Hán!” Tay chàng cầm miếng vải trắng mà không sao buộc vào cổ được.

Lúc ấy có tiếng ken két vang lên, hai cánh cổng nặng nề của cửa Tây thành mở ra. Đoàn Dự và Phạm Hoa đẩy bừa Tiêu Phong ra ngoài. Ngoài thành đèn đuốc sáng trưng, không biết bao nhiêu bang chúng Cái Bang đã cưỡi ngựa đến. Họ vừa thấy Tiêu Phong đã hoan hô như sấm dậy: “Kiều Bang chủ! Kiều Bang chủ!” Lửa sáng rực trời, tiếng hô dậy đất.

Hai dãy đèn đuốc chuyển động tựa như hai con rồng lửa. Một lão già ở giữa cưỡi ngựa tiến lại, hai tay nâng cây Đả Cẩu Bổng tín vật của Bang chủ Cái Bang lên tận đỉnh đầu, chính là Ngô trưởng lão. Lão tới trước mặt Tiêu Phong liền xuống ngựa, quỳ xuống đất nói: “Ngô Trường Phong này được huynh đệ ủy thác đem cây Đả Cẩu Bổng trả lại Bang chủ. Bọn thuộc hạ hồ đồ đáng chết, đã vu oan cho người tốt, để Bang chủ phải chịu bao nhiêu nỗi cơ cực. Bọn thuộc hạ thật không bằng giống chó lợn, mong rằng Bang chủ đại nhân dại nghĩa mà quên tội lỗi của bọn tiểu nhân, nghĩ tới bang chúng không người dẫn dắt, trở lại làm Bang chủ. Bọn tiểu nhân vì mắc lừa gian tặc mà bảo Bang chủ là giống chó Khất Đan, thực tội đáng ngàn đao phân thây, xin Bang chủ trừng phạt”. Lão nói xong, cầm cây Đả Cẩu Bổng trao cho Tiêu Phong.

Tiêu Phong không khỏi đau lòng, đáp: “Ngô trưởng lão! Tại hạ đúng là người Khất Đan. Các vị trọng nghĩa mà viện trợ, tại hạ cảm kích vô cùng! Nhưng ngôi bang chủ Cái Bang thì tại hạ vạn vạn lần không thể nhận được nữa.” Chàng vừa nói vừa đưa tay ra nâng Ngô Trường Phong dậy.

Ngô Trường Phong vò đầu bứt tai, hỏi: “Bang chủ… Bang chủ là người Khất Đan ư? Bang chủ… Bang chủ nhất định không làm bang chủ nữa ư? Kiều Bang chủ! Bang chủ là người đại lượng, đừng oán hận nữa!”

Bỗng nghe trong thành trống thúc liên hồi, đại đội Liêu binh kéo ra. Đoàn Dự nói: “Ngô trưởng lão! Chúng ta chạy mau đi! Quân Liêu thế lớn, để họ bày thành trận thế là không địch nổi.”

Tiêu Phong cũng biết Cái Bang cùng quần hùng Trung Nguyên chiếm được thượng phong là nhờ đánh bất ngờ. Nếu thực sự chiến đấu thì mấy trăm mấy ngàn hảo hán giang hồ địch làm sao lại mấy vạn quân tinh nhuệ nước Liêu? Mà nếu đánh nhau thì hai bên sẽ tử thương rất nhiều, trái với ý nguyện của mình. Chàng liền nói: “Ngô trưởng lão! Việc cử Bang chủ rồi sẽ tính sau. Trưởng lão truyền lệnh, kêu anh em theo cửa Tây rút lui ngay!”

Ngô trưởng lão “Vâng! một tiếng, gấp rút truyền lệnh cho bang chúng Cái Bang đổi hậu đội làm tiền đội, xông về phía tây mà chạy. Chẳng mấy chốc, Hư Trúc Tử dẫn quần nữ dưới trướng cung Linh Thứu cùng bọn ba mươi sáu động bảy mươi hai đảo cũng theo kịp. Đoàn người chạy được vài dặm thì lại gặp bọn Chu Đan Thần dẫn một đoàn võ sĩ nước Đại Lý cũng đuổi tới nơi. Chỉ còn thiếu quần tăng chùa Thiếu Lâm và quần hào Trung Nguyên mãi chưa thấy đến. Trong thành Nam Kinh vẫn nghe tiếng xung sát ác liệt văng vẳng đến.

Tiêu Phong nói: “Quần tăng chùa Thiếu Lâm và hào kiệt Trung Nguyên còn bị kẹt ở trong thành, chúng ta hãy chờ một chút.” Một lúc sau, tiếng reo hò lẫn tiếng binh khí đánh nhau trong thành lại càng vang dội. Đoàn Dự nói: “Đại ca đợi ở đây, để tiểu đệ vào giúp họ ra.” Chàng nói xong, dẫn bọn võ sĩ nước Đại Lý quay vào thành.

Lúc này trời đã mờ mờ sáng. Tiêu Phong hồi hộp trong lòng, chỉ sợ rằng quần hào khó lòng thoát hiểm. Tiếng reo hò trong thành lại càng dữ dội khủng khiếp. Bọn võ sĩ Đại Lý xông vào Liêu trận đã lâu, mà mãi vẫn chưa thấy cứu quần hào ra.

Một tên đệ tử Cái Bang phi ngựa đến báo: “Mấy ngàn quân thiết giáp bên Liêu đã giữ chặt cửa thành phía tây rồi. Số đông võ sĩ Đại Lý chưa xông vào được, còn quần hùng Trung Nguyên bị hãm trong thành không ra thoát.” Hư Trúc Tử vẫy tay gọi: “Bọn cung Linh Thứu chúng ta phải đi tiếp ứng!” Y liền dẫn hơn hai ngàn hảo hán khắp tam sơn ngũ nhạc và quần nữ chín bộ cung Linh Thứu xông vào trận.

Tiêu Phong ngồi trên lưng ngựa, nhìn về phía đông thì thấy rải rác trong thành Nam Kinh có lửa bốc lên, phía tây một ngọn lửa, phía đông một ngọn lửa, không hiểu vì lẽ gì. Chàng chờ một lúc, lại có thám tử về báo: “Đoàn hoàng gia nước Đại Lý cùng Hư Trúc Tử tiên sinh cung Linh Thứu đã mở một đường máu, xông được vào trong thành.”

Trước nay hễ có đánh nhau là Tiêu Phong đi đầu, mà lần này chàng phải đứng chờ một chỗ. Lòng nóng như lửa đốt, chàng nói: “Ta phải đi xem sao!” Ba cô A Tử, Mộc Uyển Thanh và Chung Linh đều khuyên can: “Người Liêu chỉ muốn bắt được huynh mới cam tâm, ngàn vạn lần chớ nên mạo hiểm! Tiêu Phong nói: “Không sao!” Rồi chàng phóng ngựa đi trước, bang chúng Cái Bang cũng kéo hết theo sau.

Đoàn người đi đến ngoài cửa Tây thành Nam Kinh thì thấy rải rác dưới chân tường và trên mặt thành có đến mấy trăm xác chết nằm la liệt, phần lớn là Liêu binh, cũng có một số là võ sĩ của Đoàn Dự và thuộc hạ của Hư Trúc. Cửa thành hé mở, hai vị Đảo chúa cầm đại đao đứng giữ, hễ quân Liêu xông ra là chém, không để cho chúng đóng cửa thành lại.

Bỗng nghe phía nam và phía bắc có tiếng vó ngựa dồn dập. Tiêu Phong kinh hãi nói: “Nguy rồi! Nếu đại đội Liêu binh chia hai ngả nam bắc quay lại đánh, thì chúng ta bị bao vây mất.” Chàng tung mình nhảy lên, nửa chừng thì điểm chân vào tường để mượn đà nhảy lên cái nữa, đến được mặt thành. Tiêu Phong nhìn vào thành thì thấy bên trong cửa Tây, mỗi chỗ một tốp người đang giao tranh. Quần hào Trung Nguyên bị vô số quân Liêu chia ra vây đánh. Bọn hào kiệt tuy võ công cao cường, nhưng một phải địch hơn mười, đánh nhau đã lâu thành ra mỏi mệt, ít người không địch nổi số đông.

Tiêu Phong đứng trên mặt thành, hết nhìn vào trong lại nhìn ra ngoài, chưa biết quyết định thế nào. Quần hào bị vây hãm kia đều vì giúp chàng mà bị nguy khốn, dĩ nhiên chàng không thể mở mắt mà nhìn bọn họ chết dưới lưỡi đao của quân Liêu. Nhưng chàng lại nghĩ, nếu mình nhảy xuống cứu viện thì công nhiên coi quân Liêu là thù địch, sẽ biến thành một tên Liêu gian phản quốc giúp giặc, chẳng những thẹn với tổ tông mà còn bị đồng bào thóa mạ. Bốn chữ “Tiêu Phong bất trung” sẽ lưu xú vạn niên.

Tiêu Phong vốn làm gì cũng mau lẹ quyết đoán, mà lúc này tiến thoái lưỡng nan. Chàng thấy bên bức tường thành có bảy tám tên võ sĩ Khất Đan đang vây đánh hai vị lão tăng chùa Thiếu Lâm. Một vị tay múa giới đao chống cự, miệng phun máu tươi ra không ngớt, rõ ràng đã bị trọng thương, Tiêu Phong chú ý nhìn kỹ thì chính là Huyền Minh đại sư. Còn một vị nữa vung thiền trượng liều mạng chống dở, chính là Huyên Thạch đại sư. Hai tên võ sĩ Khất Đan vung trường đao lên chém xuống Huyền Minh. Huyền Minh định vung giới đao lên gạt, không ngờ mới đưa lên đến ngang ngực đã kiệt lực. Huyền Thạch hất ngược cây thiền trượng, gạt vào sống đao đánh choang một tiếng. Thần lực ghê hồn, hai thanh trường đao bật ngược lại, dập vào trán hai tên võ sĩ Khất Đan làm cho đầu chúng vỡ tan. Huyền Thạch chưa kịp mừng thì lại nghe tiếng Huyền Minh rú lên, máu tươi vọt ra tung tóe, vai trái đã trúng một đao. Huyền Thạch phóng trượng đập liền, một tên Liêu binh gãy nát xương mà chết. Nhưng lúc ấy Huyền Thạch sơ hở trước ngực, bị một tên võ sĩ Khất Đan cầm trường mâu đâm trúng bụng, mũi mâu xuyên qua sau lưng cắm chặt vào bức tường thành. Huyền Thạch rú lên một tiếng, dùng hết tàn lực vung trượng đập một cái cuối cùng, tên võ sĩ Khất Đan này vỡ đầu chết ngay. Huyền Minh thấy Huyền Thạch bị trúng mâu, múa loạn thanh giới đao không thành chiêu số gì hết, hai mắt đẫm lệ, la gọi: “Sư đệ!”

