Thiên Long Bát Bộ - Bản Tân Tu (mới nhất)
Hồi 12 : Từ đó say mê
Chiếc thuyền chậm rãi tiến
về phía trước, theo mặt hồ nhìn lại, hai bên bờ cây cối tươi tốt, theo làn gió
bay lượn, không biết có mấy ngàn cây liễu thụ. Đoàn Dự khen thầm: “Nơi đây
phong cảnh tao nhã, bình sinh chưa từng thấy”. Chiếc thuyền đi tới dưới một
hàng liễu rủ, xa xa thấy một hàng cây hoa chiếu ánh nước rực rỡ như ráng mây
ban chiều. Đoàn Dự thảng thốt kinh ngạc kêu lên một tiếng. A Châu nói:
- Cái gì thế?
Đoàn Dự chỉ vào bụi hoa nói:
- Hoa đó là sơn trà của Đại Lý chúng tôi, sao
trong giữa Thái Hồ lại có trồng những loại Điền Trà đó nhỉ?
Sơn trà Vân Nam rất nổi danh thành thử người đời
gọi là Điền Trà. A Châu nói:
- Đúng thế! Gia trang này có tên là Mạn Đà Sơn
Trang, trồng toàn những hoa sơn trà.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Sơn trà còn có tên là Ngọc
Mính, lại cũng còn gọi là hoa Mạn Đà La. Trang viện này lấy tên là Mạn Đà, để
xem có những loại danh chủng nào”.
A Châu khua mái chèo đưa con thuyền tới bên bờ
nước dưới mấy cây sơn trà. Chàng đưa mắt nhìn qua chỉ thấy toàn hoa trà đỏ có,
trắng có chen chúc nhau nhưng không thấy nhà cửa. Đoàn Dự sinh trưởng ở Đại Lý,
hoa trà chàng coi đã quen không lấy gì làm lạ, nghĩ thầm: “Nơi đây sơn trà tuy
nhiều nhưng xem chừng chẳng có giai phẩm, có lẽ những loại quý trồng bên trong
trang viện”.
A Châu ghé thuyền vào sát bờ, mỉm cười nói:
- Đoàn công tử, mình cùng đi lên xong rồi xuống
ngay.
Nàng nắm tay A Bích toan nhảy lên bờ, bỗng nghe
từ trong rừng hoa có tiếng chân người, một người tiểu hoàn mặc áo xanh đi ra.
Tiểu nha hoàn đó tay cầm một bó hoa, nhìn thấy A Châu, A Bích vội rảo bước đi tới,
tươi cười nói:
- A Châu, A Bích các ngươi thật là lớn mật, dám
len lén tới đây. Phu nhân bảo: “Mau đi lấy dao rạch ngang dọc mặt hai đứa a đầu
cho chúng nó hết còn như hoa tựa ngọc nữa”.
A Châu cười đáp:
- U Thảo a tỉ nè, thái thái đi vắng phải không?
Đứa tiểu hoàn liếc nhìn Đoàn Dự rồi quay sang
nhìn A Châu, A Bích cười nói:
- Phu nhân còn bảo: “Hai con nhãi đó còn đem cả
nam nhân xa lạ đến Mạn Đà Sơn Trang, cũng chặt luôn hai chân người đó nữa”.
Nói chưa dứt câu thị đã cười khúc khích. A Bích
vỗ ngực nói:
- U Thảo a tỉ đừng có dọa, nói vậy là nói thật
hay nói chơi đó?
A Châu cũng cười:
- A Bích, ngươi đừng có sợ, nếu như thái thái có
nhà, con nhãi này đời nào dám hi ha hi hô như thế bao giờ? U Thảo muội tử, hỏi
thật chứ thái thái đi đâu rồi?
U Thảo cười nói:
- Này, nhà ngươi mấy tuổi mà dám đòi làm chị ta?
Sao ngươi đoán được là phu nhân không có nhà?
Nàng thở dài một tiếng nói tiếp:
- A Châu, A Bích hai cô em ơi, chẳng mấy khi các
ngươi sang đây chơi, ta muốn hai đứa ở chơi vài ngày, có điều...
Nói rồi nàng ta lắc đầu. A Bích nói:
- Bộ ta không muốn ở lại đây chơi với ngươi ít
lâu hay sao? U Thảo a tỉ nè, chừng nào ngươi sang chơi bên ta, ta sẽ ở với
ngươi ba ngày ba đêm, chịu không?
Hai cô gái vừa nói vừa nhảy lên bờ. A Bích ghé
tai U Thảo nói mấy câu, U Thảo cười rộ lên, liếc nhìn Đoàn Dự. A Bích mặt bỗng
đỏ bừng. U Thảo một tay nắm A Châu, một tay nắm A Bích nói:
- Thôi mình vào nhà chứ!
A Bích quay lại nói:
- Đoàn công tử, xin công tử ở nơi đây chờ một
lát, chúng tôi vào rồi ra ngay.
Đoàn Dự đáp:
- Không sao.
Chàng nhìn theo ba cô a hoàn tay nắm tay thân mật
đi vào trong rừng hoa. Đoàn Dự lên bờ, nhìn quanh quất không thấy ai liền đi ra
sau một cây to tiểu tiện. Chàng xuống thuyền ngồi một hồi, thấy không có việc
gì làm lại đứng lên nghĩ thầm: “Mình thử xem nơi đây hoa Mạn Đà La có những loại
gì đặc biệt không?”. Thuận chân vừa đi vừa xem hoa, thấy trong rừng hoa ngoài
sơn trà ra không còn một giống gì khác, ngay cả những loại thông thường như
Khiên Ngưu, Phượng Tiên, Nguyệt Quý cũng không thấy. Những loại sơn trà thì
cũng không có gì đặc biệt, chỉ được cái nhiều mà thôi.
Chàng đi được độ mươi trượng mới thấy nhiều loại
khá hơn, thỉnh thoảng cũng có một vài bụi xem ra không phải thứ xoàng, có điều
vun trồng không đúng cách nên nghĩ bụng: “Trang viện này không đáng gọi là Mạn
Đà Sơn Trang, bao nhiêu giai chủng trồng hỏng kiểu cả”. Đến đây chàng chợt
nghĩ: “Thôi mình quay lại đi thôi, A Châu và A Bích trở về không thấy mình e rằng
lại đâm lo”.
Chàng trở lại mới mấy bước bỗng thấy chột dạ kêu
lên một tiếng:
- Chết rồi!
Thì ra chàng cứ lầm lũi trong rừng, chỉ nghĩ đến
xem hoa trà mà quên để ý đến đường đi nước bước, bây giờ mới giật mình thấy
đông một lối, tây một lối không biết đâu là đường về, quay trở lại được chỗ buộc
thuyền không phải dễ đành nghĩ thầm: “Thôi mình cứ lần ra được bờ nước rồi tính
sau”.
Thế nhưng chàng càng đi càng lạc lối, chung
quanh toàn những cảnh chưa từng qua, trong bụng hoảng thầm, bỗng nghe phía bên
trái văng vẳng tiếng người nói chuyện, đúng là giọng A Châu. Đoàn Dự mừng quá
nghĩ thầm: “Thôi mình ở đây chờ nàng ta, đợi nói chuyện xong rồi cùng về một lượt”.
Chàng nghe A Châu nói:
- Công tử vẫn khỏe khoắn, ăn uống cũng bình thường.
Hai tháng qua, công tử chuyên luyện Đả Cẩu Bổng Pháp chắc là định so tài với
nhân vật nào đó của của Cái Bang.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “A Châu đang nói về Mộ Dung
công tử mình chẳng nên nghe lỏm chuyện của người khác, nên đi xa xa một chút là
hơn. Thế nhưng cũng chẳng nên đi xa quá, nếu không họ nói chuyện xong mình cũng
không biết được”.
Ngay khi đó, bỗng có tiếng một người con gái
khác thở dài một tiếng. Đoàn Dự toàn thân rung động, tim đập thình thình nghĩ
thầm: “Sao có ai chỉ thở dài mà nghe hay quá, trên đời này không lẽ có giọng
nói nghe ngọt đến thế hay sao?”. Liền đó có tiếng người hỏi nhỏ:
- Lần này anh ấy đi đâu?
Đoàn Dự mới nghe tiếng thở dài đã thấy choáng
váng, đến khi nghe được nàng ta nói một câu, trong người bao nhiêu máu nóng dường
như dồn cả lên, trong lòng vừa đau đớn vừa xót xa, nảy ra một nổi khâm phục xen
với đố kỵ: “Nàng ta rõ ràng là hỏi Mộ Dung công tử, đối với y thiết tha như thế,
hẳn là mang nỗi khắc khoải trong lòng. Mộ Dung công tử ơi, nhà ngươi sao mà may
mắn đến vậy?”.
Lại nghe A Châu đáp:
- Khi công tử ra khỏi nhà có nói là sẽ đi Lạc
Dương để gặp những hảo thủ trong Cái Bang, có cả Đặng đại ca đi theo. Cô nương
cứ an tâm.
Người con gái kia chậm rãi nói:
- Hai đại thần kỹ Đả Cẩu Bổng Pháp và Hàng Long
Nhị Thập Bát Chưởng của Cái Bang là bí mật của họ không truyền ra ngoài. Tàng
phổ của bổng pháp và chưởng pháp có trong Hoàn Thi Thủy Các bên ngươi và Lang
Hoàn Ngọc Động bên ta đều khiếm khuyết không đầy đủ. Phương pháp vận công hoàn
toàn không có, công tử nhà ngươi làm sao mà luyện được?
A Châu đáp:
- Công tử bảo rằng: “Tâm pháp của Đả Cẩu Bổng
Pháp kia cũng do con người sáng tạo nên, tại sao công tử lại không nghĩ ra được?
Có được bổng pháp rồi, mình suy nghĩ để thêm tâm pháp vào hẳn là không phải
khó”.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Lời của Mộ Dung công tử quả
là hữu lý, xem ra y không những đã thông minh lại còn có chí khí lắm”. Thế
nhưng lại nghe người con gái kia thở dài một tiếng rồi nói:
- Dẫu có sáng tác được đi chăng nữa, cũng phải
mười năm tám năm, ngày một ngày hai làm sao xong? Các ngươi có xem công tử luyện
bổng pháp không? Có chỗ nào ngắc ngứ không thông chăng?
A Châu đáp:
- Lộ bổng pháp đó công tử múa rất nhanh, từ đầu
đến cuối chẳng khác gì nước chảy mây trôi...
Cô gái kia thất thanh kêu lên một tiếng nói:
- Hỏng rồi! Chàng... chàng có thực múa nhanh như
thế hay chăng?
A Châu đáp:
- Đúng vậy, có gì sai quấy chăng?
Người con gái kia nói:
- Dĩ nhiên là sai rồi. Tuy ta không biết tâm
pháp của Đả Cẩu Bổng Pháp thực nhưng từ tàng phổ Thủy Các mà suy, có một số đường
phải càng chậm càng hay, có đường thì phải khi nhanh khi chậm, trong chậm có
nhanh, trong nhanh có chậm, không còn nghi ngờ gì nữa. Chàng... chàng chỉ cố
cho nhanh, đến khi động thủ với người của Cái Bang, e rằng... e rằng... các
ngươi... có cách gì báo tin cho công tử hay được chăng?
A Châu “Ồ” lên một tiếng nói:
- Công tử lúc này đang ở đâu, tiểu tì làm sao biết
được, cũng không biết đã gặp các trưởng lão của Cái Bang chưa? Khi ra đi công tử
có nói là, Cái Bang đổ oan cho chúng ta giết Mã phó bang chủ của họ, công tử đến
Lạc Dương sẽ phân trần một phen, chưa hẳn đã phải động thủ với người của Cái
Bang, nếu không chỉ có công tử với Đặng đại ca hai người làm sao địch được số
đông. Chỉ ngại rằng nói năng chưa rõ ràng, hai bên ngôn ngữ bất hòa...
A Bích hỏi lại:
- Cô nương, môn Đả Cẩu Bổng Pháp nếu đánh nhanh
thì có thực là không ổn hay sao?
Người con gái kia nói:
- Dĩ nhiên là không ổn, còn nói năng gì nữa?
Chàng... chàng khi ra đi, sao không đến gặp ta một chuyến?
Nàng ta nói xong dậm chân nhè nhẹ, tỏ ra bực bội,
lại có vẻ lo lắng, âm điệu quả là dịu dàng dễ nghe làm sao. Đoàn Dự thực là lạ
lùng, nghĩ thầm: “Ta ở Đại Lý nghe người ta nói đến Cô Tô Mộ Dung là vừa sợ hãi
vừa kính trọng. Thế nhưng nghe cô nương này nói, dường như võ nghệ của Mộ Dung
công tử đều do nàng ta chỉ điểm. Không lẽ một cô gái trẻ tuổi như thế này, lại
có bản lĩnh ghê gớm đến thế hay sao?”.
Chàng còn đang nghĩ ngợi xuất thần, đầu đụng
ngay vào một cành cây chắn ngang, buột miệng “A” lên một tiếng, vội giơ tay bịt
miệng nhưng không kịp nữa rồi. Cô gái kia hỏi:
- Ai thế?
Đoàn Dự biết không còn trốn tránh được nữa, liền
tằng hắng một tiếng, từ đằng sau bụi cây nói:
- Tại hạ Đoàn Dự, mải mê thưởng ngoạn kỳ hoa dị
thảo trong quý trang vô tình lỡ bước tới đây, xin được thứ tội.
Cô gái kia hỏi nhỏ:
- A Châu, có phải vị tướng công cùng tới đây với
các ngươi đó chăng?
A Châu vội đáp:
- Dạ phải đó, xin cô nương đừng để tâm, chúng
tôi đi ngay bây giờ.
Thiếu nữ kia đáp:
- Khoan đã! Ta muốn viết một phong thư nói rõ
cho chàng hay, dặn là nếu như bất đắc dĩ phải động thủ với người của Cái Bang thì
nhất quyết chớ có dùng Đả Cẩu Bổng Pháp, chỉ nên dùng võ công của mình thôi.
Cái gì là “gậy ông đập lưng ông” vốn là nói ra để dọa người, sao có thể dễ dàng
thi triển? Các người cầm thư đó làm cách nào chuyển tới cho chàng.
A Châu do dự đáp:
- Cái đó... thái thái từng dặn là...
Người con gái kia nói:
- Nói gì? Các ngươi chỉ nghe lời phu nhân, không
nghe lời ta chăng?
Trong giọng nàng dường như có vẻ hơi giận. A
Châu hấp tấp đáp:
- Chỉ cần cô nương không để cho thái thái hay,
tì tử dĩ nhiên là tuân lệnh, huống chi đây là vì công tử.
Cô gái nói:
- Hai đứa ngươi theo ta đến thư phòng để lấy
thư.
A Châu dường như hơi chần chừ, miễn cưỡng đáp:
- Dạ!
Đoàn Dự từ khi nghe cô gái thở dài, càng về sau
càng thấy mê man, nay nghe nàng ta định bỏ đi, một khi đi khỏi rồi từ nay về
sau chắc gì còn gặp lại được, thật đúng là ôm hận cả đời nên không còn ngại ngừng
bị người trách cứ về tội mạo phạm, nhất định nhìn thấy mặt nàng một lần, thu hết
can đảm nói:
- A Bích tỉ tỉ, cô ở lại đây với ta có được
chăng?
Nói xong từ sau bụi cây bước ra. Cô gái kia nghe
thấy chàng đi tới hoảng hốt kêu lên, lập tức xoay người quay lưng lại. Đoàn Dự
vừa đi ra khỏi lùm cây thấy một nữ lang mặc áo dài bằng sa màu cánh sen, mặt
quay về phía cây hoa, thân hình mảnh dẻ, tóc để dài xõa xuống lưng, chỉ buộc hờ
bằng một dải lụa màu bạc. Đoàn Dự nhìn sau lưng nàng, thấy như mờ mờ có khói
vương tỏa chung quanh, dường như không phải người trần nên vội vái một cái thật
sâu nói:
- Tại hạ Đoàn Dự, bái kiến cô nương.
Cô gái nhè nhẹ dậm chân một một cái, phụng phịu
nói:
- A Châu, A Bích, cũng chỉ tại hai đứa ngươi
nháo nhác, ta đâu có muốn gặp đàn ông con trai ở bên ngoài.
Nói xong nàng cắm cúi bước đi, qua lại mấy khúc
quẹo đã khuất hẳn trong những bụi sơn trà. A Bích mỉm cười, quay sang nói với
Đoàn Dự:
- Đoàn công tử, vị cô nương đây khó tính lắm,
thôi mình mau mau đi ra.
A Châu cũng cười nói với Đoàn Dự:
- Cũng may có Đoàn công tử đến giải vây, chứ
không Vương cô nương thể nào cũng bắt chúng tôi đưa tin, hai cái mạng nhỏ của
chị em chúng tôi e rằng nguy mất.
Đoàn Dự hấp tấp xông ra bị cô gái kia nói lẫy mấy
câu, trong bụng cũng hơi bẽ bàng, đang lo A Châu, A Bích hai nàng đổ tội lên đầu
mình, ngờ đâu nhị nữ lại mừng rỡ cảm ơn, thật là ngoài dự tính, nhìn người con
gái tuy đã đi xa nhưng hình bóng vẫn còn vấn vương trước mắt, cảm thấy bâng
khuâng đứng ngẩn ngơ nhìn theo bóng nàng lẫn sau những tùm hoa.
A Bích giật nhẹ tay áo chàng, Đoàn Dự cũng không
hay biết. A Châu cười nói:
- Đoàn công tử, thôi mình đi.
