Tiếu Ngạo Giang Hồ - Bản Tân Tu (mới nhất)
Hồi 2: Nghe Lén
Lâm
Bình Chi chỉ mong xông tới liều mạng với Phương Nhân Trí và Vu Nhân Hào, nhưng
đã bị điểm mấy huyệt đạo sau lưng, nửa thân dưới không thể nhúc nhích. Chàng
nghĩ nếu để chúng cắt hết gân tay, xỏ dây qua xương tỳ bà thì từ đây trở thành
kẻ tàn phế, chẳng thà chết quách ngay bây giờ. Đột nhiên, từ nhà bếp vọng lại
hai tiếng thét “Á á” thảm thiết, hình như là của Giả Nhân Đạt.
Phương Nhân Trí và Vu Nhân Hào cùng bật dậy, cầm trường kiếm xông ra gian sau.
Chợt thấy một bóng người vụt qua cửa lớn, bước chân nhẹ nhàng không một tiếng động,
nắm cổ áo Lâm Bình Chi kéo lên. Lâm Bình Chi khẽ kêu một tiếng, thấy khuôn mặt
người ấy chi chít vết rỗ sẹo đậu mùa, đó chính là cô gái bán rượu xấu xí,
nguyên nhân dẫn đến tai họa cho chàng.
Cô gái xấu xí kéo Lâm Bình Chi ra ngoài cửa, đến chỗ cột ngựa dưới gốc đại thụ,
tay trái nắm chặt lưng chàng, rồi hai tay nâng chàng lên lưng ngựa. Lâm Bình
Chi ngây người kinh ngạc, chỉ thấy cô gái xấu xí rút thanh trường kiếm ra, rồi
ánh quang lấp loáng, cô đã vung kiếm cắt đứt dây cương, lại nhẹ thúc kiếm vào
mông ngựa. Con ngựa bị thúc liền hí lên một tiếng đau đớn, tung bốn vó phi thẳng
vào rừng.
Lâm Bình Chi kêu lớn:
– Mẹ ơi! Cha ơi!
Lòng chàng nhớ đến cha mẹ, không muốn chạy trốn một mình, bèn chống hai tay lên
lưng ngựa lấy đà rồi lăn xuống, cơ thể lộn mấy vòng rồi ngã vào bụi cỏ. Con ngựa
vẫn không dừng lại, tiếp tục lao về phía trước. Lâm Bình Chi nắm lấy một cành
cây muốn đứng dậy, nhưng hai chân không có chút khí lực nào, chỉ đi được hơn một
thước thì té ngã, đồng thời cảm thấy hông đau dữ dội do lúc lăn xuống lưng ngựa
đã đụng phải rễ cây, hòn đá trong rừng.
Bất chợt nghe thấy tiếng hô hoán và tiếng bước chân, có người đang đuổi đến.
Lâm Bình Chi vội nấp vào giữa bụi cỏ. Nhưng rồi lại nghe được tiếng binh khí va
chạm rất lớn, rõ ràng đang đánh nhau kịch liệt. Lâm Bình Chi khẽ nhòm xuyên qua
đám cỏ về phía trước, thấy hai phe đang giao đấu. Một bên là Vu Nhân Hào và
Phương Nhân Trí của phái Thanh Thành, bên kia là cô gái xấu xí cùng một người
đàn ông mặt bịt vải đen, đầu tóc hoa râm, hẳn là một lão già. Lâm Bình Chi giật
mình, nhận ra đó chính là lão chủ quán họ Tát, ông nội của cô gái xấu xí. Chàng
nghĩ thầm: “Trước đây ta tưởng bọn họ cũng là người của phái Thanh Thành, nào
ngờ cô gái này lại cứu ta. Ôi, nếu sớm biết cô ta võ công cao cường thì ta cần
gì làm anh hùng ra tay nghĩa hiệp chứ, sẽ tránh được kiếp nạn này”. Chàng lại
nghĩ: “Chúng đang đấu nhau kịch liệt, mình nhân cơ hội cứu cha mẹ thôi”. Nhưng
huyệt đạo trên lưng chưa giải, có muốn cũng không cựa quậy được.
Phương Nhân Trí liên tục quát hỏi:
– Ngươi… Rốt cuộc ngươi là ai? Tại sao biết dùng kiếm pháp phái Thanh Thành của
ta?
Lão già không trả lời. Bỗng nhiên, ánh bạch quang lóe lên, thanh trường kiếm
văng khỏi tay Phương Nhân Trí bay đi. Phương Nhân Trí vội nhảy lùi lại, Vu Nhân
Hào liền huơ kiếm lao lên ngăn chặn. Lão già che mặt đánh gấp mấy chiêu. Vu
Nhân Hào quát:
– Ngươi… ngươi…
Trong giọng nói lộ vẻ kinh hoàng, chợt nghe “keng” một tiếng, trường kiếm của hắn
cũng bị văng khỏi tay. Cô gái xấu xí tiến lên một bước, giơ kiếm đâm nhanh. Lão
già che mặt vung kiếm chặn lại, nói:
– Đừng giết hắn!
Cô gái xấu xí nói:
– Bọn chúng quá tàn nhẫn, đã giết bao nhiêu người.
Lão già nói:
– Chúng ta đi thôi!
Cô gái xấu xí có vẻ ngần ngừ. Lão già nói:
– Đừng quên lời dặn của sư phụ.
Cô gái xấu xí gật gật đầu, nói:
– Lợi cho chúng quá.
Rồi cô đi thẳng vào rừng. Lão già bịt mặt theo sau cô ta, chẳng mấy chốc đã đi
rất xa.
Hai gã Vu, Phương vẫn chưa hết sợ, đành tự nhặt trường kiếm của mình lên. Vu
Nhân Hào nói:
– Đúng là tà môn! Sao tên đó lại biết dùng kiếm pháp của chúng ta?
Phương Nhân Trí nói:
– Hắn cũng chỉ biết mấy chiêu, nhưng… nhưng chiêu “Hồng phi minh minh”, thật
là… thật là… Ôi!
Vu Nhân Hào nói:
– Chúng cứu thằng nhãi họ Lâm đi rồi…
Phương Nhân Trí nói:
– Trời ơi, coi chừng trúng kế điệu hổ ly sơn. Còn vợ chồng Lâm Chấn Nam!
Vu Nhân Hào kêu:
– Phải!
Cả hai quay người chạy nhanh về phía quán cơm.
Một lúc sau, tiếng vó ngựa chậm rãi vọng đến. Hai con ngựa song song đi vào rừng,
Phương Nhân Trí và Vu Nhân Hào mỗi tên dắt một con. Lâm Chấn Nam và Vương phu
nhân bị trói chặt, ngồi trên lưng ngựa. Lâm Bình Chi há miệng định gọi “Cha! Mẹ!”.
May thay chàng nén lại được. Chàng hiểu rõ nếu bây giờ gây ra tiếng động thì chẳng
những nộp mạng vô ích, lại mất cả cơ hội giải cứu song thân.
Cách hai con ngựa mấy trượng, một kẻ chống gậy đi khập khiễng, đó là Giả Nhân Đạt.
Trên đầu hắn quấn băng trắng, máu tươi thấm đẫm, miệng không ngớt chửi:
– Bố khỉ, tổ sư quân rùa đen, tụi bay cứu được con thỏ non thôi, không cứu nổi
hai con thỏ già này đâu. Mỗi ngày tao sẽ chém hai con thỏ già này một đao, từ
đây đến núi Thanh Thành, xem thử chúng còn mấy cái mạng…
Phương Nhân Trí quát:
– Giả sư đệ, sư phụ đã dặn đi dặn lại chúng ta phải bắt sống vợ chồng họ Lâm
đưa về, nếu chúng có mệnh hệ nào, để xem sư phụ lột mấy lớp da của ngươi!
Giả Nhân Đạt hừ một tiếng, không dám chửi nữa.
Lâm Bình Chi nghe ba người phái Thanh Thành bắt
song thân đi, trong lòng lại có cảm giác an ủi: “Chúng đưa cha mẹ về núi Thanh
Thành, trên đường đi sẽ chưa dám làm khó cha mẹ. Phúc Kiến cách núi Thanh Thành
ở Tứ Xuyên vạn dặm xa xôi, bằng mọi giá phải tìm cách cứu cha mẹ ra”. Chàng
nghĩ tiếp: “Đến phân hiệu gần nhất, mình sẽ phái người đi Lạc Dương báo tin cho
ông ngoại”.
Chàng nằm im bất động trong bụi cỏ, muỗi ong vo ve cũng không để tâm. Qua mấy
canh giờ, trời đã chuyển tối, các huyệt đạo trên lưng cuối cùng đã giải khai.
Chàng lồm cồm bò dậy, từ từ đi về phía quán cơm, nghĩ thầm: “Mình phải cải
trang để bọn gian ác kia có nhìn thấy cũng không nhận ra được. Bằng không chúng
sẽ lập tức giết mình, làm sao cứu được cha mẹ nữa?”. Chàng bèn vào phòng chủ
quán, đánh lửa thắp đèn định tìm một bộ quần áo. Nào ngờ nhà này nghèo túng
cùng cực, ngay một bộ đồ thay cũng không có. Chàng thấy thi thể vợ chồng chủ
quán vẫn nằm dưới đất, thầm nghĩ: “Đành phải thay quần áo của người chết vậy”.
Chàng cởi bộ đồ người chết cầm trên tay, cảm thấy mùi hôi hám xộc lên mũi, tính
đem đi giặt rồi mới thay. Nhưng chàng nghĩ lại: “Nếu mình giặt bộ đồ này thì chậm
mất, lỡ như bỏ phí cơ hội, không cứu được cha mẹ thì chẳng hóa ra ân hận suốt đời?”.
Chàng cắn răng cởi quần áo trên mình ra, mặc bộ đồ của người chết vào.
Sau đó chàng đốt một bó đuốc soi xung quanh, thấy trường kiếm của mình và phụ
thân lẫn kim đao của mẫu thân đều còn ở dưới đất. Chàng nhặt trường kiếm của
cha, gói vào trong miếng vải rách, giấu vào sau lưng rồi bước ra khỏi quán. Chỉ
nghe tiếng ếch kêu inh ỏi từ trong khe suối vọng lại, chàng bỗng cảm thấy vô
cùng thê lương, không kiềm được muốn khóc rống lên. Chàng quăng bó đuốc đi,
trong đêm tối, ánh đuốc tạo thành một vòng lửa sáng rực rồi rơi xuống ao đánh
“bõm” một tiếng, lập tức tắt ngấm, bốn bề lại tối đen như mực.
Chàng nhủ thầm: “Lâm Bình Chi ơi Lâm Bình Chi! Nếu ngươi không cẩn thận, không
nhẫn nại, lại để lọt vào tay bọn ác tặc phái Thanh Thành thì ngươi sẽ tắt ngấm
như bó đuốc rơi xuống ao kia”. Chàng giơ tay định quẹt nước mắt, nhưng vạt áo vừa
đến gần mặt thì mùi hôi thối đã xộc lên mũi muốn nôn ọe. Chàng hét lên:
– Chút mùi hôi thối cũng không chịu nổi, không xứng là nam tử hán đại trượng
phu!
Rồi lập tức cất bước đi.
Đi được mấy bước, bên hông lại đau buốt, chàng nghiến chặt hai hàm răng, cố gắng
bước nhanh hơn. Chàng chạy loạn trên con đường nhấp nhô, xung quang núi non
trùng điệp, cũng chẳng biết liệu cha mẹ có đi qua con đường này không. Chàng đi
mãi tới lúc bình minh, ánh mặt trời rọi thẳng vào khiến mắt chàng hoa lên. Lâm
Bình Chi giật mình run sợ: “Hai tên ác tặc đó áp giải cha mẹ lên núi Thanh
Thành. Tứ Xuyên ở phía tây tỉnh Phúc Kiến, sao mình lại đi về hướng đông?”.
Chàng vội vàng quay gót, đi thật nhanh ngược hướng mặt trời mọc, nghĩ thầm:
“Cha mẹ đã đi hơn nửa ngày, mình thì đi hướng ngược lại đến nửa đêm, bây giờ
cách nhau quá xa, phải mua một con ngựa đuổi theo mới được. Nhưng không biết
mua ngựa tốn bao nhiêu tiền”. Chàng sờ vào túi, bất giác kêu khổ. Lúc ra đi,
vàng bạc châu báu đều để trong cái túi treo bên yên ngựa. Lâm Chấn Nam và Lâm
phu nhân đều mang theo tiền trong người, nhưng trên mình chàng lúc này không có
một xu dính túi. Chàng càng thêm sốt ruột, giậm chân la to:
– Làm sao bây giờ? Làm sao bây giờ?
Chàng ngây người một lúc rồi nghĩ: “Cứu cha mẹ quan trọng hơn, sợ gì chết
đói!”. Rồi co giò chạy thật nhanh xuống núi.
Đến giữa trưa, bụng đói cồn cào, chàng thấy bên đường có mấy cây nhãn lúc lỉu đầy
trái xanh, tuy chưa chín nhưng cũng có thể ăn cho đỡ đói. Chàng đến dưới gốc
cây, giơ tay định hái, nhưng lập tức nghĩ lại: “Những cây nhãn này là vật có chủ,
không xin mà hái là trộm cắp. Ba đời nhà họ Lâm chuyên làm việc bảo vệ tài sản
cho người khác, luôn đối đầu với bọn trộm cướp đạo tặc, sao mình có thể làm ra
hành vi trộm cắp chứ? Nếu bị người ta phát hiện, sau này mắng mình là thằng ăn
cắp trước mặt cha thì cha còn mặt mũi nào nữa? Bảng hiệu “tiêu cục Phúc Uy” sẽ
không thể vực dậy được”. Từ nhỏ chàng đã được dạy dỗ rằng đạo tặc đều có xuất
phát điểm là tiểu tặc. Đám tiểu tặc ban đầu cũng chỉ trộm vặt như ăn cắp trái
dưa, trái chuối, dần dần nhiều lên, cuối cùng trở thành thói quen khó bỏ, như
chân đã lún sâu xuống vũng lầy không thể tự thoát ra. Nghĩ đến đây, bất giác
lưng toát mồ hôi hột. Chàng nghĩ: “Rồi một ngày, cha và mình sẽ chấn hưng uy
danh của tiêu cục Phúc Uy. Đại trượng phu đói cho sạch, rách cho thơm, thà ăn
mày chứ không trộm cướp”.
Chàng vội rảo bước tiến về phía trước, không dám nhìn những cây nhãn bên đường
lâu hơn. Đi thêm mấy dặm thì tới một thôn nhỏ, chàng bước tới chỗ một căn nhà, ấp
úng xin thức ăn. Cả đời chàng đều được cơm bưng nước rót, nào có biết cầu xin
ai bao giờ. Chàng chỉ nói được vài câu, mặt đã đỏ bừng.