Nhiệt huyết Tiêu Phong sôi lên sùng sục, chàng không nhẫn nại được nữa, lớn tiếng quát: “Tiêu Phong ở đây! Các ngươi muốn giết thì lại mà giết ta, đừng giết người vô tội nữa!” Chàng từ mặt thành nhảy xuống, người chưa chấm đất đã đá bốn tên võ sĩ Khất Đan văng đi. Chân trái vừa đặt xuống đất, lập tức kéo Huyền Minh lại, tay phải cầm lấy cây thiền trượng của Huyền Thạch. Tiêu Phong nói: “Tại hạ đến cứu viện chậm trễ, tội nghiệt thực là thâm trọng.” Chàng gạt cây thiền trượng một cái, lại hai tên võ sĩ Khất Đan bị bắn ra xa đến mười mấy thước.

Huyền Thạch cười khổ, nói: “Bọn lão nạp vu oan cư sĩ là người Khất Đan, tội nghiệt lại càng thâm trọng. Thiện tai! Thiện tai! Đến nay nước chảy đá…” Chữ “bày” chưa thốt được, Huyền Thạch đã ngoẹo đầu ra, tuyệt khí chết rồi.

Tiêu Phong cứu được Huyền Minh, lại quay sang bên trái, xông vào chỗ bọn võ sĩ Đại Lý đang bị vây đánh. Tướng sĩ nước Liêu thấy Nam Viện Đại Vương đột nhiên xuất hiện thần oai lẫm liệt, đều hoảng vía kinh hồn. Tiêu Phong múa tít cây thiền trượng đánh ra tới tấp, tuy chàng không muốn giết người, nhưng ai đụng phải cũng bị thương liền. Bọn Liêu binh vừa la hét vừa dạt ra hai bên, chỉ trong khoảnh khắc, Tiêu Phong đã gom hơn hai trăm người tụ vào một chỗ. Chàng lớn tiếng nói: “Các vị chớ có rời nhau ra.” Dứt lời chàng dẫn hai trăm người này đi quanh một lượt, hễ thấy ai bị bao vây là lại xông vào đón ra. Tiêu Phong mỗi lúc một mở rộng hàng ngũ, đến lúc quy tụ lại được chừng một ngàn người thì quân Liêu không ngăn trở được nữa. Chàng cùng Hư Trúc, Đoàn Dự và Huyền Độ đại sư chùa Thiếu Lâm dẫn quần hào Trung Nguyên xông ra cửa thành.

Tiêu Phong hoành ngang thiền trượng, đứng bên cổng thành bảo vệ cho ba cánh nhân mã là nước Đại Lý, cung Linh Thứu và quần hào Trung Nguyên ra khỏi. Binh tướng nước Liêu chỉ đuổi theo xa xa mà la ó om sòm, không một tên nào dám tiến lên xung sát.

Tiêu Phòng chờ mọi người ra hết rồi mới đi sau cùng. Chàng ngoảnh đầu nhìn lại thì thấy tử thi chất đống, không biết đã chết mất bao nhiêu sinh mạng. Chợt nhìn thấy hai nữ nhân thuộc hạ cung Linh Thứu đang lăn lộn rên la trên vũng máu, không ngồi dậy được, Tiêu Phong lại quay vào thành, nắm lấy lưng xách hai người này ra.

Đột nhiên trống thúc liên hồi, hai đội quân từ hai phía nam bắc đã kéo đến. Tiêu Phong cũng hơi sờn lòng, vì hai đội quân này mỗi đội có hơn vạn người, bên mình lại chiến đấu lâu rồi, ai chưa bị thương thì cũng đã mệt nhoài, không thể đối địch được nữa. Chàng liền lớn tiếng gọi: “Huynh đệ Cái Bang xuống ngựa chặn hậu, nhường các bằng hữu bị thương cưỡi ngựa rút lui trước.” Bang chúng Cái Bang vâng dạ, vội vàng xuống ngựa. Tiêu Phong lại hô: “Lập thành Đả Cẩu Đại Trận!” Bang chúng vừa hát bài Liên Hoa Lạc vừa dàn thành trận thế. Tiêu Phong la lên: “Huyền Độ đại sư, nhị đệ, tam đệ! Mau dẫn bằng hữu bản bộ chạy về phía Tây, để Cái Bang đoạn hậu.”

Dưới ánh dương quang, đao thương của binh tướng nước Liêu lấp loáng sáng lòa. Mấy vạn vó ngựa thiết kỵ nện xuống đất ầm ầm, tựa hồ núi non cũng phải rung chuyển.

Hư Trúc cùng Đoàn Dự thấy uy thế Liêu binh ghê gớm, biết là Đả Cẩu Đại Trận của Cái Bang dù tuyệt diệu đến đâu cũng khó ngăn cản nổi. Hai người liền đến bên Tiêu Phong đồng thanh nói: “Đại ca! Chúng ta kết nghĩa anh em, có họa cùng chịu, sống chết có nhau!” Tiêu Phong nói: “Vậy hai ngươi hãy bảo nhân mã bản bộ rút lui trước đã.”

Hư Trúc, Đoàn Dự vội vàng hạ lệnh cho thuộc hạ rút lui. Ngờ đâu bộ thuộc cung Linh Thứu không chịu bỏ chủ nhân, nhất là tướng sĩ Đại Lý khi nào chịu để hoàng đế ở lại nơi hiểm địa mà tự mình bỏ chạy? Quân Liêu đến mỗi lúc một gần, vũ tiễn bắn tới chỉ còn cách bọn Tiêu Phong mười mấy trượng. Lẽ ra thì Huyền Độ đã thống lĩnh quần hào Trung Nguyên rời khỏi đây, nhưng lúc này quần hào thấy tình thế nguy hiểm, đã có mấy chục người chạy lại trợ chiến.

Tiêu Phong lòng hoảng sợ, nghĩ thầm: “Những người này tuy võ công cao cường nhưng không hiểu binh pháp, chỉ xúm xít lại với nhau thì làm sao chống cự với Liêu binh được? Mình chết chẳng kể làm chi, nhưng bấy nhiêu người đều bị quân Liêu giết hết ở ngoài thành Nam Kinh, thì ra… thì ra…”

Đột nhiên trong Liêu trận nổi hiệu thanh la để lui quân, quân Liêu quay đầu ngựa lại, đổi hậu đội thành tiền đội, rút lui về hai phía nam bắc. Tiêu Phong ngạc nhiên không hiểu ra sao, rồi thấy sau trận quân Liêu có tiếng reo dậy đất, cát bụi mịt mù, thì ra đã có một cánh quân đến tập hậu. Tiêu Phong tự hỏi: “Phía sau Liêu trận lại có nhân mã đến đánh, chẳng lẽ bên Liêu có quân nổi loạn? Nếu hoàng thượng mà hoảng hốt thì tình hình thật là nguy hiểm.” Chàng thấy quân Liêu khốn đốn, bất giác không tự chủ được, nghĩ ngay đến Gia Luật Hồng Cơ.

Tiêu Phong nhảy lên đứng trên yên ngựa, nhìn về phía hậu trận quân Liêu thì thấy một lá cờ trắng tung bay trước gió, tên bắn tới như mưa rào, quân Liêu tới tấp ngã ngựa. Tiêu Phong chợt hiểu, la to: “Trời ơi, đây là bộ lạc Nữ Chân đem quân đến cứu ta. Không hiểu sao họ đã biết tin?”

Người Nữ Chân toàn là tay thiện xạ, lúc lâm trận dũng mãnh phi thường, cứ một trăm kỵ mã hợp thành một đội, reo hò xông vào Liêu trận làm cho rối loạn. Một là quân Liêu bị đánh bất thình lình, hai là quân Nữ Chân rất thiện chiến, thống soái quân Liêu thấy địch không nổi, lại sợ Tiêu Phong dẫn đồng bọn phản công thành ra hai mặt thụ địch, liền vội vã rút quân chạy vào thành.

Phạm Hoa là quan Tư mã nước Đại Lý vốn tinh thông binh pháp, lên tiếng nhắc Tiêu Phong: “Tiêu đại vương, chúng ta nên thừa cơ xung sát. Đây là cơ hội tốt nhất để diệt địch, sao đại vương còn chưa hạ lệnh?” Tiêu Phong lắc đầu không đáp. Phạm Hoa lại nói: “Nhạn Môn Quan còn xa lắm, nếu mình không thừa cơ phá vỡ Liêu binh, sau sẽ bị nguy. Địch nhiều mà ta ít, khó mà toàn quân trở về.” Tiêu Phong lại lắc đầu. Phạm Hoa không hiểu tại sao, chỉ thầm nghĩ: “Tiêu đại vương không chịu tiêu diệt Liêu binh, phải chăng y còn chừa đường để sau này nói chuyện với Liêu chúa?”

Lúc đó đoàn người Nữ Chân để trần nửa thân trên, mặc quần da thú, cưỡi ngựa gầy nhom xông vào. Tên bắn ra veo véo, hậu đội quân Liêu còn hơn một nghìn tên chưa kịp vào thành, đều bị người Nữ Chân bắn ngã lăn ra. Bọn Nữ Chân bắn chết người rồi cắt lấy thủ cấp đeo vào sau lưng, có người đeo một chùm đến mười mấy cái đầu. Quần hào qua lại giang hồ đều thấy giết người như cơm bữa, nhưng chưa gặp chuyện man rợ thế này, nên ai cũng kinh hãi.

Một người cao lớn cưỡi ngựa rẽ mọi người tiến ra, lớn tiếng gọi: “Tiêu đại ca! Tiêu đại ca! Hoàn Nhan A Cốt Đả đến giúp huynh đây!”

Tiêu Phong giục ngựa chạy ra đón, hai người nắm chặt tay nhau ra chiều thân thiết. A Cốt Đả nói: “Tiêu đại ca! Ngày ấy huynh không từ biệt mà đi, đệ cứ nhớ hoài. Sau có thám tử về báo tin huynh đã làm quan nước Liêu. Đệ nghĩ rằng người Liêu giảo quyệt, chắc huynh chẳng ở được lâu, quả nhiên hôm trước thám tử lại báo tin huynh bị tên Liêu chúa chó má bắt giam, nên đệ vội đem quân đến cứu. May mà huynh không chết cũng không bị thương, đệ hoan hỉ vô cùng”. Tiêu Phong nói: “Đa tạ hiền đệ đã cứu viện.” Chưa dứt lời, tên từ trên mặt thành bắn xuống như mưa, nhưng hai người đứng xa chân thành, tên bắn không tới.

A Cốt Đả tức giận nói: “Khất Đan cẩu tặc! Ta đang nói chuyện với ca ca, mà chúng dám quấy nhiễu.” Đoạn gã giương trường cung lên, bắn ra ba phát tên nghe veo véo. Trên mặt thành nghe tiếng rú, ba tên quân Liêu trúng tên rớt xuống. Quân Liêu bắn gã không trúng, nhưng cung của gã vừa dài vừa cứng nên bắn đi rất xa, ba phát trúng cả ba. Quân Liêu đứng trên mặt thành la ó om sòm, vội giơ mộc lên che đờ. Bỗng nhiên trong thành thúc trống ầm ầm, quân Liêu lại điểm binh tướng.