Đoàn Dự chân như đóng đinh xuống đất, phải mất một
chốc mới như choàng tỉnh hỏi lại:
- Ừ, ừ! Chúng mình phải đi ngay hay sao?
Chàng thấy A Châu, A Bích đã cất bước đi trước
nên đành lẽo đẽo theo sau, đi một bước lại ngoái đầu, quyến luyến mãi không
thôi. Ba người về đến chiếc thuyền, A Châu và A Bích liền cầm mái giầm chèo
ngay. Đoàn Dự vẫn ngẩn ngơ nhìn những đóa hoa trà trên bờ, nghĩ bụng:
- Đoàn Dự ta quả là vô phúc, sao lại nghe được
cô nương đó thở dài mấy tiếng, thỏ thẻ mấy câu? Rồi lại được thấy thể thái như
thần tiên kia làm gì? Nếu như có phúc, sao đến mặt nàng cũng chưa được ngó qua?
Chàng thấy những bụi hoa trà xa dần, trong nháy
mắt đã bị hàng liễu xanh che mất, trong lòng dâng lên một nỗi u hoài man mác. Bỗng
ngay lúc đó, A Châu kêu lên một tiếng kinh hoàng, lắp bắp:
- Thái thái... thái thái về kìa.
Đoàn Dự quay đầu nhìn thấy trên mặt hồ một chiếc
thuyền đang lướt tới như bay, trong chớp mắt đã đến gần. Trên đầu thuyền vẽ đầy
các loại hoa sắc sỡ, đến gần mới thấy toàn là hoa trà. A Châu, A Bích vội vàng
chèo thuyền tránh đi nhưng đã không kịp, hai nàng vội đứng lên, cúi gầm mặt xuống,
thần thái cực kỳ cung kính, lại vừa sợ hãi. A Bích luôn tay ra hiệu cho Đoàn Dự,
bảo chàng cũng đứng lên. Đoàn Dự mỉm cười lắc đầu nói:
- Đợi khi nào chủ nhân ra khỏi khoang thuyền nói
chuyện, lúc đó ta hãy đứng lên. Nam tử hán đại trượng phu không nên quá hạ mình
như thế được.
Bỗng từ trong khoái thuyền có tiếng đàn bà quát
lên:
- Sao có người đàn ông nào dám to gan đến Mạn Đà
Sơn Trang đó? Có biết là nam tử không mời mà đến sẽ bị ta chặt hai chân hay
không?
Giọng nói cực kỳ oai nghiêm, nhưng rất trong trẻo
dễ nghe. Đoàn Dự cao giọng đáp:
- Tại hạ Đoàn Dự trên đường đi lánh nạn ngang
qua quý trang chứ không cố ý mạo phạm, nay gặp đây xin tạ tội.
Người đàn bà kia nói:
- Ngươi họ Đoàn ư?
Trong âm thanh có chiều ngạc nhiên, Đoàn Dự đáp:
- Chính thị.
Người kia lại nói tiếp:
- Hừ, A Châu, A Bích có phải hai đứa bay đi
quàng đi xiên hay chăng? Tên tiểu tử Mộ Dung Phục điều hay không học, chỉ lấp
la lấp ló học chuyện tầm phào.
A Châu đáp:
- Bẩm thái thái, tiểu tì bị địch nhân đuổi gắt
quá nên phải chạy tới Mạn Đà Sơn Trang. Công tử chúng tôi đã đi khỏi rồi, chuyện
này không có liên quan gì đến công tử hết.
Người đàn bà trên thuyền cười khẩy:
- Hứ, các ngươi chỉ được cái giả lả là hay.
Không có đi đâu hết, mau theo ta.
A Châu, A Bích cùng đáp:
- Dạ.
Hai nàng liền chèo chiếc thuyền con đi theo đằng
sau, lúc này cách Mạn Đà Sơn Trang chưa xa mấy nên chỉ chốc lát đã nhìn thấy bờ.
Chỉ nghe tiếng vòng chạm nhau leng keng, từ trong khoang thuyền đi ra vô số con
gái mặc áo xanh ăn mặc theo lối tì nữ, tay đều cầm trường kiếm nên chỉ giây lát
đã thấp thoáng lưỡi kiếm trắng xóa, tổng cộng chín đôi. Mười tám người xếp
thành hai hàng, kiếm giữ ngang hông, lưỡi hếch lên trời. Sau khi họ đã an vị, từ
trong khoang một người đàn bà bước ra.
Đoàn Dự vừa thấy mặt người đàn bà đó, nhịn không
nổi kêu lên một tiếng thất thanh, mồm há hốc tưởng như đang nằm mộng. Thì ra
người đàn bà đó mặc áo dài màu vàng nhạt, y phục trang sức giống hệt như pho tượng
ngọc trong động núi Vô Lượng nước Đại Lý. Có điều đây là một giai nhân tuổi đã
trung niên, khoảng chừng gần bốn mươi còn pho tượng ngọc trong hang thì là một
thiếu nữ chừng mười tám mười chín tuổi.
Đoàn Dự sau cơn kinh hoàng nhìn kỹ lại tướng mạo
người đàn bà kia mới nhận ra là so với pho tượng ngọc thì mắt mũi mồm cũng
không bằng mà tuổi cũng có khác, trên khuôn mặt nhuốm vẻ dày dạn phong sương
nhưng cũng còn giống đến năm sáu phần mười.
A Châu, A Bích thấy chàng trố mắt đứng đờ ra
nhìn Vương phu nhân, thực là vô lễ, trong bụng kêu khổ liên hồi, vội vàng ra hiệu
bảo chàng quay đi nơi khác nhưng đôi mắt Đoàn Dự vẫn dán chặt vào mặt bà ta.
Người đàn bà liếc mắt nhìn Đoàn Dự nói:
- Gã này thật là vô lễ, đã vậy chặt hai chân y
trước, sau đó móc hai con mắt, cắt lưỡi coi ra thế nào.
Một con tì nữ khom lưng đáp lời:
- Dạ!
Đoàn Dự thót cả ruột, nghĩ thầm: “Giá như họ giết
mình đi thì đã đành. Đằng này họ lại chặt chân, khoét mắt, cắt lưỡi khiến mình
sống dở chết dở, tội gì đâu mà to thế?”. Đến lúc này, chàng mới thấy thực là sợ
hãi, quay sang nhìn A Châu, A Bích thấy hai người mặt tái xanh, đứng chết sững.
Vương phu nhân lên bờ rồi, trên thuyền lại đi ra
thêm hai thanh y tì nữ khác, kéo theo sau hai người đàn ông mặt mày ủ rũ tay bị
xích sắt khóa chặt. Một người mặt mày thanh tú, trông ra dáng con nhà giàu có,
còn một người Đoàn Dự nhận ra được là một đệ tử phái Vô Lượng, nhớ rõ hắn khi ở
võ sảnh trong Kiếm Hồ Cung đã tự báo danh, nói là họ Đường. Đoàn Dự lạ quá:
“Người này ở tận Đại Lý sao lại bị Vương phu nhân bắt đem tới Giang Nam?”.
Chỉ thấy Vương phu nhân nói với Đường Quang
Hùng:
- Rõ ràng ngươi là người Đại Lý, sao lại còn chối
là sao?
Gã họ Đường đáp:
- Tại hạ người đất Vân Nam, quê thuộc về Đại Tống,
không thuộc về Đại Lý.
Vương phu nhân hỏi thêm:
- Thế quê ngươi cách Đại Lý bao xa?
Gã họ Đường đáp:
- Bốn trăm dặm.
Vương phu nhân nói:
- Chưa tới năm trăm dặm thì cũng coi như người Đại
Lý rồi. Đem nó ra chôn sống dưới gốc hoa Mạn Đà làm phân bón.
Gã họ Đường hoảng hốt kêu lên:
- Thế tôi có tội tình gì, nói cho tôi nghe kẻo
tôi có chết cũng không nhắm mắt.
Vương phu nhân cười khẩy:
- Chỉ cần là người Đại Lý hoặc người họ Đoàn vào
tay ta là bị chôn sống. Ngươi đến Tô Châu làm gì? Đã dám đến Tô Châu lại dám mở
mồm nói giọng Đại Lý, nơi quán rượu ba la bô lô là sao? Ngươi không phải người
Đại Lý nhưng ở gần Đại Lý thì cũng không khác gì.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Ối trời, phải chăng mụ ta
tính nói xỏ mình? Ta chẳng cần mụ phải hỏi, cứ thẳng thắn nhận đi cho xong”.
Chàng bèn lớn tiếng nói:
- Ta là người nước Đại Lý, lại họ Đoàn đây, bà
muốn chôn sống thì mau ra tay.
Vương phu nhân lạnh lùng đáp:
- Ngươi đã sớm báo danh rồi, tự xưng là tên Đoàn
Dự. Hừ, người họ Đoàn nước Đại Lý thì đâu có chết dễ dàng như thế được.
Bà ta vẫy tay một cái, một đứa nữ tì liền lôi
ngay gã họ Đường đi. Hắn không biết đã bị điểm huyệt, hay đã bị trọng thương
nên không thấy kháng cự chút nào, chỉ kêu ầm lên:
- Trên đời này làm gì có cái quy củ gì như thế,
nước Đại Lý hàng trăm vạn người, ngươi có giết hết được chăng?
Thế như y bị kéo vào trong rừng hoa mỗi lúc một
xa, tiếng kêu càng lúc càng nhỏ dần. Vương phu nhân quay sang người đàn ông mặt
mũi thanh tú kia hỏi:
- Còn ngươi thì sao?
Người đàn ông đột nhiên quỳ phục xuống, cầu xin:
- Gia phụ làm quan tại Biện Lương, cả nhà chỉ có
một đứa con trai, cầu xin phu nhân tha mạng. Phu nhân sai bảo gì, gia phụ nhất
định sẽ bằng lòng.
Vương phu nhân thản nhiên nói:
- Cha ngươi làm quan lớn trong triều, tưởng ta
không biết hay sao? Tha mạng cho ngươi cũng chẳng khó gì, nội ngày hôm nay
ngươi về nhà giết ngay con vợ se tơ kết tóc của ngươi đi, ngày mai lấy ngay cô
gái họ Miêu ngươi đang giăng dện, cheo cưới cho đủ, có thế là xong. Vậy được
không?
Gã công tử ấp úng:
- Cái việc... cái việc giết vợ tôi, thực không
đành lòng. Còn như minh môi chính thú Miêu cô nương thì cha mẹ tôi chắc không
chấp nhận. Chẳng phải là tôi...
Vương phu nhân nói:
- Đem y đi chôn sống!
Người tì nữ đang dắt y liền đáp:
- Dạ!
Rồi lôi y đi. Gã công tử sợ mất cả hồn vía, người
run lẩy bẩy vội nói:
- Tôi... tôi bằng lòng!
Vương phu nhân nói:
- Tiểu Thúy, ngươi áp tống y trở lại thành Tô
Châu, chính mắt thấy y giết vợ, bái đường thành thân với Miêu cô nương, sau đó
hãy trở lại.
Tiểu Thúy đáp lời:
- Dạ!
Nàng ta lôi gã công tử kia lên bờ đi về phía bến
đò xuống một con thuyền nhỏ. Gã kia vẫn còn rên rỉ:
- Xin phu nhân mở lòng. Vợ tôi với bà không thù
không oán, bà cũng không biết Miêu cô nương là ai, sao lại bênh cô ấy, ép tôi
giết vợ lấy người khác làm chi? Tôi... tôi xưa nay cũng chẳng biết bà, từ
nay... từ nay cũng không dám đắc tội nữa.
Vương phu nhân nói:
- Ngươi đã có vợ rồi, sao lại còn lân la ngon ngọt
tán tỉnh con gái nhà người ta. Đã chim chuột thì không thể không lấy, tuy ta
không nghe không thấy nhưng chỉ cần ta biết được là ta bắt ngươi phải làm. Việc
này cũng có phải lần đầu đâu, còn oán trách nỗi gì? Tiểu Thúy, y trăng hoa bao
nhiêu vụ rồi?
Tiểu Thúy đáp:
- Tiểu tì ở Thường Thục, Côn Sơn, Vô Tích, Hồ
Châu, Thường Châu các nơi, nghe cả thảy là bảy vụ, còn Tiểu Lan, Tiểu Thi hai đứa
kia thì không biết thêm bao nhiêu.
Gã công tử kia nghe cô ta liệt kê ra như thế, chỉ
biết kêu khổ thầm trong bụng. Tiểu Thúy đem gã công tử xuống thuyền nhỏ, quạt
chiếc giầm, chèo chiếc thuyền đi.
Đoàn Dự thấy Vương phu nhân hành sự chẳng kể
tình lý, ngang ngược quá đỗi không khỏi há hốc mồm, đứng chết trân, trong bụng
chỉ nghĩ được bốn chữ: “Lẽ nào lại thế?”, vô hình chung buột miệng:
- Lẽ nào lại thế? Lẽ nào lại thế?
Vương phu nhân hừ một tiếng nói:
- Trên đời này có việc gì mà phải ra lẽ mới làm.
Đoàn Dự vừa thấy thất vọng, vừa khó xử, hôm trước
trong thạch động núi Vô Lượng được thấy pho tượng thần tiên tỉ tỉ trong lòng
bao nhiêu kính ngưỡng, con người trước mắt tuy hình dáng tương tự nhưng lời ăn
tiếng nói, cử chỉ hành vi lại chẳng khác gì yêu ma quỷ quái.
Chàng cúi đầu ngơ ngẩn, thấy bốn đứa nữ tì quay
vào khoang thuyền bưng ra bốn chậu hoa. Đoàn Dự vừa nhìn thấy liền cảm thấy cao
hứng ngay. Bốn chậu hoa đó đều là sơn trà, cũng là những danh chủng khó kiếm.
Trong thiên hạ nói về sơn trà thì Đại Lý đứng đầu, mà trong phủ Trấn Nam Vương
thì phải nói là số một trong cả nước. Đoàn Dự từ bé nhìn đã quen, mỗi khi nhàn
rỗi vẫn thường ngồi cùng bọn trồng hoa bàn bạc phê bình, nên dở hay xấu tốt
chàng thuộc nằm lòng, chẳng cần học cũng biết, khác gì con nhà nông biết về gạo
tẻ, gạo nếp, con nhà thuyền chài biết về con cá, con tôm.
Chàng đi lang thang trong Mạn Đà Sơn Trang, chưa
thấy gốc hoa nào được gọi là giai phẩm, không khỏi thấy bốn chữ Mạn Đà Sơn
Trang danh quá kỳ thực, bây giờ nhìn thấy bốn chậu hoa này, ngầm tấm tắc: “Quả
nhiên cũng có được ít nhiều”.
Lại nghe Vương phu nhân nói:
- Tiểu Trà, bốn chậu sơn trà Mãn Nguyệt này kiếm
được không phải dễ, ngươi phải chăm chút cho kỹ nghe chưa?
Đứa tớ gái tên Tiểu Trà kia liền đáp lời:
- Dạ!
Đoàn Dự nghe bà ta nói trật lất liền bật ra một
tiếng cười khẩy. Vương phu nhân lại tiếp:
- Trên hồ gió to, bốn chậu hoa này để luôn trong
khoang mấy ngày, thiếu nắng, ngươi mau đem ra phơi, bón thêm phân cho nó.
Tiểu Trà lại đáp lời:
- Dạ!
Đoàn Dự không còn nhịn thêm được nữa, bật cười
ha hả. Vương phu nhân nghe chàng cười có điều khác lạ, bèn hỏi:
- Nhà ngươi cười gì?
Đoàn Dự đáp:
- Ta cười bà không biết gì về sơn trà, vậy mà học
đòi trồng hoa. Những loại giai phẩm như thế này vào tay bà thật có khác gì đem
đàn chụm lửa, bắt hạc nấu canh, thật là uổng phí. Tiếc thay, tiếc thay! Minh
châu ám đầu, thật là đau lòng.
Vương phu nhân giận dữ nói:
- Ta không biết sơn trà, dễ thường ngươi biết chắc?
Đột nhiên bà ta chợt nghĩ: “Xem nào, y là người
họ Đoàn nước Đại Lý, không chừng biết về sơn trà thật”. Tuy nghĩ thế nhưng miệng
vẫn khinh khỉnh nói:
- Bản trang đặt tên là Mạn Đà Sơn Trang, trong nhà
ngoài ngõ chỗ nào cũng toàn là hoa Mạn Đà La, cây nào cây nấy xanh um, sao lại
bảo là ta không biết trồng sơn trà?
Đoàn Dự mỉm cười:
- Gái nhà quê chỉ ăn khoai cũng béo tốt. Cái thứ
hoa hạng bét kia vứt đâu mà chẳng mọc. Còn bốn bồn bạch trà này là bậc quốc sắc
thiên hương, kẻ không sành mà trồng được thì mỗ đây không phải là họ Đoàn.
Vương phu nhân rất thích hoa trà, tốn không biết
bao nhiêu tiền của đi các nơi lùng tìm giai phẩm, thế nhưng giống lạ đem về Mạn
Đà Sơn Trang thì không loại sơn trà danh quý nào tốt tươi, chỉ được sáu tháng một
năm là khô héo, chẳng đụng chạm gì cũng chết. Bà ta cũng vì thế mà buồn phiền,
mặc dù đã tìm nhiều thợ trồng hoa nhưng không có kết quả. Hoa vườn Tô Châu đứng
đầu thiên hạ, vốn thợ trồng hoa rất nhiều nhưng đều là do tổ tiên truyền lại,
biết hết các loài hoa Giang Nam, còn sơn tà Vân Nam thì lại hoàn toàn không biết.