Mụ nhà nông này vừa gây gổ với chồng, bị chồng đánh một trận, lòng đang rất bực
tức. Nghe Lâm Bình Chi xin ăn, mụ liền ngoác miệng chửi xối xả rồi giơ cán chổi
quát:
– Thằng quỷ con, bộ dạng lén lút, không phải người đàng hoàng. Bà đây bị mất
con gà mái, chắc chắn do mày ăn cắp, giờ còn muốn trộm tiếp nữa hả? Tao có cơm
cũng không thèm bố thí cho thằng mạt hạng này. Mày ăn cắp gà nhà tao, làm thằng
chồng tao nổi trận lôi đình, báo hại tao bị đánh bầm tím cả người…
Mụ nông dân đó chửi một câu thì Lâm Bình Chi lùi một bước. Mụ càng chửi càng
hăng, giơ cán chổi đánh vào mặt Lâm Bình Chi. Lâm Bình Chi tức giận, nghiêng
người né tránh, giơ chương định đánh mụ ta, nhưng chợt nghĩ lại: “Ta xin ăn
không được, lại đi ẩu đả với mụ nông dân quê mùa này, há chẳng phải trò cười
ư?”. Chàng vội thu chưởng lại, nhưng lúc nãy dùng sức quá mạnh, muốn thu chưởng
về không dễ. Chàng loạng choạng, chân trái đạp trúng đống phân trâu, trượt chân
ngã chổng gọng. Mụ nhà nông cười ha hả, mắng:
– Đáng đời, cho mày biết tay!
Mụ đập chổi lên đầu chàng, nhổ thêm mấy bãi nước bọt lên người chàng rồi mới
quay vào nhà.
Lâm Bình Chi chịu đựng nhục nhã, phẫn uất khôn tả. Chàng lồm cồm bò dậy, tay và
lưng dính đầy phân trâu. Đang lúc chật vật, mụ nông dân lại từ trong nhà đi ra,
tay cầm bốn trái bắp luộc đưa cho chàng, cười mắng:
– Thằng quỷ, cầm ăn đi! Trời sinh ra mày có bộ mặt thanh tú, còn đẹp hơn cô dâu
về nhà chồng, vậy mà không chịu học điều tốt, lại ngửa tay ăn xin, đúng là vô dụng.
Lâm Bình Chi tức giận, muốn ném mấy trái bắp đi. Mụ nông dân cười nói:
– Giỏi thì ném đi, ném đi! Mày không sợ chết đói thì ném mấy trái bắp đó đi, thằng
quỷ chết đói!
Lâm Bình Chi nghĩ bụng: “Muốn cứu cha mẹ, trả mối đại thù, chấn hưng tiêu cục
Phúc Uy thì sau này phải hết sức nhẫn nhịn, dẫu gặp chuyện gian nan nhục nhã
cũng phải cắn răng chịu đựng, kiềm chế nuốt giận. Bây giờ bị mụ đàn bà nhà quê
này sỉ nhục một trận, tính toán làm chi?”. Chàng bèn nói:
– Cháu cảm ơn bác!
Chàng há miệng cắn bắp ăn. Mụ nông dân cười nói:
– Tao đoán mày không dám quăng đâu!
Mụ quay người đi, lẩm bẩm:
– Thằng quỷ này đói mốc meo, chắc con gà không phải do nó ăn cắp. Hầy, lão chồng
trời đánh, phải chi lão bình tĩnh bằng một nửa thằng nhóc này thì đỡ quá.
Lâm Bình Chi đi đến đâu xin ăn đến đó, khi ở nơi sơn dã thì hái quả dại ăn cho
đỡ đói. Cũng may năm nay tỉnh Phúc Kiến được mùa, lương thực dồi dào, người dân
có của ăn của để. Tuy chàng đã bôi mặt lem luốc nhưng trông vẫn tuấn tú, ăn nói
lại nhã nhặn nên người ta có thiện cảm, xin ăn cũng không khó khăn gì. Dọc đường,
chàng hỏi thăm tin tức phụ mẫu nhưng không có một chút âm hao nào.
Đi được tám chín ngày đã đến địa phận tỉnh Giang Tây, chàng hỏi thăm đường đi
Nam Xương, lòng nghĩ ở Nam Xương có phân hiệu của tiêu cục Phúc Uy, may ra có
chút tin tức, không thì cũng có thể lấy ít lộ phí và một con ngựa tốt.
– Tiêu cục Phúc Uy ư? Cậu hỏi làm gì? Tiêu cục cháy sạch rồi, thiêu rụi thành
bình địa, mười mấy nhà xung quanh cũng bị vạ lây.
Lâm Bình Chi ngấm ngầm kêu khổ. Chàng tìm đến tiêu cục, quả nhiên chỉ còn trơ nền
đất trống, cột cháy đen sì, gạch ngói tan hoang. Chàng lặng người hồi lâu, nghĩ
bụng: “Việc này chắc chắn do bọn ác tặc phái Thanh Thành gây ra. Thù này không
báo, không xứng làm người”. Chàng không thể nấn ná lại Nam Xương, hôm ấy đi
ngay về hướng tây.
Chưa đầy một ngày, chàng đã đến trung tâm Trường Sa của tỉnh Hồ Nam, chàng đoán
chừng phân hiệu Trường Sa chắc đã bị phái Thanh Thành đốt rụi rồi. Chàng hỏi
thăm Phúc Uy tiêu cục có xảy ra chuyện không, những người đi đường đều bảo
không nghe nói gì. Lâm Bình Chi vui mừng, hỏi rõ địa điểm rồi bước nhanh về hướng
tiêu cục.
Chàng đến trước cửa, thấy phân hiệu Hồ Nam tuy không uy phong bằng tổng cục
Phúc Châu, nhưng cũng có cổng lớn sơn đỏ, hai bên dựng hai tượng sư tử đá trông
rất hùng dũng. Lâm Bình Chi nhìn vào trong không thấy ai, do dự nghĩ thầm:
“Mình đến phân hiệu mà ăn mặc lam lũ rách rưới thế này, chẳng phải để các tiêu
đầu trong tiêu cục xem thường hay sao?”.
Chàng ngẩng đầu lên thấy tấm biển đề chữ vàng “Tiêu cục Phúc Uy – phân hiệu” bị
treo ngược, bụng lấy làm kỳ, tự hỏi: “Các tiêu đầu trong phân hiệu sao lại sơ ý
đến vậy, ngay bảng hiệu cũng treo ngược?”. Chàng quay lại nhìn lá cờ cắm trên cột,
bất giác lạnh toát cả người. Cột cờ bên trái treo một đôi giày cỏ, cột cờ bên
phải treo một cái quần phụ nữ rách nát bay phấp phới trong gió.
Đang lúc kinh ngạc, chàng nghe tiếng bước chân, một người trong phân hiệu đi
ra, quát:
– Thằng rùa đen đứng lấp ló nãy giờ, muốn ăn cắp hả?
Lâm Bình Chi nghe giọng của hắn từa tựa Phương Nhân Trí và Giả Nhân Đạt, cũng
là người Tứ Xuyên. Chàng không dám nhìn hắn, lập tức bỏ đi. Đột nhiên thấy mông
đau nhói, chàng đã bị hắn đá một cước. Lâm Bình Chi tức giận, toan quay lại
đánh, nhưng chàng xoay chuyển ý nghĩa rất nhanh: “Chắc chắn tiêu cục ở đây đã bị
phái Thanh Thành chiếm rồi. Mình đang dò tìm tin tức của cha mẹ, nhất định phải
giữ bình tĩnh”. Chàng bèn giả bộ không biết võ công, nhào người ngã sấp xuống,
mãi không bò dậy nổi. Gã kia cười hô hố, chửi thêm mấy câu “Đồ rùa đen”.
Lâm Bình Chi từ từ nhổm dậy, đi vào một hẻm nhỏ xin bát cơm nguội, nghĩ thầm:
“Kẻ địch ở sát bên, quyết không được khinh suất”. Chàng mò tìm mấy cục than dưới
đất bôi lên mặt cho đen nhẻm, sau đó nằm xuống góc tường ôm đầu ngủ.
Đợi đến canh hai, chàng lấy trường kiếm ra giắt bên hông, đi vòng ra phía cửa
sau tiêu cục. Chàng lắng tai nghe không thấy động tĩnh gì, mới nhảy lên đầu tường,
thấy bên trong là một vườn cây ăn trái. Chàng nhẹ nhàng nhảy xuống, men theo tường
dò dẫm từng bước một. Bốn bề đen kịt, không có đèn đuốc, cũng không có tiếng
người. Trống ngực Lâm Bình Chi đập thình thịch, cứ lần vách mà đi, chỉ sợ giẫm
phải cành khô, gạch đá sẽ phát ra âm thanh. Chàng đi qua hai gian viện, thấy cửa
sổ phòng nhỏ phía đông có ánh sáng hắt ra, bèn đến gần mấy bước, nghe có tiếng
nói chuyện. Chàng rón rén khom lưng từ từ đi đến dưới cửa sổ, rồi nín thở co
chân ngồi dựa vào tường.
Vừa ngồi xuống đất thì nghe tiếng một người nói:
– Sáng sớm mai chúng ta cho một mồi lửa thiêu rụi tiêu cục con rùa này đi, khỏi
phải ở đây thêm mất mặt.
Một người khác cản:
– Không được! Không thể đốt. Bì sư ca đã đốt rụi tiêu cục ở Nam Xương của bọn
rùa đen, nghe nói làm cháy lan qua mười mấy căn nhà lân cận, làm danh nghĩa hiệp
của phái Thanh Thành chúng ta bị ảnh hưởng. Hành động đó quá nửa sẽ bị sư phụ
trách phạt.
Lâm Bình Chi chửi thầm: “Quả nhiên là chuyện tốt do phái Thanh Thành làm ra, vậy
mà còn dám tự xưng nghĩa hiệp! Nói mà không biết xấu hổ”. Chàng lại nghe người
trước nói:
– Phải, không thể đốt được! Chẳng lẽ cứ để yên cho bọn chúng?
Người kia cười nói:
– Cát sư đệ nghĩ xem, chúng ta lộn ngược biển hiệu của tiêu cục chó đẻ này, còn
treo cái quần phụ nữ rách lên cột cờ của chúng thì coi như tên tuổi của tiêu cục
Phúc Uy trên giang hồ đã bị hủy diệt hoàn toàn rồi. Cái quần đó treo càng lâu
càng tốt, cần gì phải đốt hộ chúng?
Gã họ Cát cười nói:
– Thân sư ca nói chí lý. Hà hà, cái quần rách này đủ khiến cho tiêu cục Phúc Uy
xui tận mạng, ba trăm năm nữa cũng không ngóc đầu dậy nổi.
Hai gã cười một tràng dài. Gã họ Cát nói:
– Ngày mai, chúng ta đi Hành Sơn chúc mừng Lưu Chính Phong, nên tặng lễ vật gì
mới tốt? Nếu lễ vật nhỏ thì mất mặt phái Thanh Thành lắm.
Gã họ Thân cười nói:
– Ta đã sớm chuẩn bị lễ vật, ngươi cứ yên tâm, không mất mặt phái Thanh Thành
đâu. Nói không chừng trong tiệc rửa tay chậu vàng của Lưu Chính Phong, lễ vật của
chúng ta còn lớn nhất đó.
Gã họ Cát mừng rỡ hỏi:
– Lễ vật gì vậy? Sao đệ chẳng biết gì hết?
Gã họ Thân cười mấy tiếng ra vẻ tự đắc, nói:
– Chúng ta mượn hoa dâng Phật, không cần tự bỏ tiền túi. Ngươi xem, lễ vật này
đủ vẻ vang chưa?
Chỉ nghe trong phòng có tiếng loạt soạt, dường như đang mở bao. Gã họ Cát ồ một
tiếng kinh ngạc, thốt lên:
– Tuyệt vời! Thân sư ca thần thông quảng đại, tìm đâu ra món quà quý giá thế
này?
Lâm Bình Chi muốn ghé mắt nhìn qua cửa sổ xem là lễ vật gì, nhưng chàng nghĩ nếu
thò đầu lên thì sẽ tạo bóng đen trên cửa sổ, nếu bị kẻ địch phát hiện thì đại sự
hỏng hết, đành gắng kiềm nén. Chỉ nghe gã họ Thân cười nói:
– Chúng ta chiếm tiêu cục Phúc Uy này, lẽ nào là chiếm không? Đôi ngọc mã này,
ta vốn định hiếu kính sư phụ, nhưng tình hình trước mắt đành dùng làm lễ vật tặng
lão Lưu Chính Phong kia.
Lâm Bình Chi tức giận, nghĩ thầm: “Thì ra hắn cướp ngọc ngà châu báu trong tiêu
cục để đem đi kết giao với người khác. Đó chẳng phải là hành vi của lũ đạo tặc
ư? Bản thân phân hiệu Trường Sa làm gì có ngọc ngà châu báu, đó đều là của
khách gửi bảo tiêu. Giá trị cặp ngọc mã chắc chắn không nhỏ, nếu bị lấy mất thì
cha sẽ phải bồi thường cho chủ sở hữu”.
Gã họ Thân lại cười nói:
– Ở đây có bốn bao, một bao để hiếu kính các sư nương, một bao chia cho các sư
huynh đệ, một bao cho ngươi, một bao cho ta. Ngươi chọn một bao đi!
Gã họ Cát nói:
– Trong bao có gì vậy?
Qua một lúc chợt nghe thấy tiếng trầm trồ:
– Toàn là vàng bạc châu báu, chúng ta phát tài lớn rồi. Tiêu cục Phúc Uy rùa
đen này! Tổ mẹ nó, vơ vét gớm thật! Sư ca, huynh đào đâu ra vậy? đệ tìm mười mấy
lượt khắp trong ngoài, thiếu điều nạy cả nền đất lên mà chỉ được hơn trăm lượng
bạc cắc. Nhìn huynh ung dung thản nhiên mà sao lôi ra cả kho tàng hay thế?
Gã họ Thân rất đắc ý, cười nói:
– Vàng bạc châu báu trong tiêu cục sao có thể tùy tiện cất ở những nơi bình thường?
Mấy hôm nay ta thấy ngươi sục sạo ngăn kéo, mở rương khoét vách, tìm kiếm bất kể
ngày đêm. Ta sớm biết ngươi sẽ chỉ tốn công vô ích, nhưng nếu khuyên thì ngươi
cũng không nghe. Thôi thì đằng nào bận rộn cũng chẳng hại gì cho ngươi.
Gã họ Cát nói:
– Bội phục, bội phục! Thân sư ca, huynh tìm được ở chỗ nào vậy?
Gã họ Thân nói:
– Ngươi nghĩ xem, trong tiêu cục này có một vật không bình thường chút nào, đó
là gì?
Gã họ Cát nói:
– Không bình thường ư? đệ thấy tiêu cục rùa đen này có nhiều thứ không bình thường
lắm. Mẹ kiếp, võ công thì tầm thường nhưng lá cờ trước cổng lại thêu con sư tử
lớn trông rất oai phong lẫm liệt.
Gã họ Thân cười nói:
– Sư tử lớn đã bị đổi thành cái quần rách, trở nên bình thường rồi. Ngươi suy
nghĩ thêm đi, trong tiêu cục này còn thứ gì kỳ lại cổ quái nữa không?
Gã họ Cát vỗ đùi nói:
– Đám lừa Hồ Nam này làm rất nhiều chuyện tà môn. Huynh nghĩ xem, gã tiêu đầu họ
Trương là chủ tiêu cục này, ấy thế mà kế bên phòng ngủ của hắn lại đặt một cái
quan tài, thảo nào hắn xui xẻo như vậy, ha ha!