A Cốt Đả lớn tiếng la lên: “Bọn chó má Khất Đan có giỏi thì cứ ra đây, để ta giết một trận cho sướng tay.” Bên quân Nữ Chân cũng thúc trống vang lừng. Tiêu Phong nghĩ, nếu lại giao tranh thì hai bên tất phải chết nhiều. Chàng vội nói: “Hiền đệ! Ngươi đến cứu ta, thì bây giờ ta đã thoát hiểm rồi, hà tất phải đánh nhau với họ làm chi nữa. Huynh đệ ta lâu ngày không gặp nhau, tìm chỗ để uống một bữa say đã!” Hoàn Nhan A Cốt Đả nói: “Huynh nói đúng lắm, chúng ta đi thôi!”

Lại thấy cửa thành mở rộng, một đội quân thiết kỵ xông ra. A Cốt Đả quát: “Giết hết bọn Khất Đan chó má kia!” Gã giương cung bắn ra một phát, trúng ngay giữa mặt một người đi trước ngã lăn xuống ngựa. Bọn thuộc hạ Nữ Chân cũng giương cung nhắm vào mặt bọn Liêu binh mà bắn tới tấp. Đầu mũi tên đều tắm thuốc độc, kẻ trúng tên không kịp rú lên đã chết. Chỉ trong khoảnh khắc, ngoài cửa thành đã có mấy trăm xác chết cả người lẫn ngựa, xếp thành những đống lù lù lấp mất cả lối đi. Bọn Liêu binh thấy vậy hồn vía lên mây, đóng chặt cửa thành lại không dám ra nữa.

Hoàn Nhan A Cốt Đả ở dưới chân thành diễu võ giương oai, lớn tiếng thóa mạ. Tiêu Phong gọi: “Hiền đệ, ta đi thôi!” A Cốt Đả “Vâng!” một tiếng, nhưng còn ráng trỏ tay lên mặt thành lớn tiếng mắng: “Bọn cẩu tặc Khất Đan kia! May mà đại ca ta chưa rụng một sợi lông, không thì ta đạp Nam Kinh thành bình địa, giết sạch bọn Liêu cẩu chúng bay.”

A Cốt Đả cùng Tiêu Phong cưỡi ngựa đi về hướng tây chừng hơn mười dặm thì đến một chỗ gò cao. A Cốt Đả nhảy xuống ngựa, lấy một bì rượu đeo bên hông ngựa, đưa cho Tiêu Phong rồi nói: “Ca ca! Uống đi!” Tiêu Phong đón lấy bì rượu, uống một hơi ừng ực cạn hết nửa bì, rồi đưa lại cho A Cốt Đả. Gã uống hết nửa bì rựợu còn lại rồi nói: “Ca ca! Huynh đệ mình lại lên núi Trường Bạch, vừa săn bắn vừa uống rượu để tiêu dao vui thú, có lẽ hay hơn.”

Tiêu Phong biết Gia Luật Hồng Cơ là người cao ngạo, hôm nay thua trận dưới chân thành Nam Kinh, lại bị A Cốt Đả mắng nhiếc một phen thật là mất mặt, tất lão chẳng chịu bỏ qua, nhất định sẽ đem binh đuổi đánh. Bọn Nữ Chân tuy kiêu dũng nhưng lại ít người, khó mà đoán được ai thắng ai bại? Chàng chỉ có một chủ ý là tránh gây họa chiến tranh, bèn quyết định nương thân nơi bộ lạc Nữ Chân, chẳng chen chân vào chốn danh lợi làm gì cho thêm phiền muộn. Tiêu Phong liền nói: “Hiền đệ! Các vị anh hùng hào kiệt đây đều đến để cứu ta. Ta phải tiễn chân các vị đến Nhạn Môn Quan, rồi sẽ quay về chỗ hiền đệ.” A Cốt Đả cả mừng nói: “Bọn lắm mồm ở Trung Nguyên đa số là người không tốt. Đệ không muốn gặp họ nữa.” Gã nói xong, lập tức dẫn bọn thuộc hạ đi về phía bắc.

Quần hào Trung Nguyên thấy bọn man rợ này đi lại như gió, kiêu dũng phi thường, đều nghĩ: “Bọn này còn tàn ác ghê gớm hơn người nước Liêu. May mà chúng là bằng hữu của Kiều Bang chủ, không thì chắc bọn mình cũng bị khốn khổ với họ.”

***

Các lộ nhân mã dần dần tụ lại một nơi, bàn luận sôi nổi về trận ác chiến dưới chân thành Nam Kinh vừa rồi.

Tiêu Phong khom lưng kính cẩn nói: “Đa tạ các vị đại nhân đại nghĩa, bỏ qua chuyện ác cũ của Tiêu mỗ, chẳng ngại xa xôi ngàn dặm mà đến cứu viện cho. Ân đức này, Tiêu mỗ vĩnh viễn không báo đáp được.”

Huyền Độ đại sư nói: “Sao Kiều Bang chủ lại nói như vậy? Những việc trước kia đều do hiểu lầm mà ra. Đã là đồng đạo võ lâm, dĩ nhiên phải cứu giúp nhau trong cơn hoạn nạn, huống chi Kiều Bang chủ đã vì trăm vạn sinh linh ở Trung Nguyên mà không nghĩ đến chuyện sinh tử, từ bỏ vinh hoa phú quý, nhân đức bao trùm thiên hạ. Mọi người phải cảm tạ Kiều Bang chủ mới đúng.”

Phạm Hoa dõng dạc lên tiếng: “Các vị anh hùng! Tại hạ xem chừng quân Liêu không chịu thất bại đâu. Khi chúng còn chưa truy kích, các vị có cao kiến gì không?” Quần hùng lớn tiếng đáp: “Chúng ta phải quyết một trận tử chiến với Liêu binh, chẳng lẽ lại sợ chúng ư?” Phạm Hoa nói: “Địch nhiều mà ta ít, giao chiến ở nơi bằng phẳng thì bất lợi cho mình. Theo ngu ý của tại hạ thì chúng ta nên rút lui về phía tây, một là gần được quân Tống để có tiếp viện, hai là quân địch đuổi càng xa thì số người càng ít đi, chúng ta sẽ có thể thừa cơ phản kích.”

Quần hào đều cho là đúng, Hư Trúc bèn dẫn thuộc hạ cung Linh Thứu làm lộ thứ nhất, Đoàn Dự dẫn binh mã nước Đại Lý làm lộ thứ hai, Huyền Độ dẫn quần hào Trung Nguyên làm lộ thứ ba, Tiêu Phong dẫn bang chúng Cái Bang đi đoạn hậu. Bốn lộ nhân mã đi cách nhau chừng mấy dặm, mỗi lộ đều có thám tử cưỡi khoái mã để truyền tin, nếu có địch thì ứng cứu nhau. Mọi người đi được một ngày, đến tối nghỉ lại trong một vùng sơn đã, vẫn chưa thấy quân Liêu đuổi theo, ai nấy cũng hơi yên tâm.

Mờ sáng hôm sau lại đi tiếp, Tiêu Phong hỏi A Tử: “Lúc này Du quân còn ở cung Linh Thứu không?” A Tử bĩu môi đáp: “Ai mà biết được? Chắc là còn ở đó, gã mù cả hai mắt rồi thì xuống núi thế nào được?” Giọng nói của nàng không có một chút tình cảm quan tâm.

Hôm đó mọi người đi đến thôn Bạch Lạc dưới chân núi Ngũ Đài Sơn, nghỉ lại nấu cơm. Phạm Hoa tinh thông binh pháp, bố trí quần hào thành từng tốp để mai phục nơi hiểm yếu, lại cho chặt cầu ngăn đường để Liêu binh truy đuổi phải mất nhiều thì giờ hơn.

Đến ngày thứ ba, bỗng thấy ở phía đông có khói đen cuồn cuộn, bốc đến tận trời, chính là tín hiệu báo quân Liêu đẫ đuổi gần tới nơi. Quần hào thấy vậy đều phập phồng kinh hãi, có người vũ dũng muốn lập tức quay lại để giúp những tiểu đội phục kích ở phía sau, nhưng họ đều bị Huyền Độ và Phạm Hoa ngăn cản.

Đêm hôm ấy quần hùng nghỉ lại bên sườn núi. Đến nửa đêm, bỗng có tiếng người la gọi, quần hào giật mình tỉnh dậy, thấy phía bắc lửa cháy ngất trời. Tiêu Phong cùng Phạm Hoa đưa mắt nhìn nhau, trong lòng đều thầm cảm thấy chuyện chẳng lành. Phạm Hoa khẽ nói: “Tiêu đại vương! Có phải là quân Liêu đi vòng để chặn đầu giáp công không?” Tiêu Phong chỉ gật gật đầu. Phạm Hoa lại nói: “Không biết trận cháy lớn này đã đốt mất bao nhiêu nhà cửa của dân lành. Hỡi ôi!…” Tiêu Phong không muốn nói Gia Luật Hồng Cơ tàn bạo, nhưng chàng hiểu y thua về tay người Nữ Chân nên trong lòng phẫn uất, trút giận vào đầu bá tánh. Y dẫn quân từ phía tây đến, cứ thấy người là giết, thấy nhà là đốt.

Đến lúc trời sáng mà đám cháy vẫn chưa tắt. Chiều hôm sau lại thấy lửa cháy ở phía nam. Trời còn nắng nên không nhìn rõ ngọn lửa, chỉ thấy khói bốc lên đen nghịt cả một góc trời.

Huyền Độ vốn dẫn người đi trước, thấy phía nam có lửa cháy liền dừng ngựa đứng bên đường chờ bọn Tiêu Phong đến, rồi hỏi: “Kiều Bang chủ! Quân Liêu ba mặt giáp công, Bang chủ liệu Nhạn Môn Quan có giữ được chăng? Lão nạp đã phái người đi trước báo tin, nhưng thống soái ải này nhu nhược, e rằng không chống nổi bọn thiết kỵ Khất Đan.” Tiêu Phong không biết đáp sao. Huyền Độ lại nói: “Xem chừng người Nữ Chân có thể đối phó được Liêu binh. Sau này Đại Tống phải liên thủ với người Nữ Chân, chia hai mặt nam bắc giáp công thì có thể ngăn ngừa được thiết kỵ Khất Đan, không cho chúng đánh xuống phía nam.”

Tiêu Phong hiểu đại sư muốn bảo mình tìm cách liên lạc với thủ lĩnh Nữ Chân là Hoàn Nhan A Cốt Đả, nhưng chàng là người Khất Đan thì có lý nào lại cấu kết ngoại địch mà tấn công tổ quốc? Đột nhiên Tiêu Phong hỏi lại: “Huyền Độ đại sư! Gia gia tại hạ ở quý tự có mạnh khỏe không?” Huyền Độ giật mình, đáp: “Lệnh tôn đã quy y tam bảo, thanh tu trong hậu viện chùa Thiếu Lâm. Lúc lão nạp đi Nam Kinh đã cố ý không đến chào lệnh tôn, để người khỏi bận lòng trần tục.” Tiêu Phong nói: “Tại hạ muốn gặp gia gia để hỏi một câu.” Huyền Độ hắng giọng một tiếng.