Vương phu nhân nghe Đoàn Dự nói thế không giận mà lại vui, tiến tới hai bước hỏi
thêm:
- Bốn chậu hoa trắng của ta có gì khác thường?
Phải trồng thế nào mới đúng cách?
Đoàn Dự nói:
- Nếu như bà muốn học hỏi với tôi, thì phải có
cái lễ phép của người muốn học. Còn như bức bách tra hỏi thì cứ việc chặt hai
chân tôi trước rồi hỏi sau cũng không muộn. Lúc đó xem ta có nói hay không.
Vương phu nhân giận dữ nói:
- Chặt hai chân ngươi thì có gì là khó? Tiểu
Thi, chặt chân trái y trước cho ta.
Đứa tì nữ tên Tiểu Thi liền đáp ứng, xách kiếm
tiến lên. A Bích vội che cho Đoàn Dự, đánh bạo nói:
- Bẩm thái thái, xin hãy thư thả, gã này gan liền
tướng quân, nếu như thương tổn đến y, y có chết cũng không nói đâu.
Vương phu nhân vốn cũng chỉ muốn dọa Đoàn Dự nên
giơ tay lên, Tiểu Thi lập tức đứng lại. Đoàn Dự cười nói:
- Ngươi cứ chặt hai chân ta đem chôn dưới gốc mấy
cây bạch trà này làm phân tốt lắm, hoa sẽ nở thật to, có khi to bằng cái tô
không chừng, ha ha, đẹp lắm! Hay thật! Hay thật!
Vương phu nhân cũng vốn có ý đó, nay nghe chàng
nói có vẻ như mỉa mai, không biết nói sao, bần thần một hồi mới nói:
- Ngươi nói lăng nhăng cái gì? Bốn bồn hoa trắng
của ta có cái gì đặc biệt danh quý, nói ta nghe thử. Nếu như ngươi nói nghe được,
ta lúc ấy dùng lễ đãi ngươi cũng chưa muộn mà.
Đoàn Dự đáp:
- Vương phu nhân, bà bảo bốn chậu hoa trà này
tên là Mãn Nguyệt, ngay cái đó đã sai rồi. Đến như tên hoa bà còn chưa rành,
làm sao dám gọi là người biết chơi hoa? Trong số này một chậu tên là Hồng Trang
Tố Lý, một chậu tên là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm.
Vương phu nhân lạ lùng:
- Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm? Sao cái tên lại quái đản
đến thế? Đó là cây nào?
Đoàn Dự nói:
- Bà muốn thỉnh giáo vãn sinh thì phải nói cho lễ
phép.
Vương phu nhân bị chàng ép cho không biết phải
làm sao nhưng nghe nói bốn chậu trà này mỗi cây có một cái tên đặc biệt nên rất
sung sướng, mỉm cười:
- Được rồi! Tiểu Thi, ngươi mau bảo nhà bếp thiết
yến nơi Vân Cẩm Lâu để ta thết đãi Đoàn công tử.
Tiểu Thi lập tức đáp lời ra đi. A Bích và A Châu
người nọ nhìn người kia, thấy Đoàn Dự không những chết đi sống lại, Vương phu
nhân lại còn tiếp đãi như hàng thượng khách, thật hoan hỉ không đâu cho hết. Đứa
tì nữ áp giải tên đệ tử Vô Lượng Kiếm bây giờ đã quay lại bẩm báo:
- Gã họ Đường người Đại Lý kia đã đem chôn nơi gốc
hoa màu đỏ nơi Hồng Hà Lâu rồi.
Đoàn Dự trong bụng xót xa, thấy Vương phu nhân
dường như không coi vào đâu, chỉ gật gù nói:
- Xin mời Đoàn công tử.
Đoàn Dự đáp:
- Mạo muội đến đây làm phiền, mong hiền chủ nhân
thứ lỗi cho đừng trách.
Vương phu nhân đáp:
- Có bậc đại hiền giáng lâm, Mạn Đà Sơn Trang đến
cỏ cây cũng thêm phần rạng rỡ.
Hai người vừa khách sáo nói mấy câu vừa đi tới,
có ai ngờ đâu chỉ giây phút trước tính mạng Đoàn Dự như chỉ mành treo chuông.
Vương phu nhân đưa Đoàn Dự đi qua rừng hoa, qua một chiếc cầu đá, đi theo một
con đường mòn đến trước một tòa tiểu lâu. Đoàn Dự nhìn thấy dưới mái hiên có một
tấm biển viết ba chữ Vân Cẩm Lâu theo lối chữ triện màu xanh, dưới lầu trước
sau trái phải chỗ nào cũng toàn hoa trà cả. Có điều những giống này ở Đại Lý chỉ
vào hạng ba hạng tư, nếu so với tòa tiểu lâu tinh mỹ này có phần không xứng.
Vương phu nhân vẻ mặt đắc ý, nói:
- Đoàn công tử, nước Đại Lý của cậu hoa trà rất
nhiều, nhưng nếu so sánh với của ta chắc không thể bì kịp.
Đoàn Dự gật đầu:
- Những hoa trà loại này dân Đại Lý chúng tôi chẳng
ai trồng cả.
Vương phu nhân cười khanh khách:
- Thật ư?
Đoàn Dự nói:
- Những người dân quê mùa tầm thường ở Đại Lý
cũng biết các loại hoa này phẩm chất kém cỏi, trồng chẳng cao sang gì.
Vương phu nhân mặt biến sắc, giận dữ nói:
- Ngươi nói sao? Ngươi bảo hoa trà ta trồng là
loại tục phẩm ư? Nói như thế chẳng hóa, chẳng hóa.... khinh người quá lắm.
Đoàn Dự nói:
- Vãn sinh sao dám khinh thường phu nhân. Phu
nhân tin hay không tin cũng tùy ở người.
Chàng vừa nói vừa chỉ một cây hoa trà ngũ sắc
trước lầu:
- Giá thử như cây này, bà tưởng nó quý lắm ư. Hứ,
đẹp thật, cái lan can này thật là đẹp, thật là đẹp.
Chàng tấm tắc khen cái lan can đẹp mà hoa thì chẳng
nhắc đến một câu khác nào người xem chữ viết, không nhắc đến chữ mà chỉ khen lấy
khen để mực đen và giấy tốt.
Cây hoa trà đó vừa trắng vừa đỏ, vừa tía vừa
vàng, sắc hoa thật là rực rỡ, từ trước tới nay Vương phu nhân vẫn coi là trân
phẩm. Nay thấy Đoàn Dự có vẻ xem thường nên lông mày bà nhướng lên, mắt lộ sát
ý. Đoàn Dự nói:
- Xin hỏi phu nhân, giống hoa này ở Giang Nam gọi
tên là gì?
Vương phu nhân hậm hực đáp:
- Chúng tôi chẳng gọi tên gì đặc biệt, chỉ gọi
là hoa trà Ngũ Sắc.
Đoàn Dự mỉm cười:
- Đại Lý chúng tôi có đặt cho nó một cái tên, gọi
là Lạc Đệ Tú Tài.
Vương phu nhân hừ một tiếng:
- Cái tên sao khó nghe làm vậy, chắc ngươi tiện
mồm đặt ra chứ gì. Cây hoa đẹp đẽ như thế, sao lại giống gã thư sinh thi hỏng?
- Phu nhân thử nhìn lại xem, cây hoa này cả thảy
tất cả mấy màu.
Vương phu nhân nói:
- Ta đã đếm qua, cũng phải có đến mười lăm, mười
sáu màu khác nhau.
Đoàn Dự nói:
- Cả thảy đúng ra là mười bảy màu. Đại Lý có một
loại hoa quý giá nổi tiếng tên gọi Thập Bát Học Sĩ. Đó là thiên hạ cực phẩm,
trên cây có đủ mười tám đóa hoa, mỗi đóa một màu khác nhau, hồng thì toàn hồng,
tía thì toàn tía, không một mảy lẫn lộn. Nhưng cả mười tám đóa hoa mỗi đóa hình
trạng khác nhau, mỗi đóa một vẻ, nở thì cùng nở, tàn thì cùng tàn, phu nhân đã
thấy bao giờ chưa?
Vương phu nhân nghe qua thẫn thờ, lắc đầu:
- Trên đời này lại có loại hoa như thế sao? Đến
nghe nói tới ta cũng chưa nghe bao giờ.
Đoàn Dự nói:
- So với Thập Bát Học Sĩ kém một mức là Thập Tam
Thái Bảo là mười ba đóa hoa khác nhau trên cùng một cây. Rồi đến Bát Tiên Quá Hải
là tám đóa khác nhau một cây. Thất Tiên Nữ là bảy đóa. Phong Trần Tam Hiệp là
ba đóa. Nhị Kiều là một trắng một đỏ hai đóa. Nói đến hoa trà là phải thuần sắc,
nếu như trong đỏ có lẫn trắng, trong trắng lẫn tía thì là hạ phẩm rồi.
Vương phu nhân bỗng nhiên đờ đẫn, nhìn về xa
xăm, nói một mình:
- Sao y không nói cho ta biết nhỉ? À, mỗi lần y
thấy hoa trà, liền than thở, chắc là lại nhớ đến vợ y ở nhà.
Đoàn Dự nói tiếp:
- Trong Bát Tiên Quá Hải có cả hoa màu tía sậm
và màu hồng nhạt, đó là Lý Thiết Quài và Hà Tiên Cô, nếu thiếu hai màu đó, dù
là tám màu khác nhau cũng không được gọi là Bát Tiên Quá Hải mà gọi là Bát Bảo
Trang, tuy cũng là danh chủng nhưng so với Bát Tiên Quá Hải còn thua một bậc.
Vương phu nhân nói:
- Thì ra là thế.
Đoàn Dự lại tiếp:
- Trở lại Phong Trần Tam Hiệp cũng có chính phẩm
và phó phẩm. Nếu là chính phẩm, trong ba đóa thì đóa màu tía phải to nhất, đó
là Cầu Nhiêm Khách, đóa màu trắng nhỏ hơn, đó là Lý Tịnh, đóa màu hồng nhỏ nhất
nhưng cũng kiều diễm nhất đó là Hồng Phất Nữ. Nếu như hoa màu hồng lại to hơn
hoa màu tía, hoa màu trắng thì là phó phẩm, hai đằng một trời một vực.
Người ta đã bảo quen thuộc như đồ trong nhà
mình. Trong nhà Đoàn Dự có tất cả những loại này nên chàng nói ra vanh vách đâu
ra đấy. Vương phu nhân nghe thật thích thú thở dài:
- Đến phó phẩm ta cũng chưa được nhìn qua nói gì
chính phẩm!
Đoàn Dự chỉ vào cây hoa trà ngũ sắc nói:
- Còn loại hoa trà này, nếu luận về sắc so với
Thập Bát Học Sĩ còn kém một, lại không thuần, nở thì khi sớm khi muộn, hoa thì
đóa nhỏ đóa to. Chẳng khác gì Đông Thi giả nhăn mặt, học đòi làm Thập Bát Học
Sĩ thì không xong, có khác gì rượu xoàng uống chua như giấm. Vì thế chúng tôi đặt
cho cái tên Lạc Đệ Tú Tài.
Vương phu nhân không nhịn được bật cười nói:
- Cái tên ấy sao vừa chanh chua, vừa khắc bạc, hẳn
là do đám nho sinh đặt ra.
Đến lúc này, Vương phu nhân đã mười phần tin tưởng
vào sự thành thục về các loại trà hoa của Đoàn Dự bèn dẫn chàng lên trên Vân Cẩm
Lâu. Đoàn Dự thấy trên lầu trần thiết sang trọng đẹp đẽ, giữa là một bức trung
đường vẽ cảnh khổng tước khai bình, hai bên là hai câu đối trên viết:
Lá rậm xem chừng mây khó kịp
Hoa tươi quả thực tuyết ghen thầm
(Tất diệp vân sai mật
Trà hoa tuyết đố nghiên)
Ngay bên cạnh là một tấm biển gỗ sơn màu xanh lục,
ghi bảy chữ: “Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ”. Chẳng bao lâu tiệc rượu bắt đầu,
Vương phu nhân mời Đoàn Dự ngồi bên trên, còn mình ngồi bên dưới để bồi tiếp.
Những món ăn trong tiệc hôm nay thật khác xa bữa tiệc A Châu, A Bích khoản đãi.
Những món ăn hai cô a hoàn thanh nhã làm chính trong những món thật tầm thường
có ẩn những nét tinh xảo công phu. Bữa tiệc ở Vân Cẩm Lâu hôm nay thì lại chủ về
hào hoa trân quý, nào là bàn tay gấu, vây cá đều toàn những món cực kỳ sang trọng.
Thế nhưng Đoàn Dự sinh trưởng nơi chốn đế vương, những món quý báu đến mấy cũng
đã nếm qua nên lại thấy bữa tiệc ở Mạn Đà Sơn Trang so ra kém xa ở nơi Cầm Vận
Tiểu Trúc.
Rượu được ba tuần, Vương phu nhân hỏi:
- Họ Đoàn Đại Lý là thế gia trong võ lâm, cớ sao
công tử không tập võ?
Đoàn Dự đáp:
- Người họ Đoàn ở Đại Lý đông lắm, con cháu
hoàng tộc tông thất thì đều có tập, còn như vãn sinh là dân dã tầm thường thì
làm gì biết võ công.
Chàng nghĩ mình sống chết ở trong tay người, bệ
rạc như thế, thật chẳng nên thổ lộ chân tướng gia thế làm gì để khỏi làm giảm
uy danh của bá phụ và gia gia. Vương phu nhân hỏi tiếp:
- Công tử con nhà bách tính tầm thường hay sao?
Đoàn Dự đáp:
- Vâng!
Vương phu nhân hỏi tiếp:
- Thế công tử có biết được người nào họ Đoàn
trong hoàng thất hay không?
Đoàn Dự một mực chối phăng:
- Tuyệt nhiên không biết.
Vương phu nhân đờ đẫn hồi lâu rồi xoay qua đề
tài khác, nói:
- Mới đây được công tử đàm luận về các phẩm chủng
hoa trà, khiến cho ta như được vén đám mây mù, nhìn thấy trời cao. Bốn chậu bạch
trà lần này kiếm được, kẻ trồng hoa trong thành Tô Châu bảo là Mãn Nguyệt, công
tử lại bảo một chậu là Hồng Trang Tố Lý, còn một chậu là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm,
làm thế nào phân biệt, xin nói cho rõ, được chăng?
Đoàn Dự đáp:
- Cây hoa trắng lớn nhưng lấm tấm có chấm đen
kia thì gọi là Mãn Nguyệt. Những vệt đen đó là cành quế nơi cung trăng. Cây hoa
cánh trắng có hai đốm hình quả trám màu đen kia tên gọi là Nhãn Nhi Mị.
Vương phu nhân mừng quá nói:
- Cái tên đó nghe thật hay.
Đoàn Dự nói tiếp:
- Cánh hoa trắng nhưng có lẩn sắc đỏ tên gọi là
Hồng Trang Tố Lý. Còn cánh trắng nhưng có quầng mầu xanh, thêm vạch mờ mờ màu đỏ
thì gọi là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm. Thế nhưng nếu những vạch đỏ đó có nhiều thì lại
không còn là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm nữa mà là Ỷ Lan Kiều. Phu nhân thử nghĩ xem,
đã là mỹ nhân thì phải ôn tĩnh nhàn nhã, trên mặt thỉnh thoảng bị sước một đường
hẳn là khi chải đầu soi gương vô tình cào phải mặt, hoặc giả không phải do mình
thì cũng chỉ chơi đùa với con anh vũ, bị chim quẹt trúng âu cũng là chuyện thường.
Thành thử vết chàm trên cánh hoa kia không thể không có, đó là lông chim vương
phải. Còn như nếu đầy mặt chỗ nào cũng tươm máu thì nàng con gái đẹp kia hẳn đã
đánh nhau với ai...
Nói tới đây, bỗng dưng chàng nhớ tới Mộc Uyển
Thanh, nói tiếp:
- Mặc dù vẫn xinh đẹp đáng yêu, làm cho người ta
phải đau, cũng không khỏi có chút thô bạo.
Vương phu nhân từ trước đến sau nghe chàng nói
luôn luôn gật đầu, thật là vui sướng, đột nhiên mặt sầm xuống, quát lên:
- Lớn mật nhỉ, ngươi định nhạo báng ta đấy
chăng?
Đoàn Dự hết sức kinh hãi, vội nói:
- Không dám! Không biết chỗ nào tiểu sinh đã mạo
phạm đến phu nhân?
Vương phu nhân hầm hầm nói:
- Ngươi nghe đứa nào xúi bẩy mà đến gặp ta ăn
nói những lời nhăng cuội như thế? Ai bảo đàn bà con gái học võ công thì không
còn đẹp nữa? Nhàn nhã ôn tĩnh thì có gì là hay?
Đoàn Dự chưng hửng vội nói:
- Lời của vãn sinh chỉ là suy đoán cái lý thông
thường, trong những người đàn bà học võ thiếu gì người vừa xinh đẹp lại vừa biết
lí lẽ?
Ngờ đâu câu đó nói ra Vương phu nhân lại tưởng
Đoàn Dự muốn nói kháy mình, bà ta liền gằn giọng:
- Thế ngươi bảo ta không biết lí lẽ hay sao?
Đoàn Dự đáp:
- Biết hay không biết lí lẽ, phu nhân tự biết rồi,
vãn sinh nào có dám vọng ngôn. Có điều ép người ta giết vợ cả, lấy vợ lẽ, thái
độ như thế thì không phải là người ngay chính.
Chàng nói những câu đó, trong bụng đã bực lắm rồi
nên không còn nể nang gì nữa. Vương phu nhân giơ tay vẫy một cái, bốn con tì nữ
hầu hạ bên cạnh lập tức tiến lên khom lưng nói:
- Dạ!