Gã họ Thân cười nói:
– Ngươi động não chút đi. Tại sao hắn lại đặt quan tài sát phòng ngủ của mình?
Lẽ nào người chết trong quan tài là vợ con hắn, hắn không nỡ rời xa? E rằng
không phải. Liệu có phải trong quan tài cất giấu những thứ quan trọng, để che mắt
người khác nên…
Gã họ Cát “A” một tiếng, nhảy cẫng lên, la to:
– Đúng, đúng! Số vàng bạc châu báu này đều giấu trong quan tài phải không? Tuyệt
quá, tuyệt quá. Mẹ kiếp, tiên sư nó, lũ rù bảo tiêu lắm trò thật.
Gã nói tiếp:
– Thân sư ca, hai bao này bằng nhau đúng không? đệ đâu thể nhận phần ngang
Huynh? Huynh phải được chia nhiều hơn mới đúng.
Chỉ nghe âm thanh vàng bạc, châu ngọc kêu loảng xoảng, hình như hắn đang lấy
vàng bạc châu báu chuyển sang bao kia. Gã họ Thân không từ chối, chỉ cười vài
tiếng. Gã họ Cát nói:
– Thân sư ca, để đệ lấy chậu nước, chúng ta rửa chân rồi đi ngủ.
Gã nói xong, ngáp dài một cái rồi đẩy cửa đi ra.
Lâm Bình Chi nấp dưới cửa không dám động đậy. Chàng liếc thấy cái tướng mập mập
lùn lùn của gã họ Cát, nghĩ thầm đây chắc là người đã đá vào mông chàng hôm nay.
Một lát sau, gã họ Cát bưng một chậu nước nóng vào phòng, nói:
– Thân sư ca, sư phụ phái mười mấy sư huynh đệ chúng ta đi chuyến này, xem ra
chỉ có hai huynh đệ ta thu lợi nhiều nhất. Nhờ hồng phúc của huynh, đệ cũng được
thơm lây. Nhóm Tưởng sư ca đi đánh phân hiệu Quảng Châu, nhóm Mã sư ca đánh
phân hiệu Hàng Châu, bọn họ thô lỗ thì làm sao phát hiện ra quan tài, càng
không ngờ trong đó cất giấu vàng bạc châu báu.
Gã họ Thân cười nói:
– Nhóm Phương sư ca, Vu sư đệ, Giả Nhân Đạt đánh tổng cục Phúc Châu, chắc thu
hoạch lớn hơn huynh đệ mình nhiều. Nhưng cậu con trai yêu quý của sư nương lại
mất mạng ở Phúc Châu, tính ra công không bằng tội.
Gã họ Cát nói:
– Việc đánh tổng cục của tiêu cục Phúc Uy do sư phụ đích thân chỉ huy, Phương
sư ca, Vu sư đệ chẳng qua là người đi tiên phong. Dư sư đệ mất mạng, sư phụ
cùng lắm chỉ khiển trách bọn Phương sư ca không lo liệu chu đáo mà thôi. Lần
này chúng ta động loạt ra quân, đánh vào tổng cục và phân hiệu ở các tỉnh,
không ngờ võ nghệ nhà họ Lâm chỉ có hư danh, ba người Phương sư ca đi tiên
phong đã bắt được luôn vợ chồng Lâm Chấn Nam. Phen này ngay cả sư phụ cũng nhìn
lầm. Ha ha!
Lâm Bình Chi nghe đến đây, mồ hôi chảy ròng trên trán, thầm nghĩ: “Thì ra phái
Thanh Thành đã trù tính từ trước, đồng loạt tấn công tổng cục lẫn phân hiệu ở
các tỉnh. Chúng vốn không phải đánh trả thù vì mình giết gã họ Dư. Dù mình
không giết tên ác đồ họ Dư đó, bọn chúng vẫn sẽ hạ thủ tương tự với tiêu cục.
Dư Thương Hải đích thân đến Phúc Châu, chẳng trách Tồi tâm chưởng lợi hại đến
thế. Nhưng không biết tiêu cục nhà mình có chỗ nào đắc tội với phái Thanh
Thành, sao chúng lại ra tay tàn độc như vậy?”. Sự hối hận của chàng lập tức giảm
bớt, ngược lại lòng căm phẫn lại dâng cao, chẳng qua chàng tự biết rõ võ công
không bằng đối phương, nếu không đã phá cửa xông vào đâm chết hai tên mọi rợ
này. Chàng nghe tiếng nước lỏn tỏn trong phòng, biết hai gã đang rửa chân.
Lại nghe gã họ Thân nói:
– Không phải sư phụ nhìn lầm đâu. Năm xưa tiêu cục Phúc Uy oai danh chấn động
miền đông nam, quả là có chân tài thực học. Tịch tà kiếm pháp nổi danh trong võ
lâm, không thể là chuyện bịp bợm. Khả năng cao do con cháu bất tài, không học
được tuyệt nghệ của tổ tông.
Trong đêm tối, Lâm Bình Chi đỏ mặt tía tai, hổ thẹn vô cùng. Gã họ Thân nói tiếp:
– Trước khi chúng ta xuống núi, sư phụ đã chiết giải Tịch tà kiếm pháp cùng
chúng ta. Mặc dù trong vài tháng khó mà học đến nơi đến chốn, nhưng ta thấy tiềm
lực của bộ kiếm pháp này không nhỏ, chỉ là không dễ phát huy thôi. Cát sư đệ,
ngươi lĩnh hội được mấy phần?
Gã họ Cát cười nói:
– đệ nghe sư phụ nói ngay cả Lâm Chấn Nam cũng không thể lĩnh hội được điểm cốt
lõi của kiếm pháp, nên đệ cũng không chú tâm lắm. Thân sư ca, sư phụ truyền lệnh
xuống, ra lệnh đệ tử bản môn tập trung về Hành Sơn, có lẽ nhóm Phương sư ca sẽ
áp giải vợ chồng Lâm Chấn Nam đến Hành Sơn. Không biết truyền nhân của Tịch tà
kiếm pháp là người như thế nào.
Lâm Bình Chi nghe nói cha mẹ còn sống, bị người ta áp giải đi Hành Sơn, lòng
chàng vừa vui mừng lại vừa buồn lo.
Gã họ Thân cười nói:
– Mấy ngày nữa thì gặp được thôi, biết đâu ngươi còn có dịp lĩnh giáo chút công
phu Tịch tà kiếm pháp của hắn.
Đột nhiên cách một tiếng, cánh cửa sổ mở ra. Lâm Bình Chi thất kinh, tưởng rằng
mình đã bị phát hiện, đang định bỏ chạy, chợt nghe ào một cái, chậu nước nóng
đã dội xuống đầu, suýt chút nữa chàng đã la lên kinh hoảng. Thế rồi trước mắt tối
sầm, trong phòng tắt hết đèn.
Lâm Bình Chi chưa hoàn hồn, chỉ cảm thấy từng giọt nước rỏ xuống mặt, sặc mùi hôi
thối, mới biết gã họ Cát bưng chậu nước rửa chân hắt qua cửa sổ trúng người
chàng ướt sũng. Dù đối phương không cố ý, chàng vẫn tự thấy tủi nhục không ít,
nhưng rồi nghĩ lại đã biết tin tức của cha mẹ, đừng nói là nước rửa chân, dẫu
nước tiểu nước phân dội xuống thì đã sao? Lúc này bốn bề im lặng như tờ, nếu
chàng bước đi chỉ sợ đánh động hai gã, đành đợi chúng ngủ say rồi mới tính.
Chàng vẫn ngồi tựa bức vách dưới cửa sổ, không dám nhúc nhích. Qua hồi lâu,
nghe trong phòng phát ra tiếng ngáy, chàng mới từ từ đứng dậy.
Vừa ngoảnh đầu, Lâm Bình Chi bỗng thấy một cái bóng dài in trên cửa sổ. Chàng
giật mình sợ hãi, vội cúi thấp người. Cánh cửa sổ vẫn lắc lư, hóa ra gã họ Cát
đổ chậu nước rửa chân xong quên chưa cài then cửa sổ. Lâm Bình Chi nghĩ bụng:
“Báo thù rửa hận chính là lúc này!”. Tay phải chàng rút trường kiếm bên hông,
tay trái nhẹ nhàng kéo cánh cửa, rón rén vào phòng rồi đóng lại. Ánh trăng
xuyên vào phòng qua lớp giấy dán cửa sổ, soi rõ hai người đang ngủ ở hai bên
giường. Một gã nằm quay mặt vào trong, đầu hơi hói, gã còn lại nằm ngửa mặt, dưới
cằm râu mọc tua tủa như đám cỏ tranh. Trên cái bàn trước giường đặt năm cái bao
và hai thanh trường kiếm.
Lâm Bình Chi giương trường kiếm lên, nghĩ bụng: “Cho mỗi đứa một kiếm thì dễ
như lấy đồ trong túi”. Chàng định đâm vào cổ gã nằm ngửa, nhưng rồi nghĩ lại:
“Bây giờ lén lút giết hai tên này thì đâu phải là hành vi của anh hùng hảo hán?
Đợi mai này mình luyện thành võ công gia truyền, đến tiêu diệt bọn ác tặc Thanh
Thành, đó mới là phong cách của đại trượng phu”. Chàng bèn chậm rãi chuyển năm
bao đồ đến cái bàn cạnh cửa sổ, nhẹ nhàng đẩy cửa sổ nhảy ra, trường kiếm giắt
lại bên hông. Chàng lấy năm cái bao ra ngoài, ba bao vác sau lưng, còn hai bao
kia mỗi tay cầm một bao, bước dần về hậu viện, chỉ sợ gây ra tiếng động đánh thức
hai gã.
Chàng mở cửa sau rời khỏi tiêu cục, xác định phương hướng rồi đi về cổng thành
phía nam. Lúc đó cổng thành chưa mở, chàng bèn đến đằng sau một gò đất bên tường
thành tựa lưng để nghỉ ngơi, lòng vẫn thấp thỏm sợ hai gã Thanh Thành truy đuổi,
trống ngực đập thình thịch. Đợi đến hừng đông, cổng vừa mở, chàng liền ra khỏi
thành, chạy một mạch hơn mười dặm rồi mới thấy yên tâm. Từ khi rời khỏi Phúc
Châu, mãi tới lúc này chàng mới thấy nhẹ nhõm khoan khoái. Thấy bên vệ đường
trước mặt có quán mì nhỏ, chàng bèn vào quán gọi một tô. Chàng không dám nấn ná
lâu, sau khi ăn xong lập tức thò tay vào túi lấy tiền trả. Chàng mò ra được một
nén bạc nhỏ. Chủ quán lôi hết tiền lẻ có trong quán để thối lại nhưng vẫn không
đủ. Trên đường Lâm Bình Chi đã chịu nhiều tủi nhục, bị người khinh khi, nay
chàng khoát tay nói:
– Giữ hết đi, khỏi cần thối!
Chàng đã trở lại phong thái hào phóng của một vị thiếu tiêu đầu, đại thiếu gia.
Đi thêm hơn ba mươi dặm thì tới một thị trấn lớn, Lâm Bình Chi thuê một căn
phòng thượng hạng trong quán trọ, vào phòng đóng cửa cài then, mở năm cái bao
ra, thấy bốn bao đựng toàn vàng bạc châu báu, bao nhỏ thứ năm đựng một cái hộp
bọc gấm, trong hộp là một cặp ngựa bằng bạch ngọc cao năm tấc. Chàng nghĩ bụng:
“Phân hiệu Trường Sa của tiêu cục nhà mình có nhiều tài sản quý giá, khó trách
bọn Thanh Thành tham lam muốn chiếm đoạt”. Chàng lấy ít bạc vụn cất trong người,
rồi dồn năm bao lại làm một, vác trên lưng, đến chợ mua hai con tuấn mã. Chàng
đổi ngựa luân phiên, mỗi ngày chỉ ngủ hai ba canh giờ, đi suốt đêm liên tục mấy
ngày.
Chẳng bao lâu chàng đã đến Hành Sơn. Vừa
vào thành đã thấy trên đường có rất nhiều khách giang hồ qua lại. Lâm Bình Chi
chỉ sợ chạm mặt bọn Phương Nhân Trí nên cúi mặt mà đi, tìm một quán trọ trong hẻm
nhỏ. Nào ngờ hỏi liền mấy quán nhưng chỗ nào cũng kín phòng. Tiểu nhị nói:
– Hai ngày nữa chính là ngày Lưu đại gia rửa tay chậu vàng, quán nhỏ của chúng
tôi đã kín khách, xin ngài tới nơi khác hỏi xem!
Lâm Bình Chi đành phải lần tìm ở những ngõ vắng, hỏi tận ba nơi mới thuê được một
gian phòng nhỏ. Chàng nghĩ: “Tuy mình đã đã bôi đen mặt, nhưng Phương Nhân Trí
là kẻ ranh mãnh, chỉ sợ bị hắn nhận ra”. Chàng bèn đến một hiệu thuốc mua ba miếng
cao dán, dán lên mặt kéo cho đôi lông mày rủ xuống như lá liễu, lại dán cho
khóe miệng bên trái méo xệch lộ ra mấy cái răng. Chàng soi gương, thấy diện mạo
mình bỉ ổi không thể tả, tự bản thân còn thấy cực kỳ khó ưa. Chàng lại lấy cái
bao lớn đựng đầy vàng bạc châu báu đeo trên lưng rồi khoác thêm áo ra bên ngoài,
hơi khom lưng một chút, lập tức biến thành một người gù. Chàng nghĩ: “Hình dạng
của mình quái dị như thế này, cha mẹ có thấy cũng không nhận ra, vậy thì chẳng
phải lo lắng nữa!”.
Chàng ăn một tô mì hầm xương lớn, sau đó lang thang dạo phố, hi vọng gặp được
song thân là tốt nhất, nếu không thì thám thính chút tin tức của phái Thanh
Thành cũng được. Đi được nửa ngày, đột nhiên mưa trút xuống rào rào. Chàng ghé
bên đường mua một cái nón dầu rộng vành đội lên đầu, thấy trời đen kịt, mưa vẫn
tầm tã không ngớt. Chàng băng qua đường, thấy một quán trà đông nghẹt người,
bèn vào trong tìm chỗ ngồi. Tiểu nhị đem lên một bình trà, một đĩa hạt bí, một
đĩa đậu răng ngựa.
Chàng uống tách trà, cắn hạt bí cho đỡ buồn, bỗng nghe có người nói:
– Chú gù, cho bọn ta ngồi chung được không?
Người đó không đợi Lâm Bình Chi trả lời, cứ thế ngồi xuống, tiếp theo có hai
người nữa cũng ngồi xuống.
Lúc đầu, Lâm Bình Chi không nhận ra người đó nói chuyện với mình. Chàng ngây
người rồi mới hiểu rằng “chú gù” chính là mình, vội cười đáp:
– Được, được! Mời ngồi, mời ngồi!
Ba người này đều mặc đồ đen, hông giắt binh khí.
Họ vừa uống trà vừa nói chuyện, không để ý tới Lâm Bình Chi. Gã trẻ tuổi nói:
– Lần này Lưu tam gia rửa tay chậu vàng, quả thật rất lớn. Còn hai ngày nữa mới
đến đại yến mà thành Hành Sơn đã chật ních tân khách.
