Thiên Long Bát Bộ - Bản Tân Tu (mới nhất)

Hồi 13 : Nghe hương bên thủy tạ, chỉ điểm quần hùng

3,9 / 5 (37 lượt)

Chiếc thuyền chậm rãi tiến về phía trước, theo mặt hồ nhìn lại, hai bên bờ cây cối tươi tốt, theo làn gió bay lượn, không biết có mấy ngàn cây liễu thụ. Đoàn Dự khen thầm: “Nơi đây phong cảnh tao nhã, bình sinh chưa từng thấy”. Chiếc thuyền đi tới dưới một hàng liễu rủ, xa xa thấy một hàng cây hoa chiếu ánh nước rực rỡ như ráng mây ban chiều. Đoàn Dự thảng thốt kinh ngạc kêu lên một tiếng. A Châu nói:
- Cái gì thế?
Đoàn Dự chỉ vào bụi hoa nói:
- Hoa đó là sơn trà của Đại Lý chúng tôi, sao trong giữa Thái Hồ lại có trồng những loại Điền Trà đó nhỉ?
Sơn trà Vân Nam rất nổi danh thành thử người đời gọi là Điền Trà. A Châu nói:
- Đúng thế! Gia trang này có tên là Mạn Đà Sơn Trang, trồng toàn những hoa sơn trà.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Sơn trà còn có tên là Ngọc Mính, lại cũng còn gọi là hoa Mạn Đà La. Trang viện này lấy tên là Mạn Đà, để xem có những loại danh chủng nào”.
A Châu khua mái chèo đưa con thuyền tới bên bờ nước dưới mấy cây sơn trà. Chàng đưa mắt nhìn qua chỉ thấy toàn hoa trà đỏ có, trắng có chen chúc nhau nhưng không thấy nhà cửa. Đoàn Dự sinh trưởng ở Đại Lý, hoa trà chàng coi đã quen không lấy gì làm lạ, nghĩ thầm: “Nơi đây sơn trà tuy nhiều nhưng xem chừng chẳng có giai phẩm, có lẽ những loại quý trồng bên trong trang viện”.
A Châu ghé thuyền vào sát bờ, mỉm cười nói:
- Đoàn công tử, mình cùng đi lên xong rồi xuống ngay.
Nàng nắm tay A Bích toan nhảy lên bờ, bỗng nghe từ trong rừng hoa có tiếng chân người, một người tiểu hoàn mặc áo xanh đi ra. Tiểu nha hoàn đó tay cầm một bó hoa, nhìn thấy A Châu, A Bích vội rảo bước đi tới, tươi cười nói:
- A Châu, A Bích các ngươi thật là lớn mật, dám len lén tới đây. Phu nhân bảo: “Mau đi lấy dao rạch ngang dọc mặt hai đứa a đầu cho chúng nó hết còn như hoa tựa ngọc nữa”.
A Châu cười đáp:
- U Thảo a tỉ nè, thái thái đi vắng phải không?
Đứa tiểu hoàn liếc nhìn Đoàn Dự rồi quay sang nhìn A Châu, A Bích cười nói:
- Phu nhân còn bảo: “Hai con nhãi đó còn đem cả nam nhân xa lạ đến Mạn Đà Sơn Trang, cũng chặt luôn hai chân người đó nữa”.
Nói chưa dứt câu thị đã cười khúc khích. A Bích vỗ ngực nói:
- U Thảo a tỉ đừng có dọa, nói vậy là nói thật hay nói chơi đó?
A Châu cũng cười:
- A Bích, ngươi đừng có sợ, nếu như thái thái có nhà, con nhãi này đời nào dám hi ha hi hô như thế bao giờ? U Thảo muội tử, hỏi thật chứ thái thái đi đâu rồi?
U Thảo cười nói:
- Này, nhà ngươi mấy tuổi mà dám đòi làm chị ta? Sao ngươi đoán được là phu nhân không có nhà?
Nàng thở dài một tiếng nói tiếp:
- A Châu, A Bích hai cô em ơi, chẳng mấy khi các ngươi sang đây chơi, ta muốn hai đứa ở chơi vài ngày, có điều...
Nói rồi nàng ta lắc đầu. A Bích nói:
- Bộ ta không muốn ở lại đây chơi với ngươi ít lâu hay sao? U Thảo a tỉ nè, chừng nào ngươi sang chơi bên ta, ta sẽ ở với ngươi ba ngày ba đêm, chịu không?
Hai cô gái vừa nói vừa nhảy lên bờ. A Bích ghé tai U Thảo nói mấy câu, U Thảo cười rộ lên, liếc nhìn Đoàn Dự. A Bích mặt bỗng đỏ bừng. U Thảo một tay nắm A Châu, một tay nắm A Bích nói:
- Thôi mình vào nhà chứ!
A Bích quay lại nói:
- Đoàn công tử, xin công tử ở nơi đây chờ một lát, chúng tôi vào rồi ra ngay.
Đoàn Dự đáp:
- Không sao.
Chàng nhìn theo ba cô a hoàn tay nắm tay thân mật đi vào trong rừng hoa. Đoàn Dự lên bờ, nhìn quanh quất không thấy ai liền đi ra sau một cây to tiểu tiện. Chàng xuống thuyền ngồi một hồi, thấy không có việc gì làm lại đứng lên nghĩ thầm: “Mình thử xem nơi đây hoa Mạn Đà La có những loại gì đặc biệt không?”. Thuận chân vừa đi vừa xem hoa, thấy trong rừng hoa ngoài sơn trà ra không còn một giống gì khác, ngay cả những loại thông thường như Khiên Ngưu, Phượng Tiên, Nguyệt Quý cũng không thấy. Những loại sơn trà thì cũng không có gì đặc biệt, chỉ được cái nhiều mà thôi.
Chàng đi được độ mươi trượng mới thấy nhiều loại khá hơn, thỉnh thoảng cũng có một vài bụi xem ra không phải thứ xoàng, có điều vun trồng không đúng cách nên nghĩ bụng: “Trang viện này không đáng gọi là Mạn Đà Sơn Trang, bao nhiêu giai chủng trồng hỏng kiểu cả”. Đến đây chàng chợt nghĩ: “Thôi mình quay lại đi thôi, A Châu và A Bích trở về không thấy mình e rằng lại đâm lo”.
Chàng trở lại mới mấy bước bỗng thấy chột dạ kêu lên một tiếng:
- Chết rồi!
Thì ra chàng cứ lầm lũi trong rừng, chỉ nghĩ đến xem hoa trà mà quên để ý đến đường đi nước bước, bây giờ mới giật mình thấy đông một lối, tây một lối không biết đâu là đường về, quay trở lại được chỗ buộc thuyền không phải dễ đành nghĩ thầm: “Thôi mình cứ lần ra được bờ nước rồi tính sau”.
Thế nhưng chàng càng đi càng lạc lối, chung quanh toàn những cảnh chưa từng qua, trong bụng hoảng thầm, bỗng nghe phía bên trái văng vẳng tiếng người nói chuyện, đúng là giọng A Châu. Đoàn Dự mừng quá nghĩ thầm: “Thôi mình ở đây chờ nàng ta, đợi nói chuyện xong rồi cùng về một lượt”. Chàng nghe A Châu nói:
- Công tử vẫn khỏe khoắn, ăn uống cũng bình thường. Hai tháng qua, công tử chuyên luyện Đả Cẩu Bổng Pháp chắc là định so tài với nhân vật nào đó của của Cái Bang.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “A Châu đang nói về Mộ Dung công tử mình chẳng nên nghe lỏm chuyện của người khác, nên đi xa xa một chút là hơn. Thế nhưng cũng chẳng nên đi xa quá, nếu không họ nói chuyện xong mình cũng không biết được”.
Ngay khi đó, bỗng có tiếng một người con gái khác thở dài một tiếng. Đoàn Dự toàn thân rung động, tim đập thình thình nghĩ thầm: “Sao có ai chỉ thở dài mà nghe hay quá, trên đời này không lẽ có giọng nói nghe ngọt đến thế hay sao?”. Liền đó có tiếng người hỏi nhỏ:
- Lần này anh ấy đi đâu?
Đoàn Dự mới nghe tiếng thở dài đã thấy choáng váng, đến khi nghe được nàng ta nói một câu, trong người bao nhiêu máu nóng dường như dồn cả lên, trong lòng vừa đau đớn vừa xót xa, nảy ra một nổi khâm phục xen với đố kỵ: “Nàng ta rõ ràng là hỏi Mộ Dung công tử, đối với y thiết tha như thế, hẳn là mang nỗi khắc khoải trong lòng. Mộ Dung công tử ơi, nhà ngươi sao mà may mắn đến vậy?”.
Lại nghe A Châu đáp:
- Khi công tử ra khỏi nhà có nói là sẽ đi Lạc Dương để gặp những hảo thủ trong Cái Bang, có cả Đặng đại ca đi theo. Cô nương cứ an tâm.
Người con gái kia chậm rãi nói:
- Hai đại thần kỹ Đả Cẩu Bổng Pháp và Hàng Long Nhị Thập Bát Chưởng của Cái Bang là bí mật của họ không truyền ra ngoài. Tàng phổ của bổng pháp và chưởng pháp có trong Hoàn Thi Thủy Các bên ngươi và Lang Hoàn Ngọc Động bên ta đều khiếm khuyết không đầy đủ. Phương pháp vận công hoàn toàn không có, công tử nhà ngươi làm sao mà luyện được?
A Châu đáp:
- Công tử bảo rằng: “Tâm pháp của Đả Cẩu Bổng Pháp kia cũng do con người sáng tạo nên, tại sao công tử lại không nghĩ ra được? Có được bổng pháp rồi, mình suy nghĩ để thêm tâm pháp vào hẳn là không phải khó”.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Lời của Mộ Dung công tử quả là hữu lý, xem ra y không những đã thông minh lại còn có chí khí lắm”. Thế nhưng lại nghe người con gái kia thở dài một tiếng rồi nói:
- Dẫu có sáng tác được đi chăng nữa, cũng phải mười năm tám năm, ngày một ngày hai làm sao xong? Các ngươi có xem công tử luyện bổng pháp không? Có chỗ nào ngắc ngứ không thông chăng?
A Châu đáp:
- Lộ bổng pháp đó công tử múa rất nhanh, từ đầu đến cuối chẳng khác gì nước chảy mây trôi...
Cô gái kia thất thanh kêu lên một tiếng nói:
- Hỏng rồi! Chàng... chàng có thực múa nhanh như thế hay chăng?
A Châu đáp:
- Đúng vậy, có gì sai quấy chăng?
Người con gái kia nói:
- Dĩ nhiên là sai rồi. Tuy ta không biết tâm pháp của Đả Cẩu Bổng Pháp thực nhưng từ tàng phổ Thủy Các mà suy, có một số đường phải càng chậm càng hay, có đường thì phải khi nhanh khi chậm, trong chậm có nhanh, trong nhanh có chậm, không còn nghi ngờ gì nữa. Chàng... chàng chỉ cố cho nhanh, đến khi động thủ với người của Cái Bang, e rằng... e rằng... các ngươi... có cách gì báo tin cho công tử hay được chăng?
A Châu “Ồ” lên một tiếng nói:
- Công tử lúc này đang ở đâu, tiểu tì làm sao biết được, cũng không biết đã gặp các trưởng lão của Cái Bang chưa? Khi ra đi công tử có nói là, Cái Bang đổ oan cho chúng ta giết Mã phó bang chủ của họ, công tử đến Lạc Dương sẽ phân trần một phen, chưa hẳn đã phải động thủ với người của Cái Bang, nếu không chỉ có công tử với Đặng đại ca hai người làm sao địch được số đông. Chỉ ngại rằng nói năng chưa rõ ràng, hai bên ngôn ngữ bất hòa...
A Bích hỏi lại:
- Cô nương, môn Đả Cẩu Bổng Pháp nếu đánh nhanh thì có thực là không ổn hay sao?
Người con gái kia nói:
- Dĩ nhiên là không ổn, còn nói năng gì nữa? Chàng... chàng khi ra đi, sao không đến gặp ta một chuyến?
Nàng ta nói xong dậm chân nhè nhẹ, tỏ ra bực bội, lại có vẻ lo lắng, âm điệu quả là dịu dàng dễ nghe làm sao. Đoàn Dự thực là lạ lùng, nghĩ thầm: “Ta ở Đại Lý nghe người ta nói đến Cô Tô Mộ Dung là vừa sợ hãi vừa kính trọng. Thế nhưng nghe cô nương này nói, dường như võ nghệ của Mộ Dung công tử đều do nàng ta chỉ điểm. Không lẽ một cô gái trẻ tuổi như thế này, lại có bản lĩnh ghê gớm đến thế hay sao?”.
Chàng còn đang nghĩ ngợi xuất thần, đầu đụng ngay vào một cành cây chắn ngang, buột miệng “A” lên một tiếng, vội giơ tay bịt miệng nhưng không kịp nữa rồi. Cô gái kia hỏi:
- Ai thế?
Đoàn Dự biết không còn trốn tránh được nữa, liền tằng hắng một tiếng, từ đằng sau bụi cây nói:
- Tại hạ Đoàn Dự, mải mê thưởng ngoạn kỳ hoa dị thảo trong quý trang vô tình lỡ bước tới đây, xin được thứ tội.
Cô gái kia hỏi nhỏ:
- A Châu, có phải vị tướng công cùng tới đây với các ngươi đó chăng?
A Châu vội đáp:
- Dạ phải đó, xin cô nương đừng để tâm, chúng tôi đi ngay bây giờ.
Thiếu nữ kia đáp:
- Khoan đã! Ta muốn viết một phong thư nói rõ cho chàng hay, dặn là nếu như bất đắc dĩ phải động thủ với người của Cái Bang thì nhất quyết chớ có dùng Đả Cẩu Bổng Pháp, chỉ nên dùng võ công của mình thôi. Cái gì là “gậy ông đập lưng ông” vốn là nói ra để dọa người, sao có thể dễ dàng thi triển? Các người cầm thư đó làm cách nào chuyển tới cho chàng.
A Châu do dự đáp:
- Cái đó... thái thái từng dặn là...
Người con gái kia nói:
- Nói gì? Các ngươi chỉ nghe lời phu nhân, không nghe lời ta chăng?
Trong giọng nàng dường như có vẻ hơi giận. A Châu hấp tấp đáp:
- Chỉ cần cô nương không để cho thái thái hay, tì tử dĩ nhiên là tuân lệnh, huống chi đây là vì công tử.
Cô gái nói:
- Hai đứa ngươi theo ta đến thư phòng để lấy thư.
A Châu dường như hơi chần chừ, miễn cưỡng đáp:
- Dạ!
Đoàn Dự từ khi nghe cô gái thở dài, càng về sau càng thấy mê man, nay nghe nàng ta định bỏ đi, một khi đi khỏi rồi từ nay về sau chắc gì còn gặp lại được, thật đúng là ôm hận cả đời nên không còn ngại ngừng bị người trách cứ về tội mạo phạm, nhất định nhìn thấy mặt nàng một lần, thu hết can đảm nói:
- A Bích tỉ tỉ, cô ở lại đây với ta có được chăng?
Nói xong từ sau bụi cây bước ra. Cô gái kia nghe thấy chàng đi tới hoảng hốt kêu lên, lập tức xoay người quay lưng lại. Đoàn Dự vừa đi ra khỏi lùm cây thấy một nữ lang mặc áo dài bằng sa màu cánh sen, mặt quay về phía cây hoa, thân hình mảnh dẻ, tóc để dài xõa xuống lưng, chỉ buộc hờ bằng một dải lụa màu bạc. Đoàn Dự nhìn sau lưng nàng, thấy như mờ mờ có khói vương tỏa chung quanh, dường như không phải người trần nên vội vái một cái thật sâu nói:
- Tại hạ Đoàn Dự, bái kiến cô nương.
Cô gái nhè nhẹ dậm chân một một cái, phụng phịu nói:
- A Châu, A Bích, cũng chỉ tại hai đứa ngươi nháo nhác, ta đâu có muốn gặp đàn ông con trai ở bên ngoài.
Nói xong nàng cắm cúi bước đi, qua lại mấy khúc quẹo đã khuất hẳn trong những bụi sơn trà. A Bích mỉm cười, quay sang nói với Đoàn Dự:
- Đoàn công tử, vị cô nương đây khó tính lắm, thôi mình mau mau đi ra.
A Châu cũng cười nói với Đoàn Dự:
- Cũng may có Đoàn công tử đến giải vây, chứ không Vương cô nương thể nào cũng bắt chúng tôi đưa tin, hai cái mạng nhỏ của chị em chúng tôi e rằng nguy mất.
Đoàn Dự hấp tấp xông ra bị cô gái kia nói lẫy mấy câu, trong bụng cũng hơi bẽ bàng, đang lo A Châu, A Bích hai nàng đổ tội lên đầu mình, ngờ đâu nhị nữ lại mừng rỡ cảm ơn, thật là ngoài dự tính, nhìn người con gái tuy đã đi xa nhưng hình bóng vẫn còn vấn vương trước mắt, cảm thấy bâng khuâng đứng ngẩn ngơ nhìn theo bóng nàng lẫn sau những tùm hoa.
A Bích giật nhẹ tay áo chàng, Đoàn Dự cũng không hay biết. A Châu cười nói:
- Đoàn công tử, thôi mình đi.
Đoàn Dự chân như đóng đinh xuống đất, phải mất một chốc mới như choàng tỉnh hỏi lại:
- Ừ, ừ! Chúng mình phải đi ngay hay sao?
Chàng thấy A Châu, A Bích đã cất bước đi trước nên đành lẽo đẽo theo sau, đi một bước lại ngoái đầu, quyến luyến mãi không thôi. Ba người về đến chiếc thuyền, A Châu và A Bích liền cầm mái giầm chèo ngay. Đoàn Dự vẫn ngẩn ngơ nhìn những đóa hoa trà trên bờ, nghĩ bụng:
- Đoàn Dự ta quả là vô phúc, sao lại nghe được cô nương đó thở dài mấy tiếng, thỏ thẻ mấy câu? Rồi lại được thấy thể thái như thần tiên kia làm gì? Nếu như có phúc, sao đến mặt nàng cũng chưa được ngó qua?
Chàng thấy những bụi hoa trà xa dần, trong nháy mắt đã bị hàng liễu xanh che mất, trong lòng dâng lên một nỗi u hoài man mác. Bỗng ngay lúc đó, A Châu kêu lên một tiếng kinh hoàng, lắp bắp:
- Thái thái... thái thái về kìa.
Đoàn Dự quay đầu nhìn thấy trên mặt hồ một chiếc thuyền đang lướt tới như bay, trong chớp mắt đã đến gần. Trên đầu thuyền vẽ đầy các loại hoa sắc sỡ, đến gần mới thấy toàn là hoa trà. A Châu, A Bích vội vàng chèo thuyền tránh đi nhưng đã không kịp, hai nàng vội đứng lên, cúi gầm mặt xuống, thần thái cực kỳ cung kính, lại vừa sợ hãi. A Bích luôn tay ra hiệu cho Đoàn Dự, bảo chàng cũng đứng lên. Đoàn Dự mỉm cười lắc đầu nói:
- Đợi khi nào chủ nhân ra khỏi khoang thuyền nói chuyện, lúc đó ta hãy đứng lên. Nam tử hán đại trượng phu không nên quá hạ mình như thế được.
Bỗng từ trong khoái thuyền có tiếng đàn bà quát lên:
- Sao có người đàn ông nào dám to gan đến Mạn Đà Sơn Trang đó? Có biết là nam tử không mời mà đến sẽ bị ta chặt hai chân hay không?
Giọng nói cực kỳ oai nghiêm, nhưng rất trong trẻo dễ nghe. Đoàn Dự cao giọng đáp:
- Tại hạ Đoàn Dự trên đường đi lánh nạn ngang qua quý trang chứ không cố ý mạo phạm, nay gặp đây xin tạ tội.
Người đàn bà kia nói:
- Ngươi họ Đoàn ư?
Trong âm thanh có chiều ngạc nhiên, Đoàn Dự đáp:
- Chính thị.
Người kia lại nói tiếp:
- Hừ, A Châu, A Bích có phải hai đứa bay đi quàng đi xiên hay chăng? Tên tiểu tử Mộ Dung Phục điều hay không học, chỉ lấp la lấp ló học chuyện tầm phào.
A Châu đáp:
- Bẩm thái thái, tiểu tì bị địch nhân đuổi gắt quá nên phải chạy tới Mạn Đà Sơn Trang. Công tử chúng tôi đã đi khỏi rồi, chuyện này không có liên quan gì đến công tử hết.
Người đàn bà trên thuyền cười khẩy:
- Hứ, các ngươi chỉ được cái giả lả là hay. Không có đi đâu hết, mau theo ta.
A Châu, A Bích cùng đáp:
- Dạ.
Hai nàng liền chèo chiếc thuyền con đi theo đằng sau, lúc này cách Mạn Đà Sơn Trang chưa xa mấy nên chỉ chốc lát đã nhìn thấy bờ. Chỉ nghe tiếng vòng chạm nhau leng keng, từ trong khoang thuyền đi ra vô số con gái mặc áo xanh ăn mặc theo lối tì nữ, tay đều cầm trường kiếm nên chỉ giây lát đã thấp thoáng lưỡi kiếm trắng xóa, tổng cộng chín đôi. Mười tám người xếp thành hai hàng, kiếm giữ ngang hông, lưỡi hếch lên trời. Sau khi họ đã an vị, từ trong khoang một người đàn bà bước ra.
Đoàn Dự vừa thấy mặt người đàn bà đó, nhịn không nổi kêu lên một tiếng thất thanh, mồm há hốc tưởng như đang nằm mộng. Thì ra người đàn bà đó mặc áo dài màu vàng nhạt, y phục trang sức giống hệt như pho tượng ngọc trong động núi Vô Lượng nước Đại Lý. Có điều đây là một giai nhân tuổi đã trung niên, khoảng chừng gần bốn mươi còn pho tượng ngọc trong hang thì là một thiếu nữ chừng mười tám mười chín tuổi.
Đoàn Dự sau cơn kinh hoàng nhìn kỹ lại tướng mạo người đàn bà kia mới nhận ra là so với pho tượng ngọc thì mắt mũi mồm cũng không bằng mà tuổi cũng có khác, trên khuôn mặt nhuốm vẻ dày dạn phong sương nhưng cũng còn giống đến năm sáu phần mười.
A Châu, A Bích thấy chàng trố mắt đứng đờ ra nhìn Vương phu nhân, thực là vô lễ, trong bụng kêu khổ liên hồi, vội vàng ra hiệu bảo chàng quay đi nơi khác nhưng đôi mắt Đoàn Dự vẫn dán chặt vào mặt bà ta.
Người đàn bà liếc mắt nhìn Đoàn Dự nói:
- Gã này thật là vô lễ, đã vậy chặt hai chân y trước, sau đó móc hai con mắt, cắt lưỡi coi ra thế nào.
Một con tì nữ khom lưng đáp lời:
- Dạ!
Đoàn Dự thót cả ruột, nghĩ thầm: “Giá như họ giết mình đi thì đã đành. Đằng này họ lại chặt chân, khoét mắt, cắt lưỡi khiến mình sống dở chết dở, tội gì đâu mà to thế?”. Đến lúc này, chàng mới thấy thực là sợ hãi, quay sang nhìn A Châu, A Bích thấy hai người mặt tái xanh, đứng chết sững.
Vương phu nhân lên bờ rồi, trên thuyền lại đi ra thêm hai thanh y tì nữ khác, kéo theo sau hai người đàn ông mặt mày ủ rũ tay bị xích sắt khóa chặt. Một người mặt mày thanh tú, trông ra dáng con nhà giàu có, còn một người Đoàn Dự nhận ra được là một đệ tử phái Vô Lượng, nhớ rõ hắn khi ở võ sảnh trong Kiếm Hồ Cung đã tự báo danh, nói là họ Đường. Đoàn Dự lạ quá: “Người này ở tận Đại Lý sao lại bị Vương phu nhân bắt đem tới Giang Nam?”.
Chỉ thấy Vương phu nhân nói với Đường Quang Hùng:
- Rõ ràng ngươi là người Đại Lý, sao lại còn chối là sao?
Gã họ Đường đáp:
- Tại hạ người đất Vân Nam, quê thuộc về Đại Tống, không thuộc về Đại Lý.
Vương phu nhân hỏi thêm:
- Thế quê ngươi cách Đại Lý bao xa?
Gã họ Đường đáp:
- Bốn trăm dặm.
Vương phu nhân nói:
- Chưa tới năm trăm dặm thì cũng coi như người Đại Lý rồi. Đem nó ra chôn sống dưới gốc hoa Mạn Đà làm phân bón.
Gã họ Đường hoảng hốt kêu lên:
- Thế tôi có tội tình gì, nói cho tôi nghe kẻo tôi có chết cũng không nhắm mắt.
Vương phu nhân cười khẩy:
- Chỉ cần là người Đại Lý hoặc người họ Đoàn vào tay ta là bị chôn sống. Ngươi đến Tô Châu làm gì? Đã dám đến Tô Châu lại dám mở mồm nói giọng Đại Lý, nơi quán rượu ba la bô lô là sao? Ngươi không phải người Đại Lý nhưng ở gần Đại Lý thì cũng không khác gì.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Ối trời, phải chăng mụ ta tính nói xỏ mình? Ta chẳng cần mụ phải hỏi, cứ thẳng thắn nhận đi cho xong”. Chàng bèn lớn tiếng nói:
- Ta là người nước Đại Lý, lại họ Đoàn đây, bà muốn chôn sống thì mau ra tay.
Vương phu nhân lạnh lùng đáp:
- Ngươi đã sớm báo danh rồi, tự xưng là tên Đoàn Dự. Hừ, người họ Đoàn nước Đại Lý thì đâu có chết dễ dàng như thế được.
Bà ta vẫy tay một cái, một đứa nữ tì liền lôi ngay gã họ Đường đi. Hắn không biết đã bị điểm huyệt, hay đã bị trọng thương nên không thấy kháng cự chút nào, chỉ kêu ầm lên:
- Trên đời này làm gì có cái quy củ gì như thế, nước Đại Lý hàng trăm vạn người, ngươi có giết hết được chăng?
Thế như y bị kéo vào trong rừng hoa mỗi lúc một xa, tiếng kêu càng lúc càng nhỏ dần. Vương phu nhân quay sang người đàn ông mặt mũi thanh tú kia hỏi:
- Còn ngươi thì sao?
Người đàn ông đột nhiên quỳ phục xuống, cầu xin:
- Gia phụ làm quan tại Biện Lương, cả nhà chỉ có một đứa con trai, cầu xin phu nhân tha mạng. Phu nhân sai bảo gì, gia phụ nhất định sẽ bằng lòng.
Vương phu nhân thản nhiên nói:
- Cha ngươi làm quan lớn trong triều, tưởng ta không biết hay sao? Tha mạng cho ngươi cũng chẳng khó gì, nội ngày hôm nay ngươi về nhà giết ngay con vợ se tơ kết tóc của ngươi đi, ngày mai lấy ngay cô gái họ Miêu ngươi đang giăng dện, cheo cưới cho đủ, có thế là xong. Vậy được không?
Gã công tử ấp úng:
- Cái việc... cái việc giết vợ tôi, thực không đành lòng. Còn như minh môi chính thú Miêu cô nương thì cha mẹ tôi chắc không chấp nhận. Chẳng phải là tôi...
Vương phu nhân nói:
- Đem y đi chôn sống!
Người tì nữ đang dắt y liền đáp:
- Dạ!
Rồi lôi y đi. Gã công tử sợ mất cả hồn vía, người run lẩy bẩy vội nói:
- Tôi... tôi bằng lòng!
Vương phu nhân nói:
- Tiểu Thúy, ngươi áp tống y trở lại thành Tô Châu, chính mắt thấy y giết vợ, bái đường thành thân với Miêu cô nương, sau đó hãy trở lại.
Tiểu Thúy đáp lời:
- Dạ!
Nàng ta lôi gã công tử kia lên bờ đi về phía bến đò xuống một con thuyền nhỏ. Gã kia vẫn còn rên rỉ:
- Xin phu nhân mở lòng. Vợ tôi với bà không thù không oán, bà cũng không biết Miêu cô nương là ai, sao lại bênh cô ấy, ép tôi giết vợ lấy người khác làm chi? Tôi... tôi xưa nay cũng chẳng biết bà, từ nay... từ nay cũng không dám đắc tội nữa.
Vương phu nhân nói:
- Ngươi đã có vợ rồi, sao lại còn lân la ngon ngọt tán tỉnh con gái nhà người ta. Đã chim chuột thì không thể không lấy, tuy ta không nghe không thấy nhưng chỉ cần ta biết được là ta bắt ngươi phải làm. Việc này cũng có phải lần đầu đâu, còn oán trách nỗi gì? Tiểu Thúy, y trăng hoa bao nhiêu vụ rồi?
Tiểu Thúy đáp:
- Tiểu tì ở Thường Thục, Côn Sơn, Vô Tích, Hồ Châu, Thường Châu các nơi, nghe cả thảy là bảy vụ, còn Tiểu Lan, Tiểu Thi hai đứa kia thì không biết thêm bao nhiêu.
Gã công tử kia nghe cô ta liệt kê ra như thế, chỉ biết kêu khổ thầm trong bụng. Tiểu Thúy đem gã công tử xuống thuyền nhỏ, quạt chiếc giầm, chèo chiếc thuyền đi.
Đoàn Dự thấy Vương phu nhân hành sự chẳng kể tình lý, ngang ngược quá đỗi không khỏi há hốc mồm, đứng chết trân, trong bụng chỉ nghĩ được bốn chữ: “Lẽ nào lại thế?”, vô hình chung buột miệng:
- Lẽ nào lại thế? Lẽ nào lại thế?
Vương phu nhân hừ một tiếng nói:
- Trên đời này có việc gì mà phải ra lẽ mới làm.
Đoàn Dự vừa thấy thất vọng, vừa khó xử, hôm trước trong thạch động núi Vô Lượng được thấy pho tượng thần tiên tỉ tỉ trong lòng bao nhiêu kính ngưỡng, con người trước mắt tuy hình dáng tương tự nhưng lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành vi lại chẳng khác gì yêu ma quỷ quái.
Chàng cúi đầu ngơ ngẩn, thấy bốn đứa nữ tì quay vào khoang thuyền bưng ra bốn chậu hoa. Đoàn Dự vừa nhìn thấy liền cảm thấy cao hứng ngay. Bốn chậu hoa đó đều là sơn trà, cũng là những danh chủng khó kiếm. Trong thiên hạ nói về sơn trà thì Đại Lý đứng đầu, mà trong phủ Trấn Nam Vương thì phải nói là số một trong cả nước. Đoàn Dự từ bé nhìn đã quen, mỗi khi nhàn rỗi vẫn thường ngồi cùng bọn trồng hoa bàn bạc phê bình, nên dở hay xấu tốt chàng thuộc nằm lòng, chẳng cần học cũng biết, khác gì con nhà nông biết về gạo tẻ, gạo nếp, con nhà thuyền chài biết về con cá, con tôm.
Chàng đi lang thang trong Mạn Đà Sơn Trang, chưa thấy gốc hoa nào được gọi là giai phẩm, không khỏi thấy bốn chữ Mạn Đà Sơn Trang danh quá kỳ thực, bây giờ nhìn thấy bốn chậu hoa này, ngầm tấm tắc: “Quả nhiên cũng có được ít nhiều”.
Lại nghe Vương phu nhân nói:
- Tiểu Trà, bốn chậu sơn trà Mãn Nguyệt này kiếm được không phải dễ, ngươi phải chăm chút cho kỹ nghe chưa?
Đứa tớ gái tên Tiểu Trà kia liền đáp lời:
- Dạ!
Đoàn Dự nghe bà ta nói trật lất liền bật ra một tiếng cười khẩy. Vương phu nhân lại tiếp:
- Trên hồ gió to, bốn chậu hoa này để luôn trong khoang mấy ngày, thiếu nắng, ngươi mau đem ra phơi, bón thêm phân cho nó.
Tiểu Trà lại đáp lời:
- Dạ!
Đoàn Dự không còn nhịn thêm được nữa, bật cười ha hả. Vương phu nhân nghe chàng cười có điều khác lạ, bèn hỏi:
- Nhà ngươi cười gì?
Đoàn Dự đáp:
- Ta cười bà không biết gì về sơn trà, vậy mà học đòi trồng hoa. Những loại giai phẩm như thế này vào tay bà thật có khác gì đem đàn chụm lửa, bắt hạc nấu canh, thật là uổng phí. Tiếc thay, tiếc thay! Minh châu ám đầu, thật là đau lòng.
Vương phu nhân giận dữ nói:
- Ta không biết sơn trà, dễ thường ngươi biết chắc?
Đột nhiên bà ta chợt nghĩ: “Xem nào, y là người họ Đoàn nước Đại Lý, không chừng biết về sơn trà thật”. Tuy nghĩ thế nhưng miệng vẫn khinh khỉnh nói:
- Bản trang đặt tên là Mạn Đà Sơn Trang, trong nhà ngoài ngõ chỗ nào cũng toàn là hoa Mạn Đà La, cây nào cây nấy xanh um, sao lại bảo là ta không biết trồng sơn trà?
Đoàn Dự mỉm cười:
- Gái nhà quê chỉ ăn khoai cũng béo tốt. Cái thứ hoa hạng bét kia vứt đâu mà chẳng mọc. Còn bốn bồn bạch trà này là bậc quốc sắc thiên hương, kẻ không sành mà trồng được thì mỗ đây không phải là họ Đoàn.
Vương phu nhân rất thích hoa trà, tốn không biết bao nhiêu tiền của đi các nơi lùng tìm giai phẩm, thế nhưng giống lạ đem về Mạn Đà Sơn Trang thì không loại sơn trà danh quý nào tốt tươi, chỉ được sáu tháng một năm là khô héo, chẳng đụng chạm gì cũng chết. Bà ta cũng vì thế mà buồn phiền, mặc dù đã tìm nhiều thợ trồng hoa nhưng không có kết quả. Hoa vườn Tô Châu đứng đầu thiên hạ, vốn thợ trồng hoa rất nhiều nhưng đều là do tổ tiên truyền lại, biết hết các loài hoa Giang Nam, còn sơn tà Vân Nam thì lại hoàn toàn không biết. Vương phu nhân nghe Đoàn Dự nói thế không giận mà lại vui, tiến tới hai bước hỏi thêm:
- Bốn chậu hoa trắng của ta có gì khác thường? Phải trồng thế nào mới đúng cách?
Đoàn Dự nói:
- Nếu như bà muốn học hỏi với tôi, thì phải có cái lễ phép của người muốn học. Còn như bức bách tra hỏi thì cứ việc chặt hai chân tôi trước rồi hỏi sau cũng không muộn. Lúc đó xem ta có nói hay không.
Vương phu nhân giận dữ nói:
- Chặt hai chân ngươi thì có gì là khó? Tiểu Thi, chặt chân trái y trước cho ta.
Đứa tì nữ tên Tiểu Thi liền đáp ứng, xách kiếm tiến lên. A Bích vội che cho Đoàn Dự, đánh bạo nói:
- Bẩm thái thái, xin hãy thư thả, gã này gan liền tướng quân, nếu như thương tổn đến y, y có chết cũng không nói đâu.
Vương phu nhân vốn cũng chỉ muốn dọa Đoàn Dự nên giơ tay lên, Tiểu Thi lập tức đứng lại. Đoàn Dự cười nói:
- Ngươi cứ chặt hai chân ta đem chôn dưới gốc mấy cây bạch trà này làm phân tốt lắm, hoa sẽ nở thật to, có khi to bằng cái tô không chừng, ha ha, đẹp lắm! Hay thật! Hay thật!