Vương phu nhân nói:
- Giải tên này xuống, bắt y đi tưới hoa.
Bốn đứa tớ gái cùng đáp ứng:
- Dạ!
Vương phu nhân nói:
- Đoàn Dự, ngươi là người Đại Lý, lại họ Đoàn
đáng chết lắm rồi. Bây giờ cái tội chết ta tạm để đó, cho ngươi săn sóc cho hoa
trà trong trang, nhất là bốn chậu bạch trà ta mới có hôm nay càng phải chăm chút
cho kỹ. Ta bảo cho ngươi hay, bốn chậu đó chết một cây ta chặt một cánh tay, chết
hai cây, ta chặt hai cánh tay, chết cả bốn cây thì tay chân ngươi cụt hết.
Đoàn Dự hỏi lại:
- Thế cả bốn cây đều sống thì sao?
Vương phu nhân đáp:
- Bốn cây đó sống thì ta đưa ngươi đi chăm sóc
các loại danh chủng khác. Những loại như Thập Bát Học Sĩ, Thập Tam Thái Bảo,
Bát Tiên Quá Hải, Thất Tiên Nữ, Phong Trần Tam Hiệp, Nhị Kiều mỗi loại trồng
cho ta vài cây. Làm không xong thì ta móc mắt ngươi ra.
Đoàn Dự lớn tiếng cãi:
- Những danh chủng đó, ngay ở Đại Lý đã khó kiếm
rồi, ở Giang Nam dễ gì có được? Nếu mỗi loại trồng vài ba cây thì còn gì là
danh quý? “Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan, thường đắc quân vương đới tiếu
khán”. Danh hoa đều có vẻ nghiêng nước, đều là trăm năm khó gặp, thế thì hoa mới
quý! Thôi bà sớm giết tôi là đúng lắm. Hôm nay chặt đầu, ngày mai móc mắt, thế
nào một ngày bà may mắn được một loại danh trà, chỉ nuôi được muồi bữa nửa
tháng, không đợi cho hoa nở đã khô héo, đi đời nhà ma.
Vương phu nhân nạt liền:
- Bộ ngươi không muốn sống nữa hay sao? Trước mặt
ta ai cho ngươi muốn nói gì thì nói? Đem nó xuống.
Bốn con tì nữ liền xông tới, hai đứa nắm hai
tay, một đứa kéo đằng trước, một đứa đẩy đằng sau, năm người giằng co xuống lầu.
Bốn đứa tớ gái đó đều biết võ công, Đoàn Dự bị chúng hiếp chế không thể nào
kháng cự được, Lăng Ba Vi Bộ tự nhiên nửa bước cũng không thi triển được, trong
bụng chỉ biết kêu thầm: “Ngược ngạo thật! Ngược ngạo thật!”
Bốn đứa tì nữ vừa kéo vừa đẩy đưa chàng đến một
vườn hoa, một đứa cầm một chiếc xẻng dúi vào tay Đoàn Dự, một đứa đưa cho một
chiếc thùng tưới nói:
- Ngươi hãy nghe lời phu nhân sai bảo, ngoan
ngoãn chăm lo trồng hoa thì mới toàn mạng. Bằng như ngang bướng cãi lại lệnh
phu nhân, bọn ta lập tức đem đi chôn sống, xem ngươi làm được trò gì?
Lại một đứa tì nữ nói:
- Ngoài việc trồng hoa tưới hoa ra, không được
đi lung tung trong trang viện, phòng để sách càng không thể bước vào, nếu không
thì đó là tự mình tìm cái chết đó, chẳng ai cứu được đâu.
Bốn đứa tớ gái dặn dò kỹ lưỡng một hồi rồi mới
đi. Đoàn Dự đứng bần thần, thật là dở khóc dở cười. Ở Đại Lý, thân phận chàng
chỉ đứng sau bá phụ Bảo Định Đế và phụ thân Trấn Nam Vương hoàng thái đệ, trong
tương lai cha lên ngôi báu, chàng sẽ thành hoàng thái tử, ai ngờ bị người ta bắt
đến Giang Nam, muốn đốt muốn giết, muốn chặt chân chặt tay, khoét mắt gì cũng
được, bây giờ lại bị ép làm một gã làm vườn trồng hoa. Tuy nhiên tính tình
chàng vốn hiền hòa, đối xử với mọi người đều ngang hàng, ở Đại Lý nơi hoàng
cung, vương phủ vẫn thường hay ra xem các phu trồng hoa cắt lá tỉa cành, cuốc đất
bón phân, truyện trò với họ mặc dầu trong bụng một kẻ con vua cháu chúa, vẫn chỉ
coi họ như kẻ ăn người ở, vị trí thấp kém.
Cũng may trời sinh chàng sảng khoái vui vẻ, gặp
phải nghịch cảnh trớ trêu, cũng chỉ buồn bã một chốc, chẳng bao lâu lại cao hứng
như thường, trong bụng nhủ thầm: “Ta nơi ngọc động núi Vô Lượng đã từng bái thần
tiên tỉ tỉ làm thầy. Vị Vương phu nhân này với thần tiên tỉ tỉ tướng mạo y hệt
nhau, chỉ lớn tuổi hơn thôi, ta coi bà ấy cũng như sư bá thì có gì mà không được?
Sư trưởng ra lệnh, đệ tử tuân hành ra sức mà làm thì cũng hợp đạo lý. Huống chi
chăm bón hoa cỏ vốn là cái thú của kẻ văn nhân, so với bọn học võ múa đao động
kiếm cao nhã hơn nhiều. Còn như so sánh với việc bị Cưu Ma Trí đem đến trước mồ
Mộ Dung tiên sinh thiêu sống thì thế này sướng gấp nghìn gấp vạn. Đáng tiếc là
những cây hoa trà này phẩm chủng quá xoàng, để cho vương tử nước Đại Lý tự tay
săn sóc không khỏi đại tài tiểu dụng, giết gà dùng dao mổ trâu. Ha ha! Ngươi là
dao mổ trâu ư? Ngươi có đại tài trồng hoa ư?”.
Chàng nghĩ tiếp: “Mình ở lại Mạn Đà Sơn Trang
thêm một thời gian, biết đâu chẳng có cơ duyên gặp lại thiếu nữ mặc áo màu cánh
sen kia một lần, cái đó gọi là:
Vương tử trồng hoa ai bảo họa,
Biết đâu có phúc gặp giai nhân”.
Nghĩ đến họa phúc, chàng bèn nhổ một nắm cỏ
trong bụng khấn thầm: “Để xem Đoàn Dự ta chừng nào mới gặp được vị cô nương
kia”. Chàng cầm nắm cỏ tay phải trao qua tay trái, tay trái trao qua tay phải để
bói, được quẻ Cấn thượng Cấn hạ tức là quẻ thuần Cấn nghĩ thầm: “Cấn kỳ bối, bất
hoạch kỳ thân, hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân, chung quy vô cữu”. Quẻ này thật
linh quá, tuy không thấy đó nhưng cũng không có tội lỗi gì”.
Chàng lại bói thêm một quẻ nữa, được quẻ Đoài
trên Khảm dưới, tức là quẻ Khốn, trong bụng kêu thầm: “Khốn vu châu mộc, nhập
vu u cốc, tam tuế bất địch”. Ba năm mà không gặp được ai thì đúng là khốn nạn rồi.”
Chàng chợt nghĩ lại: “Ba năm không gặp thì năm thứ tư ắt sẽ gặp. Ngày rộng
tháng dài thì có gì gọi là khốn đâu?”.
Chàng xủ quẻ thấy không hay nên không dám bói
thêm quẻ khác, miệng ư ử hát, vác xẻng lên đi lang thang nghĩ thầm: “Vương phu
nhân bảo ta trồng sao cho sống được bốn chậu hoa trắng. Bốn chậu này quả là
danh chủng, phải tìm cho ra chỗ nào cực kỳ u nhã mà trồng, nếu không thì hỏng
bét”. Chàng vừa đi vừa nhìn quanh quất chung quanh để tìm nơi thích hợp, đột
nhiên bật lên cười sằng sặc, nghĩ thầm: “Vương phu nhân chẳng biết gì về hoa
trà, vậy mà trồng khắp nơi, lại dám đặt tên trang viện này là Mạn Đà Sơn Trang.
Có biết đâu hoa trà thích bóng râm mà kỵ ánh nắng, trồng nơi dương quang nếu
không chết thì cũng đâu có ra hoa, lại thêm bón phân rõ nhiều, thành ra bao
nhiêu danh chủng đều chết sạch, tiếc quá, tiếc quá! Nực cười thay, nực cười
thay!”.
Chàng tránh nơi có ánh mặt trời, đi sâu vào
trong những nơi bóng cây, vòng qua một ngọn núi nhỏ, nghe thấy tiếng nước chảy
róc rách, bên trái là một hàng trúc xanh rì, bốn bề thật là u tĩnh. Nơi đây là
bóng núi, ánh mặt trời không rọi đến, chỉ cần có ánh mặt trời chiếu đến, cũng đều
bị hàng liễu che đi. Vương phu nhân cho rằng không nên trồng hoa thành thử
không thấy một bụi hoa trà nào. Đoàn Dự mừng lắm nói:
- Chỗ này thật không còn gì hơn.
Chàng quay lại chỗ cũ, khuân bốn chậu hoa trà đến
nơi hàng trúc, xem xét địa hình, lấy cuốc đào hố, đập vỡ bồn, để cả đất đem trồng
xuống đất. Tuy chàng chưa từng làm vườn bao giờ nhưng xem đã nhiều, thành thử cứ
người ta làm sao mình làm vậy.
Chưa tới nửa giờ, chàng đã trồng xong bốn cây bạch
trà cạnh nơi bụi trúc, bên trái là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm, bên phải là Hồng
Trang Tố Lý và Mãn Nguyệt, còn Nhãn Nhi Mị chàng trồng sau một tảng đá bên cạnh
dòng suối, tự nói một mình:
- Cái này quả là:
Gọi hoài mới thấy nàng ra,
Đàn che nửa mặt xót xa giọt sầu.
Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai,
Do bão tì bà bán già diện.
Phải chỗ lấp ló thế này thì mới đúng điệu.
Người Trung Hoa vẫn thường ví hoa với mỹ nhân,
phép trồng hoa cũng chẳng khác gì săn sóc người đẹp. Đoàn Dự con cháu hoàng gia
đọc thi thư từ nhỏ nên công phu của chàng hơn hẳn mọi người.
Chàng vọc tay xuống suối rửa sạch hai tay, gác
chân ngồi trên tảng đá, ngắm nghía bụi hoa Nhãn Nhi Mị, nhìn thẳng, nhìn
nghiêng nghĩ thầm: “Nét mặt, ánh mắt Uyển muội cũng như vậy, thật là quyến rũ. Ồ,
kì lạ, nàng gọi ta là Đoàn lang, đối xử với ta lại rất nhu mì, quyết không có nửa
phần ngang ngược”, lại nghĩ: “Trong mắt A Bích không có nửa phần nịnh hót, lại
là thùy mị tự nhiên, nàng không phải Nhãn Nhi Mị mà là loại Xuân Thủy Lục Ba”.
Đang lúc cao hứng, bỗng nghe tiếng chân loạt soạt, có hai thiếu nữ đi tới. Một
cô nói:
- Chỗ này thật vắng vẻ, không ai lui tới...
Giọng nói đó vào tai, Đoàn Dự tim nhảy thót lên
một cái, rõ ràng là giọng của cô gái mặc áo lụa màu cánh sen chàng gặp lúc ban
ngày. Chàng vội nín thở không dám để phát ra chút âm thanh nào, nghĩ thầm: “Nàng
ta bảo không muốn gặp những người đàn ông không liên can gì đến nàng, Đoàn Dự
ta tất nhiên là không liên quan gì tới nàng, nhất quyết đừng để nàng hay biết
ta ở đây”.
Đầu chàng vốn dĩ nghiêng nghiêng ngó ra, lúc này
không dám quay lại, dường như sợ mình chuyển động thì cổ sẽ có thể phát xuất âm
thanh kinh động đến mỹ nhân.
Lại nghe thiếu nữ nói tiếp:
- Tiểu Mính, ngươi nghe thấy chuyện gì... chuyện
gì liên quan đến chàng thế?
Đoàn Dự nghe vậy trong lòng chua xót, cô gái nói
đến “chàng” nhất định không phải là nói về mình, mà là nói về Mộ Dung công tử.
Nghe lời Vương phu nhân nói, gã Mộ Dung công tử kia có đơn danh là Phục. Giọng
thiếu nữ vặn hỏi nghe thật quan tâm đầy vẻ tha thiết, Đoàn Dự không khỏi không
cảm phục lại cũng đau lòng. Chỉ thấy Tiểu Mính ấp úng một hồi, xem chừng như
không tiện nói ra.
Thiếu nữ tiếp:
- Ngươi cứ nói cho ta nghe! Ta không quên lòng tốt
của ngươi đâu.
Tiểu Mính đáp:
- Tiểu tì sợ... sợ phu nhân trách phạt.
Cô gái nói:
- Ngươi đúng là một con bé ngốc nghếch, ngươi
nói với ta ta có nói lại với phu nhân đâu mà lo?
Tiểu Mính nói:
- Nếu như phu nhân hỏi tiểu thư thì sao?
Thiếu nữ đáp:
- Dĩ nhiên là ta sẽ không nói.
Tiểu Mính lại ngập ngừng một hồi mới nói:
- Biểu thiếu gia đi lên chùa Thiếu Lâm.
Cô gái ngạc nhiên:
- Lên chùa Thiếu Lâm ư? Thế sao A Châu, A Bích
hai đứa kia lại bảo là chàng đi Lạc Dương để gặp bọn Cái Bang?
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Sao lại biểu thiếu gia nhỉ? Ồ,
thì ra Mộ Dung công tử là anh con cô con cậu của nàng ta, hai người trong nhà
thân thiết, thanh mai trúc mã, thành thử... thành thử...”.
Tiểu Mính nói:
- Phu nhân kỳ này ra ngoài, trên đường gặp Công
Dã nhị gia, hỏi ra mới biết các đầu não Cái Bang đều đến Hà Nam cả, định gặp biểu
thiếu gia để đại hưng vấn cái gì chi sư đó. Công Dã nhị gia lại nói là nhận được
thư của biểu thiếu gia, khi đến Lạc Dương kiếm không ra tên thủ lãnh ăn mày
nào, nên đã lên Tung Sơn Thiếu Lâm Tự rồi.
Thiếu nữ nói:
- Chàng lên chùa Thiếu Lâm để làm chi?
Tiểu Mính đáp:
- Công Dã nhị gia nói là trong thư biểu thiếu
gia có viết khi ở Lạc Dương nghe tin một lão hòa thượng chùa Thiếu Lâm chết ở Đại
Lý, họ lại đổ oan cho Cô Tô Mộ Dung giết. Biểu thiếu gia cho tới bây giờ chưa
đi đến Đại Lý, nghe được giận lắm, chùa Thiếu Lâm lại không xa Lạc Dương bao
nhiêu nên tiện đường đi lên trình bày với các hòa thượng trong chùa cho tỏ tường
mọi việc.
Cô gái lại nói:
- Nếu như nói không tỏ tường thì không lẽ động
thủ hay sao? Phu nhân nghe được tin đó cớ sao lại quay về, không đi lên giúp biểu
thiếu gia một tay?
Tiểu Mính nói:
- Cái đó... cái đó tì tử không biết. Có lẽ là
phu nhân không ưa biểu thiếu gia chăng?
Thiếu nữ hậm hực nói:
- Hừ, dẫu có không ưa nhưng cũng là người nhà.
Cô Tô Mộ Dung ở bên ngoài bị người ta làm cho mất mặt, chẳng lẽ nhà họ Vương
này lại vẻ vang lắm hay sao?
Tiểu Mính không dám tiếp lời. Thiếu nữ đi qua đi
lại trước bụi trúc, bỗng thấy ba khóm bạch trà Đoàn Dự mới trồng, gần bên là những
mảnh chậu vỡ, thất thanh kêu lên một tiếng hỏi:
- Ai tại nơi đây trồng hoa trà đó?
Đoàn Dự không còn cách nào tránh mặt, từ sau tảng
đá bước ra vái một cái thật sâu nói:
- Tiểu sinh phụng mệnh phu nhân tại nơi đây trồng
hoa trà không ngờ lại chạm mặt tiểu thư.
Chàng tuy vái dài nhưng mắt vẫn nhìn lên, sợ rằng
tiểu thư sẽ buông một câu: “Ta không thích gặp đàn ông lạ” rồi quay mình đi mất,
lỡ mất cơ hội thấy mặt cô ta.
Chàng vừa nhìn mặt cô gái, tai bỗng ù đi, mắt
hoa lên, hai chân mềm nhũn, không tự chủ nổi khuỵu ngay xuống, nếu không cố gượng
e đã rập đầu rồi, nhưng miệng vẫn buột ra:
- Thần tiên tỉ tỉ! Ta... ta nhớ tỉ tỉ kể đâu cho
xiết! Đệ tử Đoàn Dự bái kiến sư phụ.
Tướng mạo cô gái trước mặt giống hệt như pho tượng
ngọc nơi động núi Vô Lượng không khác chút nào. Vương phu nhân trông đã giống
pho tượng nhưng tuổi tác có khác lại cũng không đẹp bằng, còn thiếu nữ này
ngoài quần áo phục sức ra, khuôn mặt, đôi mắt, chiếc mũi, đôi môi, trái tai,
màu da, thân thể, chân tay không chỗ nào không giống, tưởng như ngọc tượng sống
lại không bằng. Chàng trong những khi mơ mộng nghĩ đến pho tượng không biết bao
nhiêu nghìn vạn lần, bây giờ thấy ngay trước mắt, không còn biết mình đang ở
đâu, ở nhân gian hay đang ở trên trời?