Một gã khác bị chột mắt nói:
– Tất nhiên rồi. Riêng phái Hành Sơn đã có uy danh rất lớn, lại thuộc liên minh
Ngũ Nhạc kiếm phái, thanh thế càng to, ai mà không muốn kết giao với họ? Vả lại,
Lưu Chính Phong Lưu tam gia võ công cao cường, ba mươi sáu đường “Hồi phong lạc
nhạn kiếm” được tôn xưng là đệ nhị cao thủ phái Hành
Sơn, chỉ kém một chút so với chưởng môn là Mạc Đại tiên sinh. Ngày thường có biết
bao nhiêu người muốn cầu thân với ông ta. Hiềm nỗi ông ta một không làm lễ mừng
thọ, hai không cưới vợ cho con trai, ba không gả chồng cho con gái, nên chẳng
có dịp kết giao. Bây giờ mở tiệc rửa tay chậu vàng, quần hào võ lâm dĩ nhiên sẽ
kéo đến tấp nập. Ta đoán hai ngày sắp tới, thành Hành Sơn còn náo nhiệt hơn nữa.
Một lão già có bộ râu lốm đốm bạc nói:
– Nếu bảo ai cũng đến để cầu thân với Lưu Chính Phong cũng chưa hẳn. Ba người
chúng ta đâu có đến vì mục đích đó, đúng chứ? Lưu Chính Phong rửa tay chậu
vàng, tức là từ nay về sau sẽ không xuất quyền động kiếm nữa, quyết không hỏi đến
thị phi ân oán trong võ lâm, xem như không còn nhân vật này trên giang hồ. Một
khi đã thề không đụng đến kiếm nữa thì ba mươi sáu đường “Hồi phong lạc nhạn kiếm”
dẫu cao siêu cách mấy cũng thành vô dụng. Một thân võ nghệ sau khi rửa tay chậu
vàng thì chẳng khác gì người thường, cao thủ tuyệt đỉnh cũng như phế nhân thôi.
Người khác kết giao với y thì được gì chứ?
Gã trẻ tuổi nói:
– Dù sau này Lưu tam gia không xuất quyền động kiếm nữa, nhưng dẫu sao vẫn là
nhân vật đứng thứ hai của phái Hành Sơn. Kết giao với Lưu tam gia chính là kết
giao với phái Hành Sơn, đồng thời cũng là kết giao với Ngũ Nhạc kiếm phái!
Gã râu đốm bạc nói:
– Kết giao với Ngũ Nhạc kiếm phái, ngươi xứng sao?
Gã chột nói:
– Bành đại ca không nên nói thế. Người trong giang hồ, thêm một người bạn không
phải là nhiều, bớt một kẻ thù không phải là ít. Ngũ Nhạc kiếm phái tuy võ nghệ
giỏi, thanh thế lớn cũng không thể coi thường bằng hữu giang hồ được. Nếu quả
thật bọn họ kiêu ngạo tự đại, không xem ai ra gì thì làm sao có nhiều tân khách
trong thành Hành Sơn như vậy?
Gã râu đốm bạc họ Bành hừ một tiếng rồi không nói thêm nữa, một lúc lâu sau mới
hạ giọng:
– Phần nhiều là bọn xu nịnh, ta nhìn thấy mà phát bực.
Lâm Bình Chi chỉ mong ba người nói chuyện không ngớt, hi vọng có thể nghe được
chút tin tức phái Thanh Thành, nào ngờ họ nói chuyện không ăn ý, nên mạnh người
nào người nấy uống trà, không trò chuyện nữa.
Bất chợt sau lưng có tiếng người nói khẽ:
– Vương nhị thúc, nghe nói Lưu tam gia phái Hành Sơn chỉ khoảng năm mươi tuổi,
đang lúc võ công cường thịnh, sao tự nhiên lại rửa tay chậu vàng? Há chẳng phải
uổng phí bản lĩnh của mình à?
Một giọng nói già nua đáp:
– Người trong võ lâm rửa tay chậu vàng có rất nhiều nguyên nhân. Nếu là đạo tặc
trong hắc đạo, cả đời gây nhiều tội nghiệt, thì khi rửa tay chậu vàng nghĩa là
kể từ nay không làm những việc giết người cướp của, phóng hỏa đốt nhà nữa. Thứ
nhất là hối cải hướng thiện để giữ tiếng thơm cho đời con cháu, thứ hai là nếu
xảy ra đại án trên địa bàn thì họ sẽ không bị hiềm nghi. Lưu tam gia sản kếch
sù, họ Lưu ở Hành Sơn đã phát đạt mấy đời, đương nhiên không liên quan đến điều
này.
Một người khác nói:
– Đúng rồi, chẳng liên quan gì hết.
Vương nhị thúc nói tiếp:
– Người học võ cả đời động đao động thương, không tránh khỏi việc ẩu đả giết
người, kết nhiều oan gia. Khi ngấp nghé tuổi già, người ta nghĩ tới những kẻ
thù trên chốn giang hồ, khó tránh ăn không ngon ngủ không yên. Lưu tam gia mời
nhiều tân khách ý muốn tuyên bố với thiên hạ rằng từ nay về sau sẽ không động đến
đao kiếm nữa, cũng tức là nói với kẻ thù rằng họ không cần lo sợ ông ta báo
thù, đồng thời hi vọng họ cũng đừng tìm ông ta sinh sự.
Gã trẻ tuổi nói:
– Vương nhị thúc, cháu thấy như vậy thiệt thòi quá.
Vương nhị thúc hỏi:
– Tại sao lại thiệt thòi?
Gã trẻ tuổi nói:
– Lưu tam gia dĩ nhiên không tìm họ rồi, nhưng họ có thể tìm ông ta bất cứ lúc
nào. Nếu có kẻ muốn giết ông ta, Lưu tam gia không thể động đao kiếm, há chẳng
phải để mặc cho người ta chém giết, không có cách chống trả ư?
Vương nhị thúc cười nói:
– Kẻ hậu sinh chẳng có kiến thức gì cả. Giả sử người ta muốn giết thật, lẽ nào
lại không trả đòn? Huống hồ, với thanh thế của phái Hành Sơn, với võ công cao
cường của Lưu tam gia, y không đi tìm người ta gây chuyện thì người ta đã chắp
tay bái lạy rồi, làm gì có ai dám ăn gan hùm mật báo đi tìm y gây chuyện? Kể cả
Lưu tam gia không đích thân ra tay, nhưng đệ tử dưới trướng đông đảo, đâu có dễ
động vào? Đúng là lo bò trắng răng.
Lão râu đốm bạc ngồi đối diện Lâm Bình Chi lẩm bẩm:
– Ngoài trời có trời, trên người có người. Ai dám tự xưng thiên hạ vô địch?
Lão lẩm bẩm rất nhỏ, hai người đằng sau không nghe thấy.
Vương nhị thúc kia lại nói:
– Còn một số người mở tiêu cục, nếu họ sớm biết đủ, đạt đỉnh rút lui, kịp thời
giã từ sự nghiệp, rửa tay chậu vàng, đừng đặt sinh mạng trên lưỡi đao để kiếm
tiền thì cũng có thể xem là kẻ thức thời.
Mấy câu này lọt vào tai Lâm Bình Chi quả thật kinh tâm động phách. Chàng nghĩ
thầm: “Nếu cha mình đạt đỉnh rút lui, rửa tay gác kiếm sớm vài năm, có lẽ sẽ
không rơi vào cảnh ngộ bây giờ?”.
Lại nghe gã râu đốm bạc lẩm bẩm:
– Chậu sành dễ vỡ gần miệng giếng, tướng quân thường chết chốn sa trường. Người
trong cuộc hay mê muội, bốn chữ “đạt đỉnh rút lui” đâu dễ làm được.
Gã chột nói:
– Đúng vậy, mấy hôm nay tôi nghe người ta nói: danh tiếng của Lưu tam gia đang
rực rỡ như mặt trời ban trưa, đột nhiên đạt đỉnh rút lui, quả thật đáng nể, ai
ai cũng khâm phục.
Bỗng nhiên, một gã trung niên mặc áo lụa ngồi ở bàn bên trái nói:
– Hôm trước tôi ở Vũ Hán tam trấn, nghe đồng đạo võ lâm nói Lưu tam gia rửa tay
chậu vàng, rút khỏi võ lâm là việc bất đắc dĩ, quả thật có chỗ khó xử.
Gã chột quay lại hỏi:
– Các bằng hữu ở Vũ Hán nói thế nào, anh bạn có thể thuật lại được chăng?
Người đó cười cười, nói:
– Những lời đó nói ở Vũ Hán thì không sao, nhưng đến thành Hành Sơn thì không
thể tùy tiện nói lung tung.
Một người khác mập lùn giọng thô lỗ nói:
– Chuyện này nhiều người biết lắm rồi, huynh cần gì ra vẻ bí mật cao siêu? Ai nấy
đều nói, chỉ vì Lưu tam gia võ công quá cao, quá được lòng người nên không thể
không rửa tay chậu vàng.
Giọng gã oang oang, nhất thời trong quán trà có rất nhiều ánh mắt hướng về phía
gã. Có mấy người cùng hỏi:
– Tại sao võ công quá cao, quá được lòng người thì phải rút khỏi võ lâm? Há chẳng
phải kỳ quái à?
Gã mập lùn ra vẻ đắc ý, nói:
– Không biết nội tình thì ai cũng cảm thấy kỳ lạ, nếu biết rồi thì không còn gì
kỳ lạ nữa.
Có người vội hỏi:
– Nội tình gì thế?
Gã mập lùn mỉm cười không đáp. Một gã ốm nhom ngồi cách mấy bàn lạnh lùng nói:
– Mọi người hỏi nhiều làm gì? Anh ta không biết đâu, toàn nói bậy bạ thôi.
Gã mập lùn không chịu được câu nói khích, cao giọng nói:
– Ai bảo ta không biết? Lưu tam gia rửa tay chậu vàng vì quan tâm đến đại cục,
muốn tránh chuyện đấu đá trong phái Hành Sơn.
Mấy người mồm năm miệng mười hỏi:
– Quan tâm đến đại cục là sao?
– Đấu đá cái gì?
– Sư huynh đệ họ bất đồng hả?
Gã mập lùn nói:
– Tuy người ngoài nói Lưu tam gia là đệ nhị cao thủ của phái Hành Sơn, nhưng tất
cả đệ tử trên dưới phái Hành Sơn đều biết trình độ ba mươi sáu đường “Hồi phong
lạc nhạn kiếm” của Lưu tam gia đã vượt xa chưởng môn nhân Mạc Đại tiên sinh. Một
kiếm của Mạc Đại tiên sinh có thể chém đứt đầu ba con nhạn, còn một kiếm của
Lưu tam gia có thể chém đứt đầu năm con. Đệ tử dưới trướng Lưu tam gia đều giỏi
hơn môn hạ của Mạc Đại tiên sinh. Tình hình trước mắt ngày một bất ổn, nếu kéo
thêm vài năm nữa thì thanh thế của Mạc Đại tiên sinh nhất định sẽ bị Lưu tam
gia đè bẹp, nghe nói hai bên đã ngầm xung đột mấy lần. Lưu tam gia nhà cao cửa
rộng, không muốn tranh giành hư danh với sư huynh, vì vậy đành rửa tay chậu
vàng, sau này yên ổn làm một phú ông.
Mọi người gật gù nói:
– Thì ra là vậy. Lưu tam gia hiểu rõ đại nghĩa, thật hiếm có.
Lại có người nói:
– Mạc Đại tiên sinh thật không phải, lão ép Lưu tam gia rút khỏi võ lâm, chẳng
phải đã là tự làm suy yếu thanh thế phái Hành Sơn hay sao?
Gã trung niên mặc áo lụa cười nhạt nói:
– Mọi việc trên đời đâu thể vẹn toàn hết được. Ta chỉ cần giữ vững ngôi vị chưởng
môn, thanh thế của bản phái hưng cũng được mà suy cũng được, việc ai người nấy
lo mà.
Gã mập lùn uống mấy ngụm trà rồi gõ leng keng vào nắp bình, gọi to:
– Châm trà, châm trà!
Gã nói tiếp:
– Mặc dù buổi lễ này là đại sự của phái Hành Sơn, nhưng trong khi các môn phái
đều có khách đến mừng, riêng phái Hành Sơn thì…
Gã đang nói dở, đột nhiên ở ngoài cửa có tiếng hồ cầm kẽo kẹt vang lên, một người
cất tiếng hát:
– Hỡi Dương gia… Mảnh lòng trung… Bảo vệ Đại Tống…
Giọng hát ngân nga kéo dài, nghe rất thê lương não nuột. Mọi người đồng loạt
quay lại nhìn, chỉ thấy một lão già vóc dáng cao gầy ngồi cạnh bàn, sắc mặt tiều
tụy, mặc chiếc áo dài màu xanh cũ đến nỗi sắc xanh đã ngả bạc thành màu trắng.
Trông lão vô cùng thảm hại, đúng là một kẻ ăn xin hát dạo. Gã mập lùn mắng:
– Hát dở như quỷ, rên rỉ thấy ghê! Làm ông đây mất cả hứng nói chuyện.
Lão già lập tức đàn nhỏ lại, nhưng miệng vẫn ư ử hát:
– Bến Kim Sa… Hội song long… Một trận chiến bại…
Có người hỏi:
– Này, vừa nãy huynh nói các môn phái đều có khách đến mừng, còn phái Hành Sơn
thì như thế nào?
Gã mập lùn nói:
– Các đệ tử của Lưu tam gia đương nhiên ở khắp nơi trong thành Hành Sơn để
nghênh đón chào hỏi khách. Nhưng ngoài các đệ tử thân truyền của Lưu tam gia,
các vị có thấy một đệ tử nào khác của phái Hành Sơn không?
Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, đều nói:
– Phải rồi, tại sao không thấy ai cả? Như vậy chẳng phải mất mặt Lưu tam gia
hay sao?
Gã mập lùn nhìn gã mặc áo lụa, cười nói:
– Cho nên tôi mới chê huynh nhát gan sợ phiền phức, không dám nhắc chuyện tranh
chấp nội bộ của phái Hành Sơn, thật ra nhắc cũng chẳng sao. Người phái Hành Sơn
vốn dĩ không tới, sợ gì họ nghe được?
Bỗng nhiên, tiếng hồ cầm to dần, âm điệu biến chuyển, lão già hát:
– Tiểu chủ nhân, vội xông pha, họa lớn tày trời…
Một thanh niên quát:
– Đừng quấy rầy mọi người nữa, cầm tiền rồi đi đi!
Gã ném một xâu tiền đồng bay ra, nghe bộp một tiếng, rớt xuống ngay trước mặt
lão già, thủ pháp rất chuẩn. Lão già đó tạ ơn rồi nhặt tiền lên.
Gã mập lùn khen ngợi:
– Thì ra lão đệ là một danh gia ám khí, chiêu này thật tuyệt diệu!
Gã thanh niên cười đáp:
– Có đáng gì đâu? Vị đại ca này, theo lời huynh nói thì chắc chắn Mạc Đại tiên
sinh sẽ không đến?
Gã mập lùn nói:
– Y đến làm gì? Hai sư huynh đệ Mạc Đại tiên sinh và Lưu tam gia như nước với lửa,
hễ gặp nhau là rút kiếm động thủ. Lưu tam gia đã nhường một bước, y cũng nên biết
vừa lòng thỏa mãn.