Vương phu nhân cũng vốn có ý đó, nay nghe chàng nói có vẻ như mỉa mai, không biết nói sao, bần thần một hồi mới nói:
- Ngươi nói lăng nhăng cái gì? Bốn bồn hoa trắng của ta có cái gì đặc biệt danh quý, nói ta nghe thử. Nếu như ngươi nói nghe được, ta lúc ấy dùng lễ đãi ngươi cũng chưa muộn mà.
Đoàn Dự đáp:
- Vương phu nhân, bà bảo bốn chậu hoa trà này tên là Mãn Nguyệt, ngay cái đó đã sai rồi. Đến như tên hoa bà còn chưa rành, làm sao dám gọi là người biết chơi hoa? Trong số này một chậu tên là Hồng Trang Tố Lý, một chậu tên là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm.
Vương phu nhân lạ lùng:
- Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm? Sao cái tên lại quái đản đến thế? Đó là cây nào?
Đoàn Dự nói:
- Bà muốn thỉnh giáo vãn sinh thì phải nói cho lễ phép.
Vương phu nhân bị chàng ép cho không biết phải làm sao nhưng nghe nói bốn chậu trà này mỗi cây có một cái tên đặc biệt nên rất sung sướng, mỉm cười:
- Được rồi! Tiểu Thi, ngươi mau bảo nhà bếp thiết yến nơi Vân Cẩm Lâu để ta thết đãi Đoàn công tử.
Tiểu Thi lập tức đáp lời ra đi. A Bích và A Châu người nọ nhìn người kia, thấy Đoàn Dự không những chết đi sống lại, Vương phu nhân lại còn tiếp đãi như hàng thượng khách, thật hoan hỉ không đâu cho hết. Đứa tì nữ áp giải tên đệ tử Vô Lượng Kiếm bây giờ đã quay lại bẩm báo:
- Gã họ Đường người Đại Lý kia đã đem chôn nơi gốc hoa màu đỏ nơi Hồng Hà Lâu rồi.
Đoàn Dự trong bụng xót xa, thấy Vương phu nhân dường như không coi vào đâu, chỉ gật gù nói:
- Xin mời Đoàn công tử.
Đoàn Dự đáp:
- Mạo muội đến đây làm phiền, mong hiền chủ nhân thứ lỗi cho đừng trách.
Vương phu nhân đáp:
- Có bậc đại hiền giáng lâm, Mạn Đà Sơn Trang đến cỏ cây cũng thêm phần rạng rỡ.
Hai người vừa khách sáo nói mấy câu vừa đi tới, có ai ngờ đâu chỉ giây phút trước tính mạng Đoàn Dự như chỉ mành treo chuông. Vương phu nhân đưa Đoàn Dự đi qua rừng hoa, qua một chiếc cầu đá, đi theo một con đường mòn đến trước một tòa tiểu lâu. Đoàn Dự nhìn thấy dưới mái hiên có một tấm biển viết ba chữ Vân Cẩm Lâu theo lối chữ triện màu xanh, dưới lầu trước sau trái phải chỗ nào cũng toàn hoa trà cả. Có điều những giống này ở Đại Lý chỉ vào hạng ba hạng tư, nếu so với tòa tiểu lâu tinh mỹ này có phần không xứng.
Vương phu nhân vẻ mặt đắc ý, nói:
- Đoàn công tử, nước Đại Lý của cậu hoa trà rất nhiều, nhưng nếu so sánh với của ta chắc không thể bì kịp.
Đoàn Dự gật đầu:
- Những hoa trà loại này dân Đại Lý chúng tôi chẳng ai trồng cả.
Vương phu nhân cười khanh khách:
- Thật ư?
Đoàn Dự nói:
- Những người dân quê mùa tầm thường ở Đại Lý cũng biết các loại hoa này phẩm chất kém cỏi, trồng chẳng cao sang gì.
Vương phu nhân mặt biến sắc, giận dữ nói:
- Ngươi nói sao? Ngươi bảo hoa trà ta trồng là loại tục phẩm ư? Nói như thế chẳng hóa, chẳng hóa.... khinh người quá lắm.
Đoàn Dự nói:
- Vãn sinh sao dám khinh thường phu nhân. Phu nhân tin hay không tin cũng tùy ở người.
Chàng vừa nói vừa chỉ một cây hoa trà ngũ sắc trước lầu:
- Giá thử như cây này, bà tưởng nó quý lắm ư. Hứ, đẹp thật, cái lan can này thật là đẹp, thật là đẹp.
Chàng tấm tắc khen cái lan can đẹp mà hoa thì chẳng nhắc đến một câu khác nào người xem chữ viết, không nhắc đến chữ mà chỉ khen lấy khen để mực đen và giấy tốt.
Cây hoa trà đó vừa trắng vừa đỏ, vừa tía vừa vàng, sắc hoa thật là rực rỡ, từ trước tới nay Vương phu nhân vẫn coi là trân phẩm. Nay thấy Đoàn Dự có vẻ xem thường nên lông mày bà nhướng lên, mắt lộ sát ý. Đoàn Dự nói:
- Xin hỏi phu nhân, giống hoa này ở Giang Nam gọi tên là gì?
Vương phu nhân hậm hực đáp:
- Chúng tôi chẳng gọi tên gì đặc biệt, chỉ gọi là hoa trà Ngũ Sắc.
Đoàn Dự mỉm cười:
- Đại Lý chúng tôi có đặt cho nó một cái tên, gọi là Lạc Đệ Tú Tài.
Vương phu nhân hừ một tiếng:
- Cái tên sao khó nghe làm vậy, chắc ngươi tiện mồm đặt ra chứ gì. Cây hoa đẹp đẽ như thế, sao lại giống gã thư sinh thi hỏng?
- Phu nhân thử nhìn lại xem, cây hoa này cả thảy tất cả mấy màu.
Vương phu nhân nói:
- Ta đã đếm qua, cũng phải có đến mười lăm, mười sáu màu khác nhau.
Đoàn Dự nói:
- Cả thảy đúng ra là mười bảy màu. Đại Lý có một loại hoa quý giá nổi tiếng tên gọi Thập Bát Học Sĩ. Đó là thiên hạ cực phẩm, trên cây có đủ mười tám đóa hoa, mỗi đóa một màu khác nhau, hồng thì toàn hồng, tía thì toàn tía, không một mảy lẫn lộn. Nhưng cả mười tám đóa hoa mỗi đóa hình trạng khác nhau, mỗi đóa một vẻ, nở thì cùng nở, tàn thì cùng tàn, phu nhân đã thấy bao giờ chưa?
Vương phu nhân nghe qua thẫn thờ, lắc đầu:
- Trên đời này lại có loại hoa như thế sao? Đến nghe nói tới ta cũng chưa nghe bao giờ.
Đoàn Dự nói:
- So với Thập Bát Học Sĩ kém một mức là Thập Tam Thái Bảo là mười ba đóa hoa khác nhau trên cùng một cây. Rồi đến Bát Tiên Quá Hải là tám đóa khác nhau một cây. Thất Tiên Nữ là bảy đóa. Phong Trần Tam Hiệp là ba đóa. Nhị Kiều là một trắng một đỏ hai đóa. Nói đến hoa trà là phải thuần sắc, nếu như trong đỏ có lẫn trắng, trong trắng lẫn tía thì là hạ phẩm rồi.
Vương phu nhân bỗng nhiên đờ đẫn, nhìn về xa xăm, nói một mình:
- Sao y không nói cho ta biết nhỉ? À, mỗi lần y thấy hoa trà, liền than thở, chắc là lại nhớ đến vợ y ở nhà.
Đoàn Dự nói tiếp:
- Trong Bát Tiên Quá Hải có cả hoa màu tía sậm và màu hồng nhạt, đó là Lý Thiết Quài và Hà Tiên Cô, nếu thiếu hai màu đó, dù là tám màu khác nhau cũng không được gọi là Bát Tiên Quá Hải mà gọi là Bát Bảo Trang, tuy cũng là danh chủng nhưng so với Bát Tiên Quá Hải còn thua một bậc.
Vương phu nhân nói:
- Thì ra là thế.
Đoàn Dự lại tiếp:
- Trở lại Phong Trần Tam Hiệp cũng có chính phẩm và phó phẩm. Nếu là chính phẩm, trong ba đóa thì đóa màu tía phải to nhất, đó là Cầu Nhiêm Khách, đóa màu trắng nhỏ hơn, đó là Lý Tịnh, đóa màu hồng nhỏ nhất nhưng cũng kiều diễm nhất đó là Hồng Phất Nữ. Nếu như hoa màu hồng lại to hơn hoa màu tía, hoa màu trắng thì là phó phẩm, hai đằng một trời một vực.
Người ta đã bảo quen thuộc như đồ trong nhà mình. Trong nhà Đoàn Dự có tất cả những loại này nên chàng nói ra vanh vách đâu ra đấy. Vương phu nhân nghe thật thích thú thở dài:
- Đến phó phẩm ta cũng chưa được nhìn qua nói gì chính phẩm!
Đoàn Dự chỉ vào cây hoa trà ngũ sắc nói:
- Còn loại hoa trà này, nếu luận về sắc so với Thập Bát Học Sĩ còn kém một, lại không thuần, nở thì khi sớm khi muộn, hoa thì đóa nhỏ đóa to. Chẳng khác gì Đông Thi giả nhăn mặt, học đòi làm Thập Bát Học Sĩ thì không xong, có khác gì rượu xoàng uống chua như giấm. Vì thế chúng tôi đặt cho cái tên Lạc Đệ Tú Tài.
Vương phu nhân không nhịn được bật cười nói:
- Cái tên ấy sao vừa chanh chua, vừa khắc bạc, hẳn là do đám nho sinh đặt ra.
Đến lúc này, Vương phu nhân đã mười phần tin tưởng vào sự thành thục về các loại trà hoa của Đoàn Dự bèn dẫn chàng lên trên Vân Cẩm Lâu. Đoàn Dự thấy trên lầu trần thiết sang trọng đẹp đẽ, giữa là một bức trung đường vẽ cảnh khổng tước khai bình, hai bên là hai câu đối trên viết:
Lá rậm xem chừng mây khó kịp
Hoa tươi quả thực tuyết ghen thầm
(Tất diệp vân sai mật
Trà hoa tuyết đố nghiên)
Ngay bên cạnh là một tấm biển gỗ sơn màu xanh lục, ghi bảy chữ: “Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ”. Chẳng bao lâu tiệc rượu bắt đầu, Vương phu nhân mời Đoàn Dự ngồi bên trên, còn mình ngồi bên dưới để bồi tiếp. Những món ăn trong tiệc hôm nay thật khác xa bữa tiệc A Châu, A Bích khoản đãi. Những món ăn hai cô a hoàn thanh nhã làm chính trong những món thật tầm thường có ẩn những nét tinh xảo công phu. Bữa tiệc ở Vân Cẩm Lâu hôm nay thì lại chủ về hào hoa trân quý, nào là bàn tay gấu, vây cá đều toàn những món cực kỳ sang trọng. Thế nhưng Đoàn Dự sinh trưởng nơi chốn đế vương, những món quý báu đến mấy cũng đã nếm qua nên lại thấy bữa tiệc ở Mạn Đà Sơn Trang so ra kém xa ở nơi Cầm Vận Tiểu Trúc.
Rượu được ba tuần, Vương phu nhân hỏi:
- Họ Đoàn Đại Lý là thế gia trong võ lâm, cớ sao công tử không tập võ?
Đoàn Dự đáp:
- Người họ Đoàn ở Đại Lý đông lắm, con cháu hoàng tộc tông thất thì đều có tập, còn như vãn sinh là dân dã tầm thường thì làm gì biết võ công.
Chàng nghĩ mình sống chết ở trong tay người, bệ rạc như thế, thật chẳng nên thổ lộ chân tướng gia thế làm gì để khỏi làm giảm uy danh của bá phụ và gia gia. Vương phu nhân hỏi tiếp:
- Công tử con nhà bách tính tầm thường hay sao?
Đoàn Dự đáp:
- Vâng!
Vương phu nhân hỏi tiếp:
- Thế công tử có biết được người nào họ Đoàn trong hoàng thất hay không?
Đoàn Dự một mực chối phăng:
- Tuyệt nhiên không biết.
Vương phu nhân đờ đẫn hồi lâu rồi xoay qua đề tài khác, nói:
- Mới đây được công tử đàm luận về các phẩm chủng hoa trà, khiến cho ta như được vén đám mây mù, nhìn thấy trời cao. Bốn chậu bạch trà lần này kiếm được, kẻ trồng hoa trong thành Tô Châu bảo là Mãn Nguyệt, công tử lại bảo một chậu là Hồng Trang Tố Lý, còn một chậu là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm, làm thế nào phân biệt, xin nói cho rõ, được chăng?
Đoàn Dự đáp:
- Cây hoa trắng lớn nhưng lấm tấm có chấm đen kia thì gọi là Mãn Nguyệt. Những vệt đen đó là cành quế nơi cung trăng. Cây hoa cánh trắng có hai đốm hình quả trám màu đen kia tên gọi là Nhãn Nhi Mị.
Vương phu nhân mừng quá nói:
- Cái tên đó nghe thật hay.
Đoàn Dự nói tiếp:
- Cánh hoa trắng nhưng có lẩn sắc đỏ tên gọi là Hồng Trang Tố Lý. Còn cánh trắng nhưng có quầng mầu xanh, thêm vạch mờ mờ màu đỏ thì gọi là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm. Thế nhưng nếu những vạch đỏ đó có nhiều thì lại không còn là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm nữa mà là Ỷ Lan Kiều. Phu nhân thử nghĩ xem, đã là mỹ nhân thì phải ôn tĩnh nhàn nhã, trên mặt thỉnh thoảng bị sước một đường hẳn là khi chải đầu soi gương vô tình cào phải mặt, hoặc giả không phải do mình thì cũng chỉ chơi đùa với con anh vũ, bị chim quẹt trúng âu cũng là chuyện thường. Thành thử vết chàm trên cánh hoa kia không thể không có, đó là lông chim vương phải. Còn như nếu đầy mặt chỗ nào cũng tươm máu thì nàng con gái đẹp kia hẳn đã đánh nhau với ai...
Nói tới đây, bỗng dưng chàng nhớ tới Mộc Uyển Thanh, nói tiếp:
- Mặc dù vẫn xinh đẹp đáng yêu, làm cho người ta phải đau, cũng không khỏi có chút thô bạo.
Vương phu nhân từ trước đến sau nghe chàng nói luôn luôn gật đầu, thật là vui sướng, đột nhiên mặt sầm xuống, quát lên:
- Lớn mật nhỉ, ngươi định nhạo báng ta đấy chăng?
Đoàn Dự hết sức kinh hãi, vội nói:
- Không dám! Không biết chỗ nào tiểu sinh đã mạo phạm đến phu nhân?
Vương phu nhân hầm hầm nói:
- Ngươi nghe đứa nào xúi bẩy mà đến gặp ta ăn nói những lời nhăng cuội như thế? Ai bảo đàn bà con gái học võ công thì không còn đẹp nữa? Nhàn nhã ôn tĩnh thì có gì là hay?
Đoàn Dự chưng hửng vội nói:
- Lời của vãn sinh chỉ là suy đoán cái lý thông thường, trong những người đàn bà học võ thiếu gì người vừa xinh đẹp lại vừa biết lí lẽ?
Ngờ đâu câu đó nói ra Vương phu nhân lại tưởng Đoàn Dự muốn nói kháy mình, bà ta liền gằn giọng:
- Thế ngươi bảo ta không biết lí lẽ hay sao?
Đoàn Dự đáp:
- Biết hay không biết lí lẽ, phu nhân tự biết rồi, vãn sinh nào có dám vọng ngôn. Có điều ép người ta giết vợ cả, lấy vợ lẽ, thái độ như thế thì không phải là người ngay chính.
Chàng nói những câu đó, trong bụng đã bực lắm rồi nên không còn nể nang gì nữa. Vương phu nhân giơ tay vẫy một cái, bốn con tì nữ hầu hạ bên cạnh lập tức tiến lên khom lưng nói:
- Dạ!
Vương phu nhân nói:
- Giải tên này xuống, bắt y đi tưới hoa.
Bốn đứa tớ gái cùng đáp ứng:
- Dạ!
Vương phu nhân nói:
- Đoàn Dự, ngươi là người Đại Lý, lại họ Đoàn đáng chết lắm rồi. Bây giờ cái tội chết ta tạm để đó, cho ngươi săn sóc cho hoa trà trong trang, nhất là bốn chậu bạch trà ta mới có hôm nay càng phải chăm chút cho kỹ. Ta bảo cho ngươi hay, bốn chậu đó chết một cây ta chặt một cánh tay, chết hai cây, ta chặt hai cánh tay, chết cả bốn cây thì tay chân ngươi cụt hết.
Đoàn Dự hỏi lại:
- Thế cả bốn cây đều sống thì sao?
Vương phu nhân đáp:
- Bốn cây đó sống thì ta đưa ngươi đi chăm sóc các loại danh chủng khác. Những loại như Thập Bát Học Sĩ, Thập Tam Thái Bảo, Bát Tiên Quá Hải, Thất Tiên Nữ, Phong Trần Tam Hiệp, Nhị Kiều mỗi loại trồng cho ta vài cây. Làm không xong thì ta móc mắt ngươi ra.
Đoàn Dự lớn tiếng cãi:
- Những danh chủng đó, ngay ở Đại Lý đã khó kiếm rồi, ở Giang Nam dễ gì có được? Nếu mỗi loại trồng vài ba cây thì còn gì là danh quý? “Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan, thường đắc quân vương đới tiếu khán”. Danh hoa đều có vẻ nghiêng nước, đều là trăm năm khó gặp, thế thì hoa mới quý! Thôi bà sớm giết tôi là đúng lắm. Hôm nay chặt đầu, ngày mai móc mắt, thế nào một ngày bà may mắn được một loại danh trà, chỉ nuôi được muồi bữa nửa tháng, không đợi cho hoa nở đã khô héo, đi đời nhà ma.
Vương phu nhân nạt liền:
- Bộ ngươi không muốn sống nữa hay sao? Trước mặt ta ai cho ngươi muốn nói gì thì nói? Đem nó xuống.
Bốn con tì nữ liền xông tới, hai đứa nắm hai tay, một đứa kéo đằng trước, một đứa đẩy đằng sau, năm người giằng co xuống lầu. Bốn đứa tớ gái đó đều biết võ công, Đoàn Dự bị chúng hiếp chế không thể nào kháng cự được, Lăng Ba Vi Bộ tự nhiên nửa bước cũng không thi triển được, trong bụng chỉ biết kêu thầm: “Ngược ngạo thật! Ngược ngạo thật!”
Bốn đứa tì nữ vừa kéo vừa đẩy đưa chàng đến một vườn hoa, một đứa cầm một chiếc xẻng dúi vào tay Đoàn Dự, một đứa đưa cho một chiếc thùng tưới nói:
- Ngươi hãy nghe lời phu nhân sai bảo, ngoan ngoãn chăm lo trồng hoa thì mới toàn mạng. Bằng như ngang bướng cãi lại lệnh phu nhân, bọn ta lập tức đem đi chôn sống, xem ngươi làm được trò gì?
Lại một đứa tì nữ nói:
- Ngoài việc trồng hoa tưới hoa ra, không được đi lung tung trong trang viện, phòng để sách càng không thể bước vào, nếu không thì đó là tự mình tìm cái chết đó, chẳng ai cứu được đâu.
Bốn đứa tớ gái dặn dò kỹ lưỡng một hồi rồi mới đi. Đoàn Dự đứng bần thần, thật là dở khóc dở cười. Ở Đại Lý, thân phận chàng chỉ đứng sau bá phụ Bảo Định Đế và phụ thân Trấn Nam Vương hoàng thái đệ, trong tương lai cha lên ngôi báu, chàng sẽ thành hoàng thái tử, ai ngờ bị người ta bắt đến Giang Nam, muốn đốt muốn giết, muốn chặt chân chặt tay, khoét mắt gì cũng được, bây giờ lại bị ép làm một gã làm vườn trồng hoa. Tuy nhiên tính tình chàng vốn hiền hòa, đối xử với mọi người đều ngang hàng, ở Đại Lý nơi hoàng cung, vương phủ vẫn thường hay ra xem các phu trồng hoa cắt lá tỉa cành, cuốc đất bón phân, truyện trò với họ mặc dầu trong bụng một kẻ con vua cháu chúa, vẫn chỉ coi họ như kẻ ăn người ở, vị trí thấp kém.
Cũng may trời sinh chàng sảng khoái vui vẻ, gặp phải nghịch cảnh trớ trêu, cũng chỉ buồn bã một chốc, chẳng bao lâu lại cao hứng như thường, trong bụng nhủ thầm: “Ta nơi ngọc động núi Vô Lượng đã từng bái thần tiên tỉ tỉ làm thầy. Vị Vương phu nhân này với thần tiên tỉ tỉ tướng mạo y hệt nhau, chỉ lớn tuổi hơn thôi, ta coi bà ấy cũng như sư bá thì có gì mà không được? Sư trưởng ra lệnh, đệ tử tuân hành ra sức mà làm thì cũng hợp đạo lý. Huống chi chăm bón hoa cỏ vốn là cái thú của kẻ văn nhân, so với bọn học võ múa đao động kiếm cao nhã hơn nhiều. Còn như so sánh với việc bị Cưu Ma Trí đem đến trước mồ Mộ Dung tiên sinh thiêu sống thì thế này sướng gấp nghìn gấp vạn. Đáng tiếc là những cây hoa trà này phẩm chủng quá xoàng, để cho vương tử nước Đại Lý tự tay săn sóc không khỏi đại tài tiểu dụng, giết gà dùng dao mổ trâu. Ha ha! Ngươi là dao mổ trâu ư? Ngươi có đại tài trồng hoa ư?”.
Chàng nghĩ tiếp: “Mình ở lại Mạn Đà Sơn Trang thêm một thời gian, biết đâu chẳng có cơ duyên gặp lại thiếu nữ mặc áo màu cánh sen kia một lần, cái đó gọi là:
Vương tử trồng hoa ai bảo họa,
Biết đâu có phúc gặp giai nhân”.
Nghĩ đến họa phúc, chàng bèn nhổ một nắm cỏ trong bụng khấn thầm: “Để xem Đoàn Dự ta chừng nào mới gặp được vị cô nương kia”. Chàng cầm nắm cỏ tay phải trao qua tay trái, tay trái trao qua tay phải để bói, được quẻ Cấn thượng Cấn hạ tức là quẻ thuần Cấn nghĩ thầm: “Cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân, chung quy vô cữu”. Quẻ này thật linh quá, tuy không thấy đó nhưng cũng không có tội lỗi gì”.
Chàng lại bói thêm một quẻ nữa, được quẻ Đoài trên Khảm dưới, tức là quẻ Khốn, trong bụng kêu thầm: “Khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất địch”. Ba năm mà không gặp được ai thì đúng là khốn nạn rồi.” Chàng chợt nghĩ lại: “Ba năm không gặp thì năm thứ tư ắt sẽ gặp. Ngày rộng tháng dài thì có gì gọi là khốn đâu?”.
Chàng xủ quẻ thấy không hay nên không dám bói thêm quẻ khác, miệng ư ử hát, vác xẻng lên đi lang thang nghĩ thầm: “Vương phu nhân bảo ta trồng sao cho sống được bốn chậu hoa trắng. Bốn chậu này quả là danh chủng, phải tìm cho ra chỗ nào cực kỳ u nhã mà trồng, nếu không thì hỏng bét”. Chàng vừa đi vừa nhìn quanh quất chung quanh để tìm nơi thích hợp, đột nhiên bật lên cười sằng sặc, nghĩ thầm: “Vương phu nhân chẳng biết gì về hoa trà, vậy mà trồng khắp nơi, lại dám đặt tên trang viện này là Mạn Đà Sơn Trang. Có biết đâu hoa trà thích bóng râm mà kỵ ánh nắng, trồng nơi dương quang nếu không chết thì cũng đâu có ra hoa, lại thêm bón phân rõ nhiều, thành ra bao nhiêu danh chủng đều chết sạch, tiếc quá, tiếc quá! Nực cười thay, nực cười thay!”.
Chàng tránh nơi có ánh mặt trời, đi sâu vào trong những nơi bóng cây, vòng qua một ngọn núi nhỏ, nghe thấy tiếng nước chảy róc rách, bên trái là một hàng trúc xanh rì, bốn bề thật là u tĩnh. Nơi đây là bóng núi, ánh mặt trời không rọi đến, chỉ cần có ánh mặt trời chiếu đến, cũng đều bị hàng liễu che đi. Vương phu nhân cho rằng không nên trồng hoa thành thử không thấy một bụi hoa trà nào. Đoàn Dự mừng lắm nói:
- Chỗ này thật không còn gì hơn.
Chàng quay lại chỗ cũ, khuân bốn chậu hoa trà đến nơi hàng trúc, xem xét địa hình, lấy cuốc đào hố, đập vỡ bồn, để cả đất đem trồng xuống đất. Tuy chàng chưa từng làm vườn bao giờ nhưng xem đã nhiều, thành thử cứ người ta làm sao mình làm vậy.
Chưa tới nửa giờ, chàng đã trồng xong bốn cây bạch trà cạnh nơi bụi trúc, bên trái là Trảo Phá Mỹ Nhân Kiểm, bên phải là Hồng Trang Tố Lý và Mãn Nguyệt, còn Nhãn Nhi Mị chàng trồng sau một tảng đá bên cạnh dòng suối, tự nói một mình:
- Cái này quả là:
Gọi hoài mới thấy nàng ra,
Đàn che nửa mặt xót xa giọt sầu.
Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai,
Do bão tì bà bán già diện.
Phải chỗ lấp ló thế này thì mới đúng điệu.
Người Trung Hoa vẫn thường ví hoa với mỹ nhân, phép trồng hoa cũng chẳng khác gì săn sóc người đẹp. Đoàn Dự con cháu hoàng gia đọc thi thư từ nhỏ nên công phu của chàng hơn hẳn mọi người.
Chàng vọc tay xuống suối rửa sạch hai tay, gác chân ngồi trên tảng đá, ngắm nghía bụi hoa Nhãn Nhi Mị, nhìn thẳng, nhìn nghiêng nghĩ thầm: “Nét mặt, ánh mắt Uyển muội cũng như vậy, thật là quyến rũ. Ồ, kì lạ, nàng gọi ta là Đoàn lang, đối xử với ta lại rất nhu mì, quyết không có nửa phần ngang ngược”, lại nghĩ: “Trong mắt A Bích không có nửa phần nịnh hót, lại là thùy mị tự nhiên, nàng không phải Nhãn Nhi Mị mà là loại Xuân Thủy Lục Ba”. Đang lúc cao hứng, bỗng nghe tiếng chân loạt soạt, có hai thiếu nữ đi tới. Một cô nói:
- Chỗ này thật vắng vẻ, không ai lui tới...
Giọng nói đó vào tai, Đoàn Dự tim nhảy thót lên một cái, rõ ràng là giọng của cô gái mặc áo lụa màu cánh sen chàng gặp lúc ban ngày. Chàng vội nín thở không dám để phát ra chút âm thanh nào, nghĩ thầm: “Nàng ta bảo không muốn gặp những người đàn ông không liên can gì đến nàng, Đoàn Dự ta tất nhiên là không liên quan gì tới nàng, nhất quyết đừng để nàng hay biết ta ở đây”.
Đầu chàng vốn dĩ nghiêng nghiêng ngó ra, lúc này không dám quay lại, dường như sợ mình chuyển động thì cổ sẽ có thể phát xuất âm thanh kinh động đến mỹ nhân.
Lại nghe thiếu nữ nói tiếp:
- Tiểu Mính, ngươi nghe thấy chuyện gì... chuyện gì liên quan đến chàng thế?
Đoàn Dự nghe vậy trong lòng chua xót, cô gái nói đến “chàng” nhất định không phải là nói về mình, mà là nói về Mộ Dung công tử. Nghe lời Vương phu nhân nói, gã Mộ Dung công tử kia có đơn danh là Phục. Giọng thiếu nữ vặn hỏi nghe thật quan tâm đầy vẻ tha thiết, Đoàn Dự không khỏi không cảm phục lại cũng đau lòng. Chỉ thấy Tiểu Mính ấp úng một hồi, xem chừng như không tiện nói ra.
Thiếu nữ tiếp:
- Ngươi cứ nói cho ta nghe! Ta không quên lòng tốt của ngươi đâu.
Tiểu Mính đáp:
- Tiểu tì sợ... sợ phu nhân trách phạt.
Cô gái nói:
- Ngươi đúng là một con bé ngốc nghếch, ngươi nói với ta ta có nói lại với phu nhân đâu mà lo?
Tiểu Mính nói:
- Nếu như phu nhân hỏi tiểu thư thì sao?
Thiếu nữ đáp:
- Dĩ nhiên là ta sẽ không nói.
Tiểu Mính lại ngập ngừng một hồi mới nói:
- Biểu thiếu gia đi lên chùa Thiếu Lâm.
Cô gái ngạc nhiên:
- Lên chùa Thiếu Lâm ư? Thế sao A Châu, A Bích hai đứa kia lại bảo là chàng đi Lạc Dương để gặp bọn Cái Bang?
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Sao lại biểu thiếu gia nhỉ? Ồ, thì ra Mộ Dung công tử là anh con cô con cậu của nàng ta, hai người trong nhà thân thiết, thanh mai trúc mã, thành thử... thành thử...”.
Tiểu Mính nói:
- Phu nhân kỳ này ra ngoài, trên đường gặp Công Dã nhị gia, hỏi ra mới biết các đầu não Cái Bang đều đến Hà Nam cả, định gặp biểu thiếu gia để đại hưng vấn cái gì chi sư đó. Công Dã nhị gia lại nói là nhận được thư của biểu thiếu gia, khi đến Lạc Dương kiếm không ra tên thủ lãnh ăn mày nào, nên đã lên Tung Sơn Thiếu Lâm Tự rồi.
Thiếu nữ nói:
- Chàng lên chùa Thiếu Lâm để làm chi?
Tiểu Mính đáp:
- Công Dã nhị gia nói là trong thư biểu thiếu gia có viết khi ở Lạc Dương nghe tin một lão hòa thượng chùa Thiếu Lâm chết ở Đại Lý, họ lại đổ oan cho Cô Tô Mộ Dung giết. Biểu thiếu gia cho tới bây giờ chưa đi đến Đại Lý, nghe được giận lắm, chùa Thiếu Lâm lại không xa Lạc Dương bao nhiêu nên tiện đường đi lên trình bày với các hòa thượng trong chùa cho tỏ tường mọi việc.
Cô gái lại nói:
- Nếu như nói không tỏ tường thì không lẽ động thủ hay sao? Phu nhân nghe được tin đó cớ sao lại quay về, không đi lên giúp biểu thiếu gia một tay?
Tiểu Mính nói:
- Cái đó... cái đó tì tử không biết. Có lẽ là phu nhân không ưa biểu thiếu gia chăng?
Thiếu nữ hậm hực nói:
- Hừ, dẫu có không ưa nhưng cũng là người nhà. Cô Tô Mộ Dung ở bên ngoài bị người ta làm cho mất mặt, chẳng lẽ nhà họ Vương này lại vẻ vang lắm hay sao?
Tiểu Mính không dám tiếp lời. Thiếu nữ đi qua đi lại trước bụi trúc, bỗng thấy ba khóm bạch trà Đoàn Dự mới trồng, gần bên là những mảnh chậu vỡ, thất thanh kêu lên một tiếng hỏi:
- Ai tại nơi đây trồng hoa trà đó?
Đoàn Dự không còn cách nào tránh mặt, từ sau tảng đá bước ra vái một cái thật sâu nói:
- Tiểu sinh phụng mệnh phu nhân tại nơi đây trồng hoa trà không ngờ lại chạm mặt tiểu thư.
Chàng tuy vái dài nhưng mắt vẫn nhìn lên, sợ rằng tiểu thư sẽ buông một câu: “Ta không thích gặp đàn ông lạ” rồi quay mình đi mất, lỡ mất cơ hội thấy mặt cô ta.
Chàng vừa nhìn mặt cô gái, tai bỗng ù đi, mắt hoa lên, hai chân mềm nhũn, không tự chủ nổi khuỵu ngay xuống, nếu không cố gượng e đã rập đầu rồi, nhưng miệng vẫn buột ra:
- Thần tiên tỉ tỉ! Ta... ta nhớ tỉ tỉ kể đâu cho xiết! Đệ tử Đoàn Dự bái kiến sư phụ.
Tướng mạo cô gái trước mặt giống hệt như pho tượng ngọc nơi động núi Vô Lượng không khác chút nào. Vương phu nhân trông đã giống pho tượng nhưng tuổi tác có khác lại cũng không đẹp bằng, còn thiếu nữ này ngoài quần áo phục sức ra, khuôn mặt, đôi mắt, chiếc mũi, đôi môi, trái tai, màu da, thân thể, chân tay không chỗ nào không giống, tưởng như ngọc tượng sống lại không bằng. Chàng trong những khi mơ mộng nghĩ đến pho tượng không biết bao nhiêu nghìn vạn lần, bây giờ thấy ngay trước mắt, không còn biết mình đang ở đâu, ở nhân gian hay đang ở trên trời?
Còn cô gái thì lại tưởng chàng bị điên, kêu lên một tiếng, lùi lại hai bước, sợ hãi nói:
- Ngươi... ngươi...
Đoàn Dự đứng thẳng lên, mắt nhìn trừng trừng vào cô gái, lúc này nhìn càng rõ hơn, bấy giờ mới biết, thiếu nữ so với pho tượng ngọc cũng có đôi phần khác biệt: pho tượng diễm lệ linh động trong thần tình có vẻ như thu hồn nhiếp phách người ta, còn cô gái trước mặt đây có vẻ đoan trang xen lẫn nét thơ ngây, ngoài hình dáng ra, pho tượng so với thiếu nữ này cũng linh hoạt hơn. Chàng bèn nói:
- Từ ngày được bái kiến tiên phạm thần tiên tỉ tỉ trong thạch động, tiểu sinh mừng thầm phúc lộc của mình không ít, ngờ đâu hôm nay lại còn được tận mắt chiêm ngưỡng dung nhan. Thế gian quả có tiên thật, không phải là chuyện hoang đường.
Thiếu nữ quay sang nói với Tiểu Mính:
- Y nói gì vậy? Y... là ai?
Tiểu Mính đáp:
- Y là gã đồ gàn A Châu, A Bích đưa tới. Y nói y biết trồng hoa trà, phu nhân cũng tin y nói nhăng nói cuội.
Cô gái hỏi Đoàn Dự:
- Anh đồ gàn, hồi nãy bọn ta nói chuyện với nhau, ngươi có nghe thấy không?
Đoàn Dự cười đáp:
- Tiểu sinh họ Đoàn, tên Dự, người Đại Lý, đâu có phải là anh đồ gàn. Thần tiên tỉ tỉ và Tiểu Mính tỉ tỉ đây nói chuyện, tôi vô ý nghe thấy cả. Thế nhưng hai vị cứ yên tâm, tiểu sinh nhất định không tiết lộ một câu nửa chữ, bảo đảm Tiểu Mính tỉ tỉ sẽ không bị phu nhân trách phạt.
Thiếu nữ mặt hơi sầm xuống nói:
- Ai cho ngươi tỉ tỉ muội muội gọi càn? Nếu ngươi không nhận mình là anh đồ gàn thì ngươi đã gặp ta bao giờ?
Đoàn Dự hỏi lại:
- Nếu như tiểu sinh không gọi là thần tiên tỉ tỉ thì gọi là gì bây giờ?
Thiếu nữ đáp:
- Ta họ Vương, ngươi gọi ta là Vương cô nương được rồi.