Còn cô gái thì lại tưởng chàng bị điên, kêu lên
một tiếng, lùi lại hai bước, sợ hãi nói:
- Ngươi... ngươi...
Đoàn Dự đứng thẳng lên, mắt nhìn trừng trừng vào
cô gái, lúc này nhìn càng rõ hơn, bấy giờ mới biết, thiếu nữ so với pho tượng
ngọc cũng có đôi phần khác biệt: pho tượng diễm lệ linh động trong thần tình có
vẻ như thu hồn nhiếp phách người ta, còn cô gái trước mặt đây có vẻ đoan trang
xen lẫn nét thơ ngây, ngoài hình dáng ra, pho tượng so với thiếu nữ này cũng
linh hoạt hơn. Chàng bèn nói:
- Từ ngày được bái kiến tiên phạm thần tiên tỉ tỉ
trong thạch động, tiểu sinh mừng thầm phúc lộc của mình không ít, ngờ đâu hôm
nay lại còn được tận mắt chiêm ngưỡng dung nhan. Thế gian quả có tiên thật, không
phải là chuyện hoang đường.
Thiếu nữ quay sang nói với Tiểu Mính:
- Y nói gì vậy? Y... là ai?
Tiểu Mính đáp:
- Y là gã đồ gàn A Châu, A Bích đưa tới. Y nói y
biết trồng hoa trà, phu nhân cũng tin y nói nhăng nói cuội.
Cô gái hỏi Đoàn Dự:
- Anh đồ gàn, hồi nãy bọn ta nói chuyện với
nhau, ngươi có nghe thấy không?
Đoàn Dự cười đáp:
- Tiểu sinh họ Đoàn, tên Dự, người Đại Lý, đâu
có phải là anh đồ gàn. Thần tiên tỉ tỉ và Tiểu Mính tỉ tỉ đây nói chuyện, tôi
vô ý nghe thấy cả. Thế nhưng hai vị cứ yên tâm, tiểu sinh nhất định không tiết
lộ một câu nửa chữ, bảo đảm Tiểu Mính tỉ tỉ sẽ không bị phu nhân trách phạt.
Thiếu nữ mặt hơi sầm xuống nói:
- Ai cho ngươi tỉ tỉ muội muội gọi càn? Nếu
ngươi không nhận mình là anh đồ gàn thì ngươi đã gặp ta bao giờ?
Đoàn Dự hỏi lại:
- Nếu như tiểu sinh không gọi là thần tiên tỉ tỉ
thì gọi là gì bây giờ?
Thiếu nữ đáp:
- Ta họ Vương, ngươi gọi ta là Vương cô nương được
rồi.
Đoàn Dự lắc đầu:
- Không được! Không được! Trên đời này con gái họ
Vương có hàng nghìn hàng vạn, người đẹp như tiên thế kia không lẽ chỉ gọi suông
ba chữ Vương cô nương? Thế thì phải gọi cô là gì nhỉ? Thật khó quá. Gọi cô là
Vương tiên tử chăng? Xem ra có vẻ quê mùa quá. Hay là Mạn Đà công chúa? Đại Tống,
Đại Lý, Liêu Quốc, Thổ Phồn, Tây Hạ nước nào chẳng có công chúa? Làm sao có người
nào sánh được với cô đâu?
Thiếu nữ kia nghe chàng nói lảm nhảm, càng nghe
càng thấy quả thực gàn dở, nhưng có điều nghe người ta hồn vía điên đảo ca tụng
sắc đẹp mình, nên ít nhiều cũng cảm thấy sung sướng, mỉm cười nói:
- Cũng may cho ngươi, không bị mẹ ta chặt hai
chân.
Đoàn Dự đáp:
- Lệnh đường phu nhân dung mạo cũng không khác
gì thần tiên tỉ tỉ, có điều tính tình khác thường, hơi một tí là giết người,
xem ra không xứng với dáng dấp thần tiên...
Cô gái hơi nhướng mày nói:
- Thôi ngươi đi trồng hoa đi, đừng ở đây lải nhải
nữa, bọn ta cũng có chuyện cần phải bàn.
Lối nói của nàng quả xem chàng như mọi người phu
trồng hoa tầm thường khác. Đoàn Dự vẫn chẳng chịu thôi, chỉ muốn được nói chuyện
với nàng thêm vài câu, được nhìn nàng thêm một vài lần nghĩ bụng: “Muốn cho
nàng bằng lòng nói chuyện với ta thì chỉ có cách nói về Mộ Dung công tử, ngoài
cách đó ra, chẳng có chuyện gì khiến nàng phải quan tâm”. Chàng bèn nói:
- Chùa Thiếu Lâm là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ
lâm, trong chùa cao tăng hảo thủ không một nghìn thì cũng tám trăm, phần lớn đều
tinh thông bảy mươi hai môn tuyệt kỹ. Lần này Huyền Bi đại sư của phái Thiếu
Lâm bị người ta hạ độc thủ giết chết ở chùa Thân Giới, châu Lục Lương, nước Đại
Lý, các hòa thượng cho rằng do tay Cô Tô Mộ Dung. Mộ Dung công tử một thân một
mình mạo hiểm thật là bất ổn.
Cô gái quả nhiên giật mình, Đoàn Dự không dám
nhìn thẳng vào mặt nàng, nghĩ thầm: “Nàng lo lắng cho gã tiểu tử Mộ Dung Phục
kia như thế, nếu như nhìn vào mặt nàng, không chừng ta ghen tức đến chảy nước mắt
mất”. Chàng thấy tà áo màu cánh sen của nàng hơi rung rung, rồi tiếng nói thánh
thót như tiếng tiêu của nàng hỏi:
- Tại sao các hòa thượng chùa Thiếu Lâm lại đổ
oan cho Cô Tô Mộ Dung? Ngươi có biết không? Ngươi... ngươi cho ta biết.
Đoàn Dự nghe lời nàng thiết tha năn nỉ, cũng thấy
mềm lòng, đang định cho nàng hay những gì mình biết nhưng chợt nghĩ lại: “Những
gì mình biết chẳng là bao nhiêu, chỉ biết Huyền Bi đại sư bị trúng phải Đại Vi
Đà Chử mà chết, ai ai cũng bảo đó là thuật “gậy ông đập lưng ông” trong thiên hạ
chỉ có họ Mộ Dung ở Cô Tô có mà thôi. Bao nhiêu tình tiết đó chỉ vài câu là hết,
mình nói xong là nàng lại giục mình đi trồng hoa, kiếm được đề tài khác nói
chuyện với nàng thật không phải dễ. Thành ra mình phải nói dông nói dài, mỗi
ngày chỉ nói một tí, huyên thuyên đông tây, không ra đầu đuôi gì, muốn dài là
dài để nàng ngày nào cũng phải đến tìm ta, tìm không thấy là bồn chồn khó chịu”.
Chàng đằng hắng một tiếng nói:
- Bản thân ta vốn không biết võ công, ngay cả những
chiêu thế thật dễ dàng như Kim Kê Độc Lập, Hắc Hổ Thâu Tâm cũng chẳng biết, thế
nhưng trong nhà có một người bạn, họ Chu tên là Chu Đan Thần, ngoại hiệu là Bút
Nghiễn Sinh, trông người cũng văn nhược nho nhã như tôi, ai cũng bảo là một con
mọt sách, vậy mà võ công ông ta thực là ghê gớm. Một hôm nọ ta thấy ông ta gấp
cái quạt, đổi ngược chiều, dùng cán quạt điểm vào đầu vai đại hán nọ nghe bịch
một cái, anh chàng kia lập tức rúm người lại, sụm xuống như một cục đất nát,
không còn động đậy gì được nữa.
Thiếu nữ nói:
- Ồ, đó là chiêu thứ ba mươi tám trong phép đả
huyệt Thanh Lương Phiến, tên là Thấu Cốt Phiến, đảo ngược cán quạt đánh xéo vào
huyệt Kiên Trinh. Vị Chu tiên sinh đó thuộc bàng chi của phái Côn Lôn, đệ tử
Tam Nhân Quan, phái đó dùng phán quan bút còn ghê gớm hơn dùng cán quạt nhiều.
Thôi ngươi đi thẳng vào chuyện chính đi, đừng nói chuyện võ công nữa.
Câu nói đó nếu như vào tai Chu Đan Thần, y thể
nào cũng bội phục lạy phục xuống, thiếu nữ không những nói được tên thủ pháp y
dùng, lại cả sư thừa lai lịch, võ học gia số cũng nói đâu ra đấy. Nếu như một
võ học danh gia chẳng hạn như bá phụ Đoàn Dự là Đoàn Chính Minh hay phụ thân
Đoàn Chính Thuần nghe thấy thể nào cũng hết sức kinh ngạc: “Làm sao một cô gái
trẻ tuổi như thế, sao kiến thức võ học lại uyên bác rành mạch thế này?”. Thế
nhưng Đoàn Dự hoàn toàn không biết võ công, cô gái kia thuận mồm nói ra, chàng
cũng không để vào tai. Chàng cũng không biết cô gái nói đúng hay sai, chỉ chăm
chăm nhìn vào đôi hàng mi hơi nhướng lên, đôi môi đỏ thắm mấp máy, chỉ thấy lời
nàng nói dễ nghe vô cùng, thần thái lúc nói chuyện cũng xinh đẹp vô cùng, còn nội
dung lời nói thì một chữ cũng không vào đầu.
Thiếu nữ hỏi lại:
- Thế vị Chu tiên sinh đó ra sao rồi?
Đoàn Dự chỉ vào một tảng đá bên cạnh hàng trúc
nói:
- Câu chuyện này nói ra cũng dài, xin tiểu thư dời
gót ngọc, đến ngồi trên tảng đá kia, để cho tiểu sinh được bẩm báo rõ ràng.
Thiếu nữ đáp:
- Sao ngươi cứ ba hoa chích chòe, không nói phắt
ra cho xong? Ta chẳng có hơi đâu mà ngồi nghe ngươi mãi.
Đoàn Dự đáp:
- Nếu như hôm nay tiểu thư bận thì ngày mai đi
tìm ta cũng được. Còn như ngày mai cũng bận, để vài ngày nữa cũng không sao. Miễn
là phu nhân không cắt lưỡi ta, tiểu thư có gì cần hỏi, nếu biết là ta không dấu
chút nào, nói cho kỳ hết.
Cô gái giậm chân một cái nhè nhẹ, quay đầu đi
không nhìn đến chàng nữa hỏi Tiểu Mính:
- Phu nhân còn nói gì nữa không?
Tiểu Mính đáp:
- Phu nhân nói: “Hừ, tên ngỗ nghịch kia càng lúc
càng loạn, đã gây thù chuốc oán với Cái Bang, lại đối đầu với cả chùa Thiếu
Lâm, chỉ sợ rồi đây Cô Tô Mộ Dung nhà ngươi chết... chết không có đất mà chôn”.
Cô gái vội nói:
- Mẹ ta biết rõ biểu thiếu gia đang rơi vào cảnh
ngộ hung hiểm, sao lại làm ngơ không hỏi tới là sao?
Tiểu Mính đáp:
- Dạ phải. Tiểu thư, chỉ sợ phu nhân cho kiếm,
tiểu tì xin kiếu thôi. Chuyện mới rồi, tiểu thư tuyệt đối đừng nói ra để cho tì
tử còn được hầu hạ tiểu thư vài ba năm.
Cô gái nói:
- Ngươi cứ yên tâm không phải lo gì cả, lẽ nào
ta lại hại ngươi hay sao?
Tiểu Mính cáo biệt ra đi, trên mặt lộ vẻ khiếp sợ,
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Vương phu nhân giết người như ngóe làm cho ai cũng sợ mất
vía”.
Cô gái khoan thai đi đến tảng đá xanh nhẹ nhàng
ngồi xuống nhưng không gọi Đoàn Dự bảo cùng ngồi. Đoàn Dự cũng không dám tự tiện
ngồi bên cạnh nàng, thấy khóm bạch trà ngay kề bên cô gái, còn hai cây kia thì
hơi xa hơn, mỹ nhân sánh với danh hoa, quả thực xứng hợp nên thở dài một tiếng:
Người thì nghiêng nước nghiêng thành,
Bên hoa nổi tiếng một cành sánh đôi.
Không được, không được! Năm xưa Lý Thái Bạch lấy
hoa thược dược để so sánh với sắc đẹp của nàng Dương Quý Phi, nếu như ông ta có
phúc được gặp tiểu thư thì mới biết rằng hoa kia tuy có rực rỡ nhưng làm sao biết
giận hờn, biết nũng nịu, biết cười đùa, biết ưu tư, thực không thể nào bì kịp.
Thiếu nữ buồn bã nói:
- Ngươi cứ luôn mồm tấm tắc khen ta đẹp, ta chẳng
biết ngươi nói thật hay không?
Đoàn Dự hết sức ngạc nhiên, nói:
- Ai không biết Tử Đô là đẹp thì đúng là không
có mắt. Đến đàn ông còn như thế, huống chi một người diễm lệ tuyệt trần như cô
nương? Chắc là trong đời cô nghe nhiều người ca tụng quá rồi nên chán ngấy phải
không?
Cô gái chậm rãi lắc đầu, trong ánh mắt dường như
đầy nỗi u hoài, nói:
- Từ trước tới giờ chẳng ai bảo ta đẹp hay không
đẹp. Trong Mạn Đà Sơn Trang này, ngoài mẹ ta ra, toàn là tì nữ bộc phụ, họ chỉ
biết ta là tiểu thư, có ai để ý ta đẹp hay xấu làm gì?
Đoàn Dự hỏi lại:
- Thế còn người ngoài thì sao?
Thiếu nữ ngạc nhiên:
- Người ngoài là ai?
Đoàn Dự đáp:
- Thế khi cô đi ra ngoài, người ta thấy cô đẹp
như tiên trên trời, chẳng lẽ không tấm tắc khen ngợi, cúi đầu chào hay sao?
Cô gái nói:
- Ta trước nay đã đi ra ngoài bao giờ đâu, ra để
làm gì? Mẹ ta không cho ta ra ngoài. Ta chỉ sang Hoàn Thi Thủy Các bên nhà cô
ta đọc sách thôi, chẳng gặp ai là người ngoài cả, bất quá chỉ có vài người bạn
của huynh ấy như Đặng đại ca, Công Dã nhị ca, Bao tam ca, Phong tứ ca, nhưng họ...
nhưng họ đâu có gàn gàn dở dở như ngươi.
Nàng nói tới đó bất giác mỉm cười. Đoàn Dự hỏi:
- Không lẽ Mộ Dung công tử... y cũng chẳng nói
cô đẹp bao giờ ư?
Cô gái chầm chậm cúi đầu, nghe một tiếc tích thật
nhỏ, kế đến một tiếng tích nữa, mấy giọt nước mắt rơi xuống cỏ, trong trẻo lấp
lánh, chẳng khác gì những giọt sương buổi sớm.
Đoàn Dự không dám hỏi thêm, cũng không biết nói
thế nào để an ủi nàng. Một lát sau, thiếu nữ nhè nhẹ thở dài nói:
- Huynh ấy... huynh ấy bận lắm, suốt cả năm,
ngày nào cũng từ sáng tới tối có lúc nào ở không đâu? Mỗi khi huynh ấy gặp ta,
nếu không bàn luận võ công thì cũng nói chuyện quốc gia đại sự. Ta... ta không
thích võ công.
Đoàn Dự vỗ đùi, kêu lên:
- Đúng đó, đúng đó! Ta cũng ghét học võ. Bá phụ
và gia gia ta bắt ta học võ, ta nhất định không học, đành phải len lén bỏ nhà
ra đi.
Cô gái thở dài một tiếng, nói:
- Ta vì muốn thỉnh thoảng được gặp huynh ấy nên
dù chán ghét võ công, cũng phải xem quyền kinh đao phổ, cố gắng nhớ trong lòng,
để huynh ấy chỗ nào không hiểu rõ ta nói cho huynh ấy nghe. Thế nhưng chính ta
thì lại không học, làm thân con gái mà múa đao đánh gậy, xem ra bất nhã...
Đoàn Dự tự đáy lòng nức nở khen một câu:
- Đúng vậy! Đúng vậy! Người đẹp thiên hạ vô song
như cô, lẽ nào lại cùng người ta động thủ động cước, thật chẳng còn ra đâu vào
đâu. Ối chà...
Chàng đột nhiên nghĩ ra, câu nói đó xúc phạm tới
mẹ ruột mình, lại đắc tội với Mộc Uyển Thanh và Chung Linh, còn A Châu, A Bích
tất nhiên cũng biết một chút võ công. Thiếu nữ không để ý đến chàng nói gì, nói
tiếp:
- Từ nghìn xưa đến nay bao nhiêu triều đại vua
chúa hôm nay ngươi giết ta, ngày mai ta giết ngươi, ta thật không muốn biết đến
làm gì. Thế nhưng đó là chuyện huynh ấy thích nói đến nhất, thành ra ta phải đọc
sách để nói cho huynh ấy nghe.
Đoàn Dự lạ lùng:
- Vì sao cô lại phải đọc để nói lại cho anh ta
nghe? Anh ta không đọc lấy được ư?
Cô gái lườm chàng, giận dỗi nói:
- Thế ngươi bảo huynh ấy mù hay sao? Hay là
huynh ấy không biết chữ?