Lão hát rong đột nhiên đứng dậy, từ từ bước đến trước mặt gã mập lùn, nghiêng đầu
nhìn gã một hồi lâu. Gã mập lùn tức giận nói:
– Lão muốn gì đây?
Lão già đó lắc đầu nói:
– Ngươi nói bậy lắm!
Rồi quay người bỏ đi. Gã mập lùn giận dữ, vươn tay định chụp vào lưng lão. Bỗng
nhiên trước mắt lóe sáng, một thanh trường kiếm nhỏ bé quét một đường trên mặt
bàn, nghe vang lên mấy tiếng đinh đinh.
Gã mập lùn cả kinh, vội nhảy lùi về sau, sợ thanh trường kiếm đâm trúng mình, lại
thấy lão hát rong từ từ nhét thanh trường kiếm vào đáy hồ cầm cho đến khi lút hết
cả thân. Thì ra thanh trường kiếm được giấu trong đàn, lưỡi kiếm thông đến cán
hồ cầm, người ngoài nhìn vào không thể ngờ được trong cây đàn cũ mèm này lại giấu
binh khí. Lão già lại lắc đầu, nói:
– Ngươi nói bậy lắm!
Rồi từ từ bước ra khỏi quán trà. Mọi người đưa mắt nhìn theo bóng lưng lão dần
biến mất trong mưa, tiếng hồ cầm thê lương còn văng vẳng vọng lại.
Bỗng nhiên có người la lên, kêu lớn:
– Mọi người nhìn kìa!
Mọi người nhìn theo hướng ngón tay gã, thấy đang chỉ vào bảy chén trà trên bàn
của gã mập lùn. Chỗ miệng mỗi chén trà đều bị cắt gọt một vòng khoảng nửa tấc.
Bảy vòng sứ rơi xuống bên cạnh chén trà, nhưng không chén nào bị nghiêng đổ.
Mấy mươi người trong quán liền xúm lại bàn luận xôn xao. Có người hỏi:
– Đó là ai vậy? Sao kiếm pháp lợi hại thế?
Có người nói:
– Một kiếm tiện đứt bảy chén trà, mà chén trà lại đứng yên không đổ, thật là thần
kỳ.
Có người nói với gã mập lùn:
– May mà lão tiên sinh đó kiếm hạ lưu tình, nếu không thì cái cổ của lão huynh
cũng giống như bảy chén trà kia.
Lại có người nói:
– Lão tiên sinh đó hiển nhiên là một vị cao thủ thành danh, sẽ không chấp nhặt
với người thường.
Gã mập lùn nhìn bảy chén trà, vẫn chưa hoàn hồn, mặt cắt không còn giọt máu, những
lời nói của người xung quanh đều không lọt vào tai. Gã trung niên mặc áo lụa
nói:
– Thấy chưa? Tôi đã khuyên huynh nói bớt vài câu rồi. Thị phi cũng bởi hay mở
miệng, phiền phức đều do vội tranh hơn. Trong thành Hành Sơn bây giờ ngọa hổ tàng
long, không biết còn có bao nhiêu cao nhân. Vị lão tiên sinh này nhất định là bạn
tốt của Mạc Đại tiên sinh, nghe huynh nói xấu sau lưng Mạc Đại tiên sinh nên mới
dạy cho huynh một bài học.
Gã râu đốm bạc bỗng nhiên lạnh lùng nói:
– Cái gì mà bạn tốt của Mạc Đại tiên sinh? Ông ấy chính là chưởng môn phái Hành
Sơn, “Tiêu Tương dạ vũ” Mạc Đại tiên sinh!
Mọi người đều kinh hãi, cùng hỏi:
– Sao cơ? Đó… đó là Mạc Đại tiên sinh ư? Làm sao ông biết?
Gã râu đốm bạc nói:
– Quá đơn giản. Mạc Đại tiên sinh rất thích gảy hồ cầm khúc “Tiêu Tương dạ vũ”
thê lương, khiến cho người nghe không khỏi rơi lệ. Tám chữ “Trong đàn giấu kiếm,
kiếm phát tiếng đàn” là lời miêu tả võ công của ông ấy. Các vị
đã đến thành Hành Sơn, chẳng lẽ không biết? Vừa rồi vị huynh đài này luyên
thuyên rằng Lưu tam gia một nhát kiếm có thể chém đứt đầu năm con chim nhạn còn
Mạc Đại tiên sinh chỉ có thể chém đứt đầu ba con. Ông ấy bèn quét một đường kiếm
cắt đứt bảy chén trà cho huynh thấy. Chén trà còn cắt đứt được thì chém nhạn có
khó gì? Vì vậy ông ấy mắng huynh nói bậy.
Gã mập lùn sợ hết hồn, cúi đầu không dám trả lời. Gã mặc áo lụa trả tiền trà rồi
kéo gã mập lùn đi.
Khách trong quán trà thấy Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh hiển lộ một chiêu
thần công kinh hãi thế tục, thảy đều sợ toát mồ hôi, thầm nghĩ vừa rồi gã mập
lùn ca tụng Lưu Chính Phong, phê phán Mạc Đại tiên sinh, mình cũng lên tiếng
hùa theo, không chừng vì thế mà rước họa vào thân. Mọi người lục tục trả tiền rồi
rời khỏi quán, chỉ trong khoảnh khắc, quán trà đông nghẹt huyên náo trở nên vắng
lặng. Ngoài Lâm Bình Chi, chỉ còn hai người khách khác ngồi trong góc, đang úp
mặt xuống bàn ngủ.
Lâm Bình Chi nhìn bảy chén trà bị tiện đứt và bảy cái vòng miệng chén, suy tư:
“Ông lão đó bề ngoài có vẻ hèn mọn, một ngón tay cũng có thể đẩy ngã lão, nào
ngờ thanh trường kiếm vừa hoa lên một cái thì đã tiện đứt bảy chén trà. Nếu mình
không rời Phúc Châu thì làm sao biết trên đời có nhân vật lợi hại bậc này. Mình
ở trong tiêu cục Phúc Uy cũng như ếch ngồi đáy giếng, cứ tưởng cao thủ lợi hại
trên giang hồ, cùng lắm cũng chỉ giỏi ngang cha mình. Than ôi! Nếu mình có thể
bái người này làm thầy, khổ luyện võ công thì may ra mới báo được đại thù, bằng
không thì suốt đời chẳng còn hi vọng gì nữa”. Chàng nghĩ tiếp: “Sao mình không
đi tìm Mạc Đại tiên sinh, thành khẩn cầu xin ông ấy cứu cha mẹ, thu nhận mình
làm đệ tử?”. Chàng vừa đứng dậy, đột nhiên nghĩ lại: “Lão là chưởng môn phái
Hành Sơn. Ngũ Nhạc kiếm phái qua lại với phái Thanh Thành, đời nào lão chịu vì
một người không quen biết mà đắc tội bạn bè?”. Nghĩ đến đây, chàng chán nản ngồi
phệt xuống ghế.
Chợt nghe một giọng nói uyển chuyển
thánh thót:
– Nhị sư ca, trời mưa mãi không tạnh, quần áo muội ướt hết rồi, mình vào đây uống
trà đi.
Lâm Bình Chi chấn động, nhận ra đó là giọng của cô gái bán rượu xấu xí đã cứu mạng
mình. Chàng vội vàng cúi gằm mặt. Chỉ nghe tiếng một lão già trả lời:
– Cũng được, uống chén trà nóng cho ấm bụng.
Hai người đi vào quán trà, ngồi vào bàn đối diện hơi chếch với bàn của Lâm Bình
Chi. Chàng liếc mắt nhìn, quả nhiên là thiếu nữ bán rượu, đang mặc áo xanh ngồi
quay lưng về phía chàng. Người ngồi cạnh cô ta chính là lão Tát đã mạo xưng là
ông nội của thiếu nữ. Chàng nghĩ: “Thì ra hai người này là sư huynh sư muội. Họ
cải trang làm ông cháu đến thành Phúc Châu hẳn có mưu đồ. Không biết vì sao họ
lại cứu mình? Không chừng họ biết cha mẹ của mình ở đâu”.
Người phục vụ thu dọn những chén trà còn sót và đem trà nóng lên. Lão già nhìn
thấy bảy miệng chén ở bàn bên cạnh, bất giác kêu khẽ một tiếng, nói:
– Tiểu sư muội, nhìn kìa!
Thiếu nữ cũng vô cùng kinh ngạc, nói:
– Công phu thật tuyệt diệu, ai đã tiện đứt bảy miệng chén trà này vậy?
Lão già nói khẽ:
– Tiểu sư muội, ta kiểm tra muội một chút. Một kiếm bảy hướng, cắt ngọc chém
vàng, bảy miệng chén này, là ai tiện đứt?
Thiếu nữ làm mặt giận nói:
– muội không nhìn thấy, làm sao biết ai chém…
Cô chợt vỗ tay cười nói:
– muội biết rồi! muội biết rồi! Ba mươi sáu đường “Hồi phong lạc nhạn kiếm”,
chiêu thứ mười bảy "Nhất kiếm lạc cửu nhạn", đây là kiệt tác của Lưu Chính Phong Lưu tam
gia.
Lão già cười lắc đầu nói:
– E rằng kiếm pháp của Lưu tam gia chưa đạt tới trình độ này, muội mới đoán
trúng một nửa.
Thiếu nữ giơ ngón trỏ lên chỉ vào lão cười nói:
– Huynh đừng nói, muội biết rồi. Đây… đây là Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh!
Đột nhiên có bảy tám thanh âm cùng vang lên, có tiếng vỗ tay, có tiếng cười rộ,
đều nói:
– Sư muội tinh tường lắm.
Lâm Bình Chi giật mình tự hỏi: “Ở đâu ra nhiều người vậy?”. Chàng liếc trộm thấy
hai người ngủ gục trên bàn đã đứng dậy, còn có bốn người khác đi ra từ nội đường
quán trà, có người ăn mặc tựa hồ phu khuân vác, có người cầm bàn tính giống nhà
buôn, lại có người để một con khỉ nhỏ ngồi trên vai như đang diễn xiếc cho trẻ
em.
Thiếu nữ cười nói:
– Ha, thì ra hội lưu manh trốn ở đây, làm muội giật cả mình! Đại sư ca đâu?
Người có con khỉ cười nói:
– Sao muội vừa gặp đã mắng bọn huynh là lưu manh?
Thiếu nữ cười nói:
– Các huynh lén lút trốn để dọa người, khác gì hành vi của lưu manh trên giang
hồ đâu? Sao đại sư ca không đi chung với các huynh?
Người có con khỉ cười nói:
– Sao muội không hỏi cái khác mà cứ hỏi đại sư ca? Gặp mặt chưa nói được hai ba
câu, thì đã hai ba lần hỏi đại sư ca rồi. Sao muội không hỏi lục sư ca?
Thiếu nữ giậm chân nói:
– Hứ! Sư ca con khỉ, huynh đang đứng sờ sờ ở đây, không chết cũng không bị
thương, muội hỏi làm gì?
Người có con khỉ cười nói:
– Đại sư ca cũng không chết, không bị thương, muội hỏi huynh ấy làm gì?
Thiếu nữ làm mặt giận nói:
– muội không nói chuyện với huynh nữa. Tứ sư ca, chỉ có huynh là người tốt. Đại
sư ca đâu rồi?
Người ăn mặc như phu khuân vác chưa kịp trả lời thì mấy người kia đã cười nói:
– Chỉ có tứ sư ca là người tốt, còn bọn ta là người xấu. Nè lão tứ, đừng nói với
muội ấy!
Thiếu nữ nói:
– Làm như báu bở lắm! Không nói thì thôi. Các huynh đã không nói, thì những
chuyện cổ quái ly kỳ muội và nhị sư ca gặp phải dọc đường, đừng hòng muội kể
cho mấy huynh nửa câu.
Người ăn mặc như phu khuân vác nãy giờ chưa nói cười gì, cứng đơ như khúc gỗ, bấy
giờ mới lên tiếng:
– Hôm qua, bọn huynh chia tay đại sư ca ở Hành Dương, huynh ấy bảo bọn huynh đi
trước. Lúc này chắc đại sư ca cũng tỉnh rượu rồi, sẽ tới ngay thôi.
Thiếu nữ nhíu mày, nói:
– huynh ấy lại uống say à?
Người ăn mặc như phu khuân vác đáp:
– Ừ.
Người cầm bàn tính nói:
– Lần này huynh ấy được uống thỏa thích, uống từ sáng sớm đến tận trưa, rồi lại
uống từ trưa đến chạng vạng tối, ít nhất cũng phải hai mươi, ba mươi cân rượu
ngon!
Thiếu nữ nói:
– Uống như vậy hại thân lắm! Sao mọi người không khuyên huynh ấy?
Người cầm bàn tính le lưỡi, nói:
– Đại sư ca mà chịu nghe người khác khuyên thì đúng là mặt trời mọc đằng tây.
Trừ phi tiểu sư muội khuyên thì may ra huynh ấy sẽ uống ít đi một cân, nửa cân.
Mọi người đều cười ồ.
Thiếu nữ hỏi:
– Sao huynh ấy uống nhiều thế? Bộ gặp chuyện gì vui lắm à?
Người cầm bàn tính nói:
– Cái đó phải hỏi đại sư ca thôi. Có lẽ huynh ấy biết đến thành Hành Sơn thì sẽ
được gặp tiểu sư muội, cảm thấy vui vẻ nên uống mừng thật nhiều.
Thiếu nữ nói:
– Nói bậy không à!
Nhưng giọng điệu lại tỏ ý vui mừng.
Lâm Bình Chi nghe sư huynh muội họ cười nói, nghĩ thầm: “Nghe cách bọn họ nói,
giữa cô gái này và đại sư huynh dường như có tình ý. Nhưng nhị sư ca đã già thế
này, đại sư ca đương nhiên càng già hơn. Cô gái này không quá mười sáu mười bảy
tuổi, sao lại đi yêu một ông lão như vậy?”. Chàng nghĩ lại, lập tức hiểu ra:
“Phải rồi. Mặt mũi cô gái này rỗ chằng chịt, tướng mạo quá xấu, không ai chịu lấy,
nên đành phải thích một lão già góa vợ nghiện rượu”.
Chàng nghe thiếu nữ hỏi lại:
– Hôm qua đại sư ca uống rượu từ sáng sớm ư?
Người có con khỉ nói:
– Không kể rõ ràng cho muội thì muội sẽ không chịu buông tha bọn huynh. Sáng sớm
hôm qua, bảy người chúng ta chuẩn bị lên đường thì đột nhiên đại sư ca ngửi thấy
mùi rượu nên đi xem thử, thì ra là một lão ăn mày tay cầm bầu rượu, đang kê miệng
vào bầu uống. Lúc đó cơn nghiện rượu của đại sư ca nổi lên, liền đến trò chuyện
với lão ăn mày, khen rượu của lão thơm, còn hỏi đó là rượu gì. Lão ăn mày đáp:
“Đây là Hầu nhi tửu”. Đại sư ca hỏi: “Sao lại gọi là Hầu nhi tửu?”. Lão ăn mày
trả lời rằng có bầy khỉ con trong khu rừng ở Tương Tây biết hái trái cây làm rượu.