Tiêu Phong nói tiếp: “Tại hạ muốn hỏi lão nhân gia: Giả tỉ Liêu binh đến đánh Thiếu Lâm Tự thì người xử trí ra sao?” Huyền Độ đáp ngay: “Dĩ nhiên là giết địch để bảo vệ Phật pháp, không phải thế sao?” Tiêu Phong nói: “Nhưng gia phụ là người Khất Đan, chẳng lẽ lại vì người Hán mà giết người Khất Đan ư?” Huyền Độ trầm ngâm một chút rồi đáp: “Bang chủ vốn là người Khất Đan, mà bỏ chỗ tối để theo chỗ sáng, thật là đáng phục.”

Tiêu Phong nói: “Đại sư là người Hán thì nghĩ người Hán sáng mà người Khất Đan tối. Tại hạ là người Khất Đan thì nghĩ Đại Liêu sáng, còn Đại Tống tối. Tổ tiên tại hạ là người Khất Đan, đã bị người Yết tàn sát, lại bị người Tiên Ti truy đuổi bức hiếp cực kỳ khốn khổ, chạy hết chỗ này đến chỗ khác. Đời nhà Đường, người Hán võ công cực thịnh đã giết không biết bao nhiêu là dũng sĩ, cướp không biết bao nhiêu là phụ nữ Khất Đan. Bây giờ đời Tống, võ công người Hán bên đại sư kém trước, nên lại bị người Khất Đan bên tại hạ tàn sát. Giết qua giết lại như thế, biết đến bao giờ mới dứt?”

Huyền Độ lẳng lặng một lúc, rồi cất tiếng niệm: “A di đà Phật, A di đà Phật!”

Đoàn Dự phóng ngựa lại gần, nghe được nửa sau cuộc đối thoại của hai người, cũng thở dài nói xen vào: “Chiến tranh mang chết chóc; Ngựa hí thảm trời xanh; Quạ mổ ruột người chết; Thi thể rải đầy đồng; Quân lính như giặc cướp; Tướng quân vẫn ung dung; Việc binh là chuyện dữ, Thánh nhân chẳng muốn dùng.” Tiêu Phong nói: “Việc binh là chuyện dữ; Thánh nhân chẳng muốn dùng. Hiền đệ làm thơ hay quá.” Đoàn Dự đáp: “Không phải của đệ đâu, đó là một bài thơ của đại thi nhân Lý Bạch đời Đường.”

Tiêu Phong nói: “Lúc ta còn ở đây, thường nghe dân địa phương hát một bài như thế này: Giết ta ở núi Kỳ Liên, chăn nuôi không còn phồn thịnh. Giết ta ở núi Hiền Chi, phụ nữ không còn nhan sắc.” Chàng trung khí đầy dẫy, tiếng hát vang đi rất xa, nhưng giọng ca đầy vẻ ai oán thê lương.

Đoàn Dự gật đầu nói: “Đây là một bài hát của người Hung Nô. Năm xưa Hán Võ Đế đánh Hung Nô đã chiếm được một vùng đất lớn, người Hung Nô sầu thảm mà đặt ra bài hát này, không ngờ còn truyền tụng đến ngày nay.” Tiêu Phong nói: “Tổ tiên ta là người Khất Đan, cùng với dân Hung Nô khi ấy cũng khổ sở như nhau.”

Huyền Độ thở dài rồi nói: “Chỉ khi nào tất cả đế vương cùng tướng quân khắp thiên hạ đều tin vào Phật pháp mà lấy từ bi làm gốc, thì lúc đó mới không còn thảm họa chiến tranh.” Tiêu Phong cũng buồn rầu nói: “Chẳng biết đến năm nào, tháng nào mới có cảnh thế giới thái bình như thế.”

Đoàn người tiếp tục đi về phía tây, thấy ba phía đông, nam, bắc đều có lửa cháy suốt ngày đêm không tắt, quân Liêu đi tới đâu đốt nhà giết người tới đó. Quần hùng trong lòng đều căm phẫn, không ngớt hò hét thóa mạ, chỉ muốn cùng quân Liêu quyết một trận tử chiến.

Phạm Hoa nói: “Quân Liêu đuổi mỗi lúc một gần, chúng ta sẽ không còn đường mà rút lui. Tại hạ nghĩ rằng chúng ta nên phân tán khắp nơi để quân Liêu không biết đường nào mà đuổi thì hơn.”

Ngô Trường Phong lớn tiếng hỏi: “Như vậy là chịu thua hay sao? Phạm Tư mã! Nói vậy là làm tăng chí khí của quân địch, làm giảm oai phong của chúng ta. Thắng cũng được, thua cũng được, chúng ta phải quyết một trận tử chiến với bọn Liêu cẩu.”

Đúng lúc này bỗng nghe “véo” một tiếng, một mũi vũ tiễn từ hướng đông nam bắn tới, rồi một dội Liêu binh từ sau núi xông ra, quát tháo om sòm. Thì ra toán quân Liêu này có hơn năm trăm người, đi suốt ngày đêm theo đường tắt, vượt qua mặt quần hào để chặn đường công kích. Ngô trưởng lão thét lên: “Giết!”, rồi lão xông ra trước. Mọi người căm hận đã lâu, cũng đều hăm hở chạy ra. Quần hào đã đông hơn toán quân này, mà võ nghệ lại cao cường gấp mấy, nên chỉ chừng nửa giờ đã giết sạch năm trăm tên quân Liêu. Mười mấy tên vỏ sĩ Khất Đan toan vượt núi chạy trốn cũng bị những tay khinh công tuyệt diệu trong quần hào Trung Nguyên đuổi theo giết chết.

Quần hùng thắng được trận này, hoan hô ầm ĩ, lòng người phấn khởi. Chỉ có Phạm Hoa là bình thản nhìn Hư Trúc và Đoàn Dự mà nói: “Chúng ta vừa giết được một toán nhỏ quân Liêu, chắc đại quân của chúng cũng sắp đến đây. Chúng ta phải mau mau lui về phía tây.”

Nói chưa dứt lời thì từ phía đông bỗng vọng tới tiếng reo hò long trời lở đất, quần hào quay lại nhìn thì thấy cát bụi mịt trời. Mọi người mặt mày ngơ ngác, không ai nói câu nào. Tiếng ầm ầm như sấm gầm từ đằng xa vọng lại, rõ ràng đại đội quân Liêu sắp đến, cứ nghe âm thanh thế này thì phải có đến mấy vạn quân mã. Quần hào đã từng thấy rất nhiều những trận ác đấu trên chốn giang hồ, nhưng chưa được thấy thế lớn đại quân bao giờ. Tuy mọi người đã đánh nhau với Liêu binh ở chân thành Nam Kinh, nhưng đạo quân hôm nay so với lần trước còn lớn hơn nhiều. Tuy rằng ai cũng gan dạ, hào khí đầy mình, nhưng đột nhiên thấy thanh thế trời long đất lở như vậy cũng không khỏi biến sắc, sợ hãi toát mồ hôi lạnh.

Phạm Hoa hô lớn: “Các vị huynh đệ! Địch nhân thế lớn hơn mình, chết uổng vô ích, còn mạng sống thì không sợ hết cơ hội. Hôm nay chúng ta hãy tạm tránh di, rồi sẽ có lúc phản kích.” Quần hào tới tấp lên ngựa chạy về phía tây, âm thanh long trời lở đất từ phía sau vẫn không ngừng vọng tới.

Đêm hôm ấy, mọi người đều không nghỉ ngơi vì thấy gần đến Nhạn Môn Quan rồi. Quần hùng giục ngựa đi suốt đêm, chỉ cần vào được Nhạn Môn Quan là đỡ nguy hiểm, quân địch có đông cũng khó mà phá được quan ải. Dọc đường ngựa bị chết nhiều, ai giỏi khinh công thì chạy bộ, có con ngựa phải chở hai người. Đoàn người đi đến trời sáng thì chỉ còn cách Nhạn Môn Quan chừng mười dặm. Ai nấy đã hơi yên lòng, xuống đất dắt ngựa đi thong thả để chúng hồi phục sức lực, vẫn nghe tiếng rầm rộ của hàng vạn vó ngựa nện xuống đất mỗi lúc một vang dội, dường như sắp đuổi tới nơi.

***

Tiêu Phong từ trên sườn núi đang đi xuống, bỗng nhìn thấy một khối đá lớn thì trong lòng run lên, nghĩ thầm: “Ngày trước Huyền Từ phương trượng cùng Uông Bang chủ dẫn quần hào Trung Nguyên phục kích gia gia mình ở chỗ này, sát hại mẫu thân và không biết bao nhiêu võ sĩ Khất Đan. Chàng quay đầu nhìn sang thì thấy vách núi hãy còn vết búa đẽo trông rất rõ, chính là chỗ Huyền Từ đã xóa tự tích của Tiêu Vịễn Sơn khắc lên.

Tiêu Phong từ từ quay đầu lại, thấy bên vách đá có một gốc cây hoa thì bên tai lại vẳng lên thanh âm của A Châu. Ngày trước nàng nấp ở sau chính gốc cây này, đã nói: “Kiều đại gia ơi! Đại gia đập nữa đi! Không chừng ngọn núi này đổ xuống mất thôi.”

Tiêu Phong ngẩn người ra, mấy lời nói tiếp theo của A Châu lại càng rõ như in trong óc: “Kiều đại gia! Tiểu nữ… tiểu nữ chờ ở đây đã năm ngày năm đêm, lúc nào cũng phập phồng không biết đại gia có đến không, quả nhiên bây giờ lại được gặp nhau. Cảm ơn Trời Phật phù hộ, đại gia vẫn bình yên vô sự.”

Bất giác Tiêu Phong nước mắt vòng quanh, chàng tiến đến bên gốc cây hoa, vươn tay ra vịn lấy một cành, thấy gốc cây này so với ngày chàng gặp A Châu đã cao hơn không ít. Nhất thời chàng thương tâm quá đỗi, quên hết mọi sự việc bên ngoài.

Bỗng có tiếng người thét lên: “Tỉ phu! Chạy mau, chạy mau!” A Tử chạy đến bên cạnh, nắm áo chàng kéo đi. Tiêu Phong ngẩng đầu nhìn lên thì thấy ba phía đông, tây, bắc, trường mâu của quân Liêu đang giơ lên trùng trùng diệp diệp như một rừng cây di động, tiến lại bao vây mình. Tiêu Phong gật đầu nói: “Được rồi! Chúng ta lui vào Nhạn Môn Quan rồi sẽ tính.”

Lúc này quần hào đã đến trước ải, nhưng Tiêu Phong cùng A Tử cưỡi ngựa tới thì thấy cửa quan đóng chặt, quần hào đều lộ vẻ bất bình. Trong ải có một tên võ quan nhà Tống đang đứng trên mặt thành, dõng dạc nói: “Trương tướng quân Chỉ huy sứ trấn thủ Nhạn Môn Quan có lệnh: Các ngươi là bách tính Trung Nguyên, đáng lẽ được vào ải, nhưng chỉ sợ có người cấu kết làm gian tế cho Liêu quốc. Vậy các ngươi phải hạ khí giới để quân ta khám xét một lượt. Người nào trong mình không ngầm giấu binh khí thì sẽ được Trương tướng quân gia ơn cho vào quan ải.”