Đoàn Dự lắc đầu:
- Không được! Không được! Trên đời này con gái họ Vương có hàng nghìn hàng vạn, người đẹp như tiên thế kia không lẽ chỉ gọi suông ba chữ Vương cô nương? Thế thì phải gọi cô là gì nhỉ? Thật khó quá. Gọi cô là Vương tiên tử chăng? Xem ra có vẻ quê mùa quá. Hay là Mạn Đà công chúa? Đại Tống, Đại Lý, Liêu Quốc, Thổ Phồn, Tây Hạ nước nào chẳng có công chúa? Làm sao có người nào sánh được với cô đâu?
Thiếu nữ kia nghe chàng nói lảm nhảm, càng nghe càng thấy quả thực gàn dở, nhưng có điều nghe người ta hồn vía điên đảo ca tụng sắc đẹp mình, nên ít nhiều cũng cảm thấy sung sướng, mỉm cười nói:
- Cũng may cho ngươi, không bị mẹ ta chặt hai chân.
Đoàn Dự đáp:
- Lệnh đường phu nhân dung mạo cũng không khác gì thần tiên tỉ tỉ, có điều tính tình khác thường, hơi một tí là giết người, xem ra không xứng với dáng dấp thần tiên...
Cô gái hơi nhướng mày nói:
- Thôi ngươi đi trồng hoa đi, đừng ở đây lải nhải nữa, bọn ta cũng có chuyện cần phải bàn.
Lối nói của nàng quả xem chàng như mọi người phu trồng hoa tầm thường khác. Đoàn Dự vẫn chẳng chịu thôi, chỉ muốn được nói chuyện với nàng thêm vài câu, được nhìn nàng thêm một vài lần nghĩ bụng: “Muốn cho nàng bằng lòng nói chuyện với ta thì chỉ có cách nói về Mộ Dung công tử, ngoài cách đó ra, chẳng có chuyện gì khiến nàng phải quan tâm”. Chàng bèn nói:
- Chùa Thiếu Lâm là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ lâm, trong chùa cao tăng hảo thủ không một nghìn thì cũng tám trăm, phần lớn đều tinh thông bảy mươi hai môn tuyệt kỹ. Lần này Huyền Bi đại sư của phái Thiếu Lâm bị người ta hạ độc thủ giết chết ở chùa Thân Giới, châu Lục Lương, nước Đại Lý, các hòa thượng cho rằng do tay Cô Tô Mộ Dung. Mộ Dung công tử một thân một mình mạo hiểm thật là bất ổn.
Cô gái quả nhiên giật mình, Đoàn Dự không dám nhìn thẳng vào mặt nàng, nghĩ thầm: “Nàng lo lắng cho gã tiểu tử Mộ Dung Phục kia như thế, nếu như nhìn vào mặt nàng, không chừng ta ghen tức đến chảy nước mắt mất”. Chàng thấy tà áo màu cánh sen của nàng hơi rung rung, rồi tiếng nói thánh thót như tiếng tiêu của nàng hỏi:
- Tại sao các hòa thượng chùa Thiếu Lâm lại đổ oan cho Cô Tô Mộ Dung? Ngươi có biết không? Ngươi... ngươi cho ta biết.
Đoàn Dự nghe lời nàng thiết tha năn nỉ, cũng thấy mềm lòng, đang định cho nàng hay những gì mình biết nhưng chợt nghĩ lại: “Những gì mình biết chẳng là bao nhiêu, chỉ biết Huyền Bi đại sư bị trúng phải Đại Vi Đà Chử mà chết, ai ai cũng bảo đó là thuật “gậy ông đập lưng ông” trong thiên hạ chỉ có họ Mộ Dung ở Cô Tô có mà thôi. Bao nhiêu tình tiết đó chỉ vài câu là hết, mình nói xong là nàng lại giục mình đi trồng hoa, kiếm được đề tài khác nói chuyện với nàng thật không phải dễ. Thành ra mình phải nói dông nói dài, mỗi ngày chỉ nói một tí, huyên thuyên đông tây, không ra đầu đuôi gì, muốn dài là dài để nàng ngày nào cũng phải đến tìm ta, tìm không thấy là bồn chồn khó chịu”.
Chàng đằng hắng một tiếng nói:
- Bản thân ta vốn không biết võ công, ngay cả những chiêu thế thật dễ dàng như Kim Kê Độc Lập, Hắc Hổ Thâu Tâm cũng chẳng biết, thế nhưng trong nhà có một người bạn, họ Chu tên là Chu Đan Thần, ngoại hiệu là Bút Nghiễn Sinh, trông người cũng văn nhược nho nhã như tôi, ai cũng bảo là một con mọt sách, vậy mà võ công ông ta thực là ghê gớm. Một hôm nọ ta thấy ông ta gấp cái quạt, đổi ngược chiều, dùng cán quạt điểm vào đầu vai đại hán nọ nghe bịch một cái, anh chàng kia lập tức rúm người lại, sụm xuống như một cục đất nát, không còn động đậy gì được nữa.
Thiếu nữ nói:
- Ồ, đó là chiêu thứ ba mươi tám trong phép đả huyệt Thanh Lương Phiến, tên là Thấu Cốt Phiến, đảo ngược cán quạt đánh xéo vào huyệt Kiên Trinh. Vị Chu tiên sinh đó thuộc bàng chi của phái Côn Lôn, đệ tử Tam Nhân Quan, phái đó dùng phán quan bút còn ghê gớm hơn dùng cán quạt nhiều. Thôi ngươi đi thẳng vào chuyện chính đi, đừng nói chuyện võ công nữa.
Câu nói đó nếu như vào tai Chu Đan Thần, y thể nào cũng bội phục lạy phục xuống, thiếu nữ không những nói được tên thủ pháp y dùng, lại cả sư thừa lai lịch, võ học gia số cũng nói đâu ra đấy. Nếu như một võ học danh gia chẳng hạn như bá phụ Đoàn Dự là Đoàn Chính Minh hay phụ thân Đoàn Chính Thuần nghe thấy thể nào cũng hết sức kinh ngạc: “Làm sao một cô gái trẻ tuổi như thế, sao kiến thức võ học lại uyên bác rành mạch thế này?”. Thế nhưng Đoàn Dự hoàn toàn không biết võ công, cô gái kia thuận mồm nói ra, chàng cũng không để vào tai. Chàng cũng không biết cô gái nói đúng hay sai, chỉ chăm chăm nhìn vào đôi hàng mi hơi nhướng lên, đôi môi đỏ thắm mấp máy, chỉ thấy lời nàng nói dễ nghe vô cùng, thần thái lúc nói chuyện cũng xinh đẹp vô cùng, còn nội dung lời nói thì một chữ cũng không vào đầu.
Thiếu nữ hỏi lại:
- Thế vị Chu tiên sinh đó ra sao rồi?
Đoàn Dự chỉ vào một tảng đá bên cạnh hàng trúc nói:
- Câu chuyện này nói ra cũng dài, xin tiểu thư dời gót ngọc, đến ngồi trên tảng đá kia, để cho tiểu sinh được bẩm báo rõ ràng.
Thiếu nữ đáp:
- Sao ngươi cứ ba hoa chích chòe, không nói phắt ra cho xong? Ta chẳng có hơi đâu mà ngồi nghe ngươi mãi.
Đoàn Dự đáp:
- Nếu như hôm nay tiểu thư bận thì ngày mai đi tìm ta cũng được. Còn như ngày mai cũng bận, để vài ngày nữa cũng không sao. Miễn là phu nhân không cắt lưỡi ta, tiểu thư có gì cần hỏi, nếu biết là ta không dấu chút nào, nói cho kỳ hết.
Cô gái giậm chân một cái nhè nhẹ, quay đầu đi không nhìn đến chàng nữa hỏi Tiểu Mính:
- Phu nhân còn nói gì nữa không?
Tiểu Mính đáp:
- Phu nhân nói: “Hừ, tên ngỗ nghịch kia càng lúc càng loạn, đã gây thù chuốc oán với Cái Bang, lại đối đầu với cả chùa Thiếu Lâm, chỉ sợ rồi đây Cô Tô Mộ Dung nhà ngươi chết... chết không có đất mà chôn”.
Cô gái vội nói:
- Mẹ ta biết rõ biểu thiếu gia đang rơi vào cảnh ngộ hung hiểm, sao lại làm ngơ không hỏi tới là sao?
Tiểu Mính đáp:
- Dạ phải. Tiểu thư, chỉ sợ phu nhân cho kiếm, tiểu tì xin kiếu thôi. Chuyện mới rồi, tiểu thư tuyệt đối đừng nói ra để cho tì tử còn được hầu hạ tiểu thư vài ba năm.
Cô gái nói:
- Ngươi cứ yên tâm không phải lo gì cả, lẽ nào ta lại hại ngươi hay sao?
Tiểu Mính cáo biệt ra đi, trên mặt lộ vẻ khiếp sợ, Đoàn Dự nghĩ thầm: “Vương phu nhân giết người như ngóe làm cho ai cũng sợ mất vía”.
Cô gái khoan thai đi đến tảng đá xanh nhẹ nhàng ngồi xuống nhưng không gọi Đoàn Dự bảo cùng ngồi. Đoàn Dự cũng không dám tự tiện ngồi bên cạnh nàng, thấy khóm bạch trà ngay kề bên cô gái, còn hai cây kia thì hơi xa hơn, mỹ nhân sánh với danh hoa, quả thực xứng hợp nên thở dài một tiếng:
Người thì nghiêng nước nghiêng thành,
Bên hoa nổi tiếng một cành sánh đôi.
Không được, không được! Năm xưa Lý Thái Bạch lấy hoa thược dược để so sánh với sắc đẹp của nàng Dương Quý Phi, nếu như ông ta có phúc được gặp tiểu thư thì mới biết rằng hoa kia tuy có rực rỡ nhưng làm sao biết giận hờn, biết nũng nịu, biết cười đùa, biết ưu tư, thực không thể nào bì kịp.
Thiếu nữ buồn bã nói:
- Ngươi cứ luôn mồm tấm tắc khen ta đẹp, ta chẳng biết ngươi nói thật hay không?
Đoàn Dự hết sức ngạc nhiên, nói:
- Ai không biết Tử Đô là đẹp thì đúng là không có mắt. Đến đàn ông còn như thế, huống chi một người diễm lệ tuyệt trần như cô nương? Chắc là trong đời cô nghe nhiều người ca tụng quá rồi nên chán ngấy phải không?
Cô gái chậm rãi lắc đầu, trong ánh mắt dường như đầy nỗi u hoài, nói:
- Từ trước tới giờ chẳng ai bảo ta đẹp hay không đẹp. Trong Mạn Đà Sơn Trang này, ngoài mẹ ta ra, toàn là tì nữ bộc phụ, họ chỉ biết ta là tiểu thư, có ai để ý ta đẹp hay xấu làm gì?
Đoàn Dự hỏi lại:
- Thế còn người ngoài thì sao?
Thiếu nữ ngạc nhiên:
- Người ngoài là ai?
Đoàn Dự đáp:
- Thế khi cô đi ra ngoài, người ta thấy cô đẹp như tiên trên trời, chẳng lẽ không tấm tắc khen ngợi, cúi đầu chào hay sao?
Cô gái nói:
- Ta trước nay đã đi ra ngoài bao giờ đâu, ra để làm gì? Mẹ ta không cho ta ra ngoài. Ta chỉ sang Hoàn Thi Thủy Các bên nhà cô ta đọc sách thôi, chẳng gặp ai là người ngoài cả, bất quá chỉ có vài người bạn của huynh ấy như Đặng đại ca, Công Dã nhị ca, Bao tam ca, Phong tứ ca, nhưng họ... nhưng họ đâu có gàn gàn dở dở như ngươi.
Nàng nói tới đó bất giác mỉm cười. Đoàn Dự hỏi:
- Không lẽ Mộ Dung công tử... y cũng chẳng nói cô đẹp bao giờ ư?
Cô gái chầm chậm cúi đầu, nghe một tiếc tích thật nhỏ, kế đến một tiếng tích nữa, mấy giọt nước mắt rơi xuống cỏ, trong trẻo lấp lánh, chẳng khác gì những giọt sương buổi sớm.
Đoàn Dự không dám hỏi thêm, cũng không biết nói thế nào để an ủi nàng. Một lát sau, thiếu nữ nhè nhẹ thở dài nói:
- Huynh ấy... huynh ấy bận lắm, suốt cả năm, ngày nào cũng từ sáng tới tối có lúc nào ở không đâu? Mỗi khi huynh ấy gặp ta, nếu không bàn luận võ công thì cũng nói chuyện quốc gia đại sự. Ta... ta không thích võ công.
Đoàn Dự vỗ đùi, kêu lên:
- Đúng đó, đúng đó! Ta cũng ghét học võ. Bá phụ và gia gia ta bắt ta học võ, ta nhất định không học, đành phải len lén bỏ nhà ra đi.
Cô gái thở dài một tiếng, nói:
- Ta vì muốn thỉnh thoảng được gặp huynh ấy nên dù chán ghét võ công, cũng phải xem quyền kinh đao phổ, cố gắng nhớ trong lòng, để huynh ấy chỗ nào không hiểu rõ ta nói cho huynh ấy nghe. Thế nhưng chính ta thì lại không học, làm thân con gái mà múa đao đánh gậy, xem ra bất nhã...
Đoàn Dự tự đáy lòng nức nở khen một câu:
- Đúng vậy! Đúng vậy! Người đẹp thiên hạ vô song như cô, lẽ nào lại cùng người ta động thủ động cước, thật chẳng còn ra đâu vào đâu. Ối chà...
Chàng đột nhiên nghĩ ra, câu nói đó xúc phạm tới mẹ ruột mình, lại đắc tội với Mộc Uyển Thanh và Chung Linh, còn A Châu, A Bích tất nhiên cũng biết một chút võ công. Thiếu nữ không để ý đến chàng nói gì, nói tiếp:
- Từ nghìn xưa đến nay bao nhiêu triều đại vua chúa hôm nay ngươi giết ta, ngày mai ta giết ngươi, ta thật không muốn biết đến làm gì. Thế nhưng đó là chuyện huynh ấy thích nói đến nhất, thành ra ta phải đọc sách để nói cho huynh ấy nghe.
Đoàn Dự lạ lùng:
- Vì sao cô lại phải đọc để nói lại cho anh ta nghe? Anh ta không đọc lấy được ư?
Cô gái lườm chàng, giận dỗi nói:
- Thế ngươi bảo huynh ấy mù hay sao? Hay là huynh ấy không biết chữ?
Đoàn Dự vội đáp:
- Không, không đâu! Ta bảo anh ta là người tốt nhất trên đời, thế có được không nào?
Thiếu nữ bật cười nói:
- Huynh ấy là anh họ ta. Trong trang viện ngoài cô, dượng và huynh ấy ra, rất ít khi có người ngoài. Thế nhưng từ khi dượng ta qua đời, mẹ ta với cô ta cãi nhau, thành thử ngay cả biểu ca mẹ ta cũng không cho qua nữa. Ta cũng chẳng biết huynh ấy có phải là người tốt nhất trên đời hay không. Người tốt hay người xấu ta chẳng gặp ai bao giờ.
Đoàn Dự hỏi lại:
- Thế sao cô không hỏi cha cô?
Cô gái đáp:
- Cha ta mất sớm, từ lúc ta chưa ra đời, ta... ta chưa từng gặp cha ta bao giờ.
Đoàn Dự ồ lên một tiếng:
- Thế bà cô là chị của cha cô, còn ông dượng là chồng của bà ấy chứ gì? Anh ta... anh ta... là con của hai người đó phải không?
Thiếu nữ cười khúc khích:
- Nghe ngươi ăn nói lẩn thẩn làm sao ấy! Ta là con của mẹ ta, huynh ấy là biểu ca của ta.
Đoàn Dự thấy câu chuyện khiến nàng bật cười, rất là cao hứng bèn nói:
- À, ta hiểu rồi, chắc là biểu ca cô bận quá không có thì giờ đọc sách nên cô phải đọc giùm chứ gì?
Cô gái nói:
- Nói thế cũng đúng nhưng ngoài ra còn có nguyên nhân. Ta hỏi ngươi, những hòa thượng chùa Thiếu Lâm vì cớ gì lại đổ oan cho biểu ca ta giết người của họ?
Đoàn Dự thấy hàng lông mi dài của nàng còn lưu một giọt nước mắt, nghĩ thầm: “Người xưa có nói: Lê hoa nhất chi xuân đái vũ để ví với người đẹp đang khóc. Hoa lê tuy đẹp thật nhưng cây lê lại xù xì, sau trận mưa rồi, đóa hoa nào cũng đẫm nước, có phải quá đau lòng không? Chỉ có thể như Vương cô nương giống như đóa hoa trà điểm thêm giọt sương buổi sáng, thế mới thật là đẹp”.
Cô gái đợi một hồi thấy chàng không trả lời, bèn lay bàn tay chàng một cái nói:
- Ngươi sao thế?
Đoàn Dự giật mình, nhảy dựng lên, kêu:
- Ối trời!
Thiếu nữ thấy chàng hoảng hốt vội hỏi:
- Gì vậy?
Đoàn Dự mặt đỏ bừng nói:
- Cô lấy ngón tay đâm vào lưng bàn tay, ta lại tưởng là bị cô điểm huyệt.
Cô gái không biết là Đoàn Dự nói đùa, giương tròn đôi mắt nhìn chàng nói:
- Trên lưng bàn tay làm gì có huyệt đạo. Tiền Cốc, Hậu Khê, Dương Trì ba huyệt ở bên cạnh bàn tay, hai huyệt Ngoại Quan, Hội Tông thì gần cổ tay, còn cách xa lắm.
Nàng vừa nói vừa đưa tay mình ra để chỉ cho chàng. Đoàn Dự thấy ngón tay trỏ của nàng trông như búp măng, để lên lưng bàn tay phải trắng muốt, cảm thấy cổ khô, đầu óc quay cuồng, ấp úng hỏi:
- Cô... cô nương, tên cô là gì?
Cô gái mỉm cười nói:
- Ngươi quả là lạ lùng. Được rồi, cho ngươi biết cũng được không sao. Nếu ta không nói, A Châu, A Bích hai đứa a đầu kia cũng nói.
Nàng giơ ngón tay làm bút viết lên lưng bàn tay mình ba chữ: Vương Ngữ Yên. Đoàn Dự kêu lên:
- Hay thật! Hay thật! Ngữ tiếu yên nhiên, hòa ái khả thân.
Chàng nghĩ thầm: “Mình phải nói chặn trước chứ nếu như nàng giống tính mẹ, đang nói cười vui vẻ, tự nhiên nổi cơn tam bành, bắt mình đi trồng hoa thì tên với người chẳng ăn khớp nhau tí nào”. Vương Ngữ Yên mỉm cười:
- Tên đặt thì ai mà chẳng hay. Trong sử sách có biết bao nhiêu người đại gian đại ác, tên lại nghe thật đẹp. Tào Tháo có tiết tháo gì đâu, Chu Toàn Trung thì lại đại bất trung. Tên anh là Đoàn Dự, tên tuổi anh có thật là vang lừng không? Hay lại chỉ là kẻ cô danh...
Đoàn Dự liền chặn lời:
- ... điếu dự!
Hai người cùng cười khanh khách. Khuôn mặt xinh đẹp của Vương Ngữ Yên vốn dĩ nhuốm chút u sầu, bây giờ trông thật rạng rỡ càng tăng thêm vẻ kiều diễm. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Nếu như ta ngày ngày được làm cho nàng vui thì trên đời này còn cầu gì hơn nữa?”.
Ngờ đâu cô gái chỉ vui được chốc lát rồi ánh mắt lại thoáng hiện một nỗi buồn u uẩn, nhỏ nhẹ nói:
- Huynh ấy... huynh ấy lúc nào cũng nghiêm trang, chưa từng bao giờ nói chuyện chơi với ta cả. Ôi! Nước Yên, nước Yên, không lẽ quan trọng đến thế hay sao?
Hai tiếng “nước Yên, nước Yên” lọt vào tai trong đầu Đoàn Dự chợt lóe lên, bao nhiêu những mảnh vụn chợt liền lại thành một chuỗi: nào là họ Mộ Dung, Yến Tử Ổ, Tham Hợp Trang, Yên quốc... chàng liền buột miệng:
- Phải chăng Mộ Dung công tử là hậu duệ của dòng Mộ Dung Tiên Ti thời loạn Ngũ Hồ? Y là người Hồ, không phải người Trung Quốc?
Vương Ngữ Yên gật đầu:
- Đúng vậy, huynh ấy là vương tôn nước Yên họ Mộ Dung nhưng đã mấy trăm năm rồi, cớ gì phải khắc khoải chuyện xưa của ông cha làm gì nữa? Không phải là người Trung Quốc, đến chữ Trung Quốc cũng không thèm học, sách Trung Quốc cũng không thèm đọc. Ta không biết nữa, sách Trung Quốc có gì không hay đâu? Có lần ta hỏi huynh ấy: “Biểu ca, huynh bảo sách Trung Quốc không hay, thế có sách Tiên Ti nào cho tiểu muội đọc chăng?”. Huynh ấy nghe vậy nổi giận đùng đùng, hóa ra không có sách gì của người Tiên Ti cả.
Nàng chậm rãi ngước đầu lên, nhìn những đám mây trắng trôi lững lờ, nhỏ nhẹ nói:
- Huynh ấy... huynh ấy hơn ta mười tuổi, trước nay chỉ coi ta như một cô em gái nhỏ, nên ta nghĩ ngoài việc đọc sách, nhớ những võ công ra không còn biết gì khác. Huynh ấy có biết đâu, ta đọc sách cũng chỉ vì huynh ấy, nhớ võ công cũng chỉ vì huynh ấy. Nếu không thà rằng ta nuôi mấy con gà, đánh đàn, viết chữ còn vui hơn.
Đoàn Dự run run hỏi:
- Thế ra anh ta hoàn toàn không biết... không biết cô có lòng như vậy sao?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Ta có lòng với huynh ấy, đương nhiên huynh ấy phải biết chứ! Huynh ấy cũng thương ta lắm, có điều... có điều... chúng ta đối với nhau chỉ như anh em ruột, ngoài những chuyện nghiêm trang ra không bao giờ nói chuyện gì khác. Huynh ấy chẳng bao giờ thổ lộ tâm tư, cũng chẳng bao giờ hỏi ta bụng dạ ra sao.
Nói tới đây, đôi má Vương Ngữ Yên thoáng hiện sắc hồng, trong ánh mắt dường như có vẻ thẹn thùng. Đoàn Dự vốn cũng muốn nói chuyện vui với nàng đôi câu toan gặng hỏi: “Thế cô có tâm sự gì?” nhưng thấy nàng nhu mì e ấp nên không dám đường đột trêu ghẹo giai nhân, bèn nói:
- Chẳng lẽ cô chỉ nói chuyện về võ học với anh ta, không nói tới những khúc Tí Dạ Ca, Hội Chân Thi trong thi từ hay sao?
Chàng buột miệng nói ra chợt thấy hối hận: “Cứ để nàng thầm yêu trộm nhớ, tới đâu hay đó chẳng hơn sao? Lẽ nào ta lại vẽ đường cho hươu chạy như thế? Mình đúng là một thằng ngốc”. Vương Ngữ Yên lại càng ngượng ngập, vội nói:
- Ai... ai lại thế? Ta là khuê nữ con nhà gia giáo, lẽ nào nói tới những chuyện... thơ văn đó để biểu ca coi thường mình sao?
Đoàn Dự thở phào nói:
- Phải, cô nói đúng lắm.
Trong bụng tự trách thầm mình: “Đoàn Dự ơi, ngươi thật chẳng phải là kẻ chính nhân quân tử chút nào”. Nỗi niềm đó của Vương Ngữ Yên trước nay nàng chưa từng nói với ai, chỉ giấu kín trong lòng một mình nghĩ, một mình mình hay, biết bao lần trăn trở, hôm nay gặp Đoàn Dự một người dễ tính đến đâu hay đó, chẳng hiểu vì sao nàng lại mười phần tin tưởng, đem hết uẩn khúc trong lòng thổ lộ cho chàng hay. Thực ra, tấm lòng thầm yêu trộm nhớ biểu ca của nàng, A Châu, A Bích và cả đến Tiểu Trà, Tiểu Mính, U Thảo những đứa đầy tớ trong nhà ai cũng biết cả, có điều không dám nói ra thôi.
Nàng nói ra hết rồi, những nỗi sầu chất chứa trong tim vơi đi bèn nói:
- Ta nói cho ngươi nghe nhiều chuyện không liên can gì mà chưa vào chuyện chính. Chùa Thiếu Lâm vì cớ gì làm khó biểu ca ta?
Đoàn Dự thấy không còn có thể nói năng cù nhầy thêm được nữa đành kể:
- Phương trượng chùa Thiếu Lâm là Huyền Từ đại sư có một người sư đệ tên là Huyền Bi. Môn võ công tinh diệu nhất của Huyền Bi đại sư là Đại Vi Đà Chử.
Vương Ngữ Yên gật đầu:
- Đó là tuyệt nghệ thứ hai mươi chín trong bảy mươi hai môn của chùa Thiếu Lâm, tất cả chỉ có mười chín chiêu pháp, nhưng khi thi triển cực kỳ uy mãnh.
Đoàn Dự nói tiếp:
- Huyền Bi đại sư đi đến Đại Lý chúng ta, tại chùa Thân Giới ở Lục Lương Châu không biết vì sao bị người ta giết chết, thủ pháp đả thương chính là môn Đại Vi Đà Chử sở trường của ông ta. Thành thử họ mới nói rằng, cái lối giết người đó chỉ có họ Cô Tô Mộ Dung mới có thôi, gọi là cái gì “gậy ông đập lưng ông”.
Vương Ngữ Yên gật đầu:
- Nói thế nghe cũng có lý.
Đoàn Dự nói tiếp:
- Ngoài phái Thiếu Lâm ra cũng còn nhiều người khác muốn tìm họ Mộ Dung báo thù.
Vương Ngữ Yên hỏi:
- Còn những ai nữa?
Đoàn Dự đáp:
- Phái Phục Ngưu có một người tên là Kha Bách Tuế, môn võ công tuyệt nghệ của ông ta là Thiên Linh Thiên Liệt.
Vương Ngữ Yên nói:
- Ồ, đó là biến chiêu thứ tư trong hai mươi bảy chiêu Bách Thắng Nhuyễn Tiên của phái Phục Ngưu, tuy chiêu pháp có kỳ lạ thực nhưng không phải là võ công thượng thừa, chỉ được cái lực đạo cực kỳ cương mãnh thôi.
Đoàn Dự nói:
- Ông ta chết vì một chiêu Thiên Linh Thiên Liệt, thành ra sư đệ vào học trò ông ta đang kiếm nhà Mộ Dung để trả thù.
Vương Ngữ Yên trầm ngâm rồi đáp:
- Kha Bách Tuế rất có thể do biểu ca ta giết, còn Huyền Bi đại sư thì không phải đâu. Biểu ca ta không biết sử dụng Đại Vi Đà Chử, môn võ công đó luyện rất khó, phải trên hai mươi năm công lực mới có thể xử ra thành thục. Thế nhưng nếu ngươi có gặp biểu ca ta thì đừng có nói là huynh ấy không biết môn này, cũng chớ có nói là ta bảo thế, huynh ấy mà nghe được thì giận lắm đó...
Hai người vừa nói đến đây bỗng thấy hai người hấp tấp chạy đến, chính là Tiểu Mính và U Thảo. Gương mặt U Thảo cực kỳ kinh hoàng, hổn hển nói:
- Tiểu thư, không... không xong rồi! Phu nhân ra lệnh đem A Châu, A Bích hai người...
Cô gái nói tới đây cổ họng nghẹn lại không ra hơi. Tiểu Mính vội tiếp:
- Đem hai người ra chặt hai tay phải vì tội dám tự tiện vào Mạn Đà Sơn Trang. Bây giờ... biết làm sao?
Đoàn Dự vội nói:
- Vương cô nương, cô...cô mau tìm cách cứu họ đi!
Vương Ngữ Yên cũng thật là bối rối, nhíu mày nói:
- A Châu, A Bích là hai thị tì tâm phúc của biểu ca, nếu làm thương tổn đến thân thể họ, ta còn mặt mũi nào nhìn huynh ấy? U Thảo, bọn họ đang ở đâu?
U Thảo chơi rất thân với A Châu, A Bích nghe thấy tiểu thư có ý muốn cứu cũng cảm thấy có chút hi vọng vội nói:
- Phu nhân sai đem hai đứa xuống Hoa Phì Phòng, tiểu tì đã xin Nghiêm bà bà hoãn lại một chút đừng ra tay vội, bây chừ đến xin phu nhân tha cho may ra còn kịp.
Vương Ngữ Yên nghĩ bụng: “Xin với mẹ ta tha cho thật khó mà được. Thế nhưng ngoài cách đó không còn cách nào khác”. Nàng bèn gật đầu cùng U Thảo, Tiểu Mính hai tì nữ đi ngay. Đoàn Dự nhìn theo tấm lưng uyển chuyển của nàng, tính chạy theo nói mấy câu nhưng vừa dợm bước thấy mình chẳng còn gì để nói, đứng ngẩn ngơ, nghĩ lại câu chuyện mình cùng nàng vừa trao đổi bỗng dưng đờ đẫn.
Vương Ngữ Yên hấp tấp đi lên phòng trên thấy mẹ đang ngồi nghiêng nghiêng dựa lưng trên giường, ngắm một bức tranh hoa sơn trà trên tường đến xuất thần, vội gọi khẽ một tiếng:
- Mẹ!
Vương phu nhân chậm rãi quay đầu, gương mặt đanh lại nói:
- Con muốn nói chuyện gì? Nếu liên quan đến nhà Mộ Dung thì ta không nghe đâu nhé.
Vương Ngữ Yên nói:
- Thưa mẹ, A Châu và A Bích lần này có phải cố ý đến đâu, xin mẹ tha cho bọn chúng một chuyến.
Vương phu nhân hỏi lại:
- Sao con biết chúng không phải cố ý đến? Ta chặt tay hai đứa nó, con sợ biểu ca con không nhìn con nữa chứ gì?
Vương Ngữ Yên nước mắt rưng rưng nói:
- Biểu ca là cháu của cha con, mẹ... mẹ... sao ghét huynh ấy quá vậy? Nếu như cô có đắc tội với mẹ, mẹ cũng đừng vì thế mà giận lây đến biểu ca.
Nàng thu hết can đảm nói được mấy câu đó, trống ngực đánh thình thình, thấy mình sao quả là liều mạng đám mở lời chống báng lại mẫu thân. Đôi mắt Vương phu nhân như một luồng điện lạnh lẽo quét qua mặt con mấy lần lặng thinh không nói gì cả rồi nhắm lại. Vương Ngữ Yên sợ quá không dám thở mạnh, không biết trong bụng mẹ mình định thế nào. Một lúc sau, Vương phu nhân mở mắt ra nói:
- Ngươi làm sao biết được cô ngươi đắc tội với ta? Mụ ta đắc tội thế nào?
Vương Ngữ Yên thấy giọng mẹ lạnh như tiền, sợ đến mất mật không sao trả lời được. Vương phu nhân nói:
- Ngươi giỏi lắm! Bây giờ ngươi lớn rồi không còn nghe ta nữa phải không?
Vương Ngữ Yên vừa tức tối vừa hoảng hốt, nước mắt ròng ròng chảy xuống, nghẹn ngào nói:
- Thưa mẹ, mẹ... mẹ giận cô như thế thì hẳn là cô có điều gì không phải với mẹ. Thế nhưng không phải thế nào, mẹ có bao giờ nói cho con nghe đâu. Bây giờ cô qua đời rồi, mẹ... mẹ đừng nhớ chuyện cũ làm gì nữa.
Vương phu nhân gắt:
- Con nghe ai nói vậy?
Vương Ngữ Yên lắc đầu:
- Mẹ chưa hề nói với con, cũng chẳng cho ai vào đây, con nghe ai nói bây giờ?
Vương phu nhân thở dài một tiếng, khuôn mặt đang gay gắt bỗng chùng lại, giọng cũng dịu xuống:
- Mẹ làm thế cũng chỉ vì con thôi. Trên đời ngày người xấu thật nhiều, giết sao cho hết được, con còn nhỏ chỉ là một đứa trẻ ngây thơ tốt hơn hết không gặp kẻ xấu.
Nói đến đây bà chợ nhớ ra một chuyện, bèn nói:
- Gã trồng hoa họ Đoàn mới đến đây, mồm miệng lanh lợi, không phải là kẻ tốt. Nếu nó lân la nói với con một câu, lập tức sai thị tì giết ngay, không cho nói câu thứ hai, con nghe chưa?
Vương Ngữ Yên nghĩ thầm: “Nói gì một câu với lại hai câu, y nói chuyện với mình có đến cả trăm câu, hai trăm câu rồi”. Vương phu nhân nói:
- Sao? Coi bộ mặt hiền lành, bụng dạ nhân hậu như con không biết rồi đây sẽ phải chịu bao nhiêu khổ sở.
Bà vỗ tay hai tiếng, Tiểu Mính liền chạy vào. Vương phu nhân nói:
- Ngươi truyền lệnh ta, ai nói chuyện với tên trồng hoa họ Đoàn một câu thì cả hai đều bị cắt lưỡi.
Tiểu Mính thần sắc ngỡ ngàng, tưởng chừng như Vương phu nhân nói đây là chuyện giết con gà, con chó gì đó chứ không phải con người, dạ một tiếng rồi lập tức lui ra. Vương phu nhân quay sang con vẫy tay:
- Con cũng đi ra.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Dạ!
Nàng đi đến cửa, ngừng lại một chút, quay lại nói:
- Thưa mẹ, xin mẹ tha cho A Châu, A Bích bảo chúng nó từ nay không bao giờ được bén mảng tới.
Vương phu nhân lạnh lùng đáp:
- Ta có bao giờ nói ra rồi lại không tính đâu? Con có nói thêm cũng vô ích.
Vương Ngữ Yên cắn răng, nói khẽ:
- Con biết vì sao mẹ giận cô, vì sao mẹ ghét biểu ca rồi.
Nàng nhè nhẹ dậm chân một cái định ra khỏi phòng. Vương phu nhân gọi giật lại:
- Quay lại!
Hai tiếng đó không có gì lớn nhưng đầy vẻ uy nghiêm. Vương Ngữ Yên quay trở vào, cúi đầu lặng thinh. Vương phu nhân chăm chăm nhìn làn khói xanh biếc trong chiếc lò hương lững lờ bay lên, hỏi nhỏ:
- Yên nhi, con biết những gì? Không được dấu mẹ, nói hết tất cả cho ta nghe.
Vương Ngữ Yên cắn môi nói:
- Cô trách mẹ giết người bừa bãi, đắc tội với quan nha lại kết oán gây thù với võ lâm.
Vương phu nhân đáp:
- Đúng đó! Chuyện này là chuyện riêng của nhà họ Vương, có liên can gì đến nhà Mộ Dung đâu? Bà ấy bất quá chỉ là chị của cha con, có quyền hành gì mà ước thúc ta? Hứ, họ Mộ Dung mấy trăm năm nay, lúc nào cũng mơ chuyện “hưng phục Yên quốc”, tính chuyện liên lạc anh hùng hào kiệt để họ sai sử. Liên lạc chưa xong lại gây gổ với người ta, đến cả Cái Bang và phái Thiếu Lâm cũng đắc tội với họ nữa.
Vương Ngữ Yên nói:
- Thưa mẹ, Huyền Bi hòa thượng của phái Thiếu Lâm nhất định không phải do biểu ca giết, huynh ấy đâu có biết...
Nàng vừa toan đề cập đến bốn tiếng Đại Vi Đà Chử vội vàng nín bặt, nếu như mẫu thân tra hỏi ở đâu ra thì Đoàn Dự khó mà thoát khỏi cái họa sát thân nên nói trớ ra:
- ... võ công chưa tới được mức đó.