Bầy khỉ hái những quả tươi ngọt nhất, nên rượu ủ ra cực kỳ thơm ngon. Lão ăn
mày đi vào rừng đúng lúc lũ khỉ không có ở đó, bèn lấy trộm ba bầu rượu, còn bắt
luôn một con khỉ con, chính là chú khỉ này đây.
Gã vừa nói vừa chỉ vào con khỉ trên vai. Chân sau của con khỉ bị buộc vào cánh
tay gã bằng một sợi dây. Con khỉ không ngừng sờ đầu gãi tai, nhăn mặt nhíu mày,
trông rất tức cười.
Thiếu nữ nhìn con khỉ, cười nói:
– Lục sư ca, thảo nào ngoại hiệu của huynh là Lục hầu nhi. Huynh và chú khỉ nhỏ
này đúng là một cặp huynh đệ!
Lục hầu nhi hếch mặt lên, nói rất nghiêm trang:
– Bọn này không phải là huynh đệ ruột mà là sư huynh đệ. Chú nhỏ này là sư ca của
ta, còn ta là lão nhị.
Mọi người nghe vậy đều bật cười ha hả.
Thiếu nữ cười nói:
– Được lắm, huynh dám nói vòng vo để chửi xéo đại sư ca. Đợi đó, muội sẽ tố
cáo, nhất định đại sư ca sẽ đá huynh lộn nhào mấy vòng!
Rồi cô hỏi:
– Tại sao người huynh đệ này lại đến với lục sư ca?
Lục hầu nhi nói:
– Người huynh đệ nào? muội nói con tiểu súc sinh này hả? Trời ơi, dài dòng lắm,
nhức hết cả đầu!
Thiếu nữ cười nói:
– huynh không nói thì muội cũng đoán được. Nhất định là đại sư ca đưa con khỉ
này cho huynh, bảo huynh trông nom, để chú khỉ nhỏ này ủ rượu cho đại sư ca uống.
Lục hầu nhi nói:
– muội đúng là một…
Dường như gã định nói “một cục phân”, nhưng mới nói được chữ “một” thì lập tức
nín lại, đổi giọng:
– Phải, phải, muội đoán đúng rồi!
Thiếu nữ mỉm cười nói:
– Đại sư ca thích làm mấy chuyện kì cục lạ đời. Khỉ sống trong rừng mới biết
làm rượu, khi bị người ta bắt về thì làm sao có thể hái trái làm rượu được nữa?
Nếu thả nó ra để hái trái cây, chẳng phải nó sẽ chạy mất ư?
Cô dừng lại một chút rồi cười nói:
– Nếu không thì tại sao lại chưa bao giờ thấy con khỉ Lục hầu nhi ủ rượu?
Lục hầu nhi ra vẻ nghiêm nghị nói:
– Sư muội, muội dám bất kính với sư huynh, nói năng lung tung không biết trên
dưới.
Thiếu nữ cười nói:
– Úi chà, bày đặt lên mặt sư huynh nữa kìa. Lục sư ca, huynh vẫn chưa nói vào
chuyện chính. Tại sao đại sư ca lại uống rượu không ngừng từ sáng đến tối?
Lục hầu nhi nói:
– À phải, lúc đó đại sư ca không ngại dơ bẩn, đến chỗ lão ăn mày đề nghị uống
rượu. Trời ơi, toàn thân lão ăn mày đó cáu ghét dày cui cả tấc, chấy rận bò khắp
áo rách, nước mắt nước mũi tèm lem, khả năng cao trong bầu rượu cũng có cả đống
đờm dãi…
Thiếu nữ bụm miệng, chau mày nói:
– Đừng nói nữa, người ta nghe mà buồn nôn.
Lục hầu nhi nói:
– muội buồn nôn chứ đại sư ca không buồn nôn đâu. Lão ăn mày nói ba bầu Hầu nhi
tửu của lão đã gần hết, chỉ còn hơn nửa bầu, nhất quyết không cho ai. Đại sư ca
lấy ra một lượng bạc, nói sẽ mua một lượng bạc một hớp rượu.
Thiếu nữ vừa tức giận vừa buồn cười, mắng:
– Đúng là sâu rượu.
Lục hầu nhi kể tiếp:
– Lão ăn mày đồng ý, nhận bạc rồi nói: “Chỉ một hớp thôi, nhiều hơn một chút
cũng không được”. Đại sư ca nói: “Đã nói một hớp tức là một hớp!”. huynh ấy cầm
bầu rượu kê sát miệng rồi há miệng uống. Nào ngờ một hớp của huynh ấy rất dài,
chỉ nghe tiếng ừng ực, chỉ một hớp đã uống cạn sạch nửa bầu rượu. Thì ra đại sư
ca sử dụng khí công sư phụ truyền thụ cho, không cần lấy hơi mà uống như rồng
hút nước. Hơn nửa bầu rượu bị uống sạch không chừa một giọt.
Mọi người nghe đến đây, cùng cười rộ lên.
Lục hầu nhi lại nói:
– Tiểu sư muội, nếu hôm qua muội ở Hành Dương, tận mắt thấy công phu uống rượu
của đại sư ca thì muội không thể không phục sát đất. huynh ấy “thần ngưng tại
Đan điền, hơi tràn khắp Tử phủ, thân bay bổng vượt qua Hoa Nhạc, khí vút cao
rung chuyển Đẩu tinh”, sử dụng môn khí công này tới độ xuất thần nhập hóa, huyền
diệu vô cùng.
Thiếu nữ cười lăn lộn, mắng:
– huynh đúng là đồ quỷ, miêu tả đại sư ca ác quá. Hứ, huynh dám lấy khẩu quyết
khí công của chúng ra đùa giỡn, cẩn thận đó!
Gã Lục hầu nhi cười nói:
– huynh không hề nói mò. Ở đây có sáu vị sư huynh sư đệ, ai cũng nhìn thấy. Có
phải đại sư ca vận khí công uống sạch Hầu nhi tửu không?
Mấy người bên cạnh đều gật đầu nói:
– Tiểu sư muội, là thật đó.
Thiếu nữ thở dài nói:
– Công phu này rất khó luyện, chỉ có mình huynh ấy được truyền thụ, không ngờ lại
đem ra lừa gạt lão ăn mày để uống rượu.
Trong giọng nói dường có ý tiếc nuối, nhưng cũng có phần ca ngợi.
Lục hầu nhi nói:
– Đại sư ca uống đến mức dốc cạn bầu rượu, tất nhiên lão ăn mày kia không chịu.
Lão nắm vạt áo của đại sư ca kêu gào, rằng rõ ràng chỉ cho uống một hớp, tại
sao lại nốc sạch nửa bầu rượu như thế. Đại sư ca cười nói: “Rõ ràng ta chỉ uống
một hớp, ông có thấy ta dừng lại lấy hơi không? Không lấy hơi tức là mới một hớp.
Chúng ta đâu có nói là một hớp lớn hay một hớp nhỏ. Thật ra ta mới uống có nửa
hớp, chưa đủ một hớp đâu. Một hớp thì một lượng bạc, nửa hớp thì chỉ nửa lượng.
Trả nửa lượng lại cho ta!”.
Thiếu nữ cười nói:
– Đã uống rượu của người ta mà còn đòi tiền lại ư?
Lục hầu nhi nói:
– Lão ăn mày tức quá suýt khóc. Đại sư ca bèn nói: “Lão huynh, nhìn ông nóng nảy
như vậy, nhất định là một quân tử hảo rượu! Nào nào, ta làm chủ xị, mời ông một
bữa thật say!”. huynh ấy kéo lão ăn mày đến một quán rượu bên đường, cả hai thi
nhau chén chú chén anh không ngừng nghỉ. Bọn huynh đợi đến giữa trưa, hai người
vẫn còn uống. Đại sư ca hỏi xin con khỉ của lão ăn mày, kêu huynh chăm sóc nó.
Đợi tới xế chiều, lão ăn mày say quá lăn ra đất, không bò dậy nổi, chỉ còn đại
sư ca ngồi đó tự rót tự uống, nhưng nói năng vẫn tỉnh táo, bảo chúng ta đến
Hành Sơn trước, huynh ấy sẽ tới sau.
Thiếu nữ nói:
– Thì ra là vậy.
Cô trầm ngâm một lúc rồi nói:
– Lão ăn mày đó có phải người trong Cái bang không?
Người ăn mặc như phu khuân vác lắc đầu nói:
– Không phải, lão không biết võ công, cũng không đeo túi trên lưng.
Thiếu nữ nhìn ra ngoài một hồi lâu, thấy mưa vẫn tầm tã không ngớt. Cô lẩm bẩm:
– Nếu hôm qua huynh đi chung với mọi người thì hôm nay không bị dính mưa rồi.
Lục hầu nhi nói:
– Tiểu sư muội, muội nói muội và nhị sư ca gặp rất nhiều chuyện ly kỳ trên đường,
mau kể cho bọn ta nghe đi.
Thiếu nữ nói:
– huynh sốt ruột làm gì, đợi đại sư ca đến rồi kể cũng chưa muộn, muội đỡ phải
kể nhiều lần. Các huynh hẹn gặp nhau ở đâu?
Lục hầu nhi nói:
– Không hẹn gì cả. Thành Hành Sơn không lớn lắm, kiểu gì cũng gặp nhau thôi. Được
lắm, muội dụ huynh kể chuyện đại sư ca uống Hầu nhi tửu, rồi lại không chịu kể
chuyện của mình.
Thiếu nữ có vẻ lơ đãng, nói:
– Nhị sư ca, nhờ huynh kể lại cho các vị sư ca được không?
Cô nhìn về phía sau lưng Lâm Bình Chi một cái, nói:
– Ở đây nhiều tai mắt, chúng ta đi tìm một nhà trọ rồi hãy nói.
Một người cao nghệu nãy giờ chưa lên tiếng, bây giờ mới nói:
– Các quán trọ lớn nhỏ trong thành Hành Sơn đều kín phòng rồi. Chúng ta lại
không muốn đến làm phiền Lưu phủ, thôi thì đợi thêm một chút, chờ đại sư huynh
tới rồi chúng ta tìm chùa miếu từ đường nào đó ở ngoại thành nghỉ chân. Nhị sư
ca, huynh thấy sao?
Lúc này đại sư huynh chưa đến, lão già kia trở thành thủ lĩnh của bọn đồng môn.
Lão gật đầu:
– Được! Chúng ta cứ đợi ở đây.
Lục hầu nhi sốt ruột, khẽ nói:
– Tên gù kia chắc là một người điên, ngồi ở đây cả nửa ngày vẫn không cục cựa,
đừng đếm xỉa đến gã. Nhị sư ca, huynh và tiểu sư muội đến Phúc Châu thám thính
được gì? Tiêu cục Phúc Uy đã bị phái Thanh Thành san bằng rồi, nhà họ Lâm quả
thật không võ công lợi hại gì à?
Lâm Bình Chi nghe họ bất ngờ nhắc đến tiêu cục nhà mình thì càng chú ý lắng
nghe.
Lão già nói:
– Ta và tiểu sư muội gặp sư phụ ở Trường Sa, sư phụ bảo chúng ta đến thành Hành
Sơn gặp đại sư ca và các vị sư đệ. Chuyện ở Phúc Châu hãy tạm gác lại. Vì sao Mạc
Đại tiên sinh tự nhiên xuất chiêu “Nhất kiếm lạc cửu nhạn” ở đây vậy? Các sư đệ
đều nhìn thấy mà, đúng không?
Lục hầu nhi nói:
– Phải.
Rồi gã lần lượt kể lại chuyện mọi người bàn tán về lý do Lưu Chính Phong rửa
tay chậu vàng, Mạc Đại tiên sinh bỗng nhiên xuất hiện ra sao, mọi người giật
mình kinh hãi thế nào.
Lão già ừm một tiếng, một lúc sau mới nói:
– Giang hồ đều nói Mạc Đại tiên sinh và Lưu tam gia bất hòa. Phen này, Lưu tam
gia rửa tay chậu vàng mà hành tung của Mạc Đại tiên sinh lại xuất quỷ nhập thần
như vậy, càng khiến người ta khó hiểu được nội tình.
Người cầm bàn tính nói:
– Nhị sư ca, nghe nói chưởng môn phái Thái Sơn là Thiên Môn chân nhân đích thân
tới mừng, hiện đã đến Lưu phủ rồi.
Lão già nói:
– Thiên Môn chân nhân thân hành đến sao? Phen này Lưu tam gia nở mày nở mặt rồi.
Thiên Môn chân nhân đã nghỉ ở Lưu phủ, nếu hai sư huynh đệ Mạc, Lưu phái Hành
Sơn xảy ra xích mích thật thì Lưu tam gia đã có cao thủ là Thiên Môn chân nhân ủng
hộ, Mạc Đại tiên sinh chưa chắc làm khó được.
Thiếu nữ nói:
– Nhị sư ca, liệu Dư quán chủ phái Thanh Thành sẽ giúp ai?
Lâm Bình Chi nghe sáu chữ “Dư quán chủ phái Thanh Thành” thì tinh thần chấn động,
giống như bị ai đấm mạnh vào ngực một cái.
Bọn Lục hầu nhi nhốn nháo cả:
– Dư quán chủ cũng tới à?
– Mời được y xuống núi Thanh Thành không dễ đâu.
– Thành Hành Sơn náo nhiệt lắm đây, cao thủ như mây, e rằng sẽ xảy ra một cuộc
long tranh hổ đấu.
– Tiểu sư muội, ai nói với muội là Dư quán chủ sẽ tới?
Thiếu nữ nói:
– Cần gì nghe ai nói, muội tận mắt thấy lão tới.
Lục hầu nhi hỏi:
– muội thấy Dư quán chủ rồi hả? Trong thành Hành Sơn à?
Thiếu nữ nói:
– Không chỉ trong thành Hành Sơn mà đã thấy từ lúc ở Phúc Kiến, đến Giang Tây lại
thấy lần nữa.
Người cầm bàn tính nói:
– Dư quán chủ đi Phúc Kiến làm gì? Tiểu sư muội, chắc chắn muội không biết rồi.
Thiếu nữ nói:
– Ngũ sư ca, huynh đừng khích muội. muội đang định kể nhưng huynh nói khích thì
muội không kể nữa.
Lục hầu nhi nói:
– Đây là chuyện của phái Thanh Thành, người ngoài nghe thấy cũng chẳng hề hấn
gì. Nhị sư ca, Dư quán chủ đến Phúc Kiến chi vậy? Làm sao hai người thấy ông ta?
Lão già nói:
– Đại sư ca chưa tới mà mưa vẫn không ngớt, dù gì cũng đang rảnh, để ta kể lại
đầu đuôi câu chuyện. Mọi người biết đầy đủ tường tận thì sau này gặp đệ tử phái
Thanh Thành cũng hiểu rõ ngọn ngành. Tháng chạp năm ngoái ở Hán Trung, đại sư
ca đã đá Hầu Nhân Anh và Hồng Nhân Hùng của phái Thanh Thành…
Lục hầu nhi bỗng nhiên cười hề hề. Thiếu nữ nguýt gã một cái, hỏi:
– huynh cười cái gì?