Gã vừa dứt lời thì quần hùng la ó om sòm. Có người nói: “Bọn ta rong ruổi ngàn dặm, đánh nhau với quân Liêu, sao lại nghi bọn ta là gian tế?” Có người nói: “Chúng ta có cầm binh khí thì mới có thể giúp tướng quân chống Liêu binh, nếu vứt khí giới đi thì lấy gì đánh nhau với quân Liêu?” Lại có người nóng nảy lớn tiếng thóa mạ: “Con mẹ nó! Không cho chúng ông vào thì chúng ông cũng phá thành mà vào.”

Huyền Độ vội ngăn lại rồi nói với tên võ quan kia: “Xin hãy bẩm với Trương tướng quân, bọn ta đều là dân nhà Đại Tống một lòng trung nghĩa. Địch quân chốc lát sẽ đến nơi, nếu khám xét làm chậm trễ rồi mới mở cửa quan thì nguy hiểm lắm.”

Tên võ quan này vừa bị thóa mạ, lại thấy nhiều người ăn mặc kỳ quái không giống người Trung Thổ, liền hỏi: “Lão hòa thượng! Ngươi nói các ngươi đều là dân nhà Đại Tống, mà sao số đông không phải là người Tống? Được rồi! Ta mở hé một bên cổng, ai là lương dân Đại Tống thì vào, còn ai không phải người Đại Tống thì phải ở ngoài quan.”

Quần hào ngơ ngác nhìn nhau, không thể không tức giận. Đoàn Dự cùng bộ hạ là người Đại Lý, còn bộ hạ của Hư Trúc lại càng phức tạp, đủ cả người các nước Tây Vực, Tây Hạ, Thổ Phồn, Cao Ly. Nếu chỉ có người Đại Tống đựợc vào, thì phần lớn người trong hai lộ nhân mã nước Đại Lý và cung Linh Thứu không được vào trong ải.

Huyền Độ lại nói: “Tướng quân minh xét, bọn tại hạ đều là bạn hữu, có người Đại Lý, có người Tây Hạ, nhưng đang hợp lực với Đại Tống chúng ta để đánh lại quân Liêu. Họ đã là đồng minh thì sao còn phân biệt người Tống hay không phải là người Tống?”

Lần này Đoàn Dự dẫn thuộc hạ lên phía Bắc, đã phải giữ bí mật không tiết lộ mình là chủ nhân một nước, vì sợ quan quân Tống triều sinh ra ý gia hại hoặc bắt làm con tin. Hơn nữa, Đại Lý và Đại Liêu cách nhau rất xa, chàng cũng không muốn công nhiên coi là thù địch. Vì thế mà Huyền Độ hoàn toàn không đề cập đến chuyện có một nhân vật cực kỳ quan trọng của nước Đại Lý đang ở ngoài quan ải.

Tên quan kia đáp ngay: “Nhạn Môn Quan là cửa ải then chốt phía bắc của nhà Đại Tống, quan trọng biết đến chừng nào? Đại quân nước Liêu đã đến nơi, nếu ta khinh suất mở cửa quan để quân Liêu tiến vào, gây nên họa tày trời thì ai phải chịu trách nhiệm?”

Ngô Trường Phong không nhẫn nại được nữa, lớn tiếng quát: “Nếu ngươi đừng rắc rối mà mở cửa ải ra ngay, thì có phải bây giờ xong chuyện rồi không?” Tên võ quan kia cũng tức giận quát mắng: “Lão ăn mày kia! Trước mắt bản quan mà ngươi dám chõ miệng nói xen vào ư?” Hắn giơ tay lên một cái, hơn nghìn tên cung thủ phục sẵn trên mặt thành lập tức xuất hiện, giương cung lắp tên nhắm vào đoàn người dưới chân thành. Tên võ quan thét lên: “Mau mau lui ra! Nếu còn đứng đó nói càn làm rối loạn lòng quân, ta nhất định phải hạ lệnh bắn tên.” Huyền Độ thở dài thườn thượt, không biết làm thế nào.

Hai bên cửa ải là hai dãy núi cao ngất trời, địa thế cực kỳ hiểm trở. Cửa ải này có tên là Nhạn Môn Quan, ý nói giống chim nhạn bay xuống phía nam phải bay qua ải, giữa hai dãy núi này. Trong quần hào cũng có không ít những tay khinh công cao cường có thể trèo núi chạy trốn, nhưng số đông thì không thể vượt qua hiểm địa, tất sẽ bị quân Liêu giết chết duới chân thành.

Quân Liêu cũng bị hai dãy núi ngăn cản, nên hai cánh đông, tây thu hẹp dần lại, theo mặt chính mà vào. Tiếng trống thúc quân nghe đã chói tai. Tuy nhiên chỉ có tiếng trống trận, tiếng vó ngựa dồn dập, tiếng áo giáp loảng xoảng, tiếng cờ bay phần phật trong gió, còn tuyệt nhiên không thấy tiếng người huyên náo, chứng tỏ kỷ luật quân Liêu rất nghiêm chỉnh. Quân Liêu chia thành từng đội kéo dần vào, còn cách chừng một tầm tên thì dừng cả lại. Chỉ trong chốc lát, cờ bay rợp trời ở cả ba hướng đông, tây, bắc, thực không lường nổi có bao nhiêu nhân mã.

Tiêu Phong dõng dạc nói: “Các vị cứ đứng nguyên đó, chớ có di chuyển, để tại hạ nói chuyện với Liêu đế.” Mặc cho Đoàn Dự, A Tử khuyên can, chàng cứ giục ngựa tiến ra, hai tay giơ cao đến đỉnh đầu để chứng tỏ là không mang khí giới cung tên. Tiêu Phong lớn tiếng hô: “Hoàng đế bệ hạ nước Đại Liêu! Tiêu Phong có mấy lời muốn nói, xin mời bệ hạ ra đây!”

Chàng vận nội lực đến tột độ để nói mấy câu này, thanh âm truyền đi rất xa. Mười mấy vạn tướng sĩ nước Liêu, chẳng ai là không nghe rõ, bất giác mọi người đều biến sắc.

***

Chỉ một lúc sau, trong Liêu trận nghe trống thúc vang lừng, hàng vạn người ngựa rẽ ra hai bên. Tám tên kỵ sĩ tiến ra, cầm tám lá cờ lớn sắc vàng tung bay trước gió. Sau tám lá cờ, mấy đội quân nào là trường mâu thủ, đao phủ thủ, cung tiễn thủ, thuẫn bài thủ sắp hàng thứ tự chia hai bên tiến lên. Cuối cùng là mười viên đại tướng trong mặc áo giáp, ngoài khoác cẩm bào, đưa Gia Luật Hồng Cơ ra trước trận.

Quân Liêu lớn tiếng tung hô: “Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!” Tiếng hoan hô chấn động cả hang núi.

Trên quan ải, quân tướng nhà Tống thấy oai thế bên địch như vậy, bất giác đều run rẩy.

Tay phải Gia Luật Hồng Cơ giơ cây bảo đao lên một cái, quân Liêu lập tức im phăng phắc, yên lặng như tờ. Gia Luật Hồng Cơ lại hạ đao xuống, cười rộ rồi nói: “Tiêu đại vương! Hiền đệ đã hứa là dẫn quân Liêu vào quan ải, mà sao cửa quan vẫn đóng chặt, chưa thấy mở ra?”

Lão vừa nói xong, trên mặt thành đã có người dịch ra tiếng Hán cho Chỉ huy sứ Trương tướng quân nghe. Quân Tống lập tức la ó om sòm, trỏ vào mặt Tiêu Phong mà vung tay múa chân, lớn tiếng thóa mạ.

Tiêu Phong biết Gia Luật Hồng Cơ nói câu này là dùng kế phản gián, lão không muốn quân Tống mở cửa ải để bên mình chạy vào. Chàng liền nhảy xuống ngựa, tiến lên mấy bước rồi nói: “Bệ hạ! Vì Tiêu Phong phụ ân sủng mà bệ hạ phải ngự giá đến đây, thật là tội đáng chết!”

Chàng mới nói mấy câu, đột nhiên hai bên có hai bóng người vọt tới nhanh như điện xẹt, xông thẳng đến trước mặt Gia Luật Hồng Cơ, chính là Hư Trúc và Đoàn Dự. Hai người này thấy tình hình khó đối phó, biết là hôm nay chỉ còn cách, bắt được Liêu đế để uy hiếp, thì mới có thể giữ cho mọi người được an toàn. Hai người ra hiệu cho nhau, rồi chia ra hai bên trái phải xông lên.

Lúc Gia Luật Hồng Cơ xuất trận, sớm đã đề phòng chuyện giống như Tiêu Phong bắt cha con Sở vương ngày trước. Một tiếng hô vang, ba trăm tên thuẫn bài thủ cùng đưa mộc lên, như một bức tường thành chắn dày trước mặt Gia Luật Hồng Cơ. Bọn trường mâu thủ, đao phủ thủ cũng xông ra đứng dày khít trước đội cầm mộc.

Nhưng Hư Trúc đã được Thiên Sơn Đồng Mỗ chân truyền, lại học được những môn võ công bí ảo trong thạch thất cung Linh Thứu, võ công y đã cao đến mức tùy tâm thu phát, muốn sao được vậy. Còn Đoàn Dự từ sau khi hút hết nội lực của Cưu Ma Trí, công lực chàng đã mạnh đến mức từ cổ chí kim không ai bằng được, lại còn có phép Lăng Ba Vi Bộ cực kỳ xảo diệu. Binh tướng nước Liêu làm sao ngăn cản được?

Đoàn Dự né đông tránh tây cứ như cá lội dưới nước, những chỗ mũi mâu cùng lưỡi đao cách nhau chưa đầy một thước mà chàng vẫn lách qua, lọt vào giữa được. Bọn quân Liêu vung binh khí đâm chém túi bụi, nhưng chẳng những không đả thương được chàng, mà vì chúng đứng sát nhau quá nên phần lớn đao thương đều đâm chém vào người bên mình.

Hư Trúc thì liên tiếp vung tay ra nắm lấy trước ngực hay sau lưng quân Liêu mà ném vào trong trận, vừa ném người vừa tiến tới gần Gia Luật Hồng Cơ. Hai viên, đại tướng vọt ngựa xông ra, cùng lúc vung thương lên đâm vào bụng Hư Trúc. Y nhảy vọt lên, hai chân đạp lên hai cây thương của tướng Liêu. Hai tướng quát lên một tiếng, vung mạnh thương toan hất cho Hư Trúc té xuống, nhưng y lại mượn đà hất thương mà phi thân nhảy vọt lên không, rồi hạ xuống đỉnh đầu Gia Luật Hồng Cơ.

Một như cá lội dưới nước, một như chim bay trên trời, hai người song song tấn công đến. Gia Luật Hồng Cơ cả sợ, vung bảo đao lên, toan chém vào Hư Trúc còn đang ở trên không.

Hư Trúc xoay tay trái một cái, vươn ra nắm lấy sống đao, rồi thừa thế vuốt xuống, lật bàn tay ra nắm chặt cổ tay phải của lão. Giữa lúc ấy Đoàn Dự cũng luồn qua đám đông vào tới, nắm được vai trái Gia Luật Hồng Cơ. Hai người cùng quát lên: “Đi ngay!” rồi lôi tấm thân cao lớn của Gia Luật Hồng Cơ tuột xuống khỏi ngựa, kéo chạy về phía trước.