Vương phu nhân nói:
- Phải đó! Lần này y lên chùa Thiếu Lâm. Chắc là mấy con a đầu lắm chuyện đó kể cho con nghe chứ gì? Nam Mộ Dung, Bắc Kiều Phong, gớm, tên tuổi lẫy lừng quá nhỉ? Thế nhưng một Mộ Dung Phục, thêm gã Đặng Bách Xuyên lên chùa Thiếu Lâm thì làm được chuyện gì? Thật là không biết lượng sức mình. Đầu trọng cước khinh!
Vương Ngữ Yên tiến lên mấy bước, khẩn khoản nói:
- Mẹ ơi, sao mẹ không nghĩ cách nào cứu huynh ấy một phen, sai người tới tiếp ứng được không mẹ? Huynh ấy... huynh ấy là con trai duy nhất của dòng Mộ Dung, nếu như có gì bất trắc, Cô Tô Mộ Dung ắt sẽ không còn ai nối dõi.
Vương phu nhân cười khẩy:
- Cô Tô Mộ Dung, hừ, nhà Mộ Dung có liên can gì đến ta đâu? Bà cô ngươi nói Hoàn Thi Thủy Các tàng trữ sách vở còn nhiều hơn Lang Hoàn Ngọc Động của nhà này nữa cơ mà, thì để thằng con cưng Mộ Dung Phục của bà ấy đến chùa Thiếu Lâm đại hiển uy phong càng tốt chứ sao.
Vương Ngữ Yên mắt rưng rưng, cúi đầu đi ra, lòng ngổn ngang như mối tơ vò không biết phải tính sao, đi đến hành lang mé tây hiên, bỗng nghe tiếng người hỏi nhỏ:
- Cô nương, chuyện ra sao?
Vương Ngữ Yên ngẩng đầu nhìn lên, hóa ra Đoàn Dự, hoảng hốt nói:
- Ngươi... ngươi chớ có nói chuyện với ta.
Thì ra Đoàn Dự thấy Vương Ngữ Yên đi rồi, tính gàn bướng nổi lên, mê mê mẩn mẩn đi theo cô gái. Chàng ở xa xa đứng chờ, đợi khi nàng từ phòng Vương phu nhân đi ra, lại lẽo đẽo đi theo. Chàng thấy Vương Ngữ Yên mặt mày ủ rũ, biết ngay Vương phu nhân không bằng lòng, liền nói:
- Nếu như phu nhân không đáp ứng, mình phải tìm cách khác.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Mẹ ta không chịu thì còn cách nào nữa mà hỏi? Bà ấy... bà ấy... nhất định thõng tay đứng ngoài mặc cho biểu ca gặp nguy nan.
Nàng càng nghĩ càng thêm xót xa, nhịn không nổi nước mắt lại ứa ra. Đoàn Dự nói:
- Ồ, nếu như Mộ Dung công tử đang gặp nguy nan...
Đột nhiên chàng nghĩ ra một việc bèn hỏi ngay:
- Cô biết võ công nhiều như thế, sao không đích thân đi giúp cho anh ta?
Vương Ngữ Yên giương mắt chăm chăm nhìn chàng, dường như câu nói của Đoàn Dự là một chuyện kỳ quái nhất trên đời, một hồi sau mới nói:
- Ta... ta chỉ biết võ công nhưng chính mình lại không biết sử dụng. Hơn nữa, ta làm sao mà đi được? Mẹ ta nhất định không bằng lòng đâu.
Đoàn Dự mỉm cười nói:
- Mẹ cô nhất định là không cho đi rồi, thế nhưng cô không len lén đi được hay sao? Ta đã từng bỏ nhà ra đi, về sau quay về, cha mẹ ta cũng không trách mắng gì cả.
Vương Ngữ Yên nghe thấy chàng nói thế, xem ra có chút hi vọng thoát được bế tắc, đôi mắt sáng lên, nghĩ thầm: “Đúng đó! Ta len lén đi ra giúp biểu ca”. Nàng nghĩ đến mình sẽ vì biểu ca mà phải chịu khổ đau hoạn nạn, trong lòng vừa chua chát, vừa ngọt ngào, lại nghĩ: “Người này nói rằng anh ta đã từng lén bỏ nhà ra đi, ồ, sao trước nay mình chưa bao giờ nghĩ đến chuyện này nhỉ?”.
Đoàn Dự liếc nhìn thần sắc nàng biết cô gái đã xiêu lòng nên càng hết sức thúc giục, khuyên:
- Thế cô quả chỉ sống trong Mạn Đà Sơn Trang, chưa từng ra ngoài nhìn thấy cuộc đời đầy hoa lệ kia hay sao?
Vương Ngữ Yên lắc đầu:
- Có gì phải đáng xem đâu? Ta chỉ lo cho biểu ca. Có điều trước nay ta chưa từng luyện võ, nếu như huynh ấy gặp nguy hiểm, ta cũng không giúp được gì.
Đoàn Dự nói:
- Sao cô lại bảo là không giúp được gì? Giúp được nhiều lắm chứ. Khi biểu ca cô động thủ với người ngoài, cô chỉ cần đứng ngoài nói vài câu thì giúp cho anh ta nhiều lắm, cái đó gọi là “đứng ngoài sáng nước”. Mới đây chưa lâu ta xem đánh cờ, người ta trông tưởng thua, ta đứng ngoài chỉ cho vài nước liền lật ngược tình thế.
Vương Ngữ Yên nghe thấy thật có lý, nàng vốn võ học đều biết rất sâu, nhưng vẫn chưa đủ can đảm, ngần ngừ đáp:
- Ta trước nay chưa từng ra khỏi cửa, đâu có biết chùa Thiếu Lâm ở nơi nào?
Đoàn Dự lập tức vớ ngay cơ hội nói:
- Để ta đưa cô đi, trên đường có chuyện gì, một mình ta đối phó cho.
Chàng vốn dĩ chẳng có bao nhiêu kinh lịch giang hồ nhưng lúc này đâu có dại gì mà nói ra. Đôi lông mày xinh xắn của Vương Ngữ Yên nhíu lại, nghiêng đầu trầm ngâm không biết tính thế nào cho phải. Đoàn Dự hỏi lại:
- A Châu, A Bích hai người ra sao rồi?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Mẹ ta không chịu tha cho họ.
Đoàn Dự tiếp lời:
- Thôi thì đâm lao phải theo lao, nếu như A Châu, A Bích bị chặt đứt một cánh tay, biểu ca cô thể nào cũng trách cô, chi bằng mình cứu hai người đó ra, cả bốn người cùng đi một lượt.
Vương Ngữ Yên lè lưỡi nói:
- Nếu làm chuyện đại nghịch bất đạo như thế lẽ nào mẹ ta để yên? Ngươi thế mà to gan thật!
Đoàn Dự biết rằng ngoài biểu ca nàng ra không chuyện gì có thể lay chuyển được lòng nàng nên giả đò lấy thoái làm tiến nói:
- Nếu đã vậy thì mình phải đi ngay mới được, cứ để cho mẹ cô chặt tay A Châu, A Bích. Sau này nếu như biểu ca cô hỏi đến, cô cứ nói là không biết, ta nhất quyết không tiết lộ chuyện này đâu.
Vương Ngữ Yên vội nói:
- Sao lại thế được? Như thế có phải là nói láo biểu ca sao?
Nàng trong lòng ngần ngừ nói:
- Ôi, Chu Bích nhị tì nữ là người tâm phúc, phục thị huynh ấy từ bé, nếu chuyện này xảy ra thì họ Mộ Dung với họ Vương nhà ta thù oán ngày càng thêm sâu.
Nàng giậm chân một cái nói:
- Ngươi đi theo ta.
Đoàn Dự nghe thấy nói “Ngươi đi theo ta” thật mừng không để đâu cho hết, trong đời chàng chưa bao giờ nghe câu nào ngọt ngào đến thế, thấy nàng đi về phía trước liền lẽo đẽo theo sau. Chỉ trong giây lát, Vương Ngữ Yên đã đưa chàng đến một căn thạch thất lớn gọi:
- Nghiêm bà bà, bà ra đây ta có chuyện cần nói với bà.
Chỉ nghe thấy từ trong nhà tiếng cười khịt khịt nghe thật quái đản, một giọng nói khàn khàn vọng ra:
- Hảo cô nương, cô đến xem Nghiêm bà bà làm phân bón đấy hả?
Đoàn Dự lúc nãy nghe U Thảo và Tiểu Mính nói A Châu, A Bích bị đưa xuống Hoa Phì Phòng, lúc đó chẳng để ý đến, lúc này nghe giọng nói lạnh lẽo đầy âm khí nhắc tới “phân bón” mới thấy giật mình: “Cái gì mà phân bón? Phải chăng phân để trồng hoa? Chao ôi! Vương phu nhân cực kỳ tàn nhẫn, giết người như ngóe lấy thịt người làm phân bón hoa trà. Không biết mình tới có trễ mất không, hai nàng Châu Bích bị chặt tay rồi thì biết làm thế nào đây?”. Tim chàng đập thình thình, mặt mày tái mét không còn một giọt máu.
Vương Ngữ Yên nói:
- Nghiêm bà bà, mẹ ta có chuyện muốn nói với bà bà, bà đi lên ngay.
Người đàn bà trong thạch thất nói:
- Ta đang bận. Phu nhân có chuyện gì gấp gáp mà phải sai tiểu thư đến tận đây?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Mẹ ta hỏi... ồ... bọn nó đến chưa?
Nàng nói xong đi vào trong phòng, thấy A Châu và A Bích hai người bị trói vào hai cái cột sắt, trong miệng bị nhét vật gì đó, đôi mắt rưng rưng nhưng không sao nói được. Đoàn Dự thò đầu vào thấy hai nàng chưa sao cả cũng an tâm phần nào, nhìn qua bên kia thì tim lại đập rộn lên. Chỉ thấy một mụ già lụm cụm tay cầm một con dao dài sáng loáng, bên cạnh là một vạc nước đang đun, hơi nước bốc lên ngùn ngụt.
Vương Ngữ Yên nói:
- Nghiêm bà bà, mẹ ta nói thả hai đứa đó ra có việc cần phải tra hỏi chúng cho rõ ràng đã.
Nghiêm bà bà quay đầu lại, Đoàn Dự thấy mụ mặt mày gớm ghiếc, ánh mắt đầy sát khí, hai chiếc răng nanh thò ra ngoài tưởng chừng như muốn cắn người ta, đủ biết bụng dạ tàn nhẫn đến chừng nào. Mụ ta gật đầu:
- Được, hỏi xong rồi lại đem xuống đây để chặt tay.
Mụ lẩm bẩm nói một mình: “Nghiêm bà bà ghét nhất là mấy đứa con gái xinh đẹp. Hai đứa này có chặt tay rồi vẫn còn đẹp, ta phải nói với phu nhân phải chặt cả hai tay làm phân, lâu nay hoa không được tốt”. Đoàn Dự giận quá, nghĩ bụng mụ già này tác ác đa đoan, không biết đã giết bao nhiêu người, tiếc rằng mình trói gà không chặt, nếu không sẽ vả cho mụ ta mấy cái, đánh gãy răng mụ cứu hai nàng Châu Bích ra.
Nghiêm bà bà tuy già nhưng tai còn thính lắm, Đoàn Dự đứng bên ngoài thở mạnh liền bị mụ ta phát giác ngay, hỏi liền:
- Ai ở ngoài đó?
Mụ thò đầu ra xem thấy ngay Đoàn Dự liền hầm hầm hỏi:
- Ngươi là ai?
Đoàn Dự cười nói:
- Ta là người trồng hoa của phu nhân, xuống hỏi Nghiêm bà bà, đã có phân mới chưa?
Nghiêm bà bà đáp:
- Ngươi chờ một chút sẽ có ngay.
Mụ ta quay sang nói với Vương Ngữ Yên:
- Tiểu thư, biểu thiếu gia thương hai đứa này lắm phải không?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Phải đó, mụ không nên làm hại đến hai đứa đó.
Nghiêm bà bà gật đầu:
- Tiểu thư, phu nhân có dặn là, đem chặt tay phải của hai đứa a đầu này tống ra khỏi trang. Phu nhân còn nói thêm: “Từ nay nếu hai đứa ngươi còn để cho ta thấy mặt là ta lập tức chém đầu liền”, có phải không nào?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Đúng đó.
Hai tiếng đó vừa ra khỏi miệng nàng biết ngay mình bị hố vội đưa tay che miệng. Đoàn Dự trong bụng kêu thầm: “Chao ôi! Cô tiểu thư này không biết nói láo rồi”.
Cũng may Nghiêm bà bà dường như già cả nên lú lẫn, không để ý chút nào đến sơ hở trên nói tiếp:
- Tiểu thư, dây trói này chặt lắm, cô giúp ta một tay cởi nó ra.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Được rồi!
Nàng tiến đến bên cạnh A Châu, đưa tay cởi giây trói trên cổ tay cô thị tì, bỗng nghe cách một tiếng, từ nơi cột sắt nảy ra một chiếc ngàm kẹp ngay chiếc lưng thon của nàng lại. Vương Ngữ Yên kêu lên một tiếng thất thanh, chiếc ngàm đó choàng vào lưng nàng tuy vẫn còn hở ra mấy tấc nhưng không thể nào thoát thân được.
Đoàn Dự kinh hãi vội vàng chạy vào quát lên:
- Bà làm gì đó? Có thả tiểu thư ra không nào?
Nghiêm bà bà cười sằng sặc một cách quái đản nói:
- Phu nhân đã bảo còn gặp hai đứa a đầu này sẽ chặt đầu chúng nó ngay, sao lại còn gọi chúng lên tra hỏi? Phu nhân có biết bao nhiêu là kẻ ăn người làm, cớ gì phải sai tiểu thư đến? Việc này có nhiều điều gì khác lạ. Tiểu thư đợi ở đây một chút để ta đích thân đi lên hỏi lại phu nhân rồi tính sau.
Vương Ngữ Yên giận dữ nói:
- Sao bà dám hỗn láo thế? Có mau thả ta ra không nào?
Nghiêm bà bà đáp:
- Tiểu thư, ta đối với phu nhân một dạ trung thành không bao giờ dám làm điều gì sai trái. Cô thái thái nhà Mộ Dung đối với phu nhân chẳng phải chút nào, nói xấu phu nhân nhiều điều, phỉ báng tiếng tăm thanh bạch của phu nhân, ngay cả Thái phu nhân cũng nói thế, càng vạn lần không đúng, phu nhân lộn ruột đã đành mà bọn người dưới chúng ta cũng hận tận xương tủy. Ngày đó nếu như phu nhân chỉ gật đầu một cái, bọn ta lập tức quật mồ cô thái thái lên, lấy xương đem vào Hoa Phì Phòng để bón hoa. Tiểu thư, ta nói cho cô nghe, họ Mộ Dung chẳng có tốt lành chi đâu, hai con a đầu này phu nhân không thể nào tha chúng được. Thế nhưng tiểu thư đã nói vậy thì ta cũng cứ lên hỏi lại phu nhân rồi tính sau, nếu quả đúng là như thế lúc đó ta sẽ khấu đầu tạ tội, cô đem gia pháp đập vào lưng trừng trị ta cũng được.
Vương Ngữ Yên hoảng hốt nói:
- Này, này, bà đừng lên hỏi phu nhân, mẹ ta sẽ giận lắm đó.
Nghiêm bà bà không còn hoài nghi gì nữa, tiểu thư toan tính đánh lận phu nhân giả truyền hiệu lệnh để bảo vệ thị tì biểu ca. Mụ muốn thừa cơ lập công bèn nói:
- Hay lắm, hay lắm, tiểu thư chờ giây lát, ta lên rồi xuống ngay.
Vương Ngữ Yên gọi giật lại:
- Bà chớ đi, thả ta ra đã rồi tính.
Nghiêm bà bà nào có để ý gì đến nàng, vội vã đi ra khỏi phòng. Đoàn Dự thấy tình thế cấp bách vội giang tay ra chặn đường mụ ta lại, cười nói:
- Ngươi mau thả tiểu thư ra rồi hãy đi hỏi phu nhân có được không? Mụ là người dưới, sao không nghe lời tiểu thư.
Nghiêm bà bà hấp him đôi mắt ti hí, nghiêng đầu qua nói:
- Tên tiểu tử này xem ra cũng có điều gì quấy quá đây.
Mụ vươn tay chộp một cái bắt đúng ngay cổ tay Đoàn Dự lôi chàng xềnh xệch tới cái cột sắt, điều động cơ quan nghe cách một tiếng chiếc ngàm từ trong cột quặp ngay lấy lưng chàng. Đoàn Dự hoảng quá vội vàng lật tay nắm chặt cổ tay mụ nhất định không buông.
Nghiêm bà bà vừa bị chàng nắm được lập tức thấy nội lực của mình cuồn cuộn tuôn ra, quả thực khó chịu vô cùng, giận dữ quát lên:
- Bỏ tay ra!
Mụ ta vừa lên tiếng nội lực tuôn ra lại càng nhanh hơn, vội hết sức giằng ra nhưng không sao thoát được tay Đoàn Dự, trong bụng kinh hãi kêu lên:
- Xú tiểu tử... ngươi làm gì thế? Có bỏ ta ra không nào?
Đoàn Dự đối diện với khuôn mặt xấu xí của mụ già hai bên chỉ cách nhau vài tấc. Lưng chàng đã bị trói chặt vào cây cột sắt, không cách gì có thể ngửa đầu ra sau, mắt thấy những sợi răng vàng khè nhọn hoắt của mụ tưởng như muốn ngoặp vào cổ họng mình, trong bụng vừa kinh hãi, vừa ghê tởm, nhưng biết rằng tình hình như nghìn cân treo trên sợi tóc, chỉ buông mụ ra thì Vương Ngữ Yên bị trách phạt đã đành mà chính mình cùng Châu Bích hai nàng cũng khó mà sống sót. Chàng đành nhắm mắt không dám nhìn mụ ta nữa. Đột nhiên lúc đó, chàng nhớ tới Mộc Uyển Thanh bị Bình bà bà và Thụy bà bà vây công, thấy hai lão ác bà kia và Nghiêm bà bà cũng không khác nhau, lại nhớ tới các ác bà dẫn người đuổi giết Mộc Uyển Thanh từ Tô Châu đến Đại Lý, chỉ sợ các mụ ác bà này đều là thủ hạ của Vương phu nhân. Các sự việc chàng cùng lúc nhớ lại, không ít chuyện cũng ăn khớp với nhau. Chỉ cho là mình nghĩ nhiều quá đến mức nghĩ xấu cho người khác nên lúc này cũng không muốn nghĩ nhiều.
Nghiêm bà bà yếu ớt kêu:
- Ngươi... ngươi mau thả ta ra.
Đoàn Dự lúc trước hút nội lực của bảy tên đệ tử phái Vô Lượng mất một thời gian lâu, về sau lại được thêm nhiều cao thủ cho thêm mỗi người một ít nên nội lực chàng càng lúc càng mạnh, sức hút của Bắc Minh thần công càng lúc càng lớn, nên bây giờ hút nội lực của Nghiêm bà bà chỉ một loáng là xong. Nghiêm bà bà tuy hung tợn thật nhưng nội lực chẳng được bao nhiêu, chưa đầy thời gian uống một chén trà thì đã thấy uể oải thở không ra hơi rền rĩ:
- Bỏ... bỏ ta ra, bỏ... bỏ... tay...
Đoàn Dự nói:
- Ngươi mau bấm cơ quan thả ta ra trước.
Nghiêm bà bà đáp:
- Được! Được!
Mụ ngồi thụp xuống giơ tay vận động cơ quan ở dưới bàn, nghe cách một tiếng chiếc ngàm đang câu quanh người Đoàn Dự thụt về. Đoàn Dự chỉ vào Vương Ngữ Yên và Châu Bích hai người ra lệnh cho mụ ta thả ra.
Nghiêm bà bà giơ tay bấm cơ quan để mở cho Vương Ngữ Yên, loay hoay một hồi nhưng vẫn không nhúc nhích gì cả. Đoàn Dự giận dữ nói:
- Mụ còn chưa chịu thả tiểu thư ra ư?
Nghiêm bà bà mếu máo nói:
- Ta... ta không còn chút hơi sức nào nữa.
Đoàn Dự giơ tay luồn xuống bàn mò vào cơ quan ấn một cái nghe cách một tiếng chiếc vòng đang quặp vào lưng Vương Ngữ Yên từ từ tụt vào trong cột sắt. Đoàn Dự mừng lắm nhưng tay vẫn còn phải nắm chặt Nghiêm bà bà, cúi xuống nhặt chiếc dao dài cắt đứt dây thừng trói tay A Bích. A Bích cầm lấy con dao cắt dây thừng cho A Châu. Hai người móc hột đào nhét trong miệng ra, vừng mừng vừa sợ không nói được nên lời.
Vương Ngữ Yên giương mắt nhìn Đoàn Dự, thần sắc cực kỳ lạ lùng lại có vẻ khinh thị nói:
- Sao ngươi lại biết sử dụng Hóa Công đại pháp? Môn công phu dơ bẩn đó học làm gì?
Đoàn Dự lắc đầu:
- Đó không phải là Hóa Công đại pháp.
Chàng đang toan thuật lại chuyện mình nhưng một phần vì câu chuyện quá dài, hai nữa chưa chắc cô nàng đã tin chi bằng thuận miệng đặt cho một cái tên thì hơn, bèn nói:
- Đây là một công phu gia truyền của họ Đoàn nước Đại Lý chúng ta tên là Lục Dương Dung Tuyết Công, rút ra từ Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm biến hóa mà thành, so với Hóa Công đại pháp thì một bên chính một bên tà, một bên thiện, một bên ác hai bên hoàn toàn không giống nhau.
Vương Ngữ Yên bấy giờ mới tin nở một nụ cười nói:
- Ta xin lỗi, hóa ra ta kiến thức hẹp hòi. Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch Thần Kiếm của họ Đoàn Đại Lý ta đã ngưỡng mộ từ lâu, Lục Dương Dung Tuyết Công hôm nay lần đầu mới nghe nói tới, ngày sau thể nào cũng có lúc xin được dạy bảo.
Đoàn Dự thấy mỹ nhân mở mồm xin mình chỉ giáo, quả thật muốn còn chưa xong vội đáp:
- Tiểu thư có chuyện gì cần hỏi, ta nguyện nói hết cho nghe không dám giấu diếm gì.
A Châu và A Bích có ngờ đâu khi đang nguy ngập lại có Đoàn Dự tới cứu, lại thấy chàng cùng Vương Ngữ Yên hai người nói năng có vẻ hợp nhau quả thật ngạc nhiên. A Châu nói:
- Cô nương, Đoàn công tử, đa tạ hai vị đã đến cứu. Mình nên bắt Nghiêm bà bà dẫn theo để mụ ta khỏi tiết lộ bí mật.
Nghiêm bà bà hoảng hốt nghĩ thầm nếu bị hai đứa a đầu này bắt đi, mười phần chết chín kêu lên:
- Tiểu thư, tiểu thư, cô thái thái nhà Mộ Dung nói là phu nhân đi cướp chồng người, còn nói bà ngoại cô càng không đứng đắn…
A Châu liền đưa tay bóp mồm mụ, tay kia cầm ngay hột đào mình vừa nhả ra nhét luôn vào mồm. Đoàn Dự cười nói:
- Hay lắm, cái đó đúng là Mộ Dung môn phong, gọi là “gậy ông đập lưng ông”.
Vương Ngữ Yên nghe Đoàn Dự khen là Mộ Dung môn phong, trong lòng vui mừng, nói:
- Bọn ta và các ngươi cùng đi xem...
Nàng nói tới đây vẻ mặt thẹn thùng nói nhỏ:
- ... xem coi huynh ấy... huynh ấy làm sao?
Nàng vốn dĩ do dự nhưng sau biến cố này cảm thấy quyết tâm hơn. A Châu mừng rỡ đáp:
- Nếu có cô nương đến tiếp viện, quả thật hay lắm. Vậy thì Nghiêm bà bà mình chẳng cần đưa theo làm gì.
Hai cô gái xách Nghiêm bà bà lên, kéo đến chiếc cột sắt, vận động cơ quan dùng ngàm sắt kẹp mụ ta lại. Bốn người lẳng lặng đi ra khỏi cửa, rảo bước đi về phía bờ hồ.
Vương Ngữ Yên cũng định mang theo chút xiêm y, lại sợ mẫu thân biết, phái người bắt mình về. Cũng may trên đường không gặp người tì bộc nào, lên thuyền rồi A Châu, A Bích chèo ngay thuyền về phía mặt hồ. A Châu, A Bích và cả Đoàn Dự cả ba đều cố sức chèo cho nhanh, đến lúc quay lại không còn thấy chút hình ảnh cây cối nào của Mạn Đà Sơn Trang nữa bấy giờ mới thấy yên tâm. Tuy nhiên họ vẫn sợ Vương phu nhân cho khoái thuyền ra đuổi theo nên vẫn không dám ngừng tay.
Chèo một hồi lâu thấy trời đã sâm sẩm tối, khói tỏa trên mặt hồ mỗi lúc một dày, A Châu nói:
- Cô nương, nơi đây cách chỗ tiểu tì ở không xa, xin cô ghé nghỉ tạm một đêm, bàn lại với nhau xem cách nào đi tìm công tử, thế có được không?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Ồ, thế cũng được.
Nàng nãy giờ không nói gì, càng xa Mạn Đà Sơn Trang thì càng thêm trầm mặc. Đoàn Dự thấy gió trên hồ thổi vào tà áo nàng phất phơ, khi hoàng hôn xuống hơi lành lạnh, không khỏi nghĩ tới: “Vương cô nương toàn tâm toàn ý đối với biểu ca của nàng. Uyển muội cũng đối tốt với ta như vậy, lại thêm Chung Linh tiểu nha đầu cũng rất tôt với ta”. Trong lòng bỗng nhiên cảm thấy thê lương, nỗi vui mừng khi vừa mới ra đi càng lúc càng vơi dần.
Lại chèo thêm một hồi, nhìn vào mặt những bạn đồng hành đã thấy đã mông lung, nơi chân trời phía đông thấy có ánh lửa thấp thoáng. A Bích nói:
- Bên chỗ đèn lửa kia chính là Thính Hương Thủy Tạ nơi ở của A Châu tỉ tỉ.
Chiếc thuyền nhỏ liền chèo thẳng về hướng đó. Đoàn Dự nghĩ thầm: “Cả cuộc đời này e rằng chẳng còn bao giờ được sống trong tình cảnh buổi hôm nay. Nếu cứ được trên con thuyền du ngoạn lang thang trên mặt hồ như thế này, không bao giờ đến được nơi có đèn lửa kia có phải sung sướng hay không?”. Ngay lúc đó trước mắt lóe lên, một ánh sao băng từ dưới chân trời bay xẹt ngang, vạch thành một cái đuôi dài.
Vương Ngữ Yên cúi đầu lẩm nhẩm gì đó, Đoàn Dự nghe không rõ. Trong bóng tối chàng nghe thấy nàng buồn bã thở dài. A Bích dịu dàng nói:
- Cô nương đừng lo, công tử trước nay gặp rủi hóa lành, chưa từng bao giờ gặp chuyện gì nguy hiểm.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Chùa Thiếu Lâm nổi tiếng đã mấy trăm năm qua ắt tài nghệ ghê gớm không thể nào lường được. Chỉ mong các vị cao tăng thông hiểu lý tình, chịu nghe biểu ca giãi bày mọi chuyện. Ta chỉ ngại rằng... ngại rằng biểu ca tính khí cao ngạo, lời qua tiếng lại xung đột với các hòa thượng, ôi...
Nàng ngừng lại một chút, nhỏ nhẹ tiếp:
- Mỗi khi ta thấy lưu tinh bay ngang trên trời, ta đều ước nguyện nhưng chưa bao giờ thành.
Người đất Giang Nam trước nay vẫn tin rằng, mỗi khi nhìn thấy sao băng bay ngang bầu trời, nếu như có ước muốn gì trước khi ánh sao tắt đi thì dù khó khăn đến đâu cũng được toại nguyện. Thế nhưng ánh sao chỉ xẹt ngang rồi tắt ngay, chỉ nói được mấy chữ thì sao đã qua rồi, thành thử muôn ngàn năm nay, trẻ em Giang Nam không biết bao nhiêu đứa ôm mộng trong lòng đã từng thất vọng. Vương Ngữ Yên tuy thông hiểu võ học thật nhiều nhưng phần tính tình nhi nữ thì một cô gái quê với một cô nương đất Thái Hồ có khác gì nhau?
Đoàn Dự nghe nàng nói mấy câu đó, trong lòng thấy thật xốn xang, biết rằng nguyện vọng của nàng ắt liên quan đến Mộ Dung công tử, cầu mong cho y bình an vô sự, vạn sự thuận lợi. Chàng chợt tự hỏi trên đời này có người con gái nào vì mình mà thầm ước nguyện gì chăng? Mộc Uyển Thanh trước đây yêu ta sâu đậm thật, nhưng từ khi nàng biết ta là anh trai nàng rồi ắt không còn được cái tâm tình cũ. Không biết trong những ngày vừa qua nàng ở đâu? Đã gặp được tình lang như nguyện chưa? Còn Chung Linh ư? Liệu nàng có biết ta cũng là anh nàng hay không? Dẫu cho không biết, thảng hoặc đôi khi nàng nghĩ đến ta, cùng lắm cũng chỉ rộn ràng trong chốc lát rồi qua đi chứ làm sao có thể khắc cốt ghi tâm như Vương cô nương với ý trung nhân của nàng cho được? Chàng liếc A Bích một cái, bỗng nhiên hiện lên một ý nghĩ trong đầu: “Dù trên đời chỉ có một A Bích, bất chợt nhớ tới ta một lát, thế cũng là tốt rồi. Ôi, nhưng cho dù là nàng, chỉ sợ cũng là nhớ Mộ Dung công tử nhiều, nhớ tới Đoàn Dự ta ít”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Chiếc thuyền nhỏ chèo tới mỗi lúc một gần, A Châu bỗng nhiên nói nhỏ:
- A Bích, ngươi xem kìa! Hình như có chuyện gì hơi lạ.
A Bích gật đầu nói:
- Ồ, sao lại có nhiều đèn đuốc thế nhỉ?
Nàng cười khúc khích nói:
- A Châu a tỉ, người trong nhà chắc mở hội Nguyên Tiêu chăng? Không chừng đèn đuốc sáng choang để làm tiệc sinh nhật của tỉ tỉ đó.
A Châu lặng yên không nói gì, chỉ chăm chăm nhìn đèn lửa trên mặt hồ. Đoàn Dự nhìn từ xa xa, thấy đó là một cù lao nhỏ, trên có tám chín căn nhà, trong đó có hai căn có lầu, từ trong cửa sổ ánh đèn chiếu ra. Chàng nghĩ thầm: “Nơi A Châu ở có tên là Thính Hương Thủy Tạ chắc so với Cầm Vận Tiểu Trúc của A Bích không khác bao nhiêu. Trong Thính Hương Thủy Tạ chỗ nào cũng đèn đuốc thắp sáng, chắc tại A Châu thích náo nhiệt vui chơi”.
Khi chiếc thuyền còn cách Thính Hương Thủy Tạ chừng một dặm, A Châu ngừng chèo nói:
- Vương cô nương, trong nhà tiểu tì có kẻ địch.
Vương Ngữ Yên kinh hãi hỏi:
- Nói sao? Địch tới rồi ư? Ai thế?
A Châu đáp:
- Là kẻ địch nào chưa thể biết được. Thế nhưng cô nương thử ngửi xem mùi rượu nồng nặc như thế, hẳn là rất đông ác khách đang làm loạn trong nhà.
Vương Ngữ Yên và A Bích cố gắng hít mấy hơi nhưng không ai ngửi thấy gì. Còn Đoàn Dự chỉ nhận được mùi hương từ thân thể con gái còn ngoài ra những mùi khác thì chàng cũng chỉ như người thường mà thôi. Riêng A Châu có cái mũi đặc biệt mẫn cảm nói:
- Chao ôi! Chao ôi! Bọn chúng đánh đổ vò rượu Mạt Lị Lộ của tôi rồi, cả vò rượu Mai Quế Lộ nữa, thật đáng tiếc, đến cả vò rượu Hàn Mai Lộ chúng cũng uống sạch...
Nàng nói mà giọng nghẹn ngào như muốn khóc. Đoàn Dự hết sức lạ lùng hỏi:
- Sao mắt cô tinh thế nhìn được những chuyện đó hay sao?
A Châu ủ rũ đáp:
- Không phải vậy, tôi ngửi thấy đấy chứ. Tiểu nữ mất bao nhiêu công lao mới làm được những vò rượu mùi ấy, bọn ác khách kia chắc là đang chè chén rồi.
A Bích nói:
- A Châu tỉ tỉ, phải làm sao đây? Mình tránh đi chăng hay cứ tiến lên động thủ?
A Châu đáp:
- Không biết địch nhân có ghê gớm lắm không...
Đoàn Dự nói:
- Đúng đó, nếu như gặp phải kẻ địch ghê gớm thì nên tránh trước là hơn. Còn như nếu chỉ là bọn tầm thường thì mình sẽ dạy cho chúng một bài học, để cho những trân vật của A Châu tỉ tỉ khỏi bị hư hao thêm nữa.
A Châu đang bực mình, nghe chàng nói nước đôi như thế liền nói:
- Tránh kẻ mạnh, dằn mặt kẻ yếu cái đó ai mà chẳng biết? Thế nhưng công tử làm sao biết kẻ địch ghê gớm hay tầm thường?
Đoàn Dự ứ họng không sao trả lời được. A Bích nhẹ giọng nói:
- A Châu a tỉ, Đoàn công tử đây là có hảo ý
A Châu nói:
- Thế thì bọn mình cứ tới xem sao đã, nhưng có điều trước hết phải thay đổi áo quần, hóa trang thành dân đánh cá mới được.
Nàng chỉ về hướng đông nói:
- Đằng kia có một xóm chài, họ có quen tôi. Mình đến đó mượn y phục mặc tạm.
Đoàn Dự vỗ tay reo lên:
- Hay lắm! Hay lắm!
A Châu liền quạt chiếc giầm đổi hướng chèo về hướng đó, nghĩ đến hóa trang trong bụng phấn chấn, việc đang xảy ra trong nhà không còn làm nàng tức tối nữa. Trước hết nàng đến xóm dân chài mượn quần áo cùng Vương Ngữ Yên, A Bích ba người thay ra. Bản thân nàng giả làm một bà lão đánh cá còn Vương Ngữ Yên và A Bích thành hai mụ dân chài trung niên. Sau đó mới gọi Đoàn Dự qua, hóa trang chàng thành một ngư nhân chừng bốn mươi tuổi. Thuật dị dung của A Châu quả thật khéo léo dị thường, chỉ lấy bột mì, bùn đất đắp lên mặt bốn người chỗ này một chút, dán thêm chỗ kia một tị, chẳng mấy chốc mặt mày tuổi tác đều khác hẳn.
Nàng lại mượn thêm ngư thuyền, lưới đánh cá, cần câu, cá tươi các thứ rồi mới chèo về phía Thính Hương Thủy Tạ. Đoàn Dự và Vương Ngữ Yên tuy tướng mạo có đổi thật nhưng giọng nói bộ điệu đầy những sơ hở, cái tài giả vờ của A Châu hai người không sao học được. Vương Ngữ Yên cười nói:
- A Châu, mọi việc đều do ngươi đứng ra đối phó, ta giả làm như người câm.
A Châu cười đáp:
- Phải lắm, cô nương cứ thế là xong.