Lục hầu nhi cười nói:
– huynh cười hai thằng đó tự cao tự đại, Nhân Anh với chả Nhân Hùng, giang hồ đồn
đại cái gì mà “Anh, Hùng, Hào, Kiệt, Thanh Thành tứ tú”. Cũng giống tên huynh
là Lục Đại Hữu nhưng chẳng có gì hết.
Thiếu nữ nói:
– Sao lại bảo chẳng có gì? Nếu huynh không mang họ Lục, không tên là Lục Đại Hữu,
thì sao lại xếp thứ sáu trong các đồng môn, sao lại có ngoại hiệu là Lục hầu
nhi chứ?
Lục Đại Hữu cười đáp:
– Được, từ nay về sau, huynh sẽ đổi tên thành “Lục Đại Vô”.
Một người khác nói:
– Đừng ngắt lời nhị sư ca nữa.
Lục Đại Hữu nói:
– Không ngắt thì không ngắt!
Gã lại tiếp tục cười hề hề. Thiếu nữ chau mày nói:
– huynh lại cười gì nữa? Cứ gây rối hoài!
Lục Đại Hữu cười nói:
– huynh nhớ cảnh Hầu Nhân Anh và Hồng Nhân Hùng bị đại sư ca đá lộn nhào bảy
tám vòng mà vẫn không biết người đá mình là ai, càng không biết tại sao bị đá.
Hóa ra đại sư ca mới nghe tên tụi nó đã tức giận, vừa uống rượu vừa hô lớn:
“Chó, gấu, lợn lòi, Thanh Thành tứ thú”. Hai gã Hầu, Hồng tất nhiên nổi giận, lao lên động
thủ, bị đại sư ca đá lăn từ trên lầu xuống đất. Ha ha!
Lâm Bình Chi nghe vậy, cảm thấy mở cờ trong bụng, tự nhiên có thiện cảm với “đại
sư ca” này. Tuy chàng chưa gặp Hầu Nhân Anh và Hồng Nhân Hùng, nhưng hai tên
này là sư huynh đệ của Phương Nhân Trí và Vu Nhân Hào. “Đại sư ca” kia đá chúng
lăn xuống lầu cũng như giúp cho chàng hả giận.
Lão già nói:
– Lúc đại sư ca đá hai gã Hầu, Hồng, chúng chưa biết đại sư ca là ai, sau đó
đương nhiên chúng đã điều tra ra. Vì thế, Dư quán chủ mới viết một lá thư gửi
cho sư phụ, lời lẽ rất khách khí, đại loại tự nhận mình dạy bảo đệ tử không
nghiêm nên đã đắc tội với cao đồ của quý phái, nhân đây gửi thư xin lỗi.
Lục Đại Hữu nói:
– Lão họ Dư đó thật gian xảo. Lão viết thư xin lỗi, thực chất là gửi cáo trạng
cho sư phụ. Báo hại đại sư ca phải quỳ ngoài cổng suốt một ngày một đêm, các sư
huynh đệ năn nỉ cầu xin mãi sư phụ mới tha cho.
Thiếu nữ nói:
– Tha đâu mà tha, còn bị đánh ba mươi côn nữa!
Lục Đại Hữu nói:
– Ta phụ họa theo đại sư ca, cũng bị phạt mười côn. Ha ha, nhưng được nhìn hai
thằng Hầu Nhân Anh, Hồng Nhân Hùng lăn lông lốc từ trên lầu xuống cực kỳ thảm hại,
ăn mười côn cũng đáng. Ha ha!
Người cao nghệu nói:
– Đệ vẫn chứng nào tật nấy, chẳng có lòng hối cải gì cả, mười côn này kể như uổng
phí rồi.
Lục Đại Hữu nói:
– Muội hối cải kiểu gì bây giờ? Đại sư ca muốn đá người ta xuống lầu, muội đâu
có bản lĩnh ngăn cản chứ?
Người cao nghệu nói:
– Thì đệ đứng bên khuyên đại sư ca vẫn tốt hơn. Sư phụ nói không sai chút nào:
“Lục Đại Hữu chẳng bao giờ chịu khuyên giải ai, chỉ đổ thêm dầu vào lửa, đánh
mười côn!”. Ha ha!
Những người khác cũng cười ầm lên.
Lục Đại Hữu nói:
– Lần này sư phụ phạt oan muội. huynh nghĩ xem, đại sư ca ra chân nhanh đến mức
nào, hai vị đại “Anh Hùng” lao tới từ hai bên trái phải, đại sư ca vẫn cầm bát
rượu lên uống ừng ực. muội la lên: “Đại sư ca, cẩn thận!”. Chưa gì đã nghe hai
tiếng bốp, bốp, tiếp theo là hai tiếng bịch, bịch, hai vị đại “Anh Hùng” đã lộn
vòng vòng trên cầu thang, lăn một mạch từ trên lầu xuống đất. muội chỉ mong được
nhìn thật kỹ để học tuyệt chiêu “Báo vĩ cước” của đại sư ca, nhưng xem còn không kịp,
nói gì tới học? muội đổ thêm dầu vào lửa hồi nào?
Người cao nghệu nói:
– Lục hầu nhi, huynh hỏi đệ, lúc đại sư ca quát “Chó, gấu, lợn lòi, Thanh Thành
tứ thú”, đệ có phụ họa theo không, trả lời thành thật đi.
Lục Đại Hữu cười hì hì đáp:
– Đại sư ca đã quát như vậy, mình là sư đệ thì sao lại không phụ họa để tăng
thêm thanh thế? Chẳng lẽ huynh bảo muội giúp mấy gã Thanh Thành chửi ngược đại
sư ca ư?
Người cao nghệu nói:
– Thấy chưa, sư phụ lão nhân gia phạt đệ chẳng oan chút nào.
Lâm Bình Chi nghĩ: “Xem ra Lục hầu nhi này cũng là người tốt, không biết họ là
người phái nào?”.
Lão già nói:
– Lời sư phụ răn dạy đại sư ca, mọi người phải nhớ nằm lòng. Sư phụ nói: “Người
học võ trên giang hồ ngoại hiệu rất nhiều, mà tên nào cũng có phần thậm xưng.
Nào là “Uy chấn thiên nam”, nào là “Truy phong hiệp”, “Thảo thượng phi”, con nhiều chuyện làm gì? Người ta muốn xưng
“Anh, Hùng, Hào, Kiệt” thì cứ mặc họ. Nếu họ quả thật có hành vi của bậc anh
hùng hào kiệt, chúng ta khâm phục kết giao với họ còn không kịp, cớ sao lại đem
lòng thù ghét? Nếu họ không phải là anh hùng hào kiệt, võ lâm ắt tự có công luận,
người người cười chê, chúng ta hà tất phải bận tâm?”.
Mọi người nghe xong đều gật gù. Lục Đại Hữu nói nhỏ:
– Ngoại hiệu Lục hầu nhi của muội rất hay, không khiến ai nổi nóng.
Lão già mỉm cười nói:
– Việc đại sư ca đá Hầu Nhân Anh, Hồng Nhân Hùng lăn xuống lầu, phái Thanh
Thành cảm thấy rất nhục nhã, đương nhiên phải giấu kín, đệ tử trong phái cũng
ít người biết. Sư phụ đã dặn đi dặn lại, cấm chúng ta tiết lộ phong thanh để
tránh gây bất hòa. Từ nay về sau, chúng ta đừng nhắc việc đó nữa, đề phòng có kẻ
nghe được rồi truyền rộng ra.
Lục Đại Hữu nói:
– Nói thật, muội thấy võ công phái Thanh Thành cũng chỉ có hư danh, dù mình đắc
tội với họ cũng chẳng sợ gì…
Gã chưa dứt lời thì lão già đã gắt:
– Lục sư đệ, đệ đừng nói năng xằng bậy, nếu không khi trở về ta bẩm lại sư phụ,
đệ lại bị thêm mười côn. Đại sư ca dùng một chiêu “Cú đá đuôi báo” đá được người
ta rớt xuống lầu, thứ nhất vì đại sư ca nhân lúc họ không phòng bị, thứ hai vì
đại sư ca là người xuất chúng trong môn phái ta, người khác không thể bì kịp. Đệ
nhắm mình có bản lĩnh đá người ta rớt lầu không?
Lục Đại Hữu lè lưỡi, xua tay nói:
– huynh đừng so muội với đại sư ca.
Lão già nghiêm nghị nói:
– Chưởng môn Dư quán chủ phái Thanh Thành thật sự là kỳ tài quái kiệt trong võ
lâm hiện nay, nếu dám coi thường thì chắc chắn sẽ chuốc lấy xui xẻo. Tiểu sư muội,
muội đã gặp Dư quán chủ rồi, muội cảm thấy ông ta thế nào?
Thiếu nữ nói:
– Dư quán chủ ư? Lão ra tay vô cùng tàn độc. muội… muội thấy lão rất đáng sợ,
sau này muội… muội không muốn gặp lão nữa đâu.
Giọng nói của cô run run, dường như vẫn còn khiếp sợ. Lục Đại Hữu hỏi:
– Dư quán chủ ra tay tàn độc ư? muội thấy lão giết người à?
Thiếu nữ sợ đến nỗi co rúm lại, không trả lời câu hỏi.
Lão già nói:
– Hôm nhận được thư của Dư quán chủ, sư phụ tức giận phạt nặng đại sư ca và Lục
sư đệ. Qua hôm sau, sư phụ viết một lá thư sai ta đưa đến núi Thanh Thành…
Mấy đệ tử cùng thốt lên:
– Thì ra hôm đó nhị sư ca vội vàng xuống núi là để đi Thanh Thành?
Lão già nói:
– Đúng vậy, hôm đó sư phụ dặn ta không được nói với mọi người để tránh sinh
thêm rắc rối.
Lục Đại Hữu nói:
– Sinh thêm rắc rối gì chứ? Sư phụ đúng là lo xa mà. Chuyện sư phụ đã sai bảo,
tất nhiên có đạo lý, ai dám không phục?
Người cao nghệu nói:
– Đệ thì biết cái gì? Nếu nhị sư ca nói với đệ, chắc chắn đệ sẽ mách lẻo với đại
sư ca. Tuy đại sư ca không dám chống lại lệnh sư phụ, nhưng khả năng cao huynh ấy
sẽ nghĩ ra mấy trò tinh quái để gây sự với phái Thanh Thành.
Lão già nói:
– Tam đệ nói đúng lắm. Đại sư ca có rất nhiều bằng hữu trên giang hồ, nếu huynh
ấy muốn làm gì, không nhất thiết phải đích thân ra tay. Sư phụ bảo ta rằng
trong thư đều là những lời xin lỗi Dư quán chủ, nói là đệ tử càn quấy khiến người
rất tức giận, vốn định trục xuất khỏi sư môn nhưng sợ làm vậy sẽ khiến giang hồ
tưởng hai phái chúng ta phát sinh hiềm khích, ngược lại không hay, nên hiện giờ
đã phạt hai tên càn quấy…
Nói đến đây, lão đưa mắt nhìn Lục Đại Hữu.
Lục Đại Hữu có vẻ giận, hậm hực nói:
– muội là kẻ càn quấy ư?
Thiếu nữ nói:
– huynh được đặt ngang với đại sư ca, còn thấy bất công à?
Lục Đại Hữu nghe vậy khoái chí, gọi to:
– Đúng! Đúng! Lên rượu, lên rượu đi!
Nhưng quán chỉ bán trà chứ không bán rượu, người phục vụ vội chạy đến nói:
– Dạ quán chỉ có các loại trà Động Đình Xuân, Thủy Tiên, Long Tỉnh, Kỳ Môn, Phổ
Nhị, Thiết Quan Âm nha quý gia. Dạ không bán rượu nha quý gia!
Người ở thành Hành Dương, Hành Sơn thường chêm thêm “nha quý gia” trong câu,
tay phục vụ này cũng không ngoại lệ. “Quý gia” là gọi tắt cụm “quý khách đại
gia” để chỉ người đối diện.
Lục Đại Hữu nói:
– Dạ quý gia, quý tiệm của cậu không bán rượu nha, vậy ta uống trà thay cho rượu
là được nha quý gia.
Người phục vụ đáp:
– Dạ! Dạ! Dạ quý gia!
Nói xong châm nước sôi vào bình trà.
Lão già nói tiếp:
– Trong thư sư phụ nói, hiện giờ đã phạt hai tên càn quấy, đánh đòn thật nặng,
lẽ ra phải bảo chúng đích thân đến núi Thanh Thành dâng roi tạ tội, nhưng sau
khi chịu đòn, hai tên đã bị thương nặng, khó mà đi được, cho nên phái nhị đệ tử
Lao Đức Nặc gánh vác trọng trách. Chuyện lần này hoàn toàn do hai tên càn quấy
mà ra, mong Dư quán chủ nể tình giao hảo xưa nay giữa hai phái Thanh Thành và Hoa
Sơn, hãy bỏ quá cho. Sau này gặp gỡ, sẽ đích thân tạ tội với Dư quán chủ.
Lâm Bình Chi nghĩ: “Thì ra lão này tên là Lao Đức Nặc. Bọn họ thuộc phái Hoa
Sơn, một trong Ngũ Nhạc kiếm phái”.
Nghĩ tới nội dung lá thư có câu “tình giao hảo xưa nay giữa hai phái”, chàng
không khỏi sợ hãi nghĩ thầm: “Lao Đức Nặc và cô gái xấu xí này đã gặp mình hai
lần, không thể để họ nhận ra”.
Lao Đức Nặc kể tiếp:
– Khi ta đến phái Thanh Thành, Hầu Nhân Anh có vẻ đã bỏ qua, còn Hồng Nhân Hùng
vẫn căm tức, đã mấy phen buông lời chế giễu, muốn so tài với ta…
Lục Đại Hữu nói:
– Mẹ kiếp, bọn Thanh Thành khốn nạn thật. Nhị sư ca, đánh thì đánh, sợ gì nó?
Thằng họ Hồng đó không phải đối thủ của huynh.
Lao Đức Nặc nói:
– Sư phụ bảo ta đến núi Thanh Thành tạ tội chứ không phải gây thêm thị phi. Ta
đành phải nhẫn nhịn, lưu lại núi Thanh Thành sáu ngày, đến ngày thứ bảy mới được
Dư quán chủ tiếp kiến.
Lục Đại Hữu nói:
– Hừ! Bày đặt làm giá! Nhị sư ca, trong sáu ngày sáu đêm đó, chắc huynh khổ sở
lắm.