Quân tướng Liêu quốc cả bốn phía đều thấy hoàng đế đá bị kiềm chế đều kinh hãi la rầm lên, nhưng nhất thời không biết phải làm gì. Mấy chục tên thân binh liều mạng xông vào cứu chúa, nhưng đều bị Hư Trúc cùng Đoàn Dự phóng cước đá văng đi.

Hai người đã bắt được Liêu đế, trong lòng đang mừng rở thì bỗng thấy Tiêu phong nhảy xổ tới, hai người giật mình la gọi: “Đại ca!” Tiêu Phong bỗng phóng song chưởng nghe hai tiếng vù vù, chia ra đánh hai nghĩa đệ. Hai người cực kỳ kinh ngạc, nhưng thấy chưởng lực bài sơn đảo hải của Tiêu Phong xô tới nơi, chỉ còn cách giơ tay lên đỡ. Nghe “bình bình” hai tiếng, bốn chưởng chạm nhau, chưởng phong rít lên tứ phía. Tiêu Phong xông lại, thừa thế cướp lấy Gia Luật Hồng Cơ, kéo sang một bên.

Lúc này quân Liêu cùng với quần hào Trung Nguyên đang rầm rộ xông tới từ hai phía bắc nam, một bên định cứu hoàng đế về, một bên định tiếp ứng cho ba người Tiêu Phong, Hư Trúc và Đoàn Dự.

Tiêu Phong lớn tiếng nói: “Ai nấy hãy đứng im! Ta có chuyện muốn nói với hoàng đế Đại Liêu!” Quân Liêu cùng quần hào lập tức dừng bước. Hai bên đều sợ làm hại phe mình, nên chỉ đứng xa xa reo hò chứ không dám tiến lên xung sát, mà cũng không dám bắn tên.

Hư Trúc cùng Đoàn Dự cũng lùi lại ba bước, chia ra đứng sau lưng Gia Luật Hồng Cơ, vừa đề phòng lão trốn về bản trận, vừa ngăn ngừa bọn cao thủ Khất Đan xông ra cứu viện.

Lúc này trên mặt Gia Luật Hồng Cơ không còn nửa giọt máu, nghĩ thầm: “Gã Tiêu Phong này tính khí cương cường. Mình đã làm nhục mà nhốt hắn vào cũi sư tử, bây giờ hắn bắt được mình thì nhất định phải báo thù, quyết không tha mạng.” Nhưng lão lại nghe Tiêu Phong nói: “Bệ hạ! Hai vị này là nghĩa đệ của thần. Họ không sát hại bệ hạ đâu, xin bệ hạ yên tâm.” Gia Luật Hồng Cơ hắng giọng một tiếng, quay đầu lại nhìn Hư Trúc một cái, lại quay đầu sang bên kia nhìn Đoàn Dự một cái.

Tiêu Phong lại nói: “Nhị đệ của thần là Hư Trúc Tử, là chủ nhân cung Linh Thứu, còn tam đệ là Đoàn công tử nước Đại Lý. Thần đã từng kể với bệ hạ rồi.” Gia Luật Hồng Cơ gật gật đầu rồi nói: “Quả nhiên rất giỏi.”

Tiêu Phong nói: “Bọn thần sẽ lập tức để bệ hạ về bản trận, chỉ xin bệ hạ ban thưởng.” Gia Luật Hồng Cơ không tin vào tai mình, tự hỏi: “Thiên hạ sao lại có chuyện dễ dàng như thế? Hừ, phải rồi! Chắc Tiêu Phong hồi tâm nghĩ lại, xin ta phong cho ba người làm quan.” Mặt lão trở lại tươi tỉnh, cười đáp: “Các ngươi muốn xin gì, ta cũng ưng thuận hết.”

Tiêu Phong nói: “Bệ hạ đã bị hai vị nghĩa đệ của thần bắt được, theo qui củ của người Khất Đan thì bệ hạ phải đem bảo vật mà chuộc mạng.” Gia Luật Hồng Cơ nhíu mày lại hỏi: “Ngươi muốn gì?” Tiêu Phong đáp: “Thần thay mặt cho hai vị nghĩa đệ, chỉ cả gan xin kim khẩu bệ hạ chấp thuận một lời.” Gia Luật Hồng Cơ cười ha hả rồi đáp: “Trên thế gian này, những thứ mà ta không thể đem ra trao đổi được cũng không nhiều. Người cứ việc thẳng thắn nói ra.”

Tiêu Phong nói: “Chỉ xin bệ hạ nhận lời lập tức lui binh, và suốt đời không cho một tên quân Liêu nào vượt khỏi ranh giới Tống, Liêu.”

Đoàn Dự nghe vậy thì cả mừng nghĩ thầm: “Quân Liêu mà không vượt khỏi ranh giới Tống, Liêu, thì chỉ còn cách chắp cánh mà bay mới tấn công Đại Lý được.” Chàng liền nói: “Đúng thế! Nếu Liêu đế ưng thuận như vậy, thì bọn thần lập tức để bệ hạ về ngay.” Nhưng chàng lại tự hỏi: “Lúc bắt Liêu đế, nhị ca đã phải ra sức nhiều hơn ta. Chẳng hiểu nhị ca có muốn gì không?” Chàng liền hỏi Hư Trúc: “Nhị ca! Huynh có muốn hoàng đế Khất Đan lấy gì để chuộc mạng không?” Hư Trúc lắc lắc đầu rồi đáp: “Ta cũng chỉ muốn một lời như vậy mà thôi.”

Gia Luật Hồng Cơ sầm mặt xuống hỏi: “Bọn ngươi cả gan dám bức bách ta ư? Nếu ta không ưng thuận thì sao?” Tiêu Phong dõng dạc đáp: “Thế thì đồng qui ư tận, ngọc đá ra tro. Năm xưa hai ta kết nghĩa, đã có lời thề mong được chết cùng năm cùng tháng cùng ngày.”

Gia Luật Hồng Cơ rùng mình một cái, thầm nghĩ: “Gã Tiêu Phong này là một tên liều mạng chẳng biết sợ trời sợ đất là gì, trước nay hắn nói một là một, nói hai là hai. Nếu mình không ưng thuận thì chắc hắn sẽ ra tay mạo phạm. Mình chết về tay một tên mãng phu thì thật là không đáng chút nào.” Lão liền cười ha hả rồi dõng dạc nói: “Thế thì cái mạng của Gia Luật Hồng Cơ này có thể đổi được mấy chục năm bình yên cho hai nước Tống, Liêu. Hảo huynh đệ! Ngươi coi trọng cái mạng của ta quá rồi.”

Tiêu Phong đáp: “Bệ hạ là chúa tể Đại Liêu. Dưới bầu trời này, còn gì đáng coi trọng hơn nữa?” Gia Luật Hồng Cơ lại cười rộ lên rồi nói: “Như vậy thì năm xưa người Nữ Chân đã đòi ta nộp ba mươi xe hoàng kim, ba trăm xe bạch ngân, ba ngàn con tuấn mã, là quá ít phải không?” Tiêu Phong chỉ khom lưng, không đáp.

Gia Luật Hồng Cơ quay đầu nhìn lại, thấy quân tướng của mình đều đứng xa ngoài trăm thước, không có cách gì cứu mình thoát hiểm được. Tính toán nặng nhẹ thì trên đời không còn gì quý hơn tính mạng, lão bèn rút ra một mũi lang nha tiễn, cầm hai tay bẻ làm đôi quăng xuống đất, rồi nói: “Cứ theo lời ngươi!”

Tiêu Phong khom lưng, nói: “Đa tạ bệ hạ.”

Gia Luật Hồng Cơ quay người lại toan bỏ đi, nhưng thấy bốn con mắt của Hư Trúc cùng Đoàn Dự đang gườm gườm nhìn mình, rõ ràng không có ý nhường lối. Lão quay lại nhìn Tiêu Phong, thì chàng lặng lẽ chẳng nói gì. Lão hiểu ngay là ba người này sợ mình nuốt lời, bèn rút bảo đao ra giơ lên quá đỉnh đầu, lớn tiếng hô: “Ba quân Đại Liêu nghe lệnh!”

Quân Liêu nổi lên một hồi trống, rồi lập tức yên lặng. Gia Luật Hồng Cơ nói: “Đại quân quay về bắc, không nam chinh nữa.” Lão ngừng một chút rồi lại nói tiếp: “Trong suốt đời trẫm, không một tên quân Liêu nào được xâm phạm ranh giới Đại Tống.” Lão nói xong, bảo đao hạ xuống, quân Liêu lại nổi lên một hồi trống nữa.

Tiêu Phong khom lưng nói: “Xin kính cẩn tiễn bệ hạ về bản trận.” Hư Trúc cùng Đoàn Dự rẽ ra hai bên để nhường lối, rồi bước lại đứng ở phía sau Tiêu Phong.

Gia Luật Hồng Cơ vừa kinh hãi, vừa hoan hỉ, lại vừa xấu hổ, chỉ muốn mau mau rời khỏi hiểm địa. Nhưng chẳng lẽ lão lại tỏ ra khiếp nhược trước mặt Tiêu Phong cùng quân Liêu, nên phải tự trấn tĩnh, từ từ bước về bản trận.

Bên quân Liêu có mấy chục tên thân binh vọt ngựa ra đón tiếp. Gia Luật Hồng Cơ lúc đầu còn đi thong thả, về sau càng bước càng nhanh, hai chân loạng choạng chỉ muốn ngã lăn, hai tay run lên, mồ hôi đầm đìa trên trán. Bọn thị vệ dẫn ngựa tới, đỡ lão lên yên. Toàn thân Gia Luật Hồng Cơ lúc này run đến mềm như bún, chân để vào bàn đạp rồi mà không trèo lên yên được. Hai tên thị vệ phải vịn vào mông lão, dùng sức đẩy lên lưng ngựa.

Quân Liêu thấy hoàng đế vô sự trở về, bèn lớn tiếng tung hô: “Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!” Lúc này, quân Tống đứng trên măt thành Nhạn Môn Quan cùng với quần hào ở trước cửa quan, thấy Liêu đế hạ lệnh thoái binh thì đều reo hò mừng rỡ. Ai nấy đều biết người Khất Đan tuy hung tàn hiếu sát, nhưng trước nay rất biết thủ tín, đã giao ước gì thì không nuốt lời bao giờ. Huống chi Liêu đế đã thân hành ban lệnh trước mặt ba quân, giả tỉ sau này lão muốn bội tín thì người Liêu cũng coi lão không ra gì, không chừng ngôi hoàng đế của lão cũng không được yên ổn.

Vẻ mặt Gia Luật Hồng Cơ hết sức ảm đạm, nghĩ rằng mình bị Tiêu Phong uy hiếp, phải lập trọng thệ mới thoát được thân, thật là mất thể diện, lại còn thương tổn đến uy thế nước Đại Liêu. Nhưng lão nghe tướng sĩ nước Liêu tung hô vạn tuế ra vẻ chí thành, lại nhìn vào mắt tướng sĩ thì thấy đều sáng rỡ, ra chiều hoan hỉ.