Đoàn Dự vội đáp:
- Không, không đâu! Ta bảo anh ta là người tốt
nhất trên đời, thế có được không nào?
Thiếu nữ bật cười nói:
- Huynh ấy là anh họ ta. Trong trang viện ngoài
cô, dượng và huynh ấy ra, rất ít khi có người ngoài. Thế nhưng từ khi dượng ta
qua đời, mẹ ta với cô ta cãi nhau, thành thử ngay cả biểu ca mẹ ta cũng không
cho qua nữa. Ta cũng chẳng biết huynh ấy có phải là người tốt nhất trên đời hay
không. Người tốt hay người xấu ta chẳng gặp ai bao giờ.
Đoàn Dự hỏi lại:
- Thế sao cô không hỏi cha cô?
Cô gái đáp:
- Cha ta mất sớm, từ lúc ta chưa ra đời, ta...
ta chưa từng gặp cha ta bao giờ.
Đoàn Dự ồ lên một tiếng:
- Thế bà cô là chị của cha cô, còn ông dượng là
chồng của bà ấy chứ gì? Anh ta... anh ta... là con của hai người đó phải không?
Thiếu nữ cười khúc khích:
- Nghe ngươi ăn nói lẩn thẩn làm sao ấy! Ta là
con của mẹ ta, huynh ấy là biểu ca của ta.
Đoàn Dự thấy câu chuyện khiến nàng bật cười, rất
là cao hứng bèn nói:
- À, ta hiểu rồi, chắc là biểu ca cô bận quá
không có thì giờ đọc sách nên cô phải đọc giùm chứ gì?
Cô gái nói:
- Nói thế cũng đúng nhưng ngoài ra còn có nguyên
nhân. Ta hỏi ngươi, những hòa thượng chùa Thiếu Lâm vì cớ gì lại đổ oan cho biểu
ca ta giết người của họ?
Đoàn Dự thấy hàng lông mi dài của nàng còn lưu một
giọt nước mắt, nghĩ thầm: “Người xưa có nói: Lê hoa nhất chi xuân đái vũ để ví
với người đẹp đang khóc. Hoa lê tuy đẹp thật nhưng cây lê lại xù xì, sau trận
mưa rồi, đóa hoa nào cũng đẫm nước, có phải quá đau lòng không? Chỉ có thể như
Vương cô nương giống như đóa hoa trà điểm thêm giọt sương buổi sáng, thế mới thật
là đẹp”.
Cô gái đợi một hồi thấy chàng không trả lời, bèn
lay bàn tay chàng một cái nói:
- Ngươi sao thế?
Đoàn Dự giật mình, nhảy dựng lên, kêu:
- Ối trời!
Thiếu nữ thấy chàng hoảng hốt vội hỏi:
- Gì vậy?
Đoàn Dự mặt đỏ bừng nói:
- Cô lấy ngón tay đâm vào lưng bàn tay, ta lại
tưởng là bị cô điểm huyệt.
Cô gái không biết là Đoàn Dự nói đùa, giương
tròn đôi mắt nhìn chàng nói:
- Trên lưng bàn tay làm gì có huyệt đạo. Tiền Cốc,
Hậu Khê, Dương Trì ba huyệt ở bên cạnh bàn tay, hai huyệt Ngoại Quan, Hội Tông
thì gần cổ tay, còn cách xa lắm.
Nàng vừa nói vừa đưa tay mình ra để chỉ cho
chàng. Đoàn Dự thấy ngón tay trỏ của nàng trông như búp măng, để lên lưng bàn
tay phải trắng muốt, cảm thấy cổ khô, đầu óc quay cuồng, ấp úng hỏi:
- Cô... cô nương, tên cô là gì?
Cô gái mỉm cười nói:
- Ngươi quả là lạ lùng. Được rồi, cho ngươi biết
cũng được không sao. Nếu ta không nói, A Châu, A Bích hai đứa a đầu kia cũng
nói.
Nàng giơ ngón tay làm bút viết lên lưng bàn tay
mình ba chữ: Vương Ngữ Yên. Đoàn Dự kêu lên:
- Hay thật! Hay thật! Ngữ tiếu yên nhiên, hòa ái
khả thân.
Chàng nghĩ thầm: “Mình phải nói chặn trước chứ nếu
như nàng giống tính mẹ, đang nói cười vui vẻ, tự nhiên nổi cơn tam bành, bắt
mình đi trồng hoa thì tên với người chẳng ăn khớp nhau tí nào”. Vương Ngữ Yên mỉm
cười:
- Tên đặt thì ai mà chẳng hay. Trong sử sách có
biết bao nhiêu người đại gian đại ác, tên lại nghe thật đẹp. Tào Tháo có tiết
tháo gì đâu, Chu Toàn Trung thì lại đại bất trung. Tên anh là Đoàn Dự, tên tuổi
anh có thật là vang lừng không? Hay lại chỉ là kẻ cô danh...
Đoàn Dự liền chặn lời:
- ... điếu dự!
Hai người cùng cười khanh khách. Khuôn mặt xinh
đẹp của Vương Ngữ Yên vốn dĩ nhuốm chút u sầu, bây giờ trông thật rạng rỡ càng
tăng thêm vẻ kiều diễm. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Nếu như ta ngày ngày được làm cho
nàng vui thì trên đời này còn cầu gì hơn nữa?”.
Ngờ đâu cô gái chỉ vui được chốc lát rồi ánh mắt
lại thoáng hiện một nỗi buồn u uẩn, nhỏ nhẹ nói:
- Huynh ấy... huynh ấy lúc nào cũng nghiêm
trang, chưa từng bao giờ nói chuyện chơi với ta cả. Ôi! Nước Yên, nước Yên,
không lẽ quan trọng đến thế hay sao?
Hai tiếng “nước Yên, nước Yên” lọt vào tai trong
đầu Đoàn Dự chợt lóe lên, bao nhiêu những mảnh vụn chợt liền lại thành một chuỗi:
nào là họ Mộ Dung, Yến Tử Ổ, Tham Hợp Trang, Yên quốc... chàng liền buột miệng:
- Phải chăng Mộ Dung công tử là hậu duệ của dòng
Mộ Dung Tiên Ti thời loạn Ngũ Hồ? Y là người Hồ, không phải người Trung Quốc?
Vương Ngữ Yên gật đầu:
- Đúng vậy, huynh ấy là vương tôn nước Yên họ Mộ
Dung nhưng đã mấy trăm năm rồi, cớ gì phải khắc khoải chuyện xưa của ông cha
làm gì nữa? Không phải là người Trung Quốc, đến chữ Trung Quốc cũng không thèm
học, sách Trung Quốc cũng không thèm đọc. Ta không biết nữa, sách Trung Quốc có
gì không hay đâu? Có lần ta hỏi huynh ấy: “Biểu ca, huynh bảo sách Trung Quốc
không hay, thế có sách Tiên Ti nào cho tiểu muội đọc chăng?”. Huynh ấy nghe vậy
nổi giận đùng đùng, hóa ra không có sách gì của người Tiên Ti cả.
Nàng chậm rãi ngước đầu lên, nhìn những đám mây
trắng trôi lững lờ, nhỏ nhẹ nói:
- Huynh ấy... huynh ấy hơn ta mười tuổi, trước
nay chỉ coi ta như một cô em gái nhỏ, nên ta nghĩ ngoài việc đọc sách, nhớ những
võ công ra không còn biết gì khác. Huynh ấy có biết đâu, ta đọc sách cũng chỉ
vì huynh ấy, nhớ võ công cũng chỉ vì huynh ấy. Nếu không thà rằng ta nuôi mấy
con gà, đánh đàn, viết chữ còn vui hơn.
Đoàn Dự run run hỏi:
- Thế ra anh ta hoàn toàn không biết... không biết
cô có lòng như vậy sao?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Ta có lòng với huynh ấy, đương nhiên huynh ấy
phải biết chứ! Huynh ấy cũng thương ta lắm, có điều... có điều... chúng ta đối
với nhau chỉ như anh em ruột, ngoài những chuyện nghiêm trang ra không bao giờ
nói chuyện gì khác. Huynh ấy chẳng bao giờ thổ lộ tâm tư, cũng chẳng bao giờ hỏi
ta bụng dạ ra sao.
Nói tới đây, đôi má Vương Ngữ Yên thoáng hiện sắc
hồng, trong ánh mắt dường như có vẻ thẹn thùng. Đoàn Dự vốn cũng muốn nói chuyện
vui với nàng đôi câu toan gặng hỏi: “Thế cô có tâm sự gì?” nhưng thấy nàng nhu
mì e ấp nên không dám đường đột trêu ghẹo giai nhân, bèn nói:
- Chẳng lẽ cô chỉ nói chuyện về võ học với anh
ta, không nói tới những khúc Tí Dạ Ca, Hội Chân Thi trong thi từ hay sao?
Chàng buột miệng nói ra chợt thấy hối hận: “Cứ để
nàng thầm yêu trộm nhớ, tới đâu hay đó chẳng hơn sao? Lẽ nào ta lại vẽ đường
cho hươu chạy như thế? Mình đúng là một thằng ngốc”. Vương Ngữ Yên lại càng ngượng
ngập, vội nói:
- Ai... ai lại thế? Ta là khuê nữ con nhà gia
giáo, lẽ nào nói tới những chuyện... thơ văn đó để biểu ca coi thường mình sao?
Đoàn Dự thở phào nói:
- Phải, cô nói đúng lắm.
Trong bụng tự trách thầm mình: “Đoàn Dự ơi,
ngươi thật chẳng phải là kẻ chính nhân quân tử chút nào”. Nỗi niềm đó của Vương
Ngữ Yên trước nay nàng chưa từng nói với ai, chỉ giấu kín trong lòng một mình
nghĩ, một mình mình hay, biết bao lần trăn trở, hôm nay gặp Đoàn Dự một người dễ
tính đến đâu hay đó, chẳng hiểu vì sao nàng lại mười phần tin tưởng, đem hết uẩn
khúc trong lòng thổ lộ cho chàng hay. Thực ra, tấm lòng thầm yêu trộm nhớ biểu
ca của nàng, A Châu, A Bích và cả đến Tiểu Trà, Tiểu Mính, U Thảo những đứa đầy
tớ trong nhà ai cũng biết cả, có điều không dám nói ra thôi.
Nàng nói ra hết rồi, những nỗi sầu chất chứa
trong tim vơi đi bèn nói:
- Ta nói cho ngươi nghe nhiều chuyện không liên
can gì mà chưa vào chuyện chính. Chùa Thiếu Lâm vì cớ gì làm khó biểu ca ta?
Đoàn Dự thấy không còn có thể nói năng cù nhầy
thêm được nữa đành kể:
- Phương trượng chùa Thiếu Lâm là Huyền Từ đại
sư có một người sư đệ tên là Huyền Bi. Môn võ công tinh diệu nhất của Huyền Bi
đại sư là Đại Vi Đà Chử.
Vương Ngữ Yên gật đầu:
- Đó là tuyệt nghệ thứ hai mươi chín trong bảy
mươi hai môn của chùa Thiếu Lâm, tất cả chỉ có mười chín chiêu pháp, nhưng khi
thi triển cực kỳ uy mãnh.
Đoàn Dự nói tiếp:
- Huyền Bi đại sư đi đến Đại Lý chúng ta, tại
chùa Thân Giới ở Lục Lương Châu không biết vì sao bị người ta giết chết, thủ
pháp đả thương chính là môn Đại Vi Đà Chử sở trường của ông ta. Thành thử họ mới
nói rằng, cái lối giết người đó chỉ có họ Cô Tô Mộ Dung mới có thôi, gọi là cái
gì “gậy ông đập lưng ông”.
Vương Ngữ Yên gật đầu:
- Nói thế nghe cũng có lý.
Đoàn Dự nói tiếp:
- Ngoài phái Thiếu Lâm ra cũng còn nhiều người
khác muốn tìm họ Mộ Dung báo thù.
Vương Ngữ Yên hỏi:
- Còn những ai nữa?
Đoàn Dự đáp:
- Phái Phục Ngưu có một người tên là Kha Bách Tuế,
môn võ công tuyệt nghệ của ông ta là Thiên Linh Thiên Liệt.
Vương Ngữ Yên nói:
- Ồ, đó là biến chiêu thứ tư trong hai mươi bảy
chiêu Bách Thắng Nhuyễn Tiên của phái Phục Ngưu, tuy chiêu pháp có kỳ lạ thực
nhưng không phải là võ công thượng thừa, chỉ được cái lực đạo cực kỳ cương mãnh
thôi.
Đoàn Dự nói:
- Ông ta chết vì một chiêu Thiên Linh Thiên Liệt,
thành ra sư đệ vào học trò ông ta đang kiếm nhà Mộ Dung để trả thù.
Vương Ngữ Yên trầm ngâm rồi đáp:
- Kha Bách Tuế rất có thể do biểu ca ta giết,
còn Huyền Bi đại sư thì không phải đâu. Biểu ca ta không biết sử dụng Đại Vi Đà
Chử, môn võ công đó luyện rất khó, phải trên hai mươi năm công lực mới có thể xử
ra thành thục. Thế nhưng nếu ngươi có gặp biểu ca ta thì đừng có nói là huynh ấy
không biết môn này, cũng chớ có nói là ta bảo thế, huynh ấy mà nghe được thì giận
lắm đó...
Hai người vừa nói đến đây bỗng thấy hai người hấp
tấp chạy đến, chính là Tiểu Mính và U Thảo. Gương mặt U Thảo cực kỳ kinh hoàng,
hổn hển nói:
- Tiểu thư, không... không xong rồi! Phu nhân ra
lệnh đem A Châu, A Bích hai người...
Cô gái nói tới đây cổ họng nghẹn lại không ra
hơi. Tiểu Mính vội tiếp:
- Đem hai người ra chặt hai tay phải vì tội dám
tự tiện vào Mạn Đà Sơn Trang. Bây giờ... biết làm sao?
Đoàn Dự vội nói:
- Vương cô nương, cô...cô mau tìm cách cứu họ
đi!
Vương Ngữ Yên cũng thật là bối rối, nhíu mày
nói:
- A Châu, A Bích là hai thị tì tâm phúc của biểu
ca, nếu làm thương tổn đến thân thể họ, ta còn mặt mũi nào nhìn huynh ấy? U Thảo,
bọn họ đang ở đâu?
U Thảo chơi rất thân với A Châu, A Bích nghe thấy
tiểu thư có ý muốn cứu cũng cảm thấy có chút hi vọng vội nói:
- Phu nhân sai đem hai đứa xuống Hoa Phì Phòng,
tiểu tì đã xin Nghiêm bà bà hoãn lại một chút đừng ra tay vội, bây chừ đến xin
phu nhân tha cho may ra còn kịp.
Vương Ngữ Yên nghĩ bụng: “Xin với mẹ ta tha cho
thật khó mà được. Thế nhưng ngoài cách đó không còn cách nào khác”. Nàng bèn gật
đầu cùng U Thảo, Tiểu Mính hai tì nữ đi ngay. Đoàn Dự nhìn theo tấm lưng uyển
chuyển của nàng, tính chạy theo nói mấy câu nhưng vừa dợm bước thấy mình chẳng
còn gì để nói, đứng ngẩn ngơ, nghĩ lại câu chuyện mình cùng nàng vừa trao đổi bỗng
dưng đờ đẫn.
Vương Ngữ Yên hấp tấp đi lên phòng trên thấy mẹ
đang ngồi nghiêng nghiêng dựa lưng trên giường, ngắm một bức tranh hoa sơn trà
trên tường đến xuất thần, vội gọi khẽ một tiếng:
- Mẹ!
Vương phu nhân chậm rãi quay đầu, gương mặt đanh
lại nói:
- Con muốn nói chuyện gì? Nếu liên quan đến nhà
Mộ Dung thì ta không nghe đâu nhé.
Vương Ngữ Yên nói:
- Thưa mẹ, A Châu và A Bích lần này có phải cố ý
đến đâu, xin mẹ tha cho bọn chúng một chuyến.
Vương phu nhân hỏi lại:
- Sao con biết chúng không phải cố ý đến? Ta chặt
tay hai đứa nó, con sợ biểu ca con không nhìn con nữa chứ gì?
Vương Ngữ Yên nước mắt rưng rưng nói:
- Biểu ca là cháu của cha con, mẹ... mẹ... sao
ghét huynh ấy quá vậy? Nếu như cô có đắc tội với mẹ, mẹ cũng đừng vì thế mà giận
lây đến biểu ca.
Nàng thu hết can đảm nói được mấy câu đó, trống
ngực đánh thình thình, thấy mình sao quả là liều mạng đám mở lời chống báng lại
mẫu thân. Đôi mắt Vương phu nhân như một luồng điện lạnh lẽo quét qua mặt con mấy
lần lặng thinh không nói gì cả rồi nhắm lại. Vương Ngữ Yên sợ quá không dám thở
mạnh, không biết trong bụng mẹ mình định thế nào. Một lúc sau, Vương phu nhân mở
mắt ra nói:
- Ngươi làm sao biết được cô ngươi đắc tội với
ta? Mụ ta đắc tội thế nào?
Vương Ngữ Yên thấy giọng mẹ lạnh như tiền, sợ đến
mất mật không sao trả lời được. Vương phu nhân nói:
- Ngươi giỏi lắm! Bây giờ ngươi lớn rồi không
còn nghe ta nữa phải không?
Vương Ngữ Yên vừa tức tối vừa hoảng hốt, nước mắt
ròng ròng chảy xuống, nghẹn ngào nói:
- Thưa mẹ, mẹ... mẹ giận cô như thế thì hẳn là
cô có điều gì không phải với mẹ. Thế nhưng không phải thế nào, mẹ có bao giờ
nói cho con nghe đâu. Bây giờ cô qua đời rồi, mẹ... mẹ đừng nhớ chuyện cũ làm
gì nữa.