Chiếc thuyền đánh cá từ từ chèo đến phía sau thủy tạ, Đoàn Dự thấy bốn bề đều trồng dương liễu nhưng từ trong nhà tiếng nói cười ầm ỹ từng chập vang ra. Bọn chúng ăn nói ồn ào thật không xứng với khung cảnh hoa cỏ u nhã, tinh xảo chút nào. A Châu thở dài ra chiều bất mãn. A Bích ghé tai nàng nói nhỏ:
- A Châu a tỉ ơi, đánh đuổi được kẻ địch đi rồi muội sẽ giúp tỉ tỉ thu dọn.
A Châu đưa tay nắm tay nàng tỏ vẻ biết ơn. Nàng dẫn bọn Đoàn Dự ba người từ phía sau đi lên nhà bếp, thấy lão Cố nấu ăn đang bận tíu tít, mồ hôi đầm đìa, đang luôn mồm khạc nhổ vào trong chảo, rồi khuấy ngay lên, trộn những bãi đờm vào thức ăn. A Châu vừa bực mình vừa tức cười kêu lên:
- Lão Cố, ông làm trò gì thế?
Lão Cố giật bắn người, hoảng hốt:
- Ngươi... ngươi...
A Châu cười nói:
- Ta là A Châu cô nương đây.
Lão Cố mừng quá nói:
- A Châu cô nương, sao bọn khốn kiếp ở đâu kéo đến đông thế, chúng bắt lão phải nấu cho chúng ăn, cô xem này...
Ông ta vừa nói vừa cười hềnh hệch hỉ mũi vứt vào trong rau. A Châu cau mặt hỏi:
- Ông nấu ăn bẩn thỉu thế đấy à?
Lão Cố vội nói:
- Đồ ăn cho cô nương, trước khi nấu tôi đều rửa tay thật kỹ. Bọn xấu xa kia ăn thì càng bẩn càng tốt.
A Châu nói:
- Lần sau tôi thấy đồ ăn lão làm chắc tôi rờn rợn chẳng dám ăn đâu.
Lão Cố vội phân trần:
- Không, không phải vậy đâu, hoàn toàn không phải.
A Châu tuy chỉ là sứ tì của Mộ Dung công tử nhưng ở Thính Hương Thủy Tạ nàng là chủ, cũng có tì nữ, nấu bếp, thuyền phu, người trồng hoa hầu hạ. A Châu hỏi thêm:
- Địch nhân có đông không?
Lão Cố đáp:
- Bọn tới trước chừng mười tám, mười chín người, còn bọn đến sau phải trên hai chục người.
A Châu hỏi:
- Tới hai đám ư? Bọn chúng là ai thế? Ăn mặc kiểu nào? Nghe khẩu âm ở vùng nào tới?
Lão Cố chửi liền:
- Cha tiên sư chúng nó...
Ông lão vừa mở mồm biết mình lỡ lời vội đưa tay bịt miệng, vẻ mặt hoảng hốt nói:
- A Châu cô nương, lão Cố thật đáng chết! Tôi giận quá nên... mất khôn. Cả hai bọn đểu giả này xem ra toàn là ăn cướp, một bọn từ miền Bắc xuống, một đám là người Tứ Xuyên đứa nào cũng mặc áo bào trắng, chẳng biết làm cái giống gì.
A Châu hỏi thêm:
- Bọn chúng đến kiếm ai? Có chém giết ai không?
Lão Cố đáp:
- Bọn trước đến kiếm lão gia, bọn quái nhân đếu sau thì kiếm công tử. Chúng tôi nói lão gia đã quy tiên rồi, còn công tử thì không có nhà, bọn nó chẳng chịu tin, tra xét ngõ trước vườn sau khắp mọi chốn. Các a đầu trong trang phải trốn hết, mình tôi nhịn không nổi, cái đồ...
Ông lão định chửi nhưng tiếng thô tục vừa đến cửa miệng vội cố nén lại. A Châu thấy mắt trái lão Cố tím bầm, một bên mặt sưng vù, biết ông bị chúng đánh đập, thảo nào tức quá nhổ nước miếng, hỉ mũi vào đồ ăn, cho hả cơn tức.
A Châu trầm ngâm nói:
- Để ta lên xem thử, lão Cố nói chưa rõ ràng.
Nàng dẫn Đoàn Dự, Vương Ngữ Yên, A Bích từ cửa hông nhà bếp đi ra, đi ngang một dẫy hoa nhài, qua hai chiếc cửa vòng nguyệt đến bên ngoài hoa sảnh. Còn cách hoa sảnh chừng vài trượng đã nghe bên trong tiếng người huyên náo.
A Châu rón rén đến gần, giơ ngón tay chọc giấy trên cửa sổ, ghé mắt nhìn vào bên trong. Chỉ thấy trong đại sảnh đèn đuốc sáng rực nhưng chỉ chiếu phía mặt đông, độ mười tám mười chín đại hán vạm vỡ đang nhậu nhẹt tưng bừng, trên bàn chén bát la liệt, dưới đất ghế ngổn ngang, có người ngồi cả trên bàn, có kẻ tay cầm đùi gà ăn uống nhồm nhoàm. Có kẻ lại vung trường đao chặt thịt bò rồi dùng mũi dao xiên đưa lên mồm.
A Châu sang phía tây nhìn vào lúc đầu cũng chẳng để ý nhưng sau khi nhìn một hồi bỗng thấy ớn lạnh, lưng nổi da gà thấy hai chục người đó đều mặc áo dài trắng thản nhiên ngồi đó, trên bàn chỉ đốt một ngọn nến, ánh sáng chiếu ra chỉ độ vài thước chung quanh soi rõ mặt dăm bảy người ngồi gần, ai nấy mặt mũi trơ trơ, chẳng ra vẻ vui, cũng chẳng ra vẻ giận, trông chẳng khác gì quỷ nhập tràng. Những người đó chẳng nói năng gì, cũng chẳng cử động, nếu không thỉnh thoảng nháy mắt thì ai cũng bảo đó là những xác chết.
A Bích cũng đến gần cầm tay A Châu thấy tay nàng lạnh ngắt lại hơi run run nên cũng vội chọc thủng giấy trên cửa sổ nhìn vào, mắt nàng đối diện với một tên mặt vàng như nghệ. Gã đó trừng trừng nhìn vào nàng khiến cho A Bích hoảng hốt khẽ kêu lên một tiếng. Bình bình hai tiếng, cửa sổ vỡ tung, bốn người cùng nhảy ra, hai người là bọn phương bắc còn hai người khác là quái khách Tứ Xuyên cùng quát lên:
- Ai đó?
A Châu đáp:
- Chúng tôi vừa bắt được mấy con cá tươi đến hỏi lão Cố có muốn mua không? Cả tôm nữa hôm nay cũng còn đang nhảy lao xao đây!
Nàng dùng giọng Tô Châu, cả bốn người kia chẳng hiểu nói gì nhưng thấy cả bốn người ăn mặc theo lối dân chài, tôm cá cầm trong tay còn đang giãy giụa, không hiểu cũng phải hiểu. Một đại hán giật con cá trong tay A Châu, lớn tiếng gọi:
- Nhà bếp đâu, nhà bếp đâu, mau đem nấu cháo ăn cho rã rượu.
Một gã khác cũng cầm ngay con cá trong tay Đoàn Dự. Hai người Tứ Xuyên thấy đó chỉ là bọn bán cá nên cũng chẳng để ý gì, quay người đi trở vào trong sảnh. Khi hai người đó đi ngang qua trước mặt A Bích, nàng ngửi thấy mùi hôi nồng nặc, nhịn không nổi phải giơ tay bịt mũi lại. Một gã người Tứ Xuyên liếc mắt thấy tay áo nàng tụt xuống để lộ cánh tay trắng nõn như mỡ đông, bụng liền nghi ngay: “Một mụ dân chài trung niên da dẻ lẽ nào lại trắng trẻo đến thế?”. Y liền vung tay chộp lấy A Bích hỏi dồn:
- Mụ bao nhiêu tuổi rồi?
A Bích kinh hãi, vội hất tay y ra nói:
- Ngươi làm gì thế? Tính đánh nhau chăng?
Giọng nàng trong trẻo dịu dàng, cái vung tay lại cực kỳ nhanh nhẹn, gã Tứ Xuyên kia thấy cánh tay tê hẳn đi, lảo đảo một cái, ngã ra phía ngoài vài bước.
Thế là lập tức cả bọn bị lộ tẩy, nghe bốn người bên ngoài quát hỏi, ở trong nhà có đến hơn chục người chạy vội ra vây bọn Đoàn Dự lại. Một đứa giơ tay giật bộ râu của chàng, chòm râu giả tuột ra ngay. Một đứa khác toan nắm lấy A Bích, bị nàng nghiêng qua đẩy cho một cái ngã lăn ra. Cả bọn kia liền lên tiếng quát tháo:
- Có gian tế! Có gian tế!
- Bọn chúng giả trang đó!
- Mau bắt chúng đánh cho một trận!
Lập tức có bốn tên chạy vào trong nhà bẩm cho người thủ lãnh ngồi ở phía đông:
- Diêu trại chủ, bắt được mấy tên gian tế ăn mặc giả trang.
Ông già nọ thân hình cao to, bộ râu muối tiêu dài đến ngực, quát lên:
- Bọn gian tế ở đâu đến đó? Lấp ló thậm thọt tính làm trò gì đây?
Vương Ngữ Yên nói:
- Giả làm bà già chẳng thích chút nào, ta không thèm làm nữa đâu.
Nói xong nàng giơ tay xoa mặt mấy cái, bao nhiêu đất cát bột mì nặn thành những nếp nhăn rơi xuống cả, cả bọn kia nhìn thấy một mụ dân chài trung niên biến ngay thành một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần, ai nấy há hốc mồm, trợn tròn mắt, trong đại sảnh bỗng dưng không một tiếng động, bao nhiêu người khách Tứ Xuyên ngồi ở phía tây cũng nhìn chầm chập vào nàng.
Vương Ngữ Yên nói:
- Các ngươi cũng bỏ hết hóa trang đi!
Nàng quay sang nói với A Bích:
- Cũng tại ngươi nên làm lộ chuyện hết cả.
A Châu, A Bích, Đoàn Dự ba người liền gỡ hết những hóa trang trên mặt. Mọi người nhìn Vương Ngữ Yên, rồi nhìn sang A Châu, A Bích không ngờ trên đời này lại có những người mặt hoa da phấn, xinh đẹp tuyệt trần như thế.
Một lúc lâu sau, lão già to cao kia mới hỏi:
- Các ngươi là ai? Đến đây làm gì?
A Châu thay đổi khẩu âm phương bắc, cười nói:
- Ta là chủ nơi đây, người ngoài lại hỏi ta đến đây làm gì không phải là lạ lùng sao? Các ngươi là ai? Đến đây làm gì?
Lão già kia gật gù:
- À, thì ra ngươi là chủ nơi đây, thế thì tốt lắm. Ngươi là tiểu thư nhà Mộ Dung chăng? Có phải Mộ Dung Bác là cha ngươi chăng?
A Châu mỉm cười đáp:
- Ta chỉ là một đứa a đầu, làm gì có phúc được làm con gái của lão gia? Các hạ là ai? Đến đây có chuyện gì?
Lão già kia thấy nàng xưng là con ở xem chừng không tin, trầm ngâm một chút rồi nói:
- Vậy ngươi đi mời chủ nhân ra đây ta sẽ cáo tri tại sao lại đến.
A Châu đáp:
- Lão chủ nhân chúng tôi đã qua đời rồi, còn tiểu chủ nhân đi vắng không có nhà. Các hạ có chuyện gì cứ bảo cho tôi cũng được. Tính danh các hạ là gì không lẽ cũng không cho biết được hay sao?
Lão già kia nói:
- Ồ, ta là Diêu trại chủ Diêu Bá Đương của Tần gia trại ở Vân Châu.
A Châu nói:
- Hâm mộ đã lâu.
Diêu Bá Đương cười nói:
- Ngươi chỉ là một cô gái nhỏ, biết gì mà hâm mộ ta đã lâu?
Vương Ngữ Yên nói:
- Vân Châu Tần gia trại nổi danh nhất về môn Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao. Năm xưa Tần Công Vọng tiền bối sáng chế ra sáu mươi tư chiêu thức Đoạn Môn Đao, nhưng hậu nhân quên mất năm chiêu, nghe nói chỉ còn truyền lại năm mươi chín chiêu thôi. Diêu trại chủ, ông học được bao nhiêu chiêu rồi?
Diêu Bá Đương giật mình buột miệng:
- Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao của Tần gia trại chúng ta nguyên thủy có sáu mươi tư chiêu, sao ngươi lại biết được?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Trong sách có chép như vậy, xem chừng không sai phải không? Năm chiêu bị mất là Bạch Hổ Khiêu Giản, Nhất Khiếu Phong Sinh, Tiễn Phác Tự Như, Hùng Bá Quần Sơn, còn chiêu thứ năm là gì nhỉ? Ồ là Phục Tượng Thắng Sư, có đúng không nào?
Diêu Bá Đương đưa tay vuốt râu, trong bản môn có năm chiêu tinh yếu nhất nay đã thất truyền, y cũng chỉ biết thế, nhưng chiêu số đó ra sao thì trong môn phái chẳng một ai biết được. Bây giờ nghe nàng nói ra vanh vách, y vừa kinh hãi, vừa nghi ngờ nên câu hỏi của nàng không sao trả lời được.
Một gã chừng ngoài ba mươi tuổi mặc áo bào trắng ngồi bên phía tây cất tiếng lạnh lùng nói:
- Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao của Tần gia trại bị thiếu mất năm chiêu, Diêu trại chủ đang lúc bận rộn nên không nhớ được. Chẳng hay cô nương xưng hô với Mộ Dung Bác Mộ Dung tiên sinh như thế nào?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Mộ Dung lão gia là dượng của tôi, còn tôn tính đại danh các hạ là gì?
Người kia cười nhạt nói:
- Cô nương gia học uyên nguyên đã thông hiểu thấu đáo võ công của Diêu trại chủ. Vậy lai lịch của tại hạ cô nương đoán thử xem nào?
Vương Ngữ Yên mỉm cười nói:
- Vậy ông thử phô một chút thân thủ xem nào. Chỉ nói vài câu thì tôi chịu không thể đoán được.
Gã nọ gật đầu nói:
- Phải lắm.
Tay trái y vào ống tay áo bên phải, còn tay phải lại cho vào ống tay phải tưởng chừng như mùa lạnh người ta làm thế để cho ấm. Y lập tức rút tay ra, hai tay mỗi tay đã cầm một loại binh khí hình dạng lạ lùng, tay trái là một cái dùi sắt dài chừng sáu bảy tấc, mũi dùi lại cong cong, còn tay phải cầm một cái búa hình bát giác, cán búa dài cả thước, đầu búa cũng không to bằng nắm tay như đầu búa thường. Hai món binh khí đó be bé xinh xinh trông như đồ chơi của trẻ con xem chừng không dùng để giao đấu được. Những đại hán phương bắc ngồi bên phía đông nhìn thấy món binh khí cổ quái đó có mấy người cười rộ lên. Một gã nói:
- Thằng bé đất Xuyên đem đồ chơi ra cho bà con coi đấy mà!
Những người phía tây nghe nói thế ai nấy trừng mắt hầm hầm nhìn y. Vương Ngữ Yên nói:
- Ồ, đây là Lôi Công Oanh, các hạ hẳn là giỏi về khinh công và ám khí. Trong sách có viết Lôi Công Oanh là binh khí độc đáo của phái Thanh Thành ở Thanh Thành Sơn đất Tứ Xuyên. Chữ “Thanh” có chín miếng đánh, còn chữ “Thành” có mười tám phép phá thật là kỳ bí khó lường. Các hạ ắt hẳn phải là họ Tư Mã, đúng không?
Gã đó vốn mặt lầm lì nghe nàng nói mấy câu mặt liền biến sắc, luôn cả ba người ngồi bên cạnh y cũng lấm lét nhìn nhau, một lúc sau mới nói:
- Nhà Mộ Dung Cô Tô võ học uyên bác không ai sánh kịp, quả nhiên danh bất hư truyền. Tại hạ là Tư Mã Lâm, xin thỉnh vấn cô nương, có phải quả thực chữ Thanh có chín miếng đánh, chữ Thành có mười tám phép phá hay không?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Tiểu nữ kiến thức nông cạn, mong các hạ chỉ giáo. Theo tôi thì chữ Thanh phải nói là có mười miếng mới thật là đúng, Thiết Bồ Đề và Thiết Liên Tử bề ngoài tuy giống nhau nhưng cách dùng hoàn toàn khác hẳn, không thể lẫn lộn thành một được. Còn như chữ Thành tuy nói là có mười tám cách phá nhưng Phá Giáp, Phá Thuẫn, Phá Bài ba loại chiêu số không có gì khác biệt hẳn, có vẻ như cố ý làm ra cho đủ số mười tám, thực sự thì nếu gom lại thành mười lăm hay mười sáu cách phá lại có vẻ tinh yếu hơn.
Tư Mã Lâm nghe nói mà há hốc mồm, võ công chữ Thanh y chỉ học được mới có bảy miếng, việc phân biệt Thiết Liên Tử và Thiết Bồ Đề nào có biết gì đâu, còn ba cách Phá Giáp, Phá Thuẫn, Phá Bài là ba môn võ công y đắc ý nhất vốn vẫn được coi là tuyệt kỹ trấn sơn của phái Thanh Thành bây giờ cô gái này lại bảo phải gom làm một. Y lúc đầu thì kinh hãi thực nhưng sau đó chuyển qua tức tối nghĩ thầm: “Võ công của ta cũng như tên tuổi nhà Mộ Dung biết từ lâu rồi, họ định làm bẽ mặt mình nên đặt điều ra nói lăng nhăng, cho cô gái này ra phét lác đây mà”.
Y nghĩ vậy nên không nổi cọc chỉ thản nhiên nói:
- Đa tạ cô nương chỉ giáo khiến cho mỗ như được mở đám mây mù.
Y trầm ngâm một lát rồi quay sang kẻ phó thủ ở bên cạnh nói:
- Chư sư đệ, ngươi thử ra lãnh giáo cô nương này xem nào.
Chư Bảo Côn là một người đàn ông mặt mũi xấu xí rỗ nhằng rỗ nhịt, xem chừng còn lớn hơn Tư Mã Lâm vài ba tuổi, ngoài bạch bào y lại còn bịt đầu bằng vải trắng trông như người mặc đồ tang, dưới ánh nến mơ hồ thật đầy âm khí. Y đứng lên vòng tay vào tay áo rút ra một cái dùi và một cái búa, giống hệt Lôi Công Oanh của Tư Mã Lâm, nói:
- Thỉnh cô nương chỉ điểm.
Người đứng chung quanh ai cũng nghĩ thầm: "Binh khí của ngươi giống hệt của Tư Mã Lâm, cô gái này biết được Tư Mã Lâm lẽ nào lại không biết của ngươi hay sao?". Vương Ngữ Yên nói:
- Các hạ cũng sử dụng Lôi Công Oanh, chắc hẳn cũng ở trong phái Thanh Thành?
Tư Mã Lâm nói:
- Chư sư đệ của mỗ đái nghệ tòng sư. Nguyên bản là môn phái nào, mong được tuệ nhãn của cô nương xem thử ra sao?
Y nghĩ bụng: “Chư sư đệ vốn ở môn phái nào đến chính ta cũng không biết rõ, nếu như ngươi đoán ra được thì quả là lạ kỳ”. Vương Ngữ Yên tự nhủ: “Cái này quả là một việc khó khăn”.
Nàng chưa mở miệng thì Diêu Bá Đương bên phía Tần gia trại đã xen vào:
- Tư Mã chưởng môn, phải chăng ngươi mượn tay cô nương này để nói toạc bộ mặt thật của sư đệ, làm như thế có phải bẽ mặt nhau không?
Tư Mã Lâm ngạc nhiên đáp:
- Có gì mà bảo là bẽ mặt nhau?
Diêu Bá Đương cười nói:
- Lệnh sư đệ bây giờ mặt rỗ như tổ ong, điêu khắc cực kỳ tinh tế. Bộ mặt thật của y bây giờ đố ai biết nó như thế nào cho nổi.
Cả cánh bên phía đông đều phá lên cười sằng sặc. Chư Bảo Côn ghét nhất là ai nói đến mặt rỗ của y, nay nghe Diêu Bá Đương công nhiên châm chọc, làm sao có thể nhịn được? Y không cần biết tới Diêu Bá Đương là một tay có thế lực ở phương bắc, lại làm chủ một trại, chiếc dùi bên tay trái liền đâm ra nhắm thẳng vào ngực y, chiếc búa tay phải gõ vào chuôi dùi một cái, chỉ nghe rít lên, một món ám khí đã bắn vào người Diêu Bá Đương.
Tần gia trại và phái Thanh Thành từ khi mới đến Thính Hương thủy tạ đã có chiều không ưa nhau nên chẳng bên nào giữ lễ với bên nào, bên này lườm thì bên kia cũng nguýt lại, nếu bọn Vương Ngữ Yên không đến hai bên ắt đã choảng nhau. Diêu Bá Đương mở lời châm chọc bản ý vốn chỉ muốn khích bác đối phương, ngờ đâu người ta chẳng nói chẳng rằng đã ra tay ngay. Ám khí đó thật là thần tốc, trong cơn nguy cấp không kịp rút đao ra gạt, vội đưa tay chộp ngay cái chân nến trên bàn, nhắm thảng vào ám khí đập một cái, nghe cạch một tiếng bắn ngay lên xà nhà.
Thì ra đó là một mũi cương châm dài chừng ba tấc. Mũi kim đó tuy ngắn thật nhưng lực đạo cực kỳ mạnh mẽ, hổ khẩu Diêu Bá Đương tê đi, chiếc chân đèn rơi luôn xuống đất nghe kêu loảng xoảng.
Quần đạo bên Tần gia trại lật đật rút đao, hò hét vang dội:
- Bắn ám khí đả thương người đấy hả?
- Thế thì còn chó gì là anh hùng hảo hán?
- Đồ mặt dầy, con bà mày chứ! Thật vô liêm sỉ!
Một gã béo ị mồm miệng lại càng thô tục, đem mười tám đời tổ tông đối phương ra mà chửi bới. Cả bọn phái Thanh Thành trước sau vẫn lặng yên không nói một lời, coi những lời mạ lỵ của Tần gia trại như không nghe không thấy.
Diêu Bá Đương trong cơn hoảng hốt chụp vội cái chân đèn, trong chớp mắt như thế cầm không chắc, nhưng đối với một người đã tu tập mấy chục năm mà để một chiếc kim nhỏ xíu đánh rơi vật đang ở trong tay, theo quy củ võ lâm mà luận thì đã thua một chiêu, nghĩ thầm: "Võ công đối phương có chút tà môn, nghe tiểu cô nương này nói, phái Thanh Thành có chín miếng trong chữ Thanh, chắc toàn là công phu lén lút, lợi dụng khi người ta bất ngờ sẽ khiến cho địch bị thất thế". Y liền giơ tay ra hiệu cho thuộc hạ yên lặng, cười nói:
- Chiêu mới rồi của Chư huynh đệ quả là hay, mà cũng thật là âm độc! Cái đó tên là gì thế?
Chư Bảo Côn cười hắc hắc, không trả lời. Gã mập của Tần gia trại lại xen vào:
- Chắc tên là “mặt dầy không biết xấu, lén lút hại người”.
Một người trung niên cười nói:
- Thì người ta mặt thế kia không dầy thì là gì, chiêu đó tên nghe hay thật, đúng là tên sao người vậy, hợp lý quá, hợp lý quá!
Trong ngôn ngữ ra vẻ chọc ghẹo đối phương mặt rỗ. Vương Ngữ Yên lắc đầu, nhỏ nhẹ nói:
- Diêu trại chủ, ông làm thế không phải chút nào!
Diêu Bá Đương ngạc nhiên:
- Cái gì?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Ai cũng có lúc bệnh tật để rồi thương tàn đến thân thể. Khi còn nhỏ đi đứng sơ ý có khi ngã què giò thành khập khiễng. Giao đấu với người ta cũng thể chột mắt, cụt tay. Bằng hữu trong võ lâm có bị tổn thương gì cũng là chuyện thật bình thường, có phải không nào?
Diêu Bá Đương nghe vậy chỉ còn có nước gật đầu. Vương Ngữ Yên nói tiếp:
- Vị Chư gia này khi còn bé chẳng may bị bệnh nặng, trên người có tì vết, sứt sẹo thì có gì đáng cười? Nam tử hán đại trương phu, thứ nhất phải luận đến bụng dạ nhân phẩm, thứ hai là tài cán sự nghiệp, thứ ba là văn học võ công. Mặt đẹp hay xấu có liên can gì đâu?
Diêu Bá Đương không cãi vào đâu được đành chỉ cười ha hả nói:
- Lời của tiểu cô nương nghe ra thật có đạo lý. Nói gì thì nói cũng tại lão phu cười Chư huynh đệ là không phải.
Vương Ngữ Yên nhoẻn một nụ cười nói:
- Lão gia tử thản nhiên nhận lỗi, quả thực quang minh lỗi lạc.
Nàng quay sang Chư Bảo Côn lắc đầu nói:
- Không được đâu, cái đó không thể dùng được.
Nàng nói mấy câu đó thần tình vừa ôn nhu, vừa khuyến khích làm như cô chị nhìn thấy cậu em mồ hôi mồ kê nhễ nhại làm chuyện gì ngoài sức của mình nên ra lời khuyên nhủ, giọng nói cực kỳ thân thiết.
Chư Bảo Côn nghe nàng nói trong võ lâm nếu như thân thể có thương tổn gì chăng nữa thì cũng là chuyện thường như cơm bữa, nam tử hán đại trượng phu phẩm cách công nghiệp mới là hàng đầu, trong lòng hết sức hả hê. Y cả đời vì mặc cảm mặt rỗ nên lúc nào trong bụng cũng uất ức không vui, xưa nay chưa từng nghe ai phân giải một cách thành khẩn, có lý như thế, thế nhưng đến sau nghe nàng nói mấy câu: “Không được đâu, cái đó không thể dùng được”, liền hỏi lại:
- Cô nương nói sao?
Y nghĩ bụng: “Cô nàng bảo môn Thiên Vương Bổ Tâm Châm của ta không thi hành được chăng? Không dùng được chăng? Cô ta có biết đâu trong cái dùi này có đến mười hai mũi cương châm. Nếu ta không ngừng tay đập luôn mấy cái thì đã lấy mạng tên già này rồi. Có điều trước mặt Tư Mã Lâm mình không nên tiết lộ những gì đang mưu tính”.
Lại nghe Vương Ngữ Yên nói tiếp:
- Môn Thiên Vương Bổ Tâm Châm của ông quả là một môn ám khí cực kỳ bá đạo...
Chư Bảo Côn giật nảy mình, kêu “A” lên một tiếng. Tư Mã Lâm và hai cao thủ khác của phái Thanh Thành cũng ngạc nhiên kêu lên:
- Cái gì?
Chư Bảo Côn sắc mặt biến đổi nói:
- Cô nương sai rồi! Đây không phải là Thiên Vương Bổ Tâm Châm mà là ám khí của phái Thanh Thành chúng ta, phép đánh thứ tư trong chữ Thanh, tên là Thanh Phong Đinh.
Vương Ngữ Yên mỉm cười:
- Thanh Phong Đinh bề ngoài coi cũng giống thế. Ông bắn Thiên Vương Bổ Tâm Châm dùng khí cụ, thủ pháp y hệt như Thanh Phong Đinh. Thế nhưng ám khí bản chất không căn cứ vào hình dáng hay tư thế phát xạ mà là ở kình lực và thế đi. Mỗi khi bắn một mũi cương tiêu, phái Thiếu Lâm có thủ kình của phái Thiếu Lâm, phái Côn Lôn có thủ kình của phái Côn Lôn, không thể nào lẫn lộn được. Môn này của ông là...
Đôi mắt Chư Bảo Côn bỗng dưng hung dữ lạ thường, đầy sát khí, chiếc dùi liền đưa lên ngang ngực, chỉ cần lấy búa gõ vào cán một cái thì cương châm sẽ bắn ngay vào người Vương Ngữ Yên. Trong số người chung quanh có quá nửa kêu toáng lên, mới đây thấy y bắn Diêu Bá Đương, thế đi rất nhanh, kình đạo thật mạnh, trong các loại ám khí hiếm thấy loại nào bằng được, hiển nhiên chiếc dùi đó rỗng có đặt lò so chứ sức người không sao có thể làm nổi. Huống chi mũi dùi lại cong cong, không ai ngờ rằng lại dùng để bắn ám khí, có biết đâu cái nòng nằm trong dùi lại thẳng tắp. Cũng may Diêu Bá Đương mắt tinh tay lẹ mới thoát được kiếp nạn, chứ còn như y bắn vào Vương Ngữ Yên thì một cô gái đẹp liễu yếu đào tơ thế kia làm sao tránh kịp? Thế nhưng Chư Bảo Côn thấy nàng xinh đẹp như thế không nỡ ra tay, lại thêm mới đây nàng biện giải cho mình trong lòng cảm kích nên quát lên:
- Cô nương, đừng có lắm lời mà mang họa vào thân.
Ngay lúc đó một người đã vọt lên chặn trước mặt Vương Ngữ Yên, chính là Đoàn Dự. Vương Ngữ Yên mỉm cười nói:
- Đa tạ Đoàn công tử. Chư đại gia, ông không ra tay giết tôi, cũng xin đa tạ. Thế nhưng dẫu ông có giết tôi chăng nữa thì cũng vô ích. Hai phái Thanh Thành, Bồng Lai đời đời thù hận, việc ông âm mưu hơn tám mươi năm trước, chưởng môn đời thứ bảy của quý phái Hải Phong Tử đạo trưởng đã từng thử qua. Tài cán võ công có thể nói là hảo thủ hàng đầu, nhưng cũng khó có thể thành công.
Bọn người phái Thanh Thành nghe xong, liền đưa mắt hầm hầm nhìn Chư Bảo Côn, ai nấy đều nghi ngờ: “Không lẽ y là môn hạ của kình địch sống mái với ta là phái Bồng Lai, trà trộn vào trong môn phái mình? Sao y toàn nói giọng Tứ Xuyên, không để lộ chút khẩu âm Sơn Đông nào?”.
Nguyên là phái Bồng Lai và phái Thanh Thành, mỗi phái hùng cứ một phương nơi bán đảo Sơn Đông, một phái ở Xuyên Tây cách xa nhau tới hàng vạn dặm. Nhưng hơn một trăm năm trước cao thủ hai phái kết oán cừu, từ đó báo thù qua lại, giết nhau thật là thảm khốc. Hai phái đều có tuyệt nghệ riêng, khắc chế lẫn nhau, sở dĩ hiềm khích cũng chỉ vì đàm luận võ công mà nên nỗi.
Sau mấy chục trận đại tranh đấu, đại cừu sát phái Bồng Lai lẽ dĩ nhiên không thắng được phái Thanh Thành mà phái Thanh Thành cũng không thể nào thắng được phái Bồng Lai. Lần nào tranh chấp cũng mãnh liệt, để rồi cao thủ hai bên đi đến chỗ lưỡng bại câu thương, đồng quy ư tận.
Hải Phong Tử, người mà Vương Ngữ Yên vừa nhắc đến là một nhân tài kiệt xuất của phái Bồng Lai. Ông ta chăm chỉ nghiên cứu các chỗ hay chỗ dở, sở trường sở đoản của cả hai môn phái, biết rằng với công phu tu luyện của mình, trong một đời này lấn được phái Thanh Thành không phải là chuyện khó. Thế nhưng sau khi mình qua đời rồi, nếu phái Thanh Thành có được một nhân vật thông minh tài trí thì lại có cơ hội lấn được phái mình. Thành thử nếu như chịu khổ một lần mà thoải mái muôn đời, thì chỉ có cách gửi đứa học trò đắc ý nhất của mình trà trộn vào bên địch để học lén võ công, để có thể biết mình biết người, trăm trận trăm thắng. Thế nhưng tên đệ tử đó học chưa xong thì bị phái Thanh Thành phát giác lập tức đem ra xử tử.
Từ đó trở đi, hai bên cừu oán càng sâu xa, vấn đề phòng bị đối phương học lén võ công càng thêm cẩn mật.
Mấy chục năm qua, phái Thanh Thành quy định không thu học trò là người phương Bắc, không cần phải là người Sơn Đông, mà dù cho là Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Tây, Thiểm Tây chỉ đá giọng miền Bắc một chút cũng không nhận. Càng về sau quy củ càng nghiêm nhặt, tới nay chỉ người đất Xuyên mới được thu nhận mà thôi.
Thanh Phong Đinh là ám khí độc môn của phái Thanh Thành, còn Thiên Vương Bổ Tâm Châm là của phái Bồng Lai. Chư Bảo Côn rõ ràng bắn Thanh Phong Đinh mà Vương Ngữ Yên lại bảo là Thiên Vương Bổ Tâm Châm khiến cho cả phái Thanh Thành ai nấy đều kinh hãi. Phái Bồng Lai cũng có quy củ tương tự như phái Thanh Thành, nghiêm định chỉ người Sơn Đông mới nhận, trong đó lại còn chia ra Lỗ Đông là tốt nhất, thậm chí Lỗ Tây, Lỗ Nam muốn được vào làm môn hạ phái Bồng Lai cũng khó tày trời.
Một người dù giả trang giỏi đến đâu cũng có lúc để lộ sơ hở, nói chuyện một nghìn câu thể nào chẳng lọt vào vài tiếng hương âm ngữ điệu của mình. Chư Bảo Côn là người họ Chư đất Quán Huyện, là một thế gia đại tộc của đất Tây Xuyên, sao lại có thể là môn hạ của phái Bồng Lai được? Mọi người thật có nằm mơ cũng không nghĩ đến.
Tư Mã Lâm thoạt tiên muốn Vương Ngữ Yên đoán thử sư thừa lai lịch của Chư Bảo Côn chẳng qua chỉ là muốn đưa ra một vấn nạn để đố cô gái, chứ chẳng phải có bụng hoài nghi sư đệ, ngờ đâu lại được một câu trả lời kinh tâm động phách đến vậy.
Thế nhưng người kinh hãi nhất lại chính là Chư Bảo Côn. Thì ra sư phụ của y là Đô Linh đạo nhân, cao thủ phái Bồng Lai, lúc còn trẻ đã thua đậm phái Thanh Thành nên trong bụng chăm chăm chuyện báo thù, đến vùng Tứ Xuyên dò la ngõ ngách để tìm chỗ sơ hở của đối phương. Năm đó ông ta đi đến Quán Huyện trông thấy Chư Bảo Côn, khi đó chỉ mới là một đứa trẻ nhưng căn cốt thật tốt, đúng là một lương tài học võ nên trù tính một kế hoạch. Ông ta mượn người giả làm ăn cướp, lén vào trong nhà họ Chư, trói chủ nhân lại, cướp bóc xong rồi toan rút dao giết cả nhà để bịt miệng, lại toan gian dâm hai người đàn bà họ Chư.
Đô Linh Tử đã chực sẵn ở bên ngoài, đến lúc tối nguy cơ, nghìn cân treo trên sợi tóc mới xuất hiện đánh đuổi bọn cướp giả, đoạt lại toàn bộ tài vật, bảo tồn được thanh bạch cho hai nữ lang nhà họ Chư khiến gia chủ thật cảm kích không để đâu cho hết.
Lúc đó Đô Linh Tử mới khuyên nhủ:
- Nếu không có võ công thượng thừa, dù gia tài vạn quan chăng nữa cũng khó mà tránh được bọn gian tà hiếp đáp. Bọn đạo tặc kia võ công không phải tầm thường, lần này tuy bị đánh tan nhưng thể nào rồi cũng quay trở lại.