Tướng sĩ nước Liêu nghe lệnh rút quân, được trở về đoàn tụ cùng cha mẹ vợ con, vừa không phải chịu nỗi khổ chinh chiến xa vạn dặm, lại vừa không lo mất mạng, nên ai nấy mừng rỡ vô cùng. Mặc dù người Khất Đan vốn kiêu dũng thiện chiến, nhưng cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi, ai đi đánh nhau mà biết chắc mình không chết? Chỉ trừ một số ít mong có chiến tranh để được thăng quan phát tài, còn đại bộ phận được thoát khỏi cái họa chiến chinh đều mừng vui khôn xiết.

Gia Luật Hồng Cơ nghĩ thầm: “Thì ra quân lính của ta cũng chẳng muốn công phạt Nam triều, nếu mình cứ nam chinh thì chưa chắc gì đã thủ thắng”. Rồi lão lại nghĩ: “Bọn man rợ Nữ Chân thật là khả ố, chúng cứ ở sau lưng người Khất Đan thì thật là một mối lo trong gan ruột. Ta về quét sạch bọn chúng rồi sẽ liệu tiếp.” Gia Luật Hồng Cơ giơ bảo đao lên, lớn tiếng nói: “Bắc Viện Đại Vương! Truyền lệnh cho hậu đội biến thành tiền đội, rút quân về Nam Kinh.”

Trong quân nổi hiệu trống cùng tù và, truyền ngự chỉ xuống. Tiếng hoan hô lại nổi lên rầm rộ, truyền đi rất xa. Gia Luật Hồng Cơ quay đầu nhìn lại, thấy Tiêu Phong vẫn đứng cứng đờ một chỗ. Lão cười lạnh lẽo, dõng dạc nói: “Tiêu đại vương! Ngươi đã lập được công lớn cho Đại Tống, sắp được quan cao lộc hậu đến nơi rồi.”

Tiêu Phong lớn tiếng đáp: “Bệ hạ! Tiêu Phong là người Khất Đan, hôm nay uy hiếp bệ hạ mà trở thành kẻ đại tội của Khất Đan, còn mặt mũi nào mà đứng trong trời đất nữa?” Chàng cúi xuống đất, hai tay nhặt hai đoạn tên gãy, vận nội công đâm mạnh nghe “sột” một tiếng, xuyên suốt lồng ngực.

Gia Luật Hồng Cơ la lên một tiếng: “Ôi chao!”, giục ngựa chạy đến mấy bước, nhưng rồi buông cương dừng lại.

Hư Trúc cùng Đoàn Dự hồn vía bay mất, chạy tới la gọi: “Đại ca! Đại ca!” Nhưng hai đoạn tên đã cắm vào tim, Tiêu Phong hai mắt nhắm nghiền, đã tắt hơi rồi.

Hư Trúc vội xé áo trước ngực Tiêu Phong ra để cấp cứu, nhưng tên đã cắm vào tim, không thể vãn hồi được nữa. Chỉ thấy trước ngực chàng có hình đầu con chó sói xanh lè, há miệng nhe nanh coi rất khủng khiếp. Hư Trúc cùng Đoàn Dự khóc rống lên, phủ phục xuống đất.

Bang chúng Cái Bang cũng chạy tới quì lạy. Ngô trưởng lão đấm ngực la lên: “Kiều Bang chủ! Bang chủ tuy là người Khất Đan, mà anh hùng gấp vạn lần bọn người Hán vô dụng chúng tôi.” Quần hào Trung Nguyên cũng quây cả lại, thì thầm hỏi nhau: “Kiều Bang chủ quả là người Khất Đan ư? Vậy mà sao ông lại giúp nhà Đại Tống? Thế thì người Khất Đan cũng có anh hùng hào kiệt.” Ông được người Hán nuôi dưỡng từ nhỏ cho đến trưởng thành, học được đại nhân đại nghĩa như người Hán. “Hai nước đã bãi binh, ông sẽ thành một đại công thần, sao lại còn tự vẫn?”  “Ông có công với Đại Tống, nhưng đối với Đại Liêu lại là một tên phản quốc, nên sợ tội mà tự sát.”  “Cái gì mà sợ với chẳng sợ? Kiều Bang chủ là một bậc đại anh hùng, trong thiên hạ còn có chuyện gì làm ông phải sợ nữa?”

Gia Luật Hồng Cơ thấy Tiêu Phong tự tận, trong lòng cũng không khỏi hoang mang. Lão thầm nghĩ: “Y đối với nước Đại Liêu ta thì có công hay có tội? Y khổ sở khuyên ta đừng khởi binh đánh Tống, xét cho cùng thì vì người Tống hay vì người Khất Đan? Y cùng ta đã kết nghĩa huynh đệ, trước sau vẫn một dạ trung thành với ta. Hôm nay y tự tận trước Nhạn Môn Quan, chứng tỏ không tham công danh phú quý của Nam triều, thế thì… thế thì y vì cái gì?” Lão lắc lắc đầu, nở một nụ cười đau khổ, rồi quay đầu ngựa lại, đi vào trận Liêu.

Vó ngựa lộp cộp vang lên, hàng ngàn hàng vạn nhân mã nước Liêu lên đường về Bắc. Mọi tướng sĩ đều không khỏi quay đầu lại, nhìn thi thể Tiêu Phong đang nằm yên dưới đất.

Bỗng nghe tiếng chim ríu rít, một đàn hồng nhạn bay qua đầu mọi người, vượt trên Nhạn Môn Quan mà bay mãi đi.

Quân Liêu đi mỗi lúc một xa, tiếng vó ngựa như sấm động chỉ còn ì ầm khe khẽ ở phía sau núi.

Cả ngàn người bọn Hư Trúc, Đoàn Dự đứng bên thi thể Tiêu Phong, người thì khóc rống lên, người thì âm thầm rơi lệ.

Bỗng nghe giọng một thiếu nữ thét lên lạnh lảnh: “Tránh ra! Tránh ra! Mọi người tránh hết ra! Bọn ngươi đã hại chết tỉ phu ta, lại còn ngồi đây giả vờ khóc lóc thì được ích gì?” Nàng vừa nói vừa giơ tay đẩy mọi người ra, chính là A Tử. Dĩ nhiên bọn Hư Trúc không đôi co với nàng, thấy A Tử xô đẩy thì tránh sang hai bên để nhường lối đi.

A Tử đăm đăm nhìn thi thể Tiêu Phong hồi lâu rồi dịu dàng nói: “Tỉ phu! Bọn này đều là hạng người bại hoại, huynh đừng thèm nhìn đến họ nữa. Chỉ có A Tử mới thật là người tốt với huynh.” Nàng nói xong, cúi người xuống, ôm thi thể Tiêu Phong lên. Người Tiêu Phong cao lớn, nàng chỉ ôm được nửa người lên, còn hai chân chàng vẫn chấm đất. A Tử lại nói: “Tỉ phu! Bây giờ huynh ngoan ngoãn lắm rồi, muội ôm lấy huynh mà huynh vẫn không đẩy muội ra. Hay lắm, như thế mới là đúng chứ!”

Hư Trúc cùng Đoàn Dự đưa mắt nhìn nhau, nghĩ thầm: “Nàng thương tâm quá độ, thần trí thất thường mất rồi.” Đoàn Dự dịu dàng nói: “Tiểu muội! Tiêu đại ca vì nghĩa xả thân, người đã chết không thể sống lại được nữa. Muội… muội…” Chàng bước tới mấy bước, toan ôm lấy thi thể Tiêu Phong.

A Tử nghiêm giọng nói: “Huynh đừng giành lấy tỉ phu của muội. Tỉ phu là của muội rồi, ai cũng không được đụng đến tỉ phu.” Đoàn Dự quay đầu lại, đưa mắt ra hiệu cho Mộc Uyển Thanh. Mộc Uyển Thanh hiểu ý, tiến lại gần A Tử, nhẹ nhàng nói: “Tiểu muội tử! Tiêu đại ca tạ thế rồi, chúng ta phải lo việc an táng cho đại ca…”

Đột nhiên A Tử quát lên một tiếng, Mộc Uyển Thanh giật mình lùi lại hai bước. A Tử la lên: “Đi đi! Đi đi! Ngươi lại bước tới một bước, thì ta đâm chết ngươi trước!” Mộc Uyển Thanh chau mày, nhìn Đoàn Dự lắc đầu.

Đột nhiên trong dãy núi phía bên trái quan ải có tiếng la gọi rất lớn: “A Tử! A Tử! Tại hạ đã nghe thấy thanh âm cô nương rồi! Cô nương ở đâu? Cô nương ở đâu?” Thanh âm này cực kỳ thê thảm, nhiều người nhận ra đây là Bang chủ Cái Bang, lấy tên là Trang Tụ Hiền, nhưng chính là Du Thản Chi.

Mọi người quay đầu nhìn về hướng có tiếng kêu réo, thì thấy Du Thản Chi hai tay cầm một đôi gậy trúc, gậy tay trái thì để dò đường, gậy tay phải thì gác lên vai một hán tử trung niên, đang từ góc núi tiến ra. Hán tử trung niên này lại chính là Ô Lão Đại ở cung Linh Thứu. Hắn hình dung tiều tụy, áo quần rách rưới, thần sắc đầy vẻ buồn rầu thê thảm. Bọn Hư Trúc lập tức hiểu ngay là Du Thản Chi bức bách hắn dẫn đi tìm A Tử, dọc đường chắc hành hạ đau khổ đã nhiều.

A Tử tức giận nói: “Ngươi đến đây làm chi? Ta không muốn thấy ngươi nữa! Ta không muốn thấy ngươi nữa!” Du Thản Chi vui mừng reo lên: “Trời ơi! Quả nhiên cô nương ở đây. Tại hạ đã nghe thấy thanh âm cô nương, cuối cùng cũng tìm được cô nương rồi.” Cây gậy bên phải gã đè mạnh xuống, Ô Lão Đại bất giác nhảy vọt tới trước. Hai người tiến tới rất nhanh, chỉ trong khoảnh khắc đã đến bên A Tử.

Lúc này bọn Hư Trúc cùng Đoàn Dự hoàn toàn vô kế khả thi, thấy Du Thản Chi đến thì nghĩ rằng gã này đã cam tâm tặng đôi mắt cho A Tử, nhất định phải có mối quan hệ sâu xa, không chừng gã có thể khuyên giải cho nàng tỉnh táo lại. Ai nấy nghĩ vậy rồi lùi lại mấy bước, để khỏi làm phiền đến câu chuyện giữa hai người.

Du Thản Chi nói:”A Tử cô nương! Cô nương vẫn khỏe chứ? Có ai dám khinh mạn cô nương không?” Khuôn mặt xấu xí của gã lộ vẻ vừa vui mừng vừa tha thiết với A Tử.

A Tử nói: “Nếu có người khinh mạn ta thì ngươi làm gì?” Du Thản Chi đáp ngay: “Ai đã đắc tội với cô nương, cô nương cho tại hạ biết ngay, tại hạ quyết liều mạng với hắn.” A Tử cười nhạt, trỏ vào mọi người xung quanh rồi đáp: “Hết thảy bọn này đều khinh mạn ta, ngươi cố mà giết sạch bọn chúng đi!”