Vương phu nhân gắt:
- Con nghe ai nói vậy?
Vương Ngữ Yên lắc đầu:
- Mẹ chưa hề nói với con, cũng chẳng cho ai vào
đây, con nghe ai nói bây giờ?
Vương phu nhân thở dài một tiếng, khuôn mặt đang
gay gắt bỗng chùng lại, giọng cũng dịu xuống:
- Mẹ làm thế cũng chỉ vì con thôi. Trên đời ngày
người xấu thật nhiều, giết sao cho hết được, con còn nhỏ chỉ là một đứa trẻ
ngây thơ tốt hơn hết không gặp kẻ xấu.
Nói đến đây bà chợ nhớ ra một chuyện, bèn nói:
- Gã trồng hoa họ Đoàn mới đến đây, mồm miệng
lanh lợi, không phải là kẻ tốt. Nếu nó lân la nói với con một câu, lập tức sai
thị tì giết ngay, không cho nói câu thứ hai, con nghe chưa?
Vương Ngữ Yên nghĩ thầm: “Nói gì một câu với lại
hai câu, y nói chuyện với mình có đến cả trăm câu, hai trăm câu rồi”. Vương phu
nhân nói:
- Sao? Coi bộ mặt hiền lành, bụng dạ nhân hậu
như con không biết rồi đây sẽ phải chịu bao nhiêu khổ sở.
Bà vỗ tay hai tiếng, Tiểu Mính liền chạy vào.
Vương phu nhân nói:
- Ngươi truyền lệnh ta, ai nói chuyện với tên trồng
hoa họ Đoàn một câu thì cả hai đều bị cắt lưỡi.
Tiểu Mính thần sắc ngỡ ngàng, tưởng chừng như
Vương phu nhân nói đây là chuyện giết con gà, con chó gì đó chứ không phải con
người, dạ một tiếng rồi lập tức lui ra. Vương phu nhân quay sang con vẫy tay:
- Con cũng đi ra.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Dạ!
Nàng đi đến cửa, ngừng lại một chút, quay lại
nói:
- Thưa mẹ, xin mẹ tha cho A Châu, A Bích bảo
chúng nó từ nay không bao giờ được bén mảng tới.
Vương phu nhân lạnh lùng đáp:
- Ta có bao giờ nói ra rồi lại không tính đâu?
Con có nói thêm cũng vô ích.
Vương Ngữ Yên cắn răng, nói khẽ:
- Con biết vì sao mẹ giận cô, vì sao mẹ ghét biểu
ca rồi.
Nàng nhè nhẹ dậm chân một cái định ra khỏi
phòng. Vương phu nhân gọi giật lại:
- Quay lại!
Hai tiếng đó không có gì lớn nhưng đầy vẻ uy
nghiêm. Vương Ngữ Yên quay trở vào, cúi đầu lặng thinh. Vương phu nhân chăm
chăm nhìn làn khói xanh biếc trong chiếc lò hương lững lờ bay lên, hỏi nhỏ:
- Yên nhi, con biết những gì? Không được dấu mẹ,
nói hết tất cả cho ta nghe.
Vương Ngữ Yên cắn môi nói:
- Cô trách mẹ giết người bừa bãi, đắc tội với
quan nha lại kết oán gây thù với võ lâm.
Vương phu nhân đáp:
- Đúng đó! Chuyện này là chuyện riêng của nhà họ
Vương, có liên can gì đến nhà Mộ Dung đâu? Bà ấy bất quá chỉ là chị của cha
con, có quyền hành gì mà ước thúc ta? Hứ, họ Mộ Dung mấy trăm năm nay, lúc nào
cũng mơ chuyện “hưng phục Yên quốc”, tính chuyện liên lạc anh hùng hào kiệt để
họ sai sử. Liên lạc chưa xong lại gây gổ với người ta, đến cả Cái Bang và phái
Thiếu Lâm cũng đắc tội với họ nữa.
Vương Ngữ Yên nói:
- Thưa mẹ, Huyền Bi hòa thượng của phái Thiếu
Lâm nhất định không phải do biểu ca giết, huynh ấy đâu có biết...
Nàng vừa toan đề cập đến bốn tiếng Đại Vi Đà Chử
vội vàng nín bặt, nếu như mẫu thân tra hỏi ở đâu ra thì Đoàn Dự khó mà thoát khỏi
cái họa sát thân nên nói trớ ra:
- ... võ công chưa tới được mức đó.
Vương phu nhân nói:
- Phải đó! Lần này y lên chùa Thiếu Lâm. Chắc là
mấy con a đầu lắm chuyện đó kể cho con nghe chứ gì? Nam Mộ Dung, Bắc Kiều
Phong, gớm, tên tuổi lẫy lừng quá nhỉ? Thế nhưng một Mộ Dung Phục, thêm gã Đặng
Bách Xuyên lên chùa Thiếu Lâm thì làm được chuyện gì? Thật là không biết lượng
sức mình. Đầu trọng cước khinh!
Vương Ngữ Yên tiến lên mấy bước, khẩn khoản nói:
- Mẹ ơi, sao mẹ không nghĩ cách nào cứu huynh ấy
một phen, sai người tới tiếp ứng được không mẹ? Huynh ấy... huynh ấy là con
trai duy nhất của dòng Mộ Dung, nếu như có gì bất trắc, Cô Tô Mộ Dung ắt sẽ
không còn ai nối dõi.
Vương phu nhân cười khẩy:
- Cô Tô Mộ Dung, hừ, nhà Mộ Dung có liên can gì
đến ta đâu? Bà cô ngươi nói Hoàn Thi Thủy Các tàng trữ sách vở còn nhiều hơn
Lang Hoàn Ngọc Động của nhà này nữa cơ mà, thì để thằng con cưng Mộ Dung Phục của
bà ấy đến chùa Thiếu Lâm đại hiển uy phong càng tốt chứ sao.
Vương Ngữ Yên mắt rưng rưng, cúi đầu đi ra, lòng
ngổn ngang như mối tơ vò không biết phải tính sao, đi đến hành lang mé tây
hiên, bỗng nghe tiếng người hỏi nhỏ:
- Cô nương, chuyện ra sao?
Vương Ngữ Yên ngẩng đầu nhìn lên, hóa ra Đoàn Dự,
hoảng hốt nói:
- Ngươi... ngươi chớ có nói chuyện với ta.
Thì ra Đoàn Dự thấy Vương Ngữ Yên đi rồi, tính
gàn bướng nổi lên, mê mê mẩn mẩn đi theo cô gái. Chàng ở xa xa đứng chờ, đợi
khi nàng từ phòng Vương phu nhân đi ra, lại lẽo đẽo đi theo. Chàng thấy Vương
Ngữ Yên mặt mày ủ rũ, biết ngay Vương phu nhân không bằng lòng, liền nói:
- Nếu như phu nhân không đáp ứng, mình phải tìm
cách khác.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Mẹ ta không chịu thì còn cách nào nữa mà hỏi?
Bà ấy... bà ấy... nhất định thõng tay đứng ngoài mặc cho biểu ca gặp nguy nan.
Nàng càng nghĩ càng thêm xót xa, nhịn không nổi
nước mắt lại ứa ra. Đoàn Dự nói:
- Ồ, nếu như Mộ Dung công tử đang gặp nguy
nan...
Đột nhiên chàng nghĩ ra một việc bèn hỏi ngay:
- Cô biết võ công nhiều như thế, sao không đích
thân đi giúp cho anh ta?
Vương Ngữ Yên giương mắt chăm chăm nhìn chàng,
dường như câu nói của Đoàn Dự là một chuyện kỳ quái nhất trên đời, một hồi sau
mới nói:
- Ta... ta chỉ biết võ công nhưng chính mình lại
không biết sử dụng. Hơn nữa, ta làm sao mà đi được? Mẹ ta nhất định không bằng
lòng đâu.
Đoàn Dự mỉm cười nói:
- Mẹ cô nhất định là không cho đi rồi, thế nhưng
cô không len lén đi được hay sao? Ta đã từng bỏ nhà ra đi, về sau quay về, cha
mẹ ta cũng không trách mắng gì cả.
Vương Ngữ Yên nghe thấy chàng nói thế, xem ra có
chút hi vọng thoát được bế tắc, đôi mắt sáng lên, nghĩ thầm: “Đúng đó! Ta len
lén đi ra giúp biểu ca”. Nàng nghĩ đến mình sẽ vì biểu ca mà phải chịu khổ đau
hoạn nạn, trong lòng vừa chua chát, vừa ngọt ngào, lại nghĩ: “Người này nói rằng
anh ta đã từng lén bỏ nhà ra đi, ồ, sao trước nay mình chưa bao giờ nghĩ đến
chuyện này nhỉ?”.
Đoàn Dự liếc nhìn thần sắc nàng biết cô gái đã
xiêu lòng nên càng hết sức thúc giục, khuyên:
- Thế cô quả chỉ sống trong Mạn Đà Sơn Trang,
chưa từng ra ngoài nhìn thấy cuộc đời đầy hoa lệ kia hay sao?
Vương Ngữ Yên lắc đầu:
- Có gì phải đáng xem đâu? Ta chỉ lo cho biểu
ca. Có điều trước nay ta chưa từng luyện võ, nếu như huynh ấy gặp nguy hiểm, ta
cũng không giúp được gì.
Đoàn Dự nói:
- Sao cô lại bảo là không giúp được gì? Giúp được
nhiều lắm chứ. Khi biểu ca cô động thủ với người ngoài, cô chỉ cần đứng ngoài
nói vài câu thì giúp cho anh ta nhiều lắm, cái đó gọi là “đứng ngoài sáng nước”.
Mới đây chưa lâu ta xem đánh cờ, người ta trông tưởng thua, ta đứng ngoài chỉ
cho vài nước liền lật ngược tình thế.
Vương Ngữ Yên nghe thấy thật có lý, nàng vốn võ
học đều biết rất sâu, nhưng vẫn chưa đủ can đảm, ngần ngừ đáp:
- Ta trước nay chưa từng ra khỏi cửa, đâu có biết
chùa Thiếu Lâm ở nơi nào?
Đoàn Dự lập tức vớ ngay cơ hội nói:
- Để ta đưa cô đi, trên đường có chuyện gì, một
mình ta đối phó cho.
Chàng vốn dĩ chẳng có bao nhiêu kinh lịch giang
hồ nhưng lúc này đâu có dại gì mà nói ra. Đôi lông mày xinh xắn của Vương Ngữ
Yên nhíu lại, nghiêng đầu trầm ngâm không biết tính thế nào cho phải. Đoàn Dự hỏi
lại:
- A Châu, A Bích hai người ra sao rồi?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Mẹ ta không chịu tha cho họ.
Đoàn Dự tiếp lời:
- Thôi thì đâm lao phải theo lao, nếu như A
Châu, A Bích bị chặt đứt một cánh tay, biểu ca cô thể nào cũng trách cô, chi bằng
mình cứu hai người đó ra, cả bốn người cùng đi một lượt.
Vương Ngữ Yên lè lưỡi nói:
- Nếu làm chuyện đại nghịch bất đạo như thế lẽ
nào mẹ ta để yên? Ngươi thế mà to gan thật!
Đoàn Dự biết rằng ngoài biểu ca nàng ra không
chuyện gì có thể lay chuyển được lòng nàng nên giả đò lấy thoái làm tiến nói:
- Nếu đã vậy thì mình phải đi ngay mới được, cứ
để cho mẹ cô chặt tay A Châu, A Bích. Sau này nếu như biểu ca cô hỏi đến, cô cứ
nói là không biết, ta nhất quyết không tiết lộ chuyện này đâu.
Vương Ngữ Yên vội nói:
- Sao lại thế được? Như thế có phải là nói láo
biểu ca sao?
Nàng trong lòng ngần ngừ nói:
- Ôi, Chu Bích nhị tì nữ là người tâm phúc, phục
thị huynh ấy từ bé, nếu chuyện này xảy ra thì họ Mộ Dung với họ Vương nhà ta
thù oán ngày càng thêm sâu.
Nàng giậm chân một cái nói:
- Ngươi đi theo ta.
Đoàn Dự nghe thấy nói “Ngươi đi theo ta” thật mừng
không để đâu cho hết, trong đời chàng chưa bao giờ nghe câu nào ngọt ngào đến
thế, thấy nàng đi về phía trước liền lẽo đẽo theo sau. Chỉ trong giây lát,
Vương Ngữ Yên đã đưa chàng đến một căn thạch thất lớn gọi:
- Nghiêm bà bà, bà ra đây ta có chuyện cần nói với
bà.
Chỉ nghe thấy từ trong nhà tiếng cười khịt khịt
nghe thật quái đản, một giọng nói khàn khàn vọng ra:
- Hảo cô nương, cô đến xem Nghiêm bà bà làm phân
bón đấy hả?
Đoàn Dự lúc nãy nghe U Thảo và Tiểu Mính nói A
Châu, A Bích bị đưa xuống Hoa Phì Phòng, lúc đó chẳng để ý đến, lúc này nghe giọng
nói lạnh lẽo đầy âm khí nhắc tới “phân bón” mới thấy giật mình: “Cái gì mà phân
bón? Phải chăng phân để trồng hoa? Chao ôi! Vương phu nhân cực kỳ tàn nhẫn, giết
người như ngóe lấy thịt người làm phân bón hoa trà. Không biết mình tới có trễ
mất không, hai nàng Châu Bích bị chặt tay rồi thì biết làm thế nào đây?”. Tim
chàng đập thình thình, mặt mày tái mét không còn một giọt máu.
Vương Ngữ Yên nói:
- Nghiêm bà bà, mẹ ta có chuyện muốn nói với bà
bà, bà đi lên ngay.
Người đàn bà trong thạch thất nói:
- Ta đang bận. Phu nhân có chuyện gì gấp gáp mà
phải sai tiểu thư đến tận đây?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Mẹ ta hỏi... ồ... bọn nó đến chưa?
Nàng nói xong đi vào trong phòng, thấy A Châu và
A Bích hai người bị trói vào hai cái cột sắt, trong miệng bị nhét vật gì đó,
đôi mắt rưng rưng nhưng không sao nói được. Đoàn Dự thò đầu vào thấy hai nàng
chưa sao cả cũng an tâm phần nào, nhìn qua bên kia thì tim lại đập rộn lên. Chỉ
thấy một mụ già lụm cụm tay cầm một con dao dài sáng loáng, bên cạnh là một vạc
nước đang đun, hơi nước bốc lên ngùn ngụt.
Vương Ngữ Yên nói:
- Nghiêm bà bà, mẹ ta nói thả hai đứa đó ra có
việc cần phải tra hỏi chúng cho rõ ràng đã.
Nghiêm bà bà quay đầu lại, Đoàn Dự thấy mụ mặt
mày gớm ghiếc, ánh mắt đầy sát khí, hai chiếc răng nanh thò ra ngoài tưởng chừng
như muốn cắn người ta, đủ biết bụng dạ tàn nhẫn đến chừng nào. Mụ ta gật đầu:
- Được, hỏi xong rồi lại đem xuống đây để chặt
tay.
Mụ lẩm bẩm nói một mình: “Nghiêm bà bà ghét nhất
là mấy đứa con gái xinh đẹp. Hai đứa này có chặt tay rồi vẫn còn đẹp, ta phải
nói với phu nhân phải chặt cả hai tay làm phân, lâu nay hoa không được tốt”.
Đoàn Dự giận quá, nghĩ bụng mụ già này tác ác đa đoan, không biết đã giết bao
nhiêu người, tiếc rằng mình trói gà không chặt, nếu không sẽ vả cho mụ ta mấy
cái, đánh gãy răng mụ cứu hai nàng Châu Bích ra.
Nghiêm bà bà tuy già nhưng tai còn thính lắm,
Đoàn Dự đứng bên ngoài thở mạnh liền bị mụ ta phát giác ngay, hỏi liền:
- Ai ở ngoài đó?
Mụ thò đầu ra xem thấy ngay Đoàn Dự liền hầm hầm
hỏi:
- Ngươi là ai?
Đoàn Dự cười nói:
- Ta là người trồng hoa của phu nhân, xuống hỏi
Nghiêm bà bà, đã có phân mới chưa?
Nghiêm bà bà đáp:
- Ngươi chờ một chút sẽ có ngay.
Mụ ta quay sang nói với Vương Ngữ Yên:
- Tiểu thư, biểu thiếu gia thương hai đứa này lắm
phải không?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Phải đó, mụ không nên làm hại đến hai đứa đó.
Nghiêm bà bà gật đầu:
- Tiểu thư, phu nhân có dặn là, đem chặt tay phải
của hai đứa a đầu này tống ra khỏi trang. Phu nhân còn nói thêm: “Từ nay nếu
hai đứa ngươi còn để cho ta thấy mặt là ta lập tức chém đầu liền”, có phải
không nào?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Đúng đó.
Hai tiếng đó vừa ra khỏi miệng nàng biết ngay
mình bị hố vội đưa tay che miệng. Đoàn Dự trong bụng kêu thầm: “Chao ôi! Cô tiểu
thư này không biết nói láo rồi”.
Cũng may Nghiêm bà bà dường như già cả nên lú lẫn,
không để ý chút nào đến sơ hở trên nói tiếp:
- Tiểu thư, dây trói này chặt lắm, cô giúp ta một
tay cởi nó ra.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Được rồi!