Nhà họ Chư là một thế gia rất tiếng tăm ở địa phương, thấy những võ sư hộ viện bị bọn cướp đấm đá mấy cái đã ngã lăn quay, nghe nói chúng chẳng bao lâu sẽ tìm đến nữa, sợ đến mất hết hồn vía, khẩn khoản xin Đô Linh Tử ở lại. Đô Linh Tử giả vờ từ chối một hồi rồi mới miễn cưỡng nhận lời, chẳng bao lâu đã thu được Chư Bảo Côn làm học trò.
Đô Linh Tử ngoài việc canh cánh tính chuyện báo thù phái Thanh Thành ra cũng không phải là người xấu, võ công cũng thật cao cường. Ông ta dặn nhà họ Chư giữ thật kín chỉ ngầm luyện võ cho Chư Bảo Côn. Mười năm sau, Chư Bảo Côn đã thành nhân vật thứ nhất thứ hai trong phái Bồng Lai. Đô Linh Tử quả thật kiên nhẫn, từ khi định cư nơi Chư phủ rồi giả làm người câm, từ đầu chí cuối không nói với ai một câu, khi truyền thụ công phu cho Chư Bảo Côn, chỉ dùng tay chân chỉ trỏ, múa may, tất cả mọi việc khác chỉ dùng bút viết, không để lộ thổ âm ra chút nào. Thành thử Chư Bảo Côn tuy cùng ông ta sớm tối ở cạnh nhau hơn mười năm nhưng không hề nghe một câu nào giọng Sơn Đông.
Đến khi Chư Bảo Côn võ công đại thành rồi, Đô Linh Tử mới kể lại tiền nhân hậu quả cho y nghe để cho học trò mình tự quyết định nhưng dĩ nhiên việc giả đạo tặc không hề đề cập đến. Trong lòng Chư Bảo Côn, sư phụ không những là người cứu mạng toàn thể gia đình mình, mà trong hơn mười năm qua đãi mình ân trạch thâm hậu, rốc túi truyền thụ võ công phái Bồng Lai nên thật là cảm kích. Khi y rõ được ước nguyện của thầy rồi không một chút do dự, lập tức đi đầu nhập làm môn hạ chưởng môn phái Thanh Thành Tư Mã Vệ. Tư Mã Vệ chính là phụ thân của Tư Mã Lâm.
Lúc đó Chư Bảo Côn tuổi cũng không còn nhỏ, lại hiềm nói là đã học qua với những võ sư hộ viện trong nhà một nhút võ công tầm thường rồi nên Tư Mã Vệ đáng lẽ không chịu thu. Thế nhưng họ Chư là một đại tài chủ đất Xuyên Tây, vừa có tiền vừa có thế, tuy phái Thanh Thành ở trong võ lâm nhưng gốc rễ vẫn là ở đây, không muốn có hiềm khích với một thế gia vọng tộc. Ông ta nghĩ lại nếu có thu một người con cháu họ Chư làm môn đồ thì chỉ có tăng thanh thế môn phái mình nên chịu chấp nhận.
Đến khi truyền thụ, ông ta thấy võ công Chư Bảo Côn không phải là kém, căn vặn mấy lần, Chư Bảo Côn vẫn một mực theo lời Đô Linh Tử chỉ điểm bịa đặt ra một môn phái cho mình. Tư Mã Vệ cũng nể mặt phụ thân y nên không hết sức hỏi cho ra, nghĩ thầm một đứa con nhà giàu học được đến thế cũng là giỏi lắm rồi.
Chư Bảo Côn đầu nhập phái Thanh Thành rồi lại được Đô Linh Tử dặn bảo kỹ càng là phải ra công nghiên cứu võ công phái Thanh Thành. Mỗi khi gặp kỳ tết nhất, y đem biếu xén sư phụ, sư huynh và các anh em đồng môn lễ vật thật hậu hĩ, sư phụ có cần gì chưa cần mở lời ướm ý đã tìm cách lo liệu chu đáo, trong nhà lại lắm tiền sẵn bạc thành thử chuyện gì cũng dễ dàng. Tư Mã Vệ thấy y có lòng như thế cũng không dấu diếm gì, bao nhiêu võ công tuyệt kỹ đều truyền cho y, thành thử trong bảy tám năm qua, Chư Bảo Côn đã học hết các tuyệt kỹ của phái Thanh Thành.
Ba bốn năm trước Đô Linh Tử đã từng gọi y du ngoạn đến núi Bồng Lai vùng Sơn Đông hiển thị võ công của phái Thanh Thành để biết được các bí áo hầu sau này ra tay là đánh bại được đối phương. Thế nhưng Chư Bảo Côn sau khi làm môn hạ phái Thanh Thành mấy năm qua, cảm thấy Tư Mã Vệ đối với mình thật chí tình, truyền thụ võ công so với các đệ tử thân tín khác không có gì khác biệt, quả thực không nỡ lòng nào ra tay tiêu diệt môn phái, tru sát toàn gia Tư Mã Vệ nên trong bụng đã tính thầm: “Chi bằng mình đợi cho sư phụ Tư Mã Vệ qua đời rồi lúc ấy mình hãy động thủ. Tư Mã Lâm sư huynh đãi mình cũng bình thường, có giết y cũng không sao”. Thành thử y dùng dằng mấy năm qua, Đô Linh Tử nhiều lần giục giã, Chư Bảo Côn vẫn tìm cách thoái thác rằng: Chín miếng của chữ Thanh và mười tám cách phá của chữ Thành vẫn chưa học xong. Đô Linh Tử phí mất bao nhiêu tâm huyết, không muốn xôi hỏng bỏng không, nên cố đợi cho y học hết các bí quyết lúc ấy mới ra tay.
Mùa đông năm ngoái, Tư Mã Vệ bị người ta dùng công phu Phá Nguyệt Trùy là một trong mười hai miếng phá trong chữ Thành đâm vào lỗ tai thấu qua óc giết chết ở gần Bạch Đế, Xuyên Đông. Phá Nguyệt Trùy công phu đó tuy trong đó có chữ Trùy nhưng lại không phải sử dụng dùi sắt mà là dùng năm đầu ngón tay thành hình mỏ chim mổ vào, dùng nội lực xuyên qua màng tang kẻ địch mà vào não.
Tư Mã Lâm và Chư Bảo Côn ở Thành Đô nghe được tin đó liền suốt ngày đêm chạy tới, tra xét minh bạch thương thế của Tư Mã Vệ, hai người vừa kinh hãi, vừa đau lòng, nghĩ thầm trong bản phái ngoài Tư Mã Vệ, chỉ có Tư Mã Lâm, Chư Bảo Côn và hai danh túc cao thủ là biết sử dụng công phu Phá Nguyệt Trùy. Thế nhưng khi việc này xảy ra, cả bốn người đều đang ở Thành Đô, tập trung một chỗ uống rượu nên không ai bị hiềm nghi. Thành ra kẻ giết Tư Mã Vệ ngoài Cô Tô Mộ Dung, kẻ dám xưng là “gậy ông đập lưng ông” ra không thể nào có người khác được. Thành thử phái Thanh Thành dốc hết toàn lực, bao nhiêu cao thủ đều tập trung đến Cô Tô để tìm họ Mộ Dung thanh toán.
Trước khi ra đi Chư Bảo Côn đã ngầm hỏi Đô Linh Tử xem có phải phái Bồng Lai ra tay không, Đô Linh Tử viết thư trả lời: “Tư Mã Vệ với ta võ công sấp xỉ nhau, nếu như ra tay ám toán thì chỉ có cách dùng Thiên Vương Bổ Tâm Châm mới lấy mạng y được. Còn như nếu lấy đông người vây đánh thì phải dùng Thiết Quài Trận của bản phái”. Chư Bảo Côn nghĩ quả không sai, y đã biết rõ hai vị sư phụ võ công tu luyện không biết mèo nào cắn mỉu nào, nếu bảo dùng Phá Nguyệt Trùy để giết Tư Mã Vệ, không nói gì Đô Linh Tử không biết môn công phu này mà dẫu có biết thì cũng không thể nào thắng được công lực Tư Mã Vệ. Thành thử y không còn hoài nghi gì nữa, đi theo Tư Mã Lâm đến Giang Nam tầm cừu. Đô Linh Tử cũng không ngăn cản, chỉ dặn y nên thật cẩn thận, chỉ mong thêm lịch duyệt kiến văn chứ đừng vì phái Thanh Thành mà bỏ mạng.
Khi đến Tô Châu, cả bọn chia nhau nghe ngóng, khó khăn mới mò tới được Thính Hương thủy tạ thì quần đạo Tần gia trại ở Vân Châu đã đến trước rồi. Phái Thanh Thành môn quy rất nghiêm, nếu không có hiệu lệnh của chưởng môn thì không ai dám hành động nói năng một cách bừa bãi, thấy bọn đạo tặc bên Tần gia trại quấy phá loạn cả lên nên không khỏi khinh rẻ, hai bên nói năng xem ra chẳng còn nể nang gì nữa. Người bên phái Thanh Thành cốt chí phục thù cho nên một cành cây một ngọn cỏ cũng không đụng đến, đến bữa chỉ ăn lương khô họ mang theo. Làm như thế cũng có cái lợi là bao nhiêu đờm rãi cùng những chất ô uế ở chân tay của lão Cố phái Thanh Thành không phải thưởng thức.
Đến khi bọn Vương Ngữ Yên, A Châu bốn người đột nhiên tới nơi lập tức mọi việc biến chuyển. Chư Bảo Côn dùng thủ pháp của phái Thanh Thành phát xạ Thanh Phong Đinh ngay cả Tư Mã Vệ lúc còn sống cũng không nghi ngờ gì, ngờ đâu một cô gái trẻ tuổi như Vương Ngữ Yên lại nhìn ra được. Việc đó xảy ra thật bất ngờ khiến cho Chư Bảo Côn không kịp phòng bị, toan giết nàng để diệt khẩu thì chợt nảy mối từ tâm nên chậm tay một chút thành ra không kịp nữa rồi. Huống chi Thiên Vương Bổ Tâm Châm năm chữ đó Tư Mã Lâm cả bọn đã nghe thấy, có giết Vương Ngữ Yên cũng không ích gì, chỉ càng làm cho lộ rõ cái ý đồ xấu xa của y mà thôi.
Chư Bảo Côn toàn thân toát mồ hôi lạnh, đầu óc hỗn loạn, quay lại thấy Tư Mã Lâm và những người khác đã cho tay vào tay áo, hầm hầm nhìn y. Tư Mã Lâm lạnh lùng nói:
- Chư gia, thì ra ngươi là người của phái Bồng Lai đấy ư?
Y không gọi Chư Bảo Côn là sư đệ, đổi thành Chư gia, hiển nhiên không còn coi y là đồng môn nữa. Chư Bảo Côn thừa nhận thì cũng không được, mà bảo rằng không cũng chẳng xong, thần tình cực kỳ ngượng ngập. Tư Mã Lâm hai mắt trợn tròn, quát lên:
- Ngươi đến nằm vùng ở phái Thanh Thành, học được tuyệt chiêu Phá Nguyệt Trùy, thế là dùng ngay để giết cha ta. Ngươi lòng lang dạ sói, quả là tàn nhẫn.
Hai tay y vung ra một cái đã cầm hai món Lôi Công Oanh. Tư Mã Lâm nghĩ là bao nhiêu công phu bản phái đã bị Chư Bảo Côn học được đã đem ra truyền lại cho các cao thủ phái Bồng Lai. Khi phụ thân y bị chết, mặc dầu Chư Bảo Côn quả là đang ở Thành Đô, nhưng phái Bồng Lai đã học được thủ pháp rồi nên ai cũng có thể dùng để giết cha y được.
Chư Bảo Côn mặt tái mét, nghĩ bụng sư phụ Đô Linh Tử phái y trà trộn vào phái Thanh Thành cũng có dụng ý đó nhưng cho tới hôm nay y chưa hề tiết lộ một chút võ công nào của phái Thanh Thành. Sự tình đã đến nước này còn biện bạch cách nào được nữa? Xem ra chỉ còn một trường ác đấu, đối phương người đông thế mạnh, Tư Mã Lâm và hai cao thủ kia võ công không kém mình chút nào, hôm nay khó mà thoát chết, tự nhủ: “Ta tuy chưa làm việc này nhưng vốn đã có cái bụng phản sư, nếu có bị phái Thanh Thành giết âu cũng là quả báo mà thôi”. Y nghĩ thế trong lòng thản nhiên, lớn tiếng nói:
- Sư phụ không phải do ta làm hại...
Tư Mã Lâm quát lớn:
- Dĩ nhiên không phải chính tay ngươi giết, nhưng môn công phu đó do ngươi truyền ra, so với chính tay ngươi thì có khác gì?
Y quay sang nói với hai lão già gầy gầy cao cao đứng bên cạnh:
- Khương sư thúc, Mạnh sư thúc, đối phó với những tên phản đồ như thế này, không cần phải theo quy củ võ lâm đơn đả độc đấu, tất cả mình cùng tiến lên.
Hai ông già kia gật đầu, hay tay từ trong tay áo rút ra, người nào cũng tay trái cầm dùi, tay phải cầm búa, chia ra hai bên vây Chư Bảo Côn lại. Chư Bảo Côn lùi lại mấy bước, dựa lưng vào một cái cột lớn trong sảnh để khỏi bị đánh tập hậu từ sau lưng. Tư Mã Lâm lại quát lên:
- Giết đứa phản đồ này báo thù cho cha ta!
Y xông lên, giơ búa lên đánh xuống đầu Chư Bảo Côn. Chư Bảo Côn nghiêng qua tránh đòn, tay trái dùng dùi đánh trả lại. Lão già họ Khương quát lớn:
- Tên phản đồ gian tặc kia, còn mặt mũi nào mà sử dụng võ công bản phái nữa sao?
Dùi bên trái liền đâm vào yết hầu y, búa bên phải đập luôn ba cái theo thức Phượng Điểm Đầu. Bọn Diêu Bá Đương của Tần gia trại thấy Khương lão sử dụng cái búa thành thục như thế, chiêu số lại thật quái dị ai nấy nổi dạ hiếu kỳ, ngầm gật gù khen thầm: “Phái Thanh Thành danh chấn Xuyên Tương, quả là ghê gớm thực”.
Tư Mã Lâm nóng lòng báo thù cho cha, chiêu số cực kỳ hoảng loạn nên Chư Bảo Côn có thể đối phó được. Thế nhưng hai ông già Khương Mạnh vận dụng bốn đại yếu quyết của phái Thanh Thành là Ổn, Ngận, Âm, Độc, dùi đâm búa đánh, tấn công vào toàn những chỗ yếu hại khiến cho Chư Bảo Côn né phải hụp trái, trong khoảnh khắc đã rơi vào tình trạng cực kỳ nguy hiểm.
Thế nhưng Chư Bảo Côn quá thành thuộc chiêu số đánh cương trùy và búa nhỏ của ba người đó, xem chiêu này đã biết ngay ba bốn chiêu biến hóa kế tiếp. Nhờ thế nên y một chống với ba mà vẫn còn gắng gượng chịu được. Hai bên sách giải thêm mươi chiêu nữa, trong lòng Chư Bảo Côn cảm thấy chua chát nghĩ thầm: “Tư Mã sư phụ đối với ta không bạc chút nào, các chiêu số của Tư Mã Lâm sư huynh và hai vị Khương Mạnh sư thúc ta cũng đều biết cả. Luyện công sách chiêu còn có thể dấu diếm riêng tư không lộ những công phu yếu khẩn chứ lúc giao đấu sinh tử như thế này, ba người đều đem hết sức mình ra, công phu của phái Thanh Thành quả thực chỉ có thế”. Y cảm kích ân nghĩa của sư phụ, nhịn không nổi kêu lên:
- Sư phụ quyết không phải do tôi làm hại đâu...
Tiếng kêu đã mang phần khóc lóc.
Y vừa phân tâm, Tư Mã Lâm đã xông ngay vào chỉ còn cách y chừng một thước. Binh khí của phái Thanh Thành cực kỳ nhỏ bé, ngắn ngủi, lợi hại là ở chỗ đánh sát lá cà. Tư Mã Lâm tiến đến rồi, nếu đối thủ là người của phái khác thì có thể nói là đã thắng thế đến bảy tám phần, thế nhưng võ công của Chư Bảo Côn lại y hệt nhau thành thử lợi thế đó hai bên đều như nhau. Dưới ánh nến thấp thoáng, người đứng ngoài chỉ thấy hoa cả mắt, thấy Tư Mã Lâm và Chư Bảo Côn hai người ra chiêu cực kỳ nhanh nhẹn, múa may quay cuồng, chỉ trong chớp mắt hai người đã tung ra bảy tám chiêu. Dùi đâm trên thọc dưới, búa đập dọc đánh ngang, hai người đều như điên cuồng. Thế nhưng chiêu số cả hai đều thật thuần thục, đối phương tấn công tới lập tức đỡ gạt trả đòn được ngay. Hai người cùng học một thầy, chiêu số pháp môn hoàn toàn như một, Tư Mã Lâm tuổi trẻ tráng kiện nhưng Chư Bảo Côn lại nhiều kinh nghiệm hơn. Chỉ trong giây lát hai bên đã qua lại đến mấy chục chiêu, người xem chỉ nghe tiếng leng keng leng keng của binh khí chạm nhau, còn hai người công thủ ra sao thì không ai nhìn rõ được.
Mạnh Khương nhị lão thấy Tư Mã Lâm đánh lâu mà không thắng, đột nhiên cùng hú lên một tiếng, nhào xuống đất lăn từ hai bên tới, chia ra đánh vào hạ bàn Chư Bảo Côn. Phàm những người sử dụng binh khí ngắn, ngoại trừ đàn bà ra ai nấy đều học địa đường công phu, nằm sát đất lăn qua lăn lại, nhảy vọt lên, khiến cho kẻ địch trở tay không kịp.
Công phu Lôi Công Trước Địa Oanh này Chư Bảo Côn vốn cũng thành thục lắm, nhưng hai tay còn bận đối phó với một dùi một búa của Tư Mã Lâm không còn gì để chống đỡ Khương Mạnh nhị lão, chỉ còn nước nhảy nhót tránh né. Ông già họ Khương dùng búa đánh từ trái sang phải, ông già họ Mạnh dùng dùi đâm từ phải ngược qua. Chư Bảo Côn giơ chân đá vào cằm ông ta, Mạnh lão cất tiếng chửi:
- Đồ con rùa, tính thí mạng hả?
Ông ta lùi qua một bên, Khương lão thừa thế xông luôn vào, vung búa đánh tạt ngang, cùng lúc đó Tư Mã Lâm cũng bổ vào giữa hai lông mày Chư Bảo Côn. Chư Bảo Côn trong một nháy mắt phải tính toán cái nào nặng, cái nào nhẹ đành giơ búa lên gạt binh khí của Tư Mã Lâm còn đùi bên trái ráng chịu cho ông già họ Khương đánh một cái.
Cái búa đó tuy bé thật nhưng kình lực thật là lợi hại, Chư Bảo Côn thấy đau nhói tận xương, nhất thời không biết xương đùi có bị gãy không, nghe choang một tiếng hai món binh khí chạm nhau, đốm lửa văng tung tóe, lại “A” lên một tiếng, đùi bên trái bị ông già họ Mạnh đâm thêm một nhát.
Nhát dùi đó đáng ra y có thể tránh được, thế nhưng nếu tránh qua thì Lôi Công Trước Địa Oanh của Khương Mạnh nhị lão sẽ kết thành Địa Mẫu Lôi Võng. Đến nước đó thì y không thể nào đối phó nổi, huống hồ y cũng liệu chừng đùi mình đã bị gãy rồi nên có chịu đâm một cái cũng không sao. Chỉ thêm vài chiêu, máu trên đùi y văng tung tóe, thành điểm lấm chấm khắp bốn bức tường.
Vương Ngữ Yên thấy A Châu nhíu mày, bĩu môi biết là nàng chán ghét bọn này hùng hổ đánh nhau, làm bẩn cả căn phòng thanh nhã sạch sẽ nên mỉm cười kêu lên:
- Thôi, các ngươi đừng đánh nhau nữa, có gì cứ nói chuyện cho ra lẽ, sao lại ngang ngược không biết trái phải gì cả?
Bọn ba người Tư Mã Lâm nhất tâm giết cho bằng được đứa “thí sư gian đồ” ngay tại đương trường; Chư Bảo Côn dẫu có muốn ngừng tay nhưng cũng đâu có làm gì được? Vương Ngữ Yên thấy bốn người vẫn đánh nhau chí mạng chẳng để ý gì đến lời của mình, mà có muốn ngừng tay hay không cũng là ở bọn ba người Tư Mã Lâm nên nói:
- Cũng tại tôi ngứa miệng nói ra một câu Thiên Vương Bổ Tâm Châm nên mới ra cớ sự, tiết lột cơ mật môn hộ của Chư gia. Tư Mã chưởng môn, các người mau ngừng lại.
Tư Mã Lâm quát lên:
- Thù cha không đội trời chung, lẽ nào không báo? Ngươi léo nhéo cái gì?
Vương Ngữ Yên nói:
- Các ngươi không dừng tay ta sẽ giúp y đó!
Tư Mã Lâm chột dạ nghĩ thầm: “Nhãn quang của cô gái xinh đẹp này cực kỳ lợi hại, võ công chắc là cao lắm, nếu như cô ta giúp cho đối phương e sẽ không xong”. Thế nhưng y lại nghĩ ngay: “Bao nhiêu hảo thủ của phái Thanh Thành đều ở đây cả, cùng lắm tất cả xông lên, không lẽ lại sợ một cô gái yểu điệu như thế hay sao?”. Y vận sức lên cánh tay, đánh nhanh tít chẳng khác gì gió táp mưa sa.
Vương Ngữ Yên nói:
- Chư gia, ông sử dụng thế “Lý Tồn Hiếu đả hổ” rồi kế đến là “Trương Quả Lão đảo kỵ lư”!
Chư Bảo Côn ngạc nhiên nghĩ thầm: “Chiêu trước là võ công phái Thanh Thành, chiêu sau là võ công phái Bồng Lai, hai chiêu này làm sao có thể nhập lại làm một, liên tiếp sử dụng được?”.
Thế nhưng đang lúc tình thế cấp bách, làm gì còn có thì giờ nào mà tìm hiểu cho kỹ càng, chiêu Lý Tồn Hiếu đả hổ vừa xong, keng keng hai tiếng, đánh bạt được hai cái búa của Tư Mã Lâm và Khương lão ra y lập tức xoay người nghiêng nghiêng ngả ngả lùi lại ba bước, vừa đúng lúc tránh được ba lần phục kích của ông già họ Khương.
Chiêu phục kích này của Khương lão dùng cả dùi lẫn búa, đánh luôn ba lần liền cực kỳ âm độc. Ba bước của Chư Bảo Côn bước nào cũng lảo đảo như người say rượu, chẳng ra đường lối gì nhưng lần nào cũng thoát được độc thủ của đối phương trong đường tơ kẽ tóc, chẳng khác gì hai người đã sắp đặt với nhau từ trước nay ra biểu diễn khoe tài với mọi người.
Ba lần phục kích đó vốn dĩ cực kỳ tinh xảo, né tránh được lại càng khéo léo bội phần. Những người của Tần gia trại ngồi xem mà sướng cả mắt, mỗi lần Chư Bảo Côn tránh được lại reo hò ầm ỹ, ba lần thoát hiểm là ba lần hoan hô vang dội. Người bên phái Thanh Thành thì mặt vốn đã hầm hầm, lúc này trông lại càng khó coi hơn.
Đoàn Dự kêu lên:
- Hay quá! Chư huynh, Vương cô nương bảo sao cứ mà nghe vậy thì không thể nào thua được.
Lúc Chư Bảo Côn bước ba bước Trương Quả Lão Đảo Kỵ Lư y nào có nghĩ ngợi gì đến hậu quả, trong đầu nửa tỉnh nửa mê, chết cũng được, sống cũng được không còn coi tính mạng vào đâu nữa. Y có ngờ đâu võ công hai phái Thanh Thành, Bồng Lai hoàn toàn bất đồng lại có thể sử dụng liền nhau để tránh được ba chiêu tối hiểm độc. Y trong lòng kinh ngạc còn hơn bọn Tần gia trại và phái Thanh Thành đứng bên ngoài nhiều.
Lại nghe Vương Ngữ Yên hô tiếp:
- Ngươi mau sử dụng Hàn Tương Tử Tuyết Ủng Lam Quan, kế đó là Khúc Kình Thông U.
Nàng nói thế có nghĩa là sử dụng võ công phái Bồng Lai rồi sau lại sử dụng võ công phái Thanh Thành. Chư Bảo Côn không kịp suy nghĩ, chiếc búa nhỏ và chiếc dùi liền chặn ngay trước ngực, ngay lúc đó hai chiếc dùi của Tư Mã Lâm và ông già họ Mạnh cùng đâm tới. Ba người cùng ra tay một lượt nhưng người bên ngoài đứng coi thì tưởng như Chư Bảo Côn đã đoán trước nên bảo vệ trước mặt. Tư Mã Lâm và Mạnh lão thấy đối phương đã phong bế môn hộ không còn sơ hở chút nào bao nhiêu tính toán đều hóa ra vô ích, hai chiếc dùi đâm luôn vào đầu búa, nghe keng một tiếng bị bật ra. Chư Bảo Côn cũng không nghĩ ngợi gì thêm, người rùn xuống, mũi dùi trong tay xeo xéo đâm ra.
Khương lão đang chính lúc xông tới tấn công đâu ngờ rằng mũi dùi lại từ phía đó đâm ra. Khúc Kình Thông U là võ công phái Thanh Thành, Khương lão thuộc nằm lòng nhưng lối đâm như thế hoàn toàn không hợp với quy củ của bản phái, nếu phải lúc bình thời luyện tập mà sử dụng thể nào ông già cũng cười ha hả. Thế nhưng cái đâm đó vô lý thật, Khương lão lại đang xông tới, lấy thân mình lao vào mũi dùi của đối phương tưởng như tự sát, tuy biết thất thố nhưng không còn kịp lùi lại nữa rồi, nghe soẹt một tiếng, đã bị đâm trúng ngang hông liền lảo đảo phục ngay xuống đất. Trong phái Thanh Thành liền có hai người xông ra đỡ ngay ông ta về.
Tư Mã Lâm cất tiếng chửi:
- Thằng khốn kiếp Chư Bảo Côn kia, chính tay ngươi đâm Khương sư thúc thì có còn nói là giả được hay chăng?
Vương Ngữ Yên nói:
- Chính tôi bảo y đâm vị Khương lão gia kia đó, thôi các vị mau ngừng tay đi.
Tư Mã Lâm giận dữ đáp:
- Ngươi có bản lãnh thì bảo y giết ta đi xem nào!
Vương Ngữ Yên mỉm cười nói:
- Chư gia, ông dùng chiêu Thiết Quài Lý Nguyệt Hạ Quá Động Đình, kế đó là chiêu Thiết Quài Lý Ngọc Động Luận Đạo.
Chư Bảo Côn đáp lời:
- Vâng!
Y nghĩ thầm: “Trong võ công của phái Bồng Lai chỉ có chiêu Lã Thuần Dương Nguyệt Hạ Quá Động Đình và chiêu Hán Chung Ly Ngọc Động Luận Đạo, sao cô nương này lại gọi thành Lý Thiết Quài là sao? Chắc là kiến thức cô ta về võ công bản phái cũng có hạn nên nói sai đó thôi”. Y trong lúc khẩn cấp, Tư Mã Lâm và Mạnh lão đời nào để cho y có thì giờ hỏi lại cho chắc đành theo đúng những gì đã học ra chiêu Lã Thuần Dương Nguyệt Hạ Quá Động Đình. Tương truyền Bát Tiên Quá Hải là gần biển vùng Bồng Lai Sơn Đông, chân núi ven biển lại có thạch trận mô phỏng theo Bát Tiên tụ hội, bởi vậy chiêu số võ công phái Bồng Lai không ít lấy tên từ Bát Tiên.
Chiêu Nguyệt Hạ Quá Động Đình này vốn dĩ là phải bước những bước hiên ngang, tư thế phiêu dật như thể lăng không phi hành, thế nhưng đùi bên trái y bị thương luôn hai chỗ thành thử bước đi khập khà khập khiễng, đâu có ra vẻ Lã Thuần Dương mà lại trông giống Lý Thiết Quài.
Bước chân cà nhắc đó lại có chỗ lợi, Tư Mã Lâm liên tiếp đâm luôn hai dùi đều hụt ra ngoài. Đến chiêu Hán Chung Ly Ngọc Động Luận Đạo thì vì chân trái đau nên người nghiêng hẳn qua phía trái, chiếc dùi nơi bàn tay phải dùng thay chiếc quạt vung vòng ra, Mạnh lão đang lúc húc đầu vào, nghe bạch một cái, cái dùi đó đánh trúng ngay miệng ông ta, gãy hơn một chục cái răng trong miệng, đau đến vừa nhảy chồm chồm vừa kêu la rầm rĩ, vứt vội binh khí ngồi phệt xuống đất đưa tay ôm chặt lấy mồm.
Tư Mã Lâm trong bụng hãi thầm, nhất thời không biết tính sao, nên tiếp tục đánh nữa hay tạm dừng tay sau này tính kế phục thù. Y thấy Vương Ngữ Yên dạy cho mấy chiêu quá ư là xảo diệu, lúc đầu vốn định là Mạnh lão đánh xong ba chiêu sẽ xông vào bên phải Chư Bảo Côn, ngờ đâu đúng lúc đó thì chiếc búa của Chư Bảo Côn lại vung ra trúng ngay vào miệng. Quả đúng là Chư Bảo Côn chân trái tập tễnh, chiêu Hán Chung Ly Ngọc Động Luận Đạo đã biến thành Thiết Quài Lý Ngọc Động Luyện Đạo nên chiếc búa mới đánh xéo ra chứ nếu như đánh thẳng thì hụt mất vài tấc, đánh không trúng được.
Tư Mã Lâm nghĩ thầm: “Nếu như muốn giết tên khốn kiếp Chư Bảo Côn này thì trước hết phải ngăn con bé này lại đã, không để cho nó chỉ điểm võ công”. Y còn đang tính kế làm cách nào hạ thủ gia hại Vương Ngữ Yên, bỗng nghe nàng cất cao giọng nói:
- Chư tướng công, ông là đệ tử phái Bồng Lai, trà trộn vào phái Thanh Thành học lén võ công, quả là không phải chút nào. Ta nghe nói lão sư phụ Tư Mã Vệ không phải do ông sát hại, với sở học như ông, dẫu cho có đi dạy được cho một hảo thủ nào khác cũng không thể nào dùng chiêu Phá Nguyệt Trùy để giết Tư Mã lão sư phụ được. Thế nhưng đi học trộm võ công của người ta thì cũng là không ra gì, phải tạ tội với Tư Mã chưởng môn mới là đúng.
Chư Bảo Côn nghĩ bụng lời nàng nói không sai, huống chi lại có cái ơn cứu mạng cho mình, toàn nhờ những chiêu Vương Ngữ Yên chỉ cho mới thoát hiểm được, lời nàng nhắn nhủ nào có dám cưỡng lại, lúc này quay cương trùy lại hướng vào phía mình, hai tay ôm quyền hướng sang Tư Mã Lâm vái một cái thật sâu nói:
- Chưởng môn sư ca, tiểu đệ quả là có lỗi...
Tư Mã Lâm tránh qua một bên, hai tay cho vào tay áo, tựa như đang giấu binh khí, hung tợn quát:
- Cha tiên sư ngươi, thằng khốn nạn kia, ngươi còn dám mở mồm gọi ta là chưởng môn sư ca ư?
Vương Ngữ Yên kêu lên:
- Mau, Ngao Du Đông Hải!
Chư Bảo Côn hoảng hốt, vội vàng nhún người nhảy vọt lên, nghe tiếng vụt vụt liên tiếp, hơn một chục mũi Thanh Phong Đinh bắn sát dưới gót chân y, thật chỉ thoát trong đường tơ kẽ tóc. Nếu như không có Vương Ngữ Yên lên tiếng nhắc nhở, cũng như nếu nàng không nói luôn chiêu Ngao Du Đông Hải mà nói “đề phòng ám khí” thì y ắt sẽ chăm chăm nhìn vào địch nhân mà tụ tiễn Tư Mã Lâm bắn từ tay áo ra thì không thể nào né tránh kịp.
Môn công phu “Tụ Lý Càn Khôn” của Tư Mã Lâm là tuyệt kỹ “truyền tử bất truyền đồ” của dòng họ Tư Mã phái Thanh Thành. Đây là quy củ của họ Tư Mã, ngay cả hai lão Mạnh Khương cũng không biết, Tư Mã Vệ không dạy cho Chư Bảo Côn cũng chỉ là theo lời dặn của tổ tiên mà thôi chứ không phải là dấu nghề. Có ai ngờ đâu mặt Tư Mã Lâm thản nhiên không biến đổi chút nào, hai tay chỉ cho vào trong tay áo ấn một cái, ngầm vận chuyển cơ quan bắn Thanh Phong Đinh mà lại bị Vương Ngữ Yên kêu lên làm lộ chuyện, chỉ cho chiêu Ngao Du Đông Hải của phái Bồng Lai phá được công phu này. Thế đó của Tư Mã Lâm có thể nói là đã dùng hết sức bình sinh mà không thành công thật chẳng khác gì gặp phải ma quỷ, giơ tay chỉ vào Vương Ngữ Yên kêu lớn:
- Ngươi chẳng phải là người, ngươi là ma, ngươi là nữ quỷ nhà Mộ Dung!
Ông già họ Mạnh bao nhiêu răng trong mồm bị búa đánh gãy hết, trong cơn hoảng hốt ba cái răng tuột luôn vào bụng. Ông ta tuổi đã cao nhưng mắt còn sáng, tóc còn đen, răng còn chắc xưa nay vẫn lấy làm tự hào, bây giờ mất cái nào là tiêu cái ấy, làm gì có răng giả thay vào, vừa đau vừa tiếc, miệng phều phào kêu lên:
- Bắt lấy con nhãi này! Bắt lấy con nhãi này!
Phái Thanh Thành môn quy rất nghiêm, Mạnh lão tuy vai vế cao thật nhưng mọi việc đều phải do chưởng môn nhân chỉ thị, các đệ tử ai nấy đưa mắt nhìn Tư Mã Lâm, đợi y ra lệnh một tiếng là sẽ cùng xông vào bắt giữ Vương Ngữ Yên.
Tư Mã Lâm lạnh lùng nói:
- Vương cô nương, võ công của bản phái vì cớ gì cô thành thuộc như thế?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Ta đọc trong sách ra. Võ công phái Thanh Thành lấy kỳ bí, biến hóa, hiểm ác, độc địa làm sở trường nhưng không có gì rắc rối gì lắm, cũng dễ nhớ thôi.
Tư Mã Lâm nói:
- Ở trong sách nào thế?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Ồ, cũng chẳng phải là sách xấu xa gì. Viết về võ công phái Thanh Thành có hai bộ, một bộ là Thanh Tự Cửu Đả, còn bộ kia là Thành Tự Thập Bát Phá, ông là chưởng môn phái Thanh Thành hẳn đã coi đến rồi.
Tư Mã Lâm kêu thầm: “Thật xấu hổ quá!”. Khi còn nhỏ bắt đầu học nghệ, cha y đã từng nói: “Võ công bản phái gồm có chín phép đánh trong chữ Thanh và mười tám cách phá trong chữ Thành, tiếc rằng về sau lâu ngày thất truyền nên mất mát không còn toàn vẹn nữa nên tới ngày nay đánh nhau với phái Bồng Lai mới trở nên hai bên bất phân thắng bại. Giá như có ai tìm được lại võ công cho hoàn hảo thì không những việc diệt phái Bồng Lai dễ như cất tay, mà có xưng hùng thiên hạ thì cũng chẳng phải là kỳ lạ”. Đến bây giờ y nghe nàng nói đã đọc qua hai cuốn sách đó nên ngực y không khỏi nóng ran lên nói:
- Liệu cô có thể cho tại hạ mượn xem một chút xem có gì bất đồng với sở học của bản phái, được không?