Du Thản Chi “Vâng!” một tiếng, rồi hỏi Ô Lão Đại: “Lão Ô! Những ai đã đắc tội với cô nương?” Ô Lão Đại đáp: “Nhiều người lắm! Các hạ không giết hết được đâu.” Du Thản Chi nói: “Không giết được thì cũng phải giết, ai bảo chúng dám vô lễ với A Tử cô nương.”

A Tử tức giận nói: “Ta đã được cùng tỉ phu ở một nơi, từ nay vĩnh viễn không chia lìa nữa. Ngươi hãy đi thật xa đi! Ta không muốn nhìn thấy ngươi nữa.”

Du Thản Chi đau lòng tưởng chết đi được, nói: “Cô nương… Cô nương không muốn nhìn thấy tại hạ nữa ư?”  A Tử lớn tiếng nói: “Trời ơi! Phải rồi, cặp mắt này là của ngươi đã cho ta. Tỉ phu nói là ta còn thiếu ngươi món nợ ân tình, lại muốn ta đối đãi với ngươi cho tử tế. Nhưng ta không thể ưa ngươi được.” Nàng đưa tay phải lên, đột nhiên móc cặp mắt ra, vừa dùng sức ném về phía Du Thản Chi vừa la lên: “Trả lại ngươi! Trả lại ngươi! Từ nay ta không còn thiếu nợ ngươi nữa. Như thế thì tỉ phu mới không bắt ta phải đi theo ngươi.”

Du Thản Chi không nhìn thấy gì, nhưng nghe mọi người xung quanh la hét, thanh âm vừa hoảng hốt vừa kinh hãi, thì biết thảm họa đã phát sinh rồi. Gã thét lên: “A Tử cô nương! A Tử cô nương!”

A Tử lại ôm lấy thi thể Tiêu Phong, dịu dàng nói: “Tỉ phu! Chúng ta không còn nợ gì gã nữa. Trước kia muội đã dùng độc châm để bắn huynh, chỉ vì muốn huynh vĩnh viễn ở bên cạnh muội. Hôm nay muội đã thỏa mãn tâm nguyện rồi.” Nàng vừa nói vừa ôm Tiêu Phong bước đi.

Quần hào thấy máu từ hai hốc mắt nàng chảy đỏ cả khuôn mặt trắng như tuyết, ai cũng khiếp sợ. Nàng đi tới đâu, mọi người tránh ra tới đó. A Tử cứ đi bừa tới trước, đến gần vực thẳm sâu không thấy đáy. Mọi người vội la lên: “Dừng lại! Dừng lại! Trước mặt là vực thẳm!”

Đoàn Dự vừa vọt tới vừa la: “Tiểu muội! Tiểu…” Nhưng A Tử vẫn tiến thẳng tới trước, đột nhiên chân nàng bước hụt vào khoảng không, nhào thẳng xuống hang sâu vạn trượng.

Đoàn Dự vung tay ra chụp, nghe “roạc” một tiếng, chỉ chụp được một góc vạt áo của nàng. Đột nhiên sau lưng chàng có tiếng gió, có người xông đến. Đoàn Dự né vội sang trái, thấy Du Thản Chi cũng xông vào vực thẳm. Chàng la lên “Trời ơi!”, rồi nhìn xuống đáy hang, chỉ thấy mây phủ mịt mờ, chẳng biết sâu đến mức nào.

Quần hào đứng trên bờ vực thẳm, ai cũng ngậm ngùi thở dài. Những người kém võ công nhìn xuống sườn núi đầy đá tai mèo tựa như đao kiếm sắc bén, đều không khỏi khiếp sợ rùng mình. Những người cao tuổi như Huyền Độ đều biết chuyện ngoài Nhạn Môn Quan ngày trước, Huyền Từ cùng Uông Bang chủ dẫn người phục kích bọn võ sĩ Khất Đan tại đây. Khi ấy mẫu thân Tiêu Phong cũng đã vùi thây dưới vực thẳm này.

***

Bỗng nghe trên quan ải trống thúc liên hồi, tên võ quan khi nãy lớn tiếng hô: “Trương tướng quân Chỉ huy sứ trấn thủ Nhạn Môn Quan có lệnh: Bọn ngươi không phải là gian tế nước Liêu, vậy cho phép vào quan ải, nhưng phải biết an phận giữ mình, không được làm huyên náo, phải nhớ cho kỹ.”

Quần hào dưới chân thành đều lớn tiếng thóa mạ: “Chúng ta thà chết chứ không thèm vào cửa ải của bọn chó má các ngươi!”. “Nếu bọn cẩu quan không ngăn trở, thì Tiêu đại hiệp không đến nỗi phải uổng mạng!”. “Chúng ta phải xông vào thành mà giết tên cẩu quan đó!” Mọi người đều chỉ trỏ lên mặt thành, vung tay giậm chân mắng chửi om sòm.

Bọn Hư Trúc, Đoàn Dự quì trước vực thẳm, lạy mấy lạy, rồi vượt núi mà đi. Trương tướng quân Chỉ huy sứ trấn thủ Nhạn Môn Quan thấy khí thế sôi sục của quần hào có vẻ bất ổn, vội sửa lại mệnh lệnh, không cho ai vào trong ải nữa. Đợi đến khi quần hào la hét chán rồi từ từ giải tán, leo lên núi đi vòng về Nam, hắn mới yên lòng viết biểu chương, cho khoái mã đem gấp về Biện Kinh. Trong biểu chương nói là hắn đã dẫn tướng sĩ bản bộ huyết chiến mấy ngày với mười mấy vạn quân Liêu, may nhờ hồng phúc của thánh hoàng, nhờ các đại thần trong triều sáng suốt chỉ điểm, tướng sĩ đã liều mạng giết được đại tướng nước Liêu là Nam Viện đại vương Tiêu Phong, còn Liêu chúa Gia Luật Hồng Cơ bại trận phải rút quân về.

Tống đế tiếp được biểu chương thì cả mừng, truyền chỉ ra quan ải khao thưởng ba quân, từ Chỉ huy sứ trở xuống đều được thăng quan tiến chức. Triệu Hú tự cho rằng mình anh minh võ dũng, hơn hẳn Thái tổ, Thái tông, bèn thiết yến đãi tiệc triều thần, lại cùng hậu phi ăn mừng trong nội cung suốt mấy ngày liền. Lời ca tụng công đức tứ phía vang lên nghe điếc cả tai, biểu chúc mừng thắng lợi tám hướng gửi về rợp như bươm bướm.

***

Đoàn Dự chia tay cáo biệt cùng bọn Hư Trúc, Huyền Độ, Ngô Trường Phong, rồi cùng bọn Mộc Uyển Thanh, Chung Linh, Ba Thiên Thạch, Phạm Hoa trở về Đại Lý.

Mọi người vừa vào lãnh thổ Đại Lý đã thấy Vương Ngữ Yên cùng bọn thị vệ, võ sĩ Đại Lý ra nghênh giá. Đoàn Dự kể lại câu chuyện của Tiêu Phong cùng A Tử, mọi người đều không nén nổi buồn rầu thảm đạm. Đoàn người đi thẳng về phía nam, Đoàn Dự không muốn kinh động bách tính, truyền cho mọi người không được thay đổi sắc phục bá quan, cứ ăn mặc như kiểu khách thương.

Một hôm, sắp về đến kinh thành, Đoàn Dự muốn vào chùa Thiên Long bái kiến Khô Vinh thiền sư và hoàng bá phụ Đoàn Chính Minh. Nhưng chàng thấy trời đã tối mà chùa Thiên Long còn cách đến sáu mươi dặm, định tìm một chỗ nghỉ lại. Đột nhiên trong rừng cây có giọng trẻ nít la lên: “Bệ hạ! Bệ hạ! Thần đã lạy bệ hạ rồi, sao chưa cho thần ăn kẹo?”

Mọi người đều rất ngạc nhiên, tự hỏi: “Sao lại có người nhận ra bệ hạ?” Ai nấy chạy vào rừng cây xem thử, thì lại nghe một người nói: “Các ngươi phải nói: “Nguyện ngô hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!” thì mới được thưởng kẹo. Giọng nói này nghe rất quen tai, chính là của Mộ Dung Phục.

Đoàn Dự cùng Vương Ngữ Yên giật mình kinh hãi. Hai người dắt tay nhau nấp sau một gốc cây, nhìn về phía có tiếng nói, thì thấy Mộ Dung Phục ngồi trên một ngôi mộ, đầu đội mũ giấy, thần sắc oai nghiêm.

Có bảy tám đứa con nít nhà quê đang quì trước ngôi mộ này. Bảy tám giọng cùng hô lên: “Nguyện ngô hoàng vạn tủế, vạn tuế, vạn vạn tuế!” Chúng vừa hô vừa lạy, có đứa chìa tay ra năn nỉ: “Cho thần kẹo đi! Cho thần bánh đi!”

Mộ Dung Phục nói: “Các khanh hãy bình thân! Trẫm đã phục hưng được cơ nghiệp Đại Yên, lên ngôi đại bảo, tất cả triều thần đều được phong thưởng.”

Có một thiếu nữ đứng cạnh hắn trên ngôi mộ đó, chính là A Bích. Nàng mặc bộ y phục màu xanh nhạt, trên mặt hiện rõ vẻ thê lương tiều tụy, lấy trong giỏ ra một nắm bánh kẹo chia cho bọn con nít. Nàng lại nói: “Các ngươi đều rất ngoan ngoãn. Bây giờ hãy về đi, ngày mai lại đến chơi, ta lại phân phát bánh kẹo cho ăn.” Thanh âm nàng đầy vẻ buồn rầu, nước mắt từng giọt từng giọt rớt vào cái giỏ tre. Đám con nít vỗ tay hoan hô, vừa chạy tản ra vừa nói: “Ngày mai lại đến!”

Vương Ngữ Yên biết thần trí của biểu ca đã loạn, cái mộng phú quí của hắn ngày càng thâm trọng, không nén nổi đau lòng.

Đoàn Dự nhìn thần sắc A Bích mà thương xót, chỉ mong được dẫn nàng cùng Mộ Dung Phục về Đại Lý để trông nom săn sóc. Nhưng chàng thấy ánh mắt nàng nhìn Mộ Dung Phục nhu tình vô hạn, mà Mộ Dung Phục lại đầy vẻ dương dương đắc chí, thì không khỏi nhói lòng nghĩ lại: “Mỗi người đều có duyên nghiệp của mình. Mộ Dung huynh cùng A Bích đã như thế, tuy ta thấy họ đáng thương, nhưng trong lòng họ có chắc là chưa thỏa mãn không? Ta cần gì phải đa sự xen vào?” Rồi chàng khẽ kéo tay áo Vương Ngữ Yên ra hiệu.

Mọi người cùng im lặng lùi ra, vẫn thấy Mộ Dung Phục ngồi trên phần mộ, quay mặt về hướng nam, trong miệng vẫn đang nói lảm nhảm gì đó.

Hết

Comments

comments


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.