Nàng tiến đến bên cạnh A Châu, đưa tay cởi giây
trói trên cổ tay cô thị tì, bỗng nghe cách một tiếng, từ nơi cột sắt nảy ra một
chiếc ngàm kẹp ngay chiếc lưng thon của nàng lại. Vương Ngữ Yên kêu lên một tiếng
thất thanh, chiếc ngàm đó choàng vào lưng nàng tuy vẫn còn hở ra mấy tấc nhưng
không thể nào thoát thân được.
Đoàn Dự kinh hãi vội vàng chạy vào quát lên:
- Bà làm gì đó? Có thả tiểu thư ra không nào?
Nghiêm bà bà cười sằng sặc một cách quái đản
nói:
- Phu nhân đã bảo còn gặp hai đứa a đầu này sẽ
chặt đầu chúng nó ngay, sao lại còn gọi chúng lên tra hỏi? Phu nhân có biết bao
nhiêu là kẻ ăn người làm, cớ gì phải sai tiểu thư đến? Việc này có nhiều điều
gì khác lạ. Tiểu thư đợi ở đây một chút để ta đích thân đi lên hỏi lại phu nhân
rồi tính sau.
Vương Ngữ Yên giận dữ nói:
- Sao bà dám hỗn láo thế? Có mau thả ta ra không
nào?
Nghiêm bà bà đáp:
- Tiểu thư, ta đối với phu nhân một dạ trung
thành không bao giờ dám làm điều gì sai trái. Cô thái thái nhà Mộ Dung đối với
phu nhân chẳng phải chút nào, nói xấu phu nhân nhiều điều, phỉ báng tiếng tăm
thanh bạch của phu nhân, ngay cả Thái phu nhân cũng nói thế, càng vạn lần không
đúng, phu nhân lộn ruột đã đành mà bọn người dưới chúng ta cũng hận tận xương tủy.
Ngày đó nếu như phu nhân chỉ gật đầu một cái, bọn ta lập tức quật mồ cô thái
thái lên, lấy xương đem vào Hoa Phì Phòng để bón hoa. Tiểu thư, ta nói cho cô nghe,
họ Mộ Dung chẳng có tốt lành chi đâu, hai con a đầu này phu nhân không thể nào
tha chúng được. Thế nhưng tiểu thư đã nói vậy thì ta cũng cứ lên hỏi lại phu
nhân rồi tính sau, nếu quả đúng là như thế lúc đó ta sẽ khấu đầu tạ tội, cô đem
gia pháp đập vào lưng trừng trị ta cũng được.
Vương Ngữ Yên hoảng hốt nói:
- Này, này, bà đừng lên hỏi phu nhân, mẹ ta sẽ
giận lắm đó.
Nghiêm bà bà không còn hoài nghi gì nữa, tiểu
thư toan tính đánh lận phu nhân giả truyền hiệu lệnh để bảo vệ thị tì biểu ca.
Mụ muốn thừa cơ lập công bèn nói:
- Hay lắm, hay lắm, tiểu thư chờ giây lát, ta
lên rồi xuống ngay.
Vương Ngữ Yên gọi giật lại:
- Bà chớ đi, thả ta ra đã rồi tính.
Nghiêm bà bà nào có để ý gì đến nàng, vội vã đi
ra khỏi phòng. Đoàn Dự thấy tình thế cấp bách vội giang tay ra chặn đường mụ ta
lại, cười nói:
- Ngươi mau thả tiểu thư ra rồi hãy đi hỏi phu
nhân có được không? Mụ là người dưới, sao không nghe lời tiểu thư.
Nghiêm bà bà hấp him đôi mắt ti hí, nghiêng đầu
qua nói:
- Tên tiểu tử này xem ra cũng có điều gì quấy
quá đây.
Mụ vươn tay chộp một cái bắt đúng ngay cổ tay
Đoàn Dự lôi chàng xềnh xệch tới cái cột sắt, điều động cơ quan nghe cách một tiếng
chiếc ngàm từ trong cột quặp ngay lấy lưng chàng. Đoàn Dự hoảng quá vội vàng lật
tay nắm chặt cổ tay mụ nhất định không buông.
Nghiêm bà bà vừa bị chàng nắm được lập tức thấy
nội lực của mình cuồn cuộn tuôn ra, quả thực khó chịu vô cùng, giận dữ quát
lên:
- Bỏ tay ra!
Mụ ta vừa lên tiếng nội lực tuôn ra lại càng
nhanh hơn, vội hết sức giằng ra nhưng không sao thoát được tay Đoàn Dự, trong bụng
kinh hãi kêu lên:
- Xú tiểu tử... ngươi làm gì thế? Có bỏ ta ra
không nào?
Đoàn Dự đối diện với khuôn mặt xấu xí của mụ già
hai bên chỉ cách nhau vài tấc. Lưng chàng đã bị trói chặt vào cây cột sắt,
không cách gì có thể ngửa đầu ra sau, mắt thấy những sợi răng vàng khè nhọn hoắt
của mụ tưởng như muốn ngoặp vào cổ họng mình, trong bụng vừa kinh hãi, vừa ghê
tởm, nhưng biết rằng tình hình như nghìn cân treo trên sợi tóc, chỉ buông mụ ra
thì Vương Ngữ Yên bị trách phạt đã đành mà chính mình cùng Châu Bích hai nàng
cũng khó mà sống sót. Chàng đành nhắm mắt không dám nhìn mụ ta nữa. Đột nhiên
lúc đó, chàng nhớ tới Mộc Uyển Thanh bị Bình bà bà và Thụy bà bà vây công, thấy
hai lão ác bà kia và Nghiêm bà bà cũng không khác nhau, lại nhớ tới các ác bà dẫn
người đuổi giết Mộc Uyển Thanh từ Tô Châu đến Đại Lý, chỉ sợ các mụ ác bà này đều
là thủ hạ của Vương phu nhân. Các sự việc chàng cùng lúc nhớ lại, không ít chuyện
cũng ăn khớp với nhau. Chỉ cho là mình nghĩ nhiều quá đến mức nghĩ xấu cho người
khác nên lúc này cũng không muốn nghĩ nhiều.
Nghiêm bà bà yếu ớt kêu:
- Ngươi... ngươi mau thả ta ra.
Đoàn Dự lúc trước hút nội lực của bảy tên đệ tử
phái Vô Lượng mất một thời gian lâu, về sau lại được thêm nhiều cao thủ cho
thêm mỗi người một ít nên nội lực chàng càng lúc càng mạnh, sức hút của Bắc
Minh thần công càng lúc càng lớn, nên bây giờ hút nội lực của Nghiêm bà bà chỉ
một loáng là xong. Nghiêm bà bà tuy hung tợn thật nhưng nội lực chẳng được bao
nhiêu, chưa đầy thời gian uống một chén trà thì đã thấy uể oải thở không ra hơi
rền rĩ:
- Bỏ... bỏ ta ra, bỏ... bỏ... tay...
Đoàn Dự nói:
- Ngươi mau bấm cơ quan thả ta ra trước.
Nghiêm bà bà đáp:
- Được! Được!
Mụ ngồi thụp xuống giơ tay vận động cơ quan ở dưới
bàn, nghe cách một tiếng chiếc ngàm đang câu quanh người Đoàn Dự thụt về. Đoàn
Dự chỉ vào Vương Ngữ Yên và Châu Bích hai người ra lệnh cho mụ ta thả ra.
Nghiêm bà bà giơ tay bấm cơ quan để mở cho Vương
Ngữ Yên, loay hoay một hồi nhưng vẫn không nhúc nhích gì cả. Đoàn Dự giận dữ
nói:
- Mụ còn chưa chịu thả tiểu thư ra ư?
Nghiêm bà bà mếu máo nói:
- Ta... ta không còn chút hơi sức nào nữa.
Đoàn Dự giơ tay luồn xuống bàn mò vào cơ quan ấn
một cái nghe cách một tiếng chiếc vòng đang quặp vào lưng Vương Ngữ Yên từ từ tụt
vào trong cột sắt. Đoàn Dự mừng lắm nhưng tay vẫn còn phải nắm chặt Nghiêm bà
bà, cúi xuống nhặt chiếc dao dài cắt đứt dây thừng trói tay A Bích. A Bích cầm
lấy con dao cắt dây thừng cho A Châu. Hai người móc hột đào nhét trong miệng
ra, vừng mừng vừa sợ không nói được nên lời.
Vương Ngữ Yên giương mắt nhìn Đoàn Dự, thần sắc
cực kỳ lạ lùng lại có vẻ khinh thị nói:
- Sao ngươi lại biết sử dụng Hóa Công đại pháp?
Môn công phu dơ bẩn đó học làm gì?
Đoàn Dự lắc đầu:
- Đó không phải là Hóa Công đại pháp.
Chàng đang toan thuật lại chuyện mình nhưng một
phần vì câu chuyện quá dài, hai nữa chưa chắc cô nàng đã tin chi bằng thuận miệng
đặt cho một cái tên thì hơn, bèn nói:
- Đây là một công phu gia truyền của họ Đoàn nước
Đại Lý chúng ta tên là Lục Dương Dung Tuyết Công, rút ra từ Nhất Dương Chỉ và Lục
Mạch Thần Kiếm biến hóa mà thành, so với Hóa Công đại pháp thì một bên chính một
bên tà, một bên thiện, một bên ác hai bên hoàn toàn không giống nhau.
Vương Ngữ Yên bấy giờ mới tin nở một nụ cười
nói:
- Ta xin lỗi, hóa ra ta kiến thức hẹp hòi. Nhất
Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm của họ Đoàn Đại Lý ta đã ngưỡng mộ từ lâu, Lục
Dương Dung Tuyết Công hôm nay lần đầu mới nghe nói tới, ngày sau thể nào cũng
có lúc xin được dạy bảo.
Đoàn Dự thấy mỹ nhân mở mồm xin mình chỉ giáo,
quả thật muốn còn chưa xong vội đáp:
- Tiểu thư có chuyện gì cần hỏi, ta nguyện nói hết
cho nghe không dám giấu diếm gì.
A Châu và A Bích có ngờ đâu khi đang nguy ngập lại
có Đoàn Dự tới cứu, lại thấy chàng cùng Vương Ngữ Yên hai người nói năng có vẻ
hợp nhau quả thật ngạc nhiên. A Châu nói:
- Cô nương, Đoàn công tử, đa tạ hai vị đã đến cứu.
Mình nên bắt Nghiêm bà bà dẫn theo để mụ ta khỏi tiết lộ bí mật.
Nghiêm bà bà hoảng hốt nghĩ thầm nếu bị hai đứa
a đầu này bắt đi, mười phần chết chín kêu lên:
- Tiểu thư, tiểu thư, cô thái thái nhà Mộ Dung
nói là phu nhân đi cướp chồng người, còn nói bà ngoại cô càng không đứng đắn…
A Châu liền đưa tay bóp mồm mụ, tay kia cầm ngay
hột đào mình vừa nhả ra nhét luôn vào mồm. Đoàn Dự cười nói:
- Hay lắm, cái đó đúng là Mộ Dung môn phong, gọi
là “gậy ông đập lưng ông”.
Vương Ngữ Yên nghe Đoàn Dự khen là Mộ Dung môn
phong, trong lòng vui mừng, nói:
- Bọn ta và các ngươi cùng đi xem...
Nàng nói tới đây vẻ mặt thẹn thùng nói nhỏ:
- ... xem coi huynh ấy... huynh ấy làm sao?
Nàng vốn dĩ do dự nhưng sau biến cố này cảm thấy
quyết tâm hơn. A Châu mừng rỡ đáp:
- Nếu có cô nương đến tiếp viện, quả thật hay lắm.
Vậy thì Nghiêm bà bà mình chẳng cần đưa theo làm gì.
Hai cô gái xách Nghiêm bà bà lên, kéo đến chiếc
cột sắt, vận động cơ quan dùng ngàm sắt kẹp mụ ta lại. Bốn người lẳng lặng đi
ra khỏi cửa, rảo bước đi về phía bờ hồ.
Vương Ngữ Yên cũng định mang theo chút xiêm y, lại
sợ mẫu thân biết, phái người bắt mình về. Cũng may trên đường không gặp người
tì bộc nào, lên thuyền rồi A Châu, A Bích chèo ngay thuyền về phía mặt hồ. A
Châu, A Bích và cả Đoàn Dự cả ba đều cố sức chèo cho nhanh, đến lúc quay lại
không còn thấy chút hình ảnh cây cối nào của Mạn Đà Sơn Trang nữa bấy giờ mới
thấy yên tâm. Tuy nhiên họ vẫn sợ Vương phu nhân cho khoái thuyền ra đuổi theo
nên vẫn không dám ngừng tay.
Chèo một hồi lâu thấy trời đã sâm sẩm tối, khói
tỏa trên mặt hồ mỗi lúc một dày, A Châu nói:
- Cô nương, nơi đây cách chỗ tiểu tì ở không xa,
xin cô ghé nghỉ tạm một đêm, bàn lại với nhau xem cách nào đi tìm công tử, thế
có được không?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Ồ, thế cũng được.
Nàng nãy giờ không nói gì, càng xa Mạn Đà Sơn
Trang thì càng thêm trầm mặc. Đoàn Dự thấy gió trên hồ thổi vào tà áo nàng phất
phơ, khi hoàng hôn xuống hơi lành lạnh, không khỏi nghĩ tới: “Vương cô nương
toàn tâm toàn ý đối với biểu ca của nàng. Uyển muội cũng đối tốt với ta như vậy,
lại thêm Chung Linh tiểu nha đầu cũng rất tôt với ta”. Trong lòng bỗng nhiên cảm
thấy thê lương, nỗi vui mừng khi vừa mới ra đi càng lúc càng vơi dần.
Lại chèo thêm một hồi, nhìn vào mặt những bạn đồng
hành đã thấy đã mông lung, nơi chân trời phía đông thấy có ánh lửa thấp thoáng.
A Bích nói:
- Bên chỗ đèn lửa kia chính là Thính Hương Thủy
Tạ nơi ở của A Châu tỉ tỉ.
Chiếc thuyền nhỏ liền chèo thẳng về hướng đó.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Cả cuộc đời này e rằng chẳng còn bao giờ được sống trong
tình cảnh buổi hôm nay. Nếu cứ được trên con thuyền du ngoạn lang thang trên mặt
hồ như thế này, không bao giờ đến được nơi có đèn lửa kia có phải sung sướng
hay không?”. Ngay lúc đó trước mắt lóe lên, một ánh sao băng từ dưới chân trời
bay xẹt ngang, vạch thành một cái đuôi dài.
Vương Ngữ Yên cúi đầu lẩm nhẩm gì đó, Đoàn Dự
nghe không rõ. Trong bóng tối chàng nghe thấy nàng buồn bã thở dài. A Bích dịu
dàng nói:
- Cô nương đừng lo, công tử trước nay gặp rủi
hóa lành, chưa từng bao giờ gặp chuyện gì nguy hiểm.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Chùa Thiếu Lâm nổi tiếng đã mấy trăm năm qua ắt
tài nghệ ghê gớm không thể nào lường được. Chỉ mong các vị cao tăng thông hiểu
lý tình, chịu nghe biểu ca giãi bày mọi chuyện. Ta chỉ ngại rằng... ngại rằng
biểu ca tính khí cao ngạo, lời qua tiếng lại xung đột với các hòa thượng, ôi...
Nàng ngừng lại một chút, nhỏ nhẹ tiếp:
- Mỗi khi ta thấy lưu tinh bay ngang trên trời,
ta đều ước nguyện nhưng chưa bao giờ thành.
Người đất Giang Nam trước nay vẫn tin rằng, mỗi
khi nhìn thấy sao băng bay ngang bầu trời, nếu như có ước muốn gì trước khi ánh
sao tắt đi thì dù khó khăn đến đâu cũng được toại nguyện. Thế nhưng ánh sao chỉ
xẹt ngang rồi tắt ngay, chỉ nói được mấy chữ thì sao đã qua rồi, thành thử muôn
ngàn năm nay, trẻ em Giang Nam không biết bao nhiêu đứa ôm mộng trong lòng đã từng
thất vọng. Vương Ngữ Yên tuy thông hiểu võ học thật nhiều nhưng phần tính tình
nhi nữ thì một cô gái quê với một cô nương đất Thái Hồ có khác gì nhau?
Đoàn Dự nghe nàng nói mấy câu đó, trong lòng thấy
thật xốn xang, biết rằng nguyện vọng của nàng ắt liên quan đến Mộ Dung công tử,
cầu mong cho y bình an vô sự, vạn sự thuận lợi. Chàng chợt tự hỏi trên đời này
có người con gái nào vì mình mà thầm ước nguyện gì chăng? Mộc Uyển Thanh trước
đây yêu ta sâu đậm thật, nhưng từ khi nàng biết ta là anh trai nàng rồi ắt
không còn được cái tâm tình cũ. Không biết trong những ngày vừa qua nàng ở đâu?
Đã gặp được tình lang như nguyện chưa? Còn Chung Linh ư? Liệu nàng có biết ta
cũng là anh nàng hay không? Dẫu cho không biết, thảng hoặc đôi khi nàng nghĩ đến
ta, cùng lắm cũng chỉ rộn ràng trong chốc lát rồi qua đi chứ làm sao có thể khắc
cốt ghi tâm như Vương cô nương với ý trung nhân của nàng cho được? Chàng liếc A
Bích một cái, bỗng nhiên hiện lên một ý nghĩ trong đầu: “Dù trên đời chỉ có một
A Bích, bất chợt nhớ tới ta một lát, thế cũng là tốt rồi. Ôi, nhưng cho dù là
nàng, chỉ sợ cũng là nhớ Mộ Dung công tử nhiều, nhớ tới Đoàn Dự ta ít”.
Bình luận chương
Dưới chương này đang có gì?
Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.
Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.