Vương Ngữ Yên chưa kịp trả lời, Diêu Bá Đương đã cười ha hả nói:
- Cô nương đừng có mắc hỡm tên tiểu tử này. Võ công phái Thanh Thành nhà y đơn sơ lắm, chữ Thanh có độ ba bốn miếng, chữ Thành cũng chỉ mười một, mười hai cách phá. Y định đánh lừa để cô đưa cho y coi võ học kỳ thư, tuyệt nhiên chớ có cho y mượn.
Tư Mã Lâm bị y nói toạc âm mưu ra, khuôn mặt xanh xao của y lập tức sầm xuống nói:
- Ta mượn sách của Vương cô nương có liên quan gì đến Tần gia trại nhà các ngươi?
Diêu Bá Đương cười nói:
- Sao lại không liên qua gì đến Tần gia trại? Người như Vương cô nương trong bụng nhớ biết bao nhiêu sách vở ghi chép các môn võ công lạ lùng, ai có được cô ta thì kẻ đó thiên hạ vô địch. Họ Diêu này thấy bạc vàng châu báu hay tranh xinh gái đẹp, muốn lấy là thò tay lấy ngay, món hàng nghìn năm một thuở như Vương cô nương thế này, lẽ nào lại không ra tay? Tư Mã huynh đệ, phái Thanh Thành các ngươi muốn mượn sách thì phải đến hỏi ta xem ta có chịu không đã chứ? Ha ha! Ha ha! Ngươi thử đoán xem liệu mỗ có bằng lòng chăng?
Mấy câu đó của Diêu Bá Đương cực kỳ vô lễ lại cực kỳ ngạo mạn thế nhưng Tư Mã Lâm và Khương Mạnh nhị lão nghe vào tai đều không khỏi thấp thỏm trong lòng: “Kiến thức võ học của con bé này xem ra cao thâm không biết chừng nào. Xem cái vẻ ẻo lả gió thổi cũng bay như nàng ta, tự mình đánh ai thì không thắng nổi nhưng đã đọc qua đủ các loại võ học kỳ thư rồi, biết nhiều lại có thể dung hợp thành một chuỗi. Nếu như mình bắt được cô ta đem về phái Thanh Thành thì sẽ học được hết Thanh Thành cửu đả, Thanh Thành thập bát phá. Tần gia trại đã có dạ bất lương hôm nay chỉ còn cách đánh nhau một trận”.
Lại nghe Diêu Bá Đương nói:
- Vương cô nương, bọn chúng ta vốn đến đây để tìm nhà Mộ Dung để thanh toán, xem chừng cô cũng là người họ Mộ Dung.
Vương Ngữ Yên nghe y bảo “xem chừng cô cũng là người họ Mộ Dung”, trong lòng vừa thẹn vừa vui, chép miệng một cái nói:
- Mộ Dung công tử là biểu ca tôi, ông muốn gặp anh ta có chuyện gì? Chẳng hay đắc tội với ông ra sao?
Diêu Bá Đương cười hà hà nói:
- Cô là biểu muội của Mộ Dung Phục thì thật tốt quá. Ông tổ nhà Mộ Dung có thiếu nhà họ Diêu ta một trăm vạn lạng vàng, năm trăm vạn lạng bạc, tới nay đã mấy trăm năm, cả vốn lẫn lời tính sao đây?
Vương Ngữ Yên sửng sốt:
- Sao lại có chuyện đó được nhỉ? Nhà dượng tôi vốn giàu có sao lại thiếu tiền nhà ông? Mấy trăm năm trước, trên đời cũng chưa có cái tên Tần gia trại.
Diêu Bá Đương đáp:
- Thiếu hay không thiếu, cô còn nhỏ biết gì! Ta đi kiếm Mộ Dung Bác để đòi nợ, y bằng lòng trả rồi, thế nhưng làm gì đã lấy được xu teng nào đâu, y lại lăn đùng ra chết. Bố chết thì đòi con, ai ngờ Mộ Dung Phục thấy chủ nợ đến, lỉnh mất không thò đầu ra, biết làm thế nào, đành kiếm cái gì gán nợ để bù lại.
Vương Ngữ Yên nói:
- Biểu ca tôi khẳng khái hào sảng, ví thử có thiếu tiền ông chăng nữa, thể nào cũng trả, mà dẫu không thiếu, ông có xin ít tiền bạc để xài, anh ấy cũng không từ chối, lẽ nào lại có chuyện sợ mà trốn nợ?
Diêu Bá Đương nhíu mày nói:
- Việc này không thể một câu hai câu mà nói cho rõ ràng chi bằng cô nương tạm thời theo ta lên miền bắc, tới ở nơi Tần gia trại sáu tháng một năm, chúng tôi quyết không dám động tới cái móng tay của cô nương. Mụ vợ của Diêu Bá Đương nổi tiếng ghen như cọp cái vùng Hà Sóc, lão Diêu chẳng bao giờ dám chàng màng ai đâu, cô nương cứ yên tâm. Cô chẳng phải sắp xếp gì, mình lên đường đi ngay. Đợi bao giờ biểu ca cô kiếm đủ tiền bạc, thanh toán xong món nợ cũ đời xửa đời xưa, ta sẽ hộ tống cô nương trở về Cô Tô để cho cô thành hôn với biểu ca. Tần gia trại thể nào cũng chuẩn bị một lễ vật hậu hĩ, Diêu Bá Đương sẽ tới uống chén rượu mừng.
Y nói xong ngoác miệng cười ha hả. Lời y nói ra nghe rặt giọng đểu cáng, mấy câu sau cùng thuận mồm bịa ra, thế nhưng Vương Ngữ Yên nghe đến đâu mát ruột đến đó, mỉm cười nói:
- Ông chỉ nói nhăng nói càn, tôi theo ông đến Tần gia trại làm chi? Nếu như dượng tôi quả có thiếu ông tiền, thì cũng đã lâu lắm rồi, biểu ca tôi làm sao biết được, phải để hai bên đối chứng ba mặt một lời rồi biểu ca tôi sẽ trả cho ông.
Diêu Bá Đương vốn định bắt Vương Ngữ Yên đi ép nàng phải thổ lộ võ công chứ một trăm vạn lạng vàng, năm trăm vạn lạng bạc chỉ là chuyện tầm phào, bây giờ nghe nàng nói năng thơ ngây dường như lại tưởng những điều mình nói là chuyện thật bèn nói:
- Thì cô cứ đi theo ta. Tần gia trại ở đó vui lắm, bọn ta nuôi nào là báo đen, diều hâu, mai hoa lộc, đủ thứ cô có ở cả năm cũng không chán. Biểu ca cô nghe tin sẽ lập tức đến nơi gặp cô ngay. Mà dẫu y không có tiền trả thì ta cũng xóa nợ, ta là người phương bắc trọng nghĩa khinh tài, giao hảo bằng hữu, trước ta chẳng những long trọng tiếp đãi, sau còn tặng hậu lễ để cho hai người về Cô Tô, cô nghe có được chăng?
Mấy câu nói đó quả thực khiến Vương Ngữ Yên phải xao xuyến trong lòng. Tư Mã Lâm thấy nàng khóe thu ba long lanh, vẻ mặt e ấp nghĩ thầm: “Nếu như nàng bằng lòng đi đến Tần gia trại ở Vân Châu, ta có mở mồm ngăn trở xem ra cũng không thuận lý”. Y không đợi nàng mở lời xen vào nói:
- Vân Châu ở ngoài biên tái lạnh buốt cắt da, Vương cô nương là một đại tiểu thư mảnh khảnh tha thướt sinh trưởng ở Giang Nam, ai lại ra đó chịu khổ bao giờ? Đất Thành Đô của ta được gọi là Cẩm Quan Thành, gấm vóc đứng đầu thiên hạ, phong cảnh tốt tươi, danh lam thắng cảnh nhiều gấp mười Vân Châu. Một người xinh đẹp như Vương cô nương đến Thành Đô mua ít gấm vóc mặc vào, quả đúng là lúa tốt thêm phân, đã đẹp lại càng thêm đẹp. Mộ Dung công tử tài mạo song toàn, thể nào chẳng thích cô ăn mặc lụa là.
Y cho rằng phụ thân đã bị phái Bồng Lai gia hại nên không còn thù hận gì Mộ Dung Cô Tô nữa. Diêu Bá Đương quát lên:
- Thối lắm, thối lắm, nhà ngươi đánh rắm thối lắm! Thành Tô Châu đây không lẽ thiếu vải vóc, lụa là hay sao? Ngươi mở to đôi mắt ra nhìn một cái, trước mắt ba vị cô nương tuyệt trần, có người nào bảo là không biết cách ăn diện?
Tư Mã Lâm hừ một tiếng nói:
- Thối thật! Quả là thối thật!
Diêu Bá Đương hầm hầm hỏi lại:
- Ngươi bảo ta đấy chăng?
Tư Mã Lâm đáp:
- Đâu dám! Ta nói là rắm thối quá!
Diêu Bá Đương rút thanh đao đang đeo ra, quát lên:
- Tư Mã Lâm, Tần gia trại ta với phái Thanh Thành cũng bên tám lượng, kẻ nửa cân, ngang tài đồng sức. Thế nhưng Tần gia trại mà liên thủ với phái Bồng Lai, không lẽ không diệt được phái Thanh Thành hay sao?
Tư Mã Lâm mặt biến sắc, nghĩ thầm: “Lời của y quả đúng thế. Cha ta qua đời rồi, lực lượng phái Thanh Thành không còn được như xưa, lại thêm tên gian tặc Chư Bảo Côn học lén võ công của bản phái, nếu như Tần gia trại lại đối đầu với mình thì thật đáng lo. Người đời có nói: Tiên hạ thủ vi cường, hậu hạ thủ tao ương. Cái đếch gì, việc hôm nay chỉ có cách đánh cho chúng một mẻ trở tay không kịp”.
Nghĩ thế y bèn thản nhiên hỏi:
- Thế thì đã sao?
Diêu Bá Đương thấy hai tay y để vào trong tay áo, biết lúc nào y cũng có thể bắn ám khí ra giết mình nên hết sức cảnh giác nói:
- Ta mời Vương cô nương đến làm khách ở Vân Châu đợi Mộ Dung công tử đến đón về. Việc gì đến ngươi mà chõ mồm vào thọc gậy bánh xe, có phải vậy chăng?
Tư Mã Lâm đáp:
- Đất Vân Châu nhà ngươi khỉ ho cò gáy như thế chẳng coi rẻ Vương cô nương lắm hay sao? Cho nên ta muốn mời Vương cô nương đến Thành Đô một chuyến.
Diêu Bá Đương đáp:
- Được lắm, thế thì mình lấy binh khí ra một phen so tài cao thấp, người nào thắng thì người đó làm chủ Vương cô nương.
Tư Mã Lâm nói:
- Thôi thế cũng được. Người nào thua mà muốn làm chủ mời Vương cô nương thì chỉ có nước mời đi xuống âm ti địa ngục thôi.
Nói như thế là đã rõ ràng, trận đấu này không phải so sánh võ công mà là một phen sống mái, chỉ có một chết một sống. Diêu Bá Đương cười ha hả, lớn tiếng nói:
- Diêu mỗ suốt đời sống bằng nghề nhuộm máu đầu đao, Tư Mã chưởng môn tưởng đem cái chết ra dọa, ta có sợ đếch gì đâu?
Tư Mã Lâm hỏi:
- Thế thì đấu ra sao đây? Ta với ngươi một chọi một hay tất cả cùng ùa lên?
Diêu Bá Đương đáp:
- Cứ để lão phu tiếp Tư Mã chưởng môn chơi ít hiệp...
Vừa đến đây, Tư Mã Lâm đột nhiên quay sang bên trái, mặt mày kinh hoàng, dường như phát sinh biến cố gì vô cùng kỳ lạ. Diêu Bá Đương trước sau vẫn chăm chăm nhìn y đề phòng ám toán bất ngờ, lúc này không nhịn được cũng quay nhìn sang bên trái. Chỉ nghe tách tách tách ba tiếng nhỏ, y giật mình cảnh giác thì ám khí đã bay tới trước ngực chỉ còn cách chừng ba thước. Y thất vọng tự biết không còn tránh vào đâu được nữa.
Ngay trong giờ phút nghìn cân treo trên sợi tóc đó, đột nhiên có vật gì đó vọt ra chắn ngang ngực, loạt soạt mấy tiếng đã đánh rớt mấy mũi đinh độc. Độc đinh vốn dĩ rất nhanh, người đã từng quen chiến đấu như Diêu Bá Đương cũng còn không thể nào tránh kịp, thế nhưng vật kia còn nhanh gấp mấy, ra sau mà tới trước gạt được những mũi đinh độc ra. Vật đó là cái gì thì cả Diêu Bá Đương lẫn Tư Mã Lâm đều không ai nhìn được cả.
Vương Ngữ Yên vui mừng kêu lên:
- Có phải Bao thúc thúc đến hay chăng?
Một giọng nói hết sức kỳ quái đáp lại:
- Sai bét, sai bét, không phải Bao thúc thúc đâu!
Vương Ngữ Yên cười nói:
- Lại còn chẳng phải Bao thúc thúc ư? Người chưa thấy đã nghe “Sai bét, sai bét”!
Giọng kia lại đáp:
- Sai bét, sai bét! Ta nào có phải là Bao thúc thúc?
Vương Ngữ Yên hỏi lại:
- Sai bét, sai bét! Thế thì ai đó?
Giọng kia lại đáp:
- Mộ Dung huynh đệ gọi ta là “tam ca”, cô lại gọi ta là “thúc thúc”. Sai bét, sai bét! Cô gọi thế là trật lất.
Vương Ngữ Yên hai má đỏ bừng, cười hỏi:
- Thế ông còn chưa chịu ra hay sao?
Tiếng nói kia không trả lời, một lát sau Vương Ngữ Yên thấy không động tĩnh, kêu lên:
- Này, ông ra đi, giúp ta ngăn chặn những kẻ đến đây phá rối.
Thế nhưng bốn bề vắng lặng như tờ, hiển nhiên người họ Bao kia đi xa rồi. Vương Ngữ Yên hơi thất vọng hỏi A Châu:
- Y đi đâu rồi?
A Châu mỉm cười đáp:
- Bao tam gia tính vốn vẫn thế, ông ta đang định ra nghe cô nương hỏi “Thế ông còn chưa chịu ra hay sao?” ông ấy lại nhất định không ra nữa. E rằng hôm nay không ra nữa đâu.
Tính mạng Diêu Bá Đương mười phần chết chín, được người họ Bao kia ra tay cứu độ, trong lòng thật là cảm kích. Y với phái Thanh Thành vốn không thù không oán, bây giờ lại muốn giết Tư Mã Lâm, soẹt một tiếng rút đơn đao ra quát lên:
- Quân vô liêm sỉ, bắn trộm ám khí, tưởng giết được lão phu sao?
Y múa đao nhắm ngay đầu Tư Mã Lâm chém xuống. Tư Mã Lâm hai tay vung ra, tay trái cầm dùi sắt, tay phải cầm búa, xông lên đấu với Diêu Bá Đương. Cánh tay Diêu Bá Đương thật mạnh, chiêu số lại độc địa, còn Tư Mã Lâm thì lấy nhẹ nhàng khéo léo làm chính. Phái Thanh Thành và Tần gia trại hôm nay đánh nhau lần đầu, hai bên đều do nhân vật thủ não xuất chiến, thắng bại chẳng những quan hệ đến sống chết mà còn là vinh nhục hưng suy của môn phái thành thử cả hai không ai dám sơ sểnh chút nào.
Hai bên trao đổi đến hơn bảy mươi chiêu rồi, Vương Ngữ Yên bỗng quay sang nói với A Châu:
- Ngươi xem kìa, Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao của Tần gia trại xem ra không phải chỉ mất có năm chiêu. Hai chiêu Phụ Tử Độ Hà và Trọng Tiết Thủ Nghĩa sao không thấy Diêu Bá Đương dùng đến?
A Châu nào có biết võ công gia số của Tần gia trại thế nào nên chỉ ậm ừ. Diêu Bá Đương đang trong lúc đánh rát, nghe thấy nàng nói mấy câu đó, giật nảy người: “Cô bé này nhãn quang quả là sắc bén. Sáu mươi tư chiêu của Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao pháp hơn mười năm qua chỉ còn có năm mươi chín chiêu thật nhưng đến đời sư phụ ta, không học xong hai chiêu Phụ Tử Độ Hà và Trọng Tiết Thủ Nghĩa, thành ra thất truyền mấy chục năm rồi đến bây giờ chỉ còn có năm mươi bảy chiêu. Để khỏi mất mặt, ta đã đem hai biến chiêu ra thay vào để cho đủ năm mươi chín chiêu, ngờ đâu cô ta vẫn nhìn ra được”.
Nguyên do các lục lâm sơn trại đều là bọn ô hợp, bao nhiêu môn phái võ công cũng tụ lại một chỗ cùng nhau đi ăn cướp, riêng có Tần gia trại thì các đầu lĩnh đều là đệ tử của Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao. Các môn phái không môn phái nào coi Tần gia trại như cùng loại với mình, cũng chẳng ai lại đến gia nhập với chúng. Sư phụ của Diêu Bá Đương họ Tần, là đầu lĩnh số một của Tần gia trại, cũng là chưởng môn Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao, có đứa con ruột là Tần Bá Khởi võ công tài cán thật tầm thường nên mới truyền ngôi vị đó cho đại đệ tử Diêu Bá Đương. Mấy tháng trước, Tần Bá Khởi ở Thiểm Tây bị người ta dùng một chiêu tên là Tam Hoành Nhất Trực, tức là bốn nhát theo hình chữ vương chém vào mặt chết tươi, đó chính là tuyệt chiêu tối cương mãnh của Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao nên ai ai cũng cho rằng đây là đòn của Cô Tô Mộ Dung hạ thủ. Diêu Bá Đương nghĩ đến ân tình của sư phụ nên kéo rốc các hảo thủ của bản trại đến Tô Châu báo thù cho sư đệ. Ngờ đâu chủ nhân chưa gặp đã suýt táng mạng vì Thanh Phong Đinh của phái Thanh Thành may được bằng hữu của Mộ Dung Phục cứu cho thoát chết.
Y hận Tư Mã Lâm âm độc ra tay ám toán, nghe thấy Vương Ngữ Yên nói toạc cái khiếm khuyết của võ công mình ra nên cũng hơi hổ thẹn, càng gấp gáp chuyện đánh bại Tư Mã Lâm để giữ uy tín đối với người của bản trại. Thế nhưng càng cầu thắng bao nhiêu thì càng thêm nóng ruột đâm ra tâm phù khí tháo thành thử tuy liên tiếp sử những chiêu hiểm ác nhưng Tư Mã Lâm đều tránh được.
Diêu Bá Đương quát lên một tiếng, múa đao chém xéo xuống, đợi cho Tư Mã Lâm nghiêng qua bên trái nhảy lên, chân phải mới đá ra. Tư Mã Lâm thân hình đang ở trên lưng chừng không có cách gì tránh né, chiếc dùi trong tay liền đâm luôn vào mu bàn chân địch để cho Diêu Bá Đương phải rụt chân về. Ngọn cước của Diêu Bá Đương quả nhiên không dán phóng ra tiếp, chân trái liền sử dụng uyên ương liên hoàn, nhanh như chớp đá liên tiếp vào ngang lưng Tư Mã Lâm.
Tư Mã Lâm liền vung búa lên, nghe bịch một tiếng, bổ trúng ngay mũi Diêu Bá Đương, lập tức máu tươi vọt ra, thì ngay lúc đó ngọn cước của Diêu Bá Đương cũng trúng hông Tư Mã Lâm. Thế nhưng mặt y bị đòn trước, trong lòng hơi hoảng nên lực đạo ngọn cước so ra chỉ được độ hai thành lúc bình thường. Tư Mã Lâm tuy trúng cú đá thật nhưng chỉ thấy hơi đau một tí không bị thương. Chỉ kẻ trước người sau trong một khoảnh khắc nhưng thắng bại coi như đã xong, Diêu Bá Đương rống lên như hổ gầm, vác đao xông lên tấn công tiếp nhưng thấy đầu đau như búa bổ, chân chập choạng, đứng không vững nữa.
Tư Mã Lâm thắng được chiêu đó cũng nhờ may, biết rằng nếu để cho đối phương sống sót, về sau họa hoạn vô cùng lập tức búa nhỏ bên tay phải vung lên đợi cho Diêu Bá Đương vung đao lên gạt lập tức mũi dùi bên tay trái đâm luôn vào giữa ngực.
Phó trại chủ của Tần gia trại thấy tình thế không ổn, hú lên một tiếng, phóng đơn đao trong tay ra nhắm thẳng vào Tư Mã Lâm. Chỉ trong nháy mắt, trong đại sảnh tiếng gió rít lên vù vù, hàng chục thanh đơn đao cùng ném tới.
Thì ra trong võ công của Tần gia trại có tuyệt kỹ phóng đơn đao tên là Bào Hao Hạ Sơn. Mỗi thanh đao đều nặng từ bảy tám cân đến ngoài mười cân, dùng sức ném ra sức đi thật là mạnh, huống chi hàng chục thanh cùng phóng ra một lượt, Tư Mã Lâm không còn cách nào tránh né hay đỡ gạt.
Trước mắt thấy y không thể thoát khỏi cái họa loạn đao phân thi, đột nhiên ánh đuốc lập lòe, một người đã nhảy vọt tới bên cạnh Tư Mã Lâm, đưa tay vào đám đao phóng tới, chộp bên đông đón bên tây, bắt hết hơn chục thanh đơn đao, ôm vào trước ngực cất tiếng cười ha hả một tràng dài, trên ghế trong sảnh đã thêm một người ngồi chễm chệ. Tiếp đó loảng xoảng loảng xoảng liên tiếp người đó đã vứt bó đao trên tay xuống đất.
Mọi người kinh hãi nhìn vào, thấy đó là một hán tử trung niên mặc trường bào màu tro, người gầy gò thật cao, thần sắc có vẻ ngang bướng gàn dở. Mọi người thấy y xông ra bắt những thanh đao ai nấy đều bội phục không ai dám nói câu gì. Chỉ có mình Đoàn Dự cười nói:
- Vị huynh đài kia ra tay nhanh thật, võ công ắt là cao lắm. Chẳng hay có thể cho biết tôn tính đại danh chăng?
Hán tử cao gầy kia chưa kịp trả lời Vương Ngữ Yên đã tiến lên cười nói:
- Bao tam ca, tiểu muội lại tưởng ông không quay lại, lòng đang khắc khoải, ngờ đâu tam ca đã đến rồi, hay lắm, hay lắm!
Đoàn Dự nói:
- Ồ, thì ra là Bao tam tiên sinh.
Gã Bao tam tiên sinh kia đưa mắt liếc y một cái, khinh khỉnh nói:
- Tên tiểu tử kia ngươi là ai, sao dám xí xa xí xố với ta?
Đoàn Dự đáp:
- Tại hạ họ Đoàn, tên Dự, vốn là kẻ vô quyền vô dũng, ngờ đâu lạc vào chốn giang hồ, may đến hôm nay chưa chết thì kể cũng là một việc lạ trên đời.
Bao tam tiên sinh trợn mắt nhìn y, nhất thời không biết phải trả lời sao. Tư Mã Lâm tiến lên vái một cái thật sâu nói:
- Tư Mã Lâm của phái Thanh Thành được ngài tương trợ, đại ân đại đức đó vĩnh viễn không dám quên. Xin được hỏi danh húy xưng hô thế nào, để cho tại hạ được ghi khắc trong tim.
Bao tam tiên sinh đảo mắt một cái, tung chân ra, nghe bình một tiếng đá y ngã lăn cù, quát lớn:
- Mặt ngươi mà dám đến hỏi tên ta hay sao? Ta đâu có lòng dạ nào cứu ngươi, chỉ vì đây là trang viện của A Châu muội tử, nếu tên xú tiểu tử như ngươi bị loạn đao phân thây, máu chảy đầy đất, có phải bẩn cả cái Thính Hương thủy tạ này hay không? Mau đi theo ta!
Tư Mã Lâm thấy y đá ra, muốn tránh nhưng không kịp, bị ngã khá đau, lại nghe y ăn nói khinh bạc như thế, cứ theo quy củ giang hồ, nếu như không lập tức ra tay chí mạng thì cũng phải ước hẹn ngày sau gặp lại chứ không thể để bị người ta coi rẻ trước mặt mọi người. Y ra vẻ cứng cỏi nói:
- Bao tam tiên sinh, mỗ Tư Mã Lâm hôm nay bị người ta vây đánh, quả bất địch chúng, tưởng chừng táng mạng nơi đây, may được ông ra tay tương cứu. Tư Mã Lâm này ân oán phân minh, có ơn trả ơn, có oán báo oán, xin mời!
Y biết rằng đời mình dù khổ luyện cách nào cũng không thể nào đạt tới mức của Bao tam tiên sinh, chỉ nói quấy quá mấy tiếng “có ơn trả ơn, có oán báo oán” để cho khỏi bẽ mặt. Bao tam tiên sinh cũng chẳng thèm để ý đến y nói gì chỉ nói với Vương Ngữ Yên:
- Vương cô nương, cữu thái thái vì cớ gì mà lại để cho cô qua tận đây?
Vương Ngữ Yên cười nói:
- Tam ca thử đoán xem là vì duyên cớ gì?
Bao tam tiên sinh trầm ngâm rồi nói:
- Cái này quả là khó nghĩ cho ra.
Tư Mã Lâm thấy Bao tam tiên sinh chỉ cốt nói chuyện với Vương Ngữ Yên, không coi những câu nói của mình vào đâu, nghĩ đến y đá mình một cái ngã chỏng gọng trong bụng cực kỳ căm tức, không còn nhớ chút nào đến cái ơn vừa cứu mình, tay trái vẫy một cái dẫn đám đệ tử phái Thanh Thành đi ra.
Bao tam tiên sinh gọi vói:
- Ngừng lại!
Tư Mã Lâm quay đầu lại hỏi:
- Cái gì?
Bao tam tiên sinh nói:
- Ta nghe ngươi đến đất Cô Tô là để báo thù cho cha ngươi. Ngươi đi kiếm lộn người rồi, cha ngươi Tư Mã Vệ không phải do Mộ Dung công tử giết.
Tư Mã Lâm hỏi:
- Sao lại thế? Làm sao Bao tam tiên sinh biết được?
Bao tam tiên sinh giận dữ nói:
- Ta đã bảo không phải Mộ Dung công tử giết, thì nhất định là không phải y giết. Mà dẫu có thực là y giết, ta đã bảo không, thì cũng phải coi là không. Không lẽ lời của ta lại không coi ra gì hay sao?
Tư Mã Lâm nghĩ thầm: “Gã này ăn nói quả là ngang ngược” liền đáp:
- Thù cha không đội trời chung, Tư Mã Lâm này võ nghệ kém cỏi thật nhưng dẫu có tan xương nát thịt cũng phải trả mối thâm cừu này. Tiên phụ chẳng hay do ai sát hại, xin ngài cho biết.
Bao tam tiên sinh cười sằng sặc nói:
- Cha ngươi có phải là con ta đâu, bị ai giết có liên quan đếch gì đến ta? Ta chỉ nói cha ngươi không phải bị Mộ Dung công tử sát hại, xem ra ngươi không tin. Được rồi, thế thì cứ coi như ta giết, ngươi muốn báo thù thì cứ xông vào coi.
Tư Mã Lâm mặt tím lại nói:
- Mối thù giết cha, đâu có phải trò đùa? Bao tam tiên sinh, tôi tự biết không phải là địch thủ của ông, ông muốn giết thì giết chứ làm nhục tôi như vậy thì nhất định là không được.
Bao tam tiên sinh cười nói:
- Ta chẳng thèm giết ngươi, chỉ làm nhục ngươi, để xem ngươi làm gì được ta nào?
Tư Mã Lâm tức tối đến nỗi lồng ngực như muốn nổ tung, muốn xông lên thí mạng với y nhưng lại không dám, đứng chết sững tại chỗ, tiến thoái lưỡng nan thật là ngượng ngập. Bao tam tiên sinh cười nói:
- Cỡ như ông già ngươi tài nghệ kém cỏi như thế làm gì phải để đến Mộ Dung huynh đệ của ta phải phí tâm? Mộ Dung công tử võ công cao gấp mười ta, ngươi thử nghĩ mà xem, Tư Mã Vệ liệu có xứng để y phải ra tay hay không?
Tư Mã Lâm chưa kịp trả lời, Chư Bảo Côn đã rút phắt binh khí, lớn tiếng nói:
- Bao tam tiên sinh, Tư Mã Vệ lão tiên sinh là thụ nghiệp sư phụ của tại hạ, ta nhất định không để ngươi làm nhục đến thanh danh của người đã khuất.
Bao tam tiên sinh cười:
- Ngươi là đứa gian tế lẻn vào phái Thanh Thành học trộm võ nghệ, còn rỗi hơi chen vào chuyện người khác làm gì?
Chư Bảo Côn lớn tiếng đáp:
- Tư Mã sư phụ đãi ta nhân chí nghĩa tận, Chư Bảo Côn này thẹn chưa báo đáp được gì, hôm này mong được vì bảo tồn thanh danh cho tiên sư mà chết, để bớt phần nào tội khi mạn mới rồi. Bao tam tiên sinh, ngươi mau xin lỗi Tư Mã chưởng môn đi.
Bao tam tiên sinh cười nói:
- Bao tam tiên sinh này xưa nay chưa bao giờ nhận lỗi, cũng chẳng xin lỗi ai, dẫu có biết là mình sai thì cũng cãi cho bằng được. Tư Mã Vệ lúc sống cũng có thanh danh cái quái gì đâu, lúc chết đi lại càng tệ hại. Những người như thế giết sớm ngày nào tốt ngày nấy! Giết càng sớm càng tốt!
Chư Bảo Côn hậm hực quát:
- Mau lấy binh khí ra!
Bao tam tiên sinh lại cười:
- Bọn con cái học trò Tư Mã Vệ, toàn là phường bị thịt, trừ việc bắn trộm hại người có còn biết cái quái gì nữa đâu.
Chư Bảo Côn kêu lớn:
- Xem chiêu!
Y tay trái cầm dùi sắt, tay phải cầm búa cùng tấn công. Bao tam tiên sinh không thèm đứng dậy, ống tay áo bên trái phất ra, một luồng kình phong ập vào mặt địch thủ. Chư Bảo Côn cảm thấy bị ngộp thở, vội nghiêng qua tránh né. Chân phải Bao tam tiên sinh liền móc một cái, Chư Bảo Côn ngã lăn ra đất, Bao tam tiên sinh thuận đà đá luôn vào mông y, văng thẳng ra cửa. Chư Bảo Côn ở trên không xoay mình một cái, vai vừa đụng đất liền uốn mình đứng bật dậy, khập khiễng quay vào, lại vung dùi xông tới. Bao tam tiên sinh chộp luôn cổ tay y, hất y tung lên, nghe bịch một tiếng đụng vào xà nhà một cái thật đau.
Chư Bảo Côn rơi xuống đất, lại nhỏm lên xông vào lần thứ ba. Bao tam tiên sinh nhíu mày nói:
- Ngươi quả thật chẳng biết phải quấy chi hết, tưởng ta không giết ngươi được hay sao?
Chư Bảo Côn kêu lên:
- Ngươi cứ giết ta đi...
Bao tam tiên sinh vung hai tay ra, nắm tay y tung mạnh một cái, nghe kêu lách cách, xương hai cánh tay Chư Bảo Côn đã gãy lìa, dùi liền đâm vào cánh tay trái, còn búa cũng đập luôn vào phía vai phải, hai vai máu chảy ròng ròng. Lần này y bị thương rất nặng, tuy vẫn muốn xông lên thí mạng nhưng không còn hơi sức nữa.
Người của phái Thanh Thành ngơ ngác nhìn nhau, không biết có nên tiến lên giúp đỡ hay không. Thế nhưng thấy y vì bảo tồn thanh danh cho tiên sư mà không kể gì sống chết, quả không có gì là giả dối, bao nhiêu thù hận trong lòng giảm đi quá nửa.
A Châu từ nãy vẫn đứng một bên không nói lời nào, đột nhiên xen vào:
- Tư Mã đại gia, nhà Mộ Dung Cô Tô nếu như quả đã giết Tư Mã lão tiên sinh thì lẽ nào lại để cho các ông sống sót? Nếu như Bao tam gia muốn giết hết tất cả, e rằng cũng chẳng khó lắm đâu, ít nhất cũng không cứu tính mạng Tư Mã đại gia. Vương cô nương cũng chẳng cứu Chư đại gia làm gì, thực sự là ai ra tay hại Tư Mã lão tiên sinh, các vị trở về tìm hiểu cho rõ ràng minh bạch.
Tư Mã Lâm nghĩ lời nàng quả thực có lý, toan mở miệng nói vài câu đãi bôi. Bao tam tiên sinh giận dữ quát:
- Đây là trang viện của A Châu muội tử, chủ nhân đã lên tiếng đuổi khách rồi, sao ngươi còn lần khân chưa chịu đi?
Tư Mã Lâm đáp:
- Được rồi, sau này gặp lại.
Y hơi gật đầu, liền đi ra ngoài. Bao tam tiên sinh quát:
- Khoan đã!
Rồi đưa tay vào trong áo, lấy ra một lá cờ nhỏ, giương cờ ra thì đó là một cái cờ nhỏ màu đen làm bằng gấm, bên trong có một cái vòng tròn màu trắng, trong vòng tròn có thêu một chữ Yên màu vàng. Bao tam tiên sinh cầm cờ khẽ vẫy một cái rồi nói:
- Tư Mã chưởng môn, ngươi cầm lá cờ này đi, coi như ngươi dưới trướng Mộ Dung Cô Tô. Về sau bất luận có chuyện gì gian nan, chỉ cần cầm theo lá cờ này đến Tô Châu, mọi chuyện sẽ được giải quyết.
Tư Mã Lâm biết chỉ cần nhận lá cờ nhỏ này, phái Thanh Thành liền được một chỗ dựa vững chắc, không bao giờ sợ phái Bồng Lai chèn ép trả thù, nhưng từ nay lại phải nghe lệnh của Cô Tô Mộ Dung, họ Mộ Dung nếu có người cầm tiểu kì này đi tới phái Thanh Thành, đòi tiền mười tám vạn, đòi người một ngàn tám trăm, phái Thanh Thành không thể không tuân mệnh được, bằng không thì trong nháy mắt sẽ bị giết hết. Tuy nói trở thành thuộc hạ như vậy, thanh danh bản phái bị tổn hại nặng nề, làm việc lại không thể tự do, nhưng từ nay về sau được đảm bảo an toàn, đang lúc trong ngoài đều khốn đốn, chính mình võ công tài năng không đủ để dẫn dắt phái Thanh Thành đứng riêng trong thiên hạ, cân nhắc được hơn, tiếp nhận tiểu kì này lành nhiều dữ ít. Nhưng Bao tam tiên sinh nói năng vô lễ, bức bách áp đặt, mình là chưởng môn một phái, trong chốn võ lâm cũng coi như đứng hàng trên, để hắn hô hô quát quát, mình lại lập tức khuất phục, từ nay về sau còn mặt mũi nào đi lại trên giang hồ? Không bằng thà chết chứ không chịu nhục, cứ để cho hắn giết cũng được. Lập tức hai tay lồng vào hai tay áo, chuẩn bị liều mình với Bao tam tiên sinh.
A Châu thấy Bao tam tiên sinh vừa đến đã chiếm được thắng thế, nhưng vị Bao tam tiên sinh tính tình quá cổ quái, lúc này nói chuyện, không để cho đối phương giữ lại chút thể diện, nếu đối phương tính tình quyết cứng không chịu mềm, ra tay cứng rắn, Bao tam tiên sinh cho dù đem cả phái Thanh Thành ra tru diệt, đối với nghiệp lớn của công tử cũng chẳng có gì hay ho, liền cao giọng nói:
- Tư Mã chưởng môn, công tử nhà ta lúc ra đi đã từng dặn bọn thủ hạ, nói Tần gia trại ở Vân Châu cùng phái Thanh Thành ở Tứ Xuyên đều là những vị anh hùng hảo hán, trên giang hồ đều là bằng hữu, hai phái võ công cũng có nét độc đáo riêng, chỉ tiếc mọi người cách xa nhau, không thể kết giao bằng hữu. Gần đây nghe nói Tần gia trại cùng phái Thanh Thành có hai vị anh hùng bất hạnh bị vạn ác gian nhân bên ngoài ám hại, Mộ Dung công tử mười phần thương xót, công tử lần này xuất môn, đó là đi điều tra nghe ngóng cẩn thận, tìm ra hung thủ, báo thù cho Tần đại gia và Tư Mã lão gia.
Quần hùng Tần gia trại và phái Thanh Thành nghe lời nàng nói, tất nhiên là nói Tần Bá Khởi và Tư Mã Vệ hai người quyết không phải do Mộ Dung Phục giết, nếu không tiểu cô nương này sẽ không nói hung thủ là “Vạn ác gian nhân”, mà Mộ Dung Phục nào có phải đi ra ngoài để truy tìm hung thủ? Tuy rằng tiểu cô nương này nói chuyện chưa chắc đã đúng, nhưng nàng dù sao cũng là gia nhân nhà Mộ Dung, trong lời nói lại tâng bốc Tần gia trại và phái Thanh Thành nên mọi người cũng bớt phần tức giận. Chỉ nghe A Châu lại nói:
- Mộ Dung công tử thân phó, nếu các vị hảo bằng hữu Tần gia trại và phái Thanh Thành bị gian nhân nói khích, hiểu lầm nhà Mộ Dung Cô Tô ta mà đến tra hỏi, chúng ta phải chiêu đãi thật tốt, cùng chung kẻ thù, cùng nhau đối phó với địch nhân. Nếu như chúng ta lâm vào nguy ngập, cũng không cần để ý tới danh dự nhà Mộ Dung Cô Tô, cứ đến Diêu trại chủ và Tư Mã chưởng môn cầu viện, hai vị khẳng khái phóng khoáng, nhất định là đồng ý giúp đỡ. Vị Bao tam gia này võ công rất cao, tính tình ngay thẳng, chúng ta người một nhà thường để cho hắn đắc tội, nhưng hắn ngoài mặt ghê gớm nhưng bên trong cũng không có ác ý. Mọi người biết tính tình hắn nên cũng chưa bao giờ tranh cãi với hắn, Chính hắn cũng biết nhận lỗi, trong lòng thật ân hận, về sau chỉ có đối xử với chúng ta ngày càng tốt.
Bao tam tiên sinh biết nàng hòa giải giúp mình, nghĩ rằng lúc này phải lấy sự nghiệp nhà Mộ Dung làm trọng, hai tay liền ôm quyền nói:
- Huynh đệ Bao Bất Đồng, đắc tội với bằng hữu, mong mọi người tha thứ. Nếu không thì khi công tử nhà ta trở về, nhất định ta bị trách tội.
Nói xong liên tục chắp tay, quần hào đều đáp lễ, sắc mặt nhất thời bình thản. Vương Ngữ Yên nói theo:
- Ngũ Hổ Đoạn Môn Đao sáu mươi tư chiêu, chữ Thanh có chín cách đánh, chữ Thành có mười tám cách phá, đều là các chiêu số cực kì cao minh, truyền lại theo thời gian, nếu như có thiếu thất không được đầy đủ, tiểu muội xin nói ra để các vị thỉnh giáo, mọi người lấy cái này bù cái khác, cùng nhau luận bàn, chẳng phải là tốt hay sao?
Quần hào Tần gia trại và phái Thanh Thành đồng loạt vỗ tay khen ngợi, biết nàng nói thế tức là đã đồng ý đem chiêu thức thất truyền của hai phái đem ra trao đổi, nhất nhất bù thêm cho đủ, cái gì là “thỉnh giáo”, “luận bàn” đó chỉ là giữ thể diện cho hai phái. Diêu Bá Đương và Tư Mã Lâm vốn tiếc rằng võ công bổn phái bị thiếu, nếu có thể đem Vương Ngữ Yên cùng mình trở về, nhưng chưa chắc nàng đã chịu nói ra, hơn nữa Bao Bất Đồng đến, rót cuộc không thể cứng rắn buộc nàng phải nói, lúc này nghe nàng nói vậy, tâm nguyện bao năm được hoàn thành, tất cả đều vui mừng quá đỗi.
Tư Mã Lâm cùng Khương Mạnh hai vị sư thúc thấp giọng thương nghị vài câu, liền đi tới trước mặt Bao Bất Đồng, hai tay tiếp nhận tiểu kì, khom người nói:
- Phái Thanh Thành sau này nhất nhất tuân theo lệnh của nhà Mộ Dung, xin Bao tam tiên sinh chỉ giáo thêm. Cung phụng kính lễ, lập tức chuẩn bị sau này sẽ đem tới.
Thần sắc Bao Bất Đồng lập tức biến đổi, kính cẩn hoàn lễ nói:
- Tư Mã chưởng môn, sau này chúng ta là người một nhà. Vừa mới đắc tội, huynh đệ có điều không phải, thật lòng nhận lỗi.
Tư Mã Lâm nói:
- Không dám!
Nói xong cùng mọi người bản phái khom người nói lời tạm biệt. Vương Ngữ Yên nói:
- Tư Mã chưởng môn, chiêu số võ công quý phái, tiểu nữ ngày sau tất tìm người để lãnh giáo.
Tư Mã Lâm nói:
- Xin đợi Vương cô nương chỉ điểm.
Nói xong đi ra cửa, bọn Chư Bảo Côn cũng đi theo ra ngoài.
Bao Bất Đồng nghiêng đầu, hướng Diêu Bá Đương nhìn ngang nhìn dọc, không nói được lời nào. Quần đạo Tần gia trại hồi nãy bao nhiêu đao ném vào Tư Mã Lâm rồi, tất cả bị Bao tam tiên sinh bắt được vứt ở dưới chân, thấy y đối với Diêu Bá Đương làm nhục như thế, người nào cũng sôi gan nhưng có điều ai nấy tay không có khác gì hùm beo đã bị bẻ nanh cắt móng.
Bao tam tiên sinh cười ha hả, chân phải liên tiếp đá ra, hơn chục thanh đao vùn vụt tung lên, bay thẳng vào quần đạo Tần gia trại. Những thanh đao đó đi thật chậm, ai nấy thuận tay bắt được, cầm trong tay đều ngạc nhiên, rõ ràng đối phương đưa đao vào tay mình quả là lợi thế. Ai nấy vẫn tưởng bắt được thanh đao y đá đến rất khó, nếu như mũi đao đến gần còn quay ngược lại đâm luôn vào người thì cũng không có gì lạ. Mọi người cầm được thanh đao trong tay mà tay chân luống cuống không biết làm sao cho phải.
Diêu Bá Đương bước từng bước về phía trước, ném đao xuống đất, ôm quyền nói:
- Bao tam tiên sinh đối với họ Diêu này có ơn cứu mạng, cái thân này toàn do các hạ ban cho. Tần gia trại nhỏ bé, nếu như được Cô Tô Mộ Dung đồng ý thu nhận, không còn gì vinh hạnh hơn, sau này không từ tính mạng, cũng không dám không tuân mệnh. Nói xong lại đi lên từng bước. Bao Bất Đồng cười ha hả nói:
- Tốt lắm, tốt lắm!
Tay trái lấy ra một lá cờ nhỏ màu đen, đưa vào tay hắn. Diêu Bá Đương hai tay cung kính tiếp nhận, giơ tay lên cao quá đầu, xoay người hướng về quần đạo nói:
- Các vị huynh đệ, Tần gia trại chúng ta sau này nghe lệnh nhà Mộ Dung, nhất mực trung thành, sinh tử không từ. Vị nào không muốn, xin mời ra khỏi Tần gia trại, Diêu Bá Đương không dám miễn cưỡng, sau này không đáng làm bằng hữu, cũng không làm địch thủ, đường ai nấy đi.
Quần hào nói vang dội:
- Chúng tôi cùng đi với Diêu đại ca, từ nay về sau tuân lệnh nhà Mộ Dung Cô Tô, quyết không dám trái!
Bao Bất Đồng cười nói:
- Tốt lắm, tốt lắm! Huynh đệ nói năng vô lễ, việc lam không đúng, đắc tội với các bằng hữu. Sau này mọi người là người một nhà, xin các vị tha thứ.
Nói xong ôm quyền thi lễ xung quanh. Quần hào đều cười ầm đáp lễ. Diêu Bá Đương hướng về Vương Ngữ Yên nói:
- Vương cô nương, Diêu Bá Đương có lời mời, bất luận một ngày nào đó cô nương có hứng thú, cùng Mộ Dung công tử, Bao tam tiên sinh, cùng với các vị tướng công, tiểu thư đi đến Vân Châu, Diêu Bá Đương sẽ hết lòng chiêu đãi. Xin đợi đại giá của các vị.
Vương Ngữ Yên cười nói:
- Đa tạ hảo ý của Diêu trại chủ! Tất nhiên ta sẽ đến thỉnh giáo các vị.
Diêu Bá Đương khom người cáo từ, dẫn quần hào đi theo, trước khi đi đặt xuống hai thỏi bạc lớn, thưởng cho gia nhân.
Bao tam tiên sinh liếc nhìn Đoàn Dự mấy cái, không đoán nổi chàng là hạng người nào, hỏi Vương Ngữ Yên:
- Gã này thuộc cánh nào? Có cần phải tống cổ y đi chăng?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Tiểu muội và A Châu, A Bích đều bị Nghiêm má má bắt giữ, tình thế cực kỳ nguy hiểm, may được Đoàn công tử đây ra tay cứu. Hơn nữa, anh ta biết chuyện Huyền Bi hòa thượng bị người ta dùng Đại Vi Đà Chử đánh chết, mình còn cần phải hỏi lại cho rõ ràng.
Bao tam tiên sinh nói:
- Nếu như thế, cô muốn giữ y lại chứ gì?
Vương Ngữ Yên đáp:
- Đúng thế!
Bao tam tiên sinh mỉm cười:
- Cô không sợ Mộ Dung huynh đệ ghen hay sao?
Vương Ngữ Yên mở tròn đôi mắt:
- Ghen cái gì?
Bao tam tiên sinh chỉ Đoàn Dự nói:
- Gã này mặt trơ trán bóng, mồm miệng trơn như bôi mỡ, cô chớ có vào tròng!
Vương Ngữ Yên không hiểu hỏi lại:
- Tiểu muội có gì mà mắc hỡm y? Tam ca bảo y đặt điều nói láo tin tức về chùa Thiếu Lâm ư? Tiểu muội không sao hiểu nổi.
Bao tam tiên sinh không nhiều lời, quay sang Đoàn Dự cười khẩy mấy tiếng nói:
- Nghe nói Huyền Bi hòa thượng của chùa Thiếu Lâm bị người ta dùng công phu Đại Vi Đà Chử đánh chết ở Đại Lý, lại có một bọn hồ đồ đổ tội cho nhà Mộ Dung chúng ta, chuyện đó như thế nào, ngươi kể lại đầu đuôi ta nghe.
Đoàn Dự nghe mà bực mình nên cũng cười nhạt nói:
- Ngươi thẩm vấn tù phạm đó chăng? Nếu như ta không nói ngươi sẽ tra khảo hay sao?
Bao tam tiên sinh ngạc nhiên, không nổi giận mà lại bật cười lẩm bẩm:
- Tiểu tử này lớn mật thật! Tiểu tử này lớn mật thật!
Đột nhiên y tiến lên nắm lấy cánh tay chàng, hơi dùng sức, Đoàn Dự đau đến thấu xương kêu lên:
- Oái, ngươi làm gì thế?
Bao tam tiên sinh đáp:
- Ta dùng nghiêm hình tra khảo, hỏi cung tù phạm đó.
Đoàn Dự cứ mặc kệ coi như không phải tay mình, mỉm cười nói:
- Ngươi khảo đả ta, ta không thèm nhìn tới ngươi nữa.
Bao tam tiên sinh tăng gia kình lực đến nỗi xương tay Đoàn Dự kêu lên lách cách dường như muốn gãy. Đoàn Dự cố nhịn đau, không để ý gì tới. A Bích vội nói:
- Bao tam gia, vị Đoàn công tử đây tính khí cao ngạo lắm, y là ân nhân cứu mạng của chúng tôi, tam gia đừng làm y bị thương.
Bao tam tiên sinh gật đầu nói:
- Được lắm, được lắm! Tính khí cao ngạo thật hợp với tính quen mồm “Sai bét, sai bét” của ta.
Nói xong y từ từ thả tay Đoàn Dự ra. A Châu cười nói:
- Nói đến mồm miệng, cả bọn mình ai cũng đói rồi. Lão Cố ơi! Lão Cố!
Nàng cao giọng gọi lớn mấy tiếng. Lão Cố từ cửa hông thò đầu vào thấy bọn Diêu Bá Đương, Tư Mã Lâm không còn ai ở đó, mừng rỡ lật đật chạy vào. A Châu nói:
- Lão đi súc miệng hai lần, rửa mặt hai lần, rửa tay ba lần sau đó hãy đi làm cho chúng ta mấy món thật tinh khiết. Nếu có chỗ nào không sạch sẽ, Bao tam gia sẽ không tha cho lão đâu.
Lão Cố mỉm cười gật đầu, luôn mồm nói:
- Sạch sẽ lắm, sạch sẽ lắm!
Các tì bộc trong Thính Hương thủy tạ liền dọn tiệc tại một hoa sảnh. A Châu mời Bao tam tiên sinh ngồi thủ tòa, Đoàn Dự ngồi thứ hai, Vương Ngữ Yên ngồi thứ ba còn nàng và A Bích ngồi nơi hạ thủ tiếp khách. Vương Ngữ Yên chưa cầm đũa đã nóng ruột hỏi:
- Tam ca, huynh ấy... huynh ấy...
Bao tam tiên sinh trừng mắt nhìn Đoàn Dự nói:
- Vương cô nương, nơi đây có người ngoài ngồi chung, mọi chuyện không nên nói ra. Người này lại không biết lai lịch, cái thứ mặt trắng như vôi, ta chẳng đời nào tin nổi...
Đoàn Dự nghe thế tức khí đùng đùng, đứng phắt dậy, định bỏ bàn tiệc đi ra ngoài. Chàng luôn không vui khi phải khoe thân phận của mình, nếu nói ra mình là Trấn Nam Vương thế tử nước Đại Lý, Bao Bất Đồng dẫu không coi trọng chàng là vương tử, quý tộc, song họ Đoàn Đại Lý là một võ lâm thế gia lừng lẫy võ lâm đương thời, người họ Đoàn ắt không phải hạng người bình thường. Nhưng chàng không muốn dựa vào bốn chữ “Họ Đoàn Đại Lý” mà được người ta coi trọng. A Bích vội nói:
- Đoàn công tử đừng nổi giận, tính khí Bao tam gia chúng tôi ăn nói chẳng giữ mồm, trước nay vẫn thế. Gặp ai cũng phải gây gỗ mấy câu, có thế mới ăn được cơm. Họa chăng chỉ có khi nào mặt trời mọc ở phương tây thì y mới không mích lòng ai. Xin mời công tử ngồi nán lại một chút đã.
Đoàn Dự nhìn Vương Ngữ Yên, thấy mặt nàng dường như cũng khẩn khoản muốn mình ở lại, tuy không biết chắc mười mươi nhưng không sao bỏ được cái cơ hội ngồi bên cạnh nàng, nên lại ngồi xuống nói:
- Bao tam tiên sinh bảo tôi mặt trơ trán bóng quả thực không sao chịu nổi. Mộ Dung công tử của các cô tướng mạo chắc cũng không khác Bao tam tiên sinh bao nhiêu, phải không?
Bao Bất Đồng cười ha hả nói:
- Câu hỏi đó hay lắm. Công tử của bọn ta so với Đoàn huynh anh tuấn hơn nhiều...
Vương Ngữ Yên nghe nói mặt mày rạng rỡ niềm vui như bừng nở tự đáy lòng, Bao Bất Đồng nói tiếp:
- ... Công tử chúng ta anh tuấn hiên ngang, tuy đẹp trai thực nhưng so với cái đẹp kiểu ăn hại đái nát như Đoàn công tử thì hoàn toàn khác hẳn, khác hẳn. Còn như tại hạ thì tuy có anh đấy nhưng không được tuấn, tuy cũng hiên ngang nhưng mặt mũi xấu xí, phải gọi là anh xú.
Cả bọn cười ồ. Bao Bất Đồng cạn chén rượu nói:
- Công tử sai ta đến Phúc Kiến làm một việc, cốt để ngầm giúp chùa Thiếu Lâm một tay, còn như làm việc gì thì đợi bao giờ vị Đoàn công tử này đi khỏi rồi ta sẽ nói. Bọn ta đang muốn làm bạn với phái Thiếu Lâm thì không thể nào tự nhiên lại giết hòa thượng của nhà chùa, huống chi công tử đã tới Đại Lý bao giờ đâu. Cô Tô Mộ Dung võ công tuy cao thật nhưng có thể dùng Đại Vi Đà Chử để giết người xa vạn dặm thì e rằng luyện chưa xong.
Đoàn Dự gật đầu:
- Bao huynh nói vậy cũng có lý.
Bao Bất Đồng lắc đầu nói:
- Sai bét, sai bét!
Đoàn Dự ngạc nhiên nghĩ thầm: “Ta bảo ngươi nói có lý, sao lại bảo rằng ta nói sai?”. Lại nghe Bao Bất Đồng nói:
- Không phải là lời ta có lý, mà là sự thực rành rành. Đoàn huynh chỉ nói lời ta có lý, có phải bảo rằng sự thực thì không phải vậy, chỉ vì ta mồm miệng khéo léo, nói ra có vẻ có lý đấy thôi. Lời của ngươi thật là sai bét.
Đoàn Dự mỉm cười không trả lời, nghĩ bụng chớ nên cãi lẫy với y làm gì. Bao Bất Đồng nói:
- Hôm qua ta quay trở lại Tô Châu gặp Phong tứ đệ, hai anh em trao đổi mới hay có bọn chó má nào đó tính gây chuyện nên ngầm hại người để cho ai nấy đổ tội lên đầu Cô Tô Mộ Dung. Chuyện đó đáng lẽ là một việc rất hay, ai kiếm mình là mình đánh, còn gì thú vị cho bằng?
A Châu cười nói:
- Tứ ca hẳn là như mở cờ trong bụng, chuyện đó y cầu còn chưa được.
Bao Bất Đồng lắc đầu:
- Sai bét, sai bét! Tứ đệ muốn đánh nhau sao lại bảo là cầu còn chưa được? Y không cầu mà cũng không được, đi khắp thiên hạ thể nào chẳng có lúc đánh nhau.
Đoàn Dự thấy y cũng muốn bắt bẻ cả A Châu mới hay lời của A Bích mới đây không sai, người này chỉ thích đi cà khịa với người khác làm vui. Vương Ngữ Yên nói:
- Thế tam ca với tứ ca bàn bạc được những gì?
Bao Bất Đồng đáp:
- Thứ nhất là hung thủ không phải do phái Thiếu Lâm. Bọn họ sẽ không tự giết đại hòa thượng của họ. Thứ hai cũng không phải do Cái Bang vì chưng phó bang chủ của họ là Mã Đại Nguyên bị người ta dùng Tỏa Hầu Công giết. Tỏa Hầu Công là tuyệt kỹ thành danh của Mã Đại Nguyên, y có bị giết cũng chẳng có gì là lớn chuyện nhưng dùng Tỏa Hầu Công giết Mã Đại Nguyên thì đúng là giá họa cho Cô Tô Mộ Dung rồi.
Đoàn Dự gật đầu. Bao Bất Đồng nói:
- Đoàn huynh gật gù liên tiếp, hẳn là trong bụng cho là mấy câu nói của ta có lý chứ gì?
Đoàn Dự đáp:
- Sai bét, sai bét! Thứ nhất, ta chỉ gật đầu có một cái chớ nào có gật gù liên tiếp. Thứ hai, ta thực tình thấy là đúng chứ đâu phải chỉ vì Bao huynh nói có lý đâu.
Bao Bất Đồng cười ha hả nói:
- Nhà ngươi học cái điệu nói của ta, dùng cái thuật gậy ông đập lưng ông, định gia nhập dưới trướng Cô Tô Mộ Dung chăng? Có ý gì đây? Hay là phải lòng cô em A Bích rồi?
A Bích e thẹn mặt đỏ bừng, phụng phịu nói:
- Tam gia lại giở giọng ăn nói càn rỡ, tiểu muội có đắc tội gì với tam gia đâu nào?
Bao Bất Đồng nói:
- Sai bét, sai bét! Người ta thấy ngươi vừa mắt vì ngươi vừa dịu dàng, vừa dễ thương. Ta nói như thế chính vì ngươi không có lỗi lầm gì, còn như nếu ngươi đắc tội với ta thì ta sẽ nói là ngươi phải lòng tên mặt trắng chứ tên mặt trắng đó chẳng có tơ tưởng gì ngươi đâu.
A Bích càng thêm luống cuống, A Châu nói:
- Tam gia đừng có hiếp đáp A Bích muội tử. Nếu tam gia còn bắt nạt cô ấy là tiểu muội sẽ ăn hiếp bé Tịnh Tịnh cho mà xem.
Bao Bất Đồng cười sằng sặc nói:
- Con gái ta khuê danh là Bao Bất Tịnh, ngươi gọi nó là Tịnh Tịnh thì quả là tâng bốc nó chứ nào có phải là ăn hiếp nó đâu. Này cô em A Bích, ta làm gì có dám bắt nạt ngươi đâu.
Nghe y đấu dịu dường như nghe người ta nói hiếp đáp con gái mình nên có phần kiêng nể. Y quay sang nói với Vương Ngữ Yên:
- Đám khốn kiếp kia có mưu toan gì với bọn mình ngày một ngày hai rồi cũng tìm ra. Phong tứ đệ vừa ở Giang Tây về nói năng chưa được rõ ràng, anh em mình phải đi Thanh Vân Trang mới được. Đặng đại tẩu nói có nghe được tin các hảo thủ Cái Bang cùng kéo xuống Giang Nam, xem chừng muốn gây chuyện với chúng mình. Tứ đệ nghe thế liền muốn đi đánh nhau ngay may nhờ đại tẩu khuyên nhủ mới chịu thôi.
A Châu mỉm cười nói:
- Đại tẩu quả nhiên có uy thật mới khuyên được tứ ca, bảo anh ta đừng đi đánh nhau.
Bao Bất Đồng nói:
- Sai bét, sai bét! Chẳng phải vì đại tẩu có uy mà là nói nghe có lý. Đại tẩu bảo là: đại sự của công tử là trọng không nên gây thù chuốc oán thêm.
Y nói mấy câu đó, Vương Ngữ Yên, A Châu, A Bích ba người nhìn nhau, vẻ mặt ai nấy đều có vẻ nghiêm trang. Đoàn Dự giả vờ như không để ý tới, giơ đũa gắp một miếng thịt gà quay bỏ vào mồm nói:
- Lão Cố nấu ăn không phải vừa thế nhưng so với A Châu, A Bích hai vị tỉ tỉ thì vẫn còn kém xa.
A Bích mỉm cười đáp:
- Tài nấu ăn của lão Cố so với chị A Châu thì kém thật nhưng so với tôi thì lại hơn nhiều.
Bao Bất Đồng nói:
- Sai bét, sai bét! Hai người các ngươi mỗi người một vẻ, ai cũng có chỗ hay riêng.
A Châu cười:
- Tam gia, bữa nay tiểu muội không vào bếp tự tay làm mấy món cho tam gia ăn, lần sau đến đây sẽ bù lại...
Nàng vừa nói tới đây bỗng nghe có tiếng lục lạc leng keng, leng keng từ trên cao vọng xuống. A Châu, A Bích cùng reo lên:
- Nhị ca có tin đưa đến kìa.
Hai người dời chỗ ngồi chạy ra trước rèm, ngẩng đầu lên xem thấy một con bồ câu trắng bay vòng vòng trên không rồi đáp xuống đậu ngay vào tay A Châu. A Bích đưa tay cởi chiếc ông trúc nhỏ buộc nơi chân con chim, lấy ra một tờ giấy mỏng. Bao Bất Đồng bước đến trước, giơ tay đoạt lấy, cầm lấy đọc qua rồi nói:
- Thế này thì mình phải đi ngay!
Y quay sang nói với Vương Ngữ Yên:
- Này, cô có đi theo không?
Vương Ngữ Yên hỏi lại:
- Đi đâu? Có chuyện gì thế?
Bao Bất Đồng xòe tay giơ tờ giấy ra nói:
- Nhị ca đưa tin nói là một bầy hảo thủ của Nhất Phẩm Đường nước Tây Hạ đến Giang Nam, không hiểu có ý gì, sai ta và hai cô A Châu, A Bích đi tra xét xem sao.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Dĩ nhiên tiểu muội phải đi theo rồi. Người của Nhất Phẩm Đường nước Tây Hạ cũng muốn gây sự với mình ư? Xem ra kẻ đối đầu mỗi lúc một nhiều.
Nàng nói tới đây đôi lông mày cau lại. Bao Bất Đồng nói:
- Chưa chắc đã là đối đầu nhưng chắc chắn họ tới Giang Nam chẳng phải để du sơn ngoạn thủy hay thăm chùa lễ Phật rồi. Đã lâu mình chưa gặp cao thủ, nay lại có Cái Bang, rồi Nhất Phẩm Đường, ha ha! Lần này chắc là nhộn nhịp lắm.
Y mặt mày nhơn nhơn xem ra sắp được đánh nhau nên vui mừng hớn hở. Vương Ngữ Yên đi tới gần dáng chừng muốn xem thư viết gì. Bao Bất Đồng liền đưa cho nàng tờ giấy, thấy trên đó viết bảy tám hàng, nét bút thanh nhã, xem ra có chút kình lực, tuy chữ nào nàng cũng biết nhưng đọc lên chẳng ra câu cú gì. Nàng đọc sách đã nhiều nhưng viết kiểu này thì đây mới thấy lần đầu, nên nhíu mày hỏi:
- Cái này là cái chi đây?
A Châu mỉm cười:
- Đây là trò nghịch ngợm quái lạ của Công Dã nhị ca, dùng thi vận và thiết âm biến ra, bình thanh đọc thành nhập thanh, nhập thanh đọc thành thượng thanh, nhất giản đọc thành tam giang, đảo qua đảo lại. Chúng tôi đọc quen rồi hiểu ngay ý viết trong thư, người ngoài nhìn vào thì mù tịt không hiểu ra sao cả.
A Bích thấy Vương Ngữ Yên nghe nói “người ngoài” vẻ mặt hơi xìu xuống vội nói:
- Vương cô nương không phải người ngoài. Nếu như cô muốn biết tiểu tì sẽ nói hết cho cô nghe.
Vương Ngữ Yên nghe nói thế mặt mới tươi trở lại. Bao Bất Đồng nói:
- Ta đã từng nghe Nhất Phẩm Đường của Tây Hạ hảo thủ rất đông, Trung Nguyên, Tây Vực các môn các phái nào cũng có người, Vương cô nương đi cùng, chỉ nhìn qua là biết ngay họ gốc gác ra sao. Để việc này xong rồi lúc đó mình sẽ cùng đi Hà Nam gặp công tử gia.
Vương Ngữ Yên mừng lắm, vỗ tay reo lên:
- Hay lắm! Hay lắm! Thế ta cũng đi.
A Bích nói:
- Mình phải làm việc này cho sớm để đến Hà Nam cho kịp, kẻo công tử lại quay về trên đường có khi lỡ dịp gặp nhau. Lại còn nhà sư Thổ Phồn không biết ở bên nhà tôi quấy phá gì nữa.
Bao Bất Đồng đáp:
- Công Dã nhị tẩu đã sai người qua xem, gã hòa thượng đó đi rồi. Ngươi yên tâm, lần sau tam ca sẽ giúp ngươi đánh nhà sư đó.
Đoàn Dự nghĩ thầm: “Tam ca làm sao đánh lại nhà sư, y không đánh tam ca đã là phúc cho ngươi lắm rồi”. A Bích nói:
- Đa tạ tam gia!
Bao Bất Đồng nói:
- Sai bét, sai bét! Đặng đại ca, Công Dã nhị ca, Phong tứ đệ, các ngươi A Châu ngũ muội, A Bích lục muội, chúng ta sáu người tôi thần ở nhà Mộ Dung, đồng sinh cộng tử, các ngươi phải gọi ta là Tam ca, cái gì mà “gia” với không “gia”. Trừ khi các ngươi không coi ta là ca ca.
A Châu, A Bích đông thanh kêu lên:
- Đúng vậy, tam ca!
Ba người đồng thanh cười to. Bao Bất Đồng nói:
- Chỉ ngại Vương cô nương đi theo chúng ta, lần sau Vương phu nhân gặp mình, thể nào cũng mắng mỏ một chập...
Đột nhiên y quay lại nói với Đoàn Dự:
- Ngươi ngồi đây nghe, chuyện của bọn ta chán chết đi được. Họ Đoàn kia, thôi thì ngươi đi đâu thì đi, bọn ta nói chuyện riêng, ngươi đừng có vểnh tai, chõ mồm vào làm gì. Bọ ta đi tỉ võ với người khác, cũng chẳng cần đến ngươi đứng xem reo hò đâu.
Đoàn Dự biết mình còn tiếp tục ngồi không khỏi người ta coi rẻ, lúc này Bao Bất Đồng công nhiên xua đuổi, ăn nói cực kỳ xấc xược, tuy chàng thật chẳng muốn rời xa Vương Ngữ Yên nhưng không còn thể nào muối mặt ở lại, bèn nghiến răng đứng phắt dậy nói:
- Vương cô nương, A Châu, A Bích hai vị cô nương, tại hạ xin cáo từ, sau này có dịp sẽ gặp lại.
Vương Ngữ Yên nói:
- Đêm hôm khuya khoắt, công tử đi đâu bây giờ? Thủy đạo trên Thái Hồ lại không quen, chi bằng nghỉ lại qua đêm, sáng mai đi cũng không muộn.
Đoàn Dự nghe lời nàng nói dường như muốn giữ khách nhưng vẻ mặt lạnh tanh, hiển nhiên lòng nàng đang bay bổng tới nơi Mộ Dung công tử rồi nên không khỏi bực dọc, càng thêm chán chường. Chàng là thế tử con vua cháu chúa, từ bé vốn được nuông chiều, gần đây tuy có chút kinh lịch, chịu nhiều đau khổ dày vò nhưng chưa bao giờ bị ai đối xử lạnh nhạt đến thế cho nên đáp ngay:
- Hôm nay đi hay ngày mai đi thì cũng chẳng khác bao nhiêu, xin cáo từ.
A Châu nói:
- Nếu đã thế, để tôi cho người đưa công tử ra khỏi hồ.
Đoàn Dự thấy A Châu cũng chẳng chèo kéo, càng thêm mất vui nghĩ bụng: “Gã Mộ Dung công tử kia có cái gì ghê gớm mà sao người nào cũng coi y như con phượng hoàng. Nào là chùa Thiếu Lâm, Cái Bang, Tây Hạ Nhất Phẩm Đường bọn chúng chẳng coi ai vào đâu, chỉ mong sớm gặp được Mộ Dung công tử”. Chàng bèn đáp:
- Chẳng cần phải thế, cô chỉ cần cho tôi mượn một chiếc thuyền, một mái chèo, tôi tự biết kiếm đường ra.
A Bích trầm ngâm nói:
- Công tử không quen đường thủy trong này, e rằng sẽ gặp rắc rối. Nhớ cẩn thận đừng để đụng đầu gã hòa thượng kia. Để ta tiễn ngươi một đoạn, nếu ta đi cùng ngươi, chỉ cần qua vài khúc ngoặt là ra khỏi hồ.
Đoàn Dự nổi khùng nói:
- Các ngươi cứ lo chuyện đi gặp Mộ Dung công tử của mình đi. Giá có đụng phải nhà sư kia, quá lắm thì cũng để cho y thiêu sống. Ta nào có phải biểu huynh biểu đệ, công tử thiếu gia gì của các ngươi, hơi đâu mà lo?
Chàng nói xong hầm hầm đi ra ngoài cửa, còn nghe Bao Bất Đồng nói:
- Nhà sư Thổ Phồn kia không biết lai lịch ra sao, cần phải tìm hiểu cho rõ ràng.
Vương Ngữ Yên đáp:
- Chắc biểu ca biết đó, chỉ cần gặp được y...
A Châu và A Bích tiễn Đoàn Dự đi ra, A Bích nói:
- Đoàn công tử, sau này công tử và công tử gia chúng tôi gặp nhau, không chừng sẽ kết thành hảo bằng hữu. Công tử chúng tôi thích kết bạn lắm.
Đoàn Dự cười nhạt nói:
- Tôi không dám với cao đến thế.
A Bích nghe giọng chàng có điều bực bội, hết sức lạ lùng, hỏi lại:
- Đoàn công tử, sao công tử có vẻ không vui? Hay là tại chúng tôi tiếp đãi quá sơ sài? Bao tam ca chúng tôi vốn tính thế, xin công tử đừng để tâm làm chi. Tiểu nữ và A Châu a tỉ xin lỗi vậy.
Nói xong cúi xuống hành lễ, A Châu cười hì hì cũng làm theo. Đoàn Dự trả lại một vái rồi đứng lên đi thẳng, rảo bước đến bờ nước, nhảy xuống chiếc thuyền con, chèo thuyền đi thẳng vào trong mặt hồ. Chàng thấy tức nghẹn lên tận cổ, vì nguyên do gì, chính mình cũng không sao nói ra được, chỉ biết là còn ở trên bờ thêm một chốc nữa sẽ trở nên mất bình tĩnh, nước mắt tuôn rơi không chừng. Nhưng chỉ lắc mái chèo vài cái, con thuyền lại đi vòng quang đảo, cũng giống như Cưu Ma Trí hôm qua, làm cách nào cũng không thể lái thuyền ra xa hòn đảo được.
Thuyền trong Thái Hồ không có mui, không có buồm, thật là giản tiện, chỉ dùng hai khúc gỗ làm mái chèo, hướng đi của thuyền đều là từ việc đẩy mái chèo. Cưu Ma trí và Đoàn Dự tuy rằng thông minh nhưng chưa học qua phương pháp chèo thuyền, càng dùng lực mạnh, thuyền trong hồ quay càng nhanh. A Châu cười nói:
- Đoàn công tử, đừng cố xoay sở, để A Bích muội tử đưa ngươi đi.
Đoàn Dự vẫn chưa phục, hai tay dùng lực, vẻ mặt đỏ bừng, thuyền nhỏ quay ngược lại cập vào bờ. A Bích nhẹ nhàng nhảy lên đầu thuyền, mỉm cười nói:
- Đoàn công tử, ta đưa ngươi!
Mái chèo chỉ khẽ gạt xuống nước vài cái, con thuyền đã quay đầu lại, hướng xa bờ mà đi. A Châu giương tay kêu lên:
- Đoàn công tử, tạm biệt!

Bình luận chương

Dưới chương này đang có gì?

Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.

0 ý kiến
Đăng nhập để tham gia bàn luận.

Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.