Lao Đức Nặc nói:
– Đệ tử phái Thanh Thành châm chọc khiêu khích ta không ít. Trong lòng ta hiểu
rõ, sở dĩ sư phụ phái ta đi làm việc này không phải vì võ công của ta hơn người,
mà vì tuổi ta đã cao nên bình tĩnh nhẫn nại hơn các sư đệ. Ta càng nhẫn nại thì
càng hoàn thành tốt sứ mệnh. Bọn họ cũng không nghĩ kỹ, rằng giữ ta ở Tùng
Phong quán núi Thanh Thành hơn sáu ngày cũng chẳng ích lợi gì cho họ. Ta ở Tùng
Phong quán mãi mà chưa gặp được Dư quán chủ, dĩ nhiên vô cùng buồn chán. Sáng
ngày thứ ba, ta dậy sớm tản bộ, ngấm ngầm luyện công điều tức để khỏi xao lãng
công phu. Đi đến sân luyện võ phía sau Tùng Phong quán, ta chợt thấy mấy chục đệ
tử phái Thanh Thành đang luyện công. Nhìn lén người ta luyện công là đại kỵ
trong võ lâm, vì thế ta không tiện nhìn lâu, lập tức trở về phòng. Nhưng một
thoáng nhìn đó đã làm ta dấy lên mối hoài nghi. Mấy chục đệ tử luyện kiếm, rõ
ràng đang sử dụng cùng một lộ kiếm pháp, dường như tất cả đều mới học vì chiêu
số đánh ra rất vụng về. Ta mới nhìn thoáng qua nên chưa nhận ra là kiếm pháp
gì. Sau khi về phòng, ta càng nghĩ càng thấy kỳ quặc. Phái Thanh Thành nổi danh
đã lâu, rất nhiều đệ tử đã nhập môn mười năm, hai mươi năm, huống hồ thời điểm
nhập môn của các đệ tử đều khác nhau, tại sao mấy chục người lại bắt đầu học một
lộ kiếm pháp cùng lúc? Đặc biệt trong số mấy chục người luyện kiếm có cả “Thanh
Thành tứ tú” Hầu Nhân Anh, Hồng Nhân Hùng, Vu Nhân Hào và La Nhân Kiệt. Các sư
đệ, nếu gặp tình huống như vậy thì mọi người suy đoán thế nào?
Người cầm bàn tính nói:
– Có lẽ phái Thanh Thành mới có được bộ bí kíp kiếm pháp nào đó, hoặc giả Dư
quán chủ vừa sáng tạo ra một lộ kiếm pháp nên truyền thụ cho các đệ tử.
Lao Đức Nặc nói:
– Lúc đó ta cũng nghĩ như vậy, nhưng ngẫm kỹ lại thấy không đúng. Với trình độ
tu vi về kiếm pháp của Dư quán chủ, nếu là kiếm chiêu do y sáng tạo thì ắt
không thể tầm thường. Mặt khác, nếu là bí kíp kiếm pháp do người xưa để lại, kiếm
pháp trong đó nhất định rất cao thâm, không thì chẳng thể lọt vào mắt xanh của
y. Nếu kêu đệ tử luyện thứ tạp nham, chẳng phải hỏng hết kiếm pháp bản môn ư?
Đã là chiêu số cao minh thì bọn đệ tử tầm thường không thể lĩnh ngộ được, y chỉ
cần chọn vài ba đệ tử võ công giỏi nhất để truyền thụ chỉ điểm thôi, không lý
nào lại cùng lúc truyền thụ cho hơn bốn mươi người. Đây khác nào võ sư mở trường
dạy quyền để kiếm tiền, đâu phải là hành vi của đại tông sư danh môn chính
phái? Sáng hôm sau, ta lại vòng ra sau quán để xem, khi đi qua bên sân luyện
võ, thấy họ vẫn đang luyện kiếm. Ta không dám dừng lại, chỉ liếc mắt nhìn sơ,
nhớ được hai chiêu, thầm nghĩ khi về sẽ xin sư phụ chỉ điểm. Lúc đó, Dư quán chủ
vẫn chưa tiếp kiến, khiến ta suy đoán rằng phái Thanh Thành vẫn ôm lòng oán hận
phái Hoa Sơn, họ luyện kiếm chiêu mới không chừng là để đối phó với phái chúng
ta, vậy thì không thể không phòng bị.
Người cao nghệu nói:
– Nhị sư ca, hay là họ đang luyện một kiếm trận nào đó?
Lao Đức Nặc nói:
– Đương nhiên cũng có khả năng. Nhưng lúc đó ta thấy họ chia cặp luyện tập, khi
công khi thủ, toàn là chiêu số bình thường, không giống luyện kiếm trận. Buổi
sáng tiếp theo, ta lại tản bộ qua sân luyện võ thì thấy vắng lặng, không một
bóng người. Ta biết chúng cố ý né tránh, càng thêm hoài nghi. Ta cứ thế đi
loanh quanh, thỉnh thoảng lại nhìn từ xa, xem có phát hiện được bí ẩn gì không.
Xem ra họ thật sự đang luyện một môn kiếm pháp lợi hại để đối phó với bản phái,
không thì cần gì phải e dè ta như vậy? Tối hôm đó, ta nằm trên giường suy đi
nghĩ lại, trằn trọc không ngủ được, chợt nghe âm thanh đao kiếm va chạm vọng lại
từ xa. Ta giật mình hoảng sợ, chẳng lẽ trong quán có cường địch? Suy nghĩ đầu
tiên lóe lên là phải chăng đại sư ca bị sư phụ trách phạt, trong lòng tức giận
nên xông vào Tùng Phong quán chém giết? Một mình huynh ấy không địch nổi số
đông, bất kể thế nào ta cũng phải giúp. Lần này lên núi Thanh Thành, ta không
mang theo binh khí, trong lúc gấp gáp không kịp tìm kiếm, đành tay không đi về
hướng…
Lục Đại Hữu đột nhiên cất tiếng khen:
– Tuyệt diệu! Nhị sư ca, huynh thật can đảm! đệ thì không dám tay không nghênh
chiến với chưởng môn phái Thanh Thành, quán chủ Tùng Phong quán Dư Thương Hải
đâu!
Lao Đức Nặc cả giận, nói:
– Lục hầu nhi, nói bậy bạ gì đó? Ta đâu có nói là tay không nghênh chiến Dư
quán chủ, chỉ vì lo đại sư ca gặp nguy hiểm, nên dù biết khó nhưng vẫn phải tới
giúp. Hay là đệmuốn ta trốn trong chăn làm con rùa đen rúc đầu?
Các sư đệ nghe vậy cười ồ. Lục Đại Hữu nhăn nhở cười nói:
– đệ khâm phục tán dương huynh, huynh hà tất phải nổi nóng?
Lao Đức Nặc nói:
– Cảm ơn, mấy lời tán dương đó ta không dám nhận.
Mấy tên sư đệ cùng nói:
– Nhị sư ca kể tiếp đi, đừng để ý Lục hầu nhi.
Lao Đức Nặc kể tiếp:
– Lúc đó, ta lặng lẽ đứng dậy, đi về hướng phát âm thanh. Nghe tiếng đao kiếm
va chạm nhau ngày một dữ dội, trống ngực ta đập càng mạnh hơn, thầm nghĩ hai
chúng ta đang ở nơi đầm rồng hang cọp, đại sư ca võ công cao cường, may ra toàn
mạng thoát được, còn ta thì nguy to. Tiếng binh khí va chạm phát ra từ hậu điện,
trong hậu điện đèn đuốc sáng trưng, ta bèn khom người rón rén lại gần, ghé mắt
nhìn qua song cửa sổ thì thở phào nhẹ nhõm, suýt bật cười. Hóa ra do ta đa nghi
nên bị ám ảnh. Mấy ngày này, Dư quán chủ mãi không để ý đến ta, ta suy quanh
tính quẩn, toàn nghĩ theo hướng tiêu cực. Thật ra làm gì có chuyện đại sư ca tới
đây sinh sự trả thù! Trong điện có hai cặp đang đọ kiếm, một cặp là Hầu Nhân Anh
và Hồng Nhân Hùng, cặp kia là Phương Nhân Trí và Vu Nhân Hào.
Lục Đại Hữu nói:
– Úi chà. Đệ tử phái Thanh Thành chăm chỉ thật, chiều tối cũng không nghỉ ngơi.
Đây gọi là nước đến chân mới nhảy, bình thường chẳng thắp nén hương, cần kíp mới
ôm chân Phật.
Lao Đức Nặc lườm hắn một cái, khẽ mỉm cười nói tiếp:
– Ta thấy giữa hậu điện có một đạo nhân thấp bé mặc đạo bào màu xanh đang ngồi,
ước chừng khoảng năm mươi tuổi, mặt gầy nhom. Nhìn bộ dạng lão, xem chừng nặng
không quá ba bốn chục cân. Võ lâm đều nói chưởng môn phái Thanh Thành là
một đạo nhân thấp bé, nhưng nếu không nhìn tận mắt thì khó mà tưởng tượng được
y lại lùn như vậy, làm sao tin nổi đó chính là Dư quán chủ nổi danh khắp thiên
hạ? Mấy chục đệ tử đứng xung quanh quan sát bốn người đang chiết chiêu, không hề
chớp mắt. Ta xem vài chiêu, biết ngay bốn người này đang chiết giải những chiêu
mới mà họ vừa học mấy hôm trước.
Ta biết tình cảnh lúc đó rất nguy hiểm, nếu bị phái Thanh Thành phát hiện, chắc
chắn mình phải chịu nhục nhã, chẳng may chuyện đồn ra ngoài, thanh danh bản
phái cũng bị liên lụy. Đại sư ca đá một cước khiến hai người đứng đầu “Thanh
Thành tứ tú” Hầu Nhân Anh và Hồng Nhân Hùng lăn xuống lầu, tuy sư phụ lão nhân
gia phạt nặng, trách huynh ấy không giữ môn quy, gây gổ sinh sự, đắc tội bằng hữu,
nhưng thật ra trong lòng sư phụ chắc đang rất hoan hỉ. Xét cho cùng, đại sư ca
đã làm rạng danh bản phái, Thanh Thành tứ tú cái nỗi gì mà không tránh nổi một
cước của đại đệ tử bản phái. Còn bây giờ ta nhìn trộm chuyện bí mật của người
ta, nếu bị bắt giữ thì còn tệ hơn thằng ăn cắp tiền bị phát hiện, lúc trở về sư
phụ ắt nổi giận, quá nửa sẽ trục xuất ta khỏi môn tường.
Nhưng ta thấy họ tập luyện nhộn nhịp như vậy, không chừng còn liên quan đến
phái ta, làm sao có thể quay lưng mặc kệ? Ta tự nhủ: “Chỉ xem mấy chiêu rồi lập
tức đi ngay”. Nhưng xem xong mấy chiêu đó, lại xem thêm mấy chiêu nữa. Kiếm
pháp mà bốn người này sử dụng vô cùng cổ quái, bình sinh ta chưa thấy bao giờ,
nhưng xem ra những chiêu kiếm đó lại chẳng có uy lực gì lớn lao. Ta rất lấy làm
lạ: “Kiếm pháp này đâu có chỗ nào đặc biệt, tại sao phái Thanh Thành phải gấp
rút tập luyện suốt ngày đêm? Lẽ nào lộ kiếm pháp này chính là khắc tinh của Hoa
Sơn kiếm pháp phái ta? Xem ra cũng không giống”. Ta xem thêm mấy chiêu rồi
không dám nhìn nữa, nhân lúc bốn người kia đang đấu căng thẳng, ta vội rón rén
quay về phòng. Nếu đợi bốn người họ đánh xong thì sẽ không còn tiếng động nữa,
ta sẽ hết cách thoát thân. Dư quán chủ võ công cao cường, chỉ cần ta bước một
bước ngoài điện, e rằng y sẽ phát hiện ngay.
Đêm hôm đó, mặc dù tiếng kiếm va chạm nhau không dứt nhưng ta chẳng dám đi xem
nữa. Thú thật, nếu sớm biết họ đang luyện kiếm trước mặt Dư quán chủ thì ta
không bao giờ dám đi xem trộm, đúng là ma xui quỷ khiến nên mới vô tình đâm đầu
vào. Lục sư đệ tâng bốc khen ta can đảm, thật hổ thẹn không dám nhận. Nếu tối
hôm đó đệthấy ta mặt cắt không còn giọt máu mà không chửi nhị sư ca là kẻ nhát
gan đệ nhất thiên hạ thì ta đã cảm ơn rồi.
Lục Đại Hữu nói:
– Không dám, không dám! Nhị sư ca giỏi lắm cũng chỉ là đệ nhị thiên hạ thôi. Nếu
đổi là đệ, đệ lại không sợ bị Dư quán chủ phát hiện. Lúc đó đệ đã bị dọa cứng
đơ toàn thân, hơi thở không thông, nửa bước cũng khó đi, chẳng khác nào một bộ
cương thi. Bản lĩnh của Dư quán chủ cao đến đâu cũng không thể biết ngoài cửa sổ
có đệ nhất anh hùng cương thi Lục Đại Hữu này.
Mọi người đều cười lăn cười bò.
Lao Đức Nặc kể tiếp:
– Cuối cùng Dư quán chủ cũng tiếp kiến ta. Y nói chuyện rất lịch sự, bảo rằng
sư phụ phạt nặng đại sư ca như vậy, không khỏi quá khách sáo. Hai phái Hoa Sơn
và Thanh Thành có mối giao hảo từ lâu, các đệ tử nhất thời đùa giỡn, giống như
trẻ con đánh lộn, người lớn hà tất xem là thật? Đêm đó y còn bày tiệc đãi ta.
Sáng sớm hôm sau, khi ta cáo từ, Dư quán chủ còn một mực tiễn ta ra tận cổng
Tùng Phong quán. Ta là tiểu bối, lúc từ biệt phải quỳ xuống dập đầu. Ta vừa khuỵu
đầu gối trái thì tay phải của Dư quán chủ đã nhẹ nhàng đỡ ta dậy. Luồng kình lực
của y thật đáng sợ, ta cảm thấy toàn thân nhẹ bẫng, không vận được chút khí lực
nào. Nếu y muốn ném ta ra hơn mười trượng hoặc làm ta lộn nhào bảy tám vòng thì
ta cũng không có cách nào chống cự được. Y tủm tỉm cười hỏi: “Đại sư ca của
ngươi nhập môn trước ngươi mấy năm? Ngươi có tài nghệ rồi mới bái sư đúng
không?”. Ta bị y đỡ lên như thế, cảm thấy khó thở, một hồi lâu mới trả lời: “Dạ,
đệ tử có tài nghệ rồi mới bái sư. Lúc đệ tử gia nhập phái Hoa Sơn thì đại sư ca
đã là môn hạ của ân sư được mười hai năm”. Dư quán chủ lại cười nhạt nói: “Hơn
mười hai năm, hừ, hơn mười hai năm!”.
Thiếu nữ hỏi:
– Lão nói “hơn mười hai năm” là có ý gì?
Lao Đức Nặc nói:
– Lúc đó sắc mặt y rất cổ quái. Theo ta đoán, y thấy võ công của ta bình thường,
đại sư ca tập luyện nhiều hơn mười hai năm, võ công chưa chắc đã giỏi hơn bao
nhiêu.
Thiếu nữ ừ một tiếng, không nói nữa.
Lao Đức Nặc kể tiếp:
– Ta về Hoa Sơn, trình sư phụ thư hồi đáp của Dư quán chủ. Lời lẽ trong lá thư
đó rất nhã nhặn lịch sự, vô cùng khiêm nhường, sư phụ đọc xong rất vui vẻ, hỏi
ta tình hình trong Tùng Phong quán. Ta bẩm lại chuyện đệ tử Thanh Thành luyện
kiếm đêm khuya, sư phụ bảo bảo ta diễn lại. Ta chỉ nhớ được bảy, tám chiêu, lập
tức diễn lại. Sư phụ xem xong nói: “Đây là Tịch tà kiếm pháp của nhà họ Lâm ở
tiêu cục Phúc Uy!”.
Lâm Bình Chi nghe đến đây, không kiềm được run lên bần bật.
Bình luận chương
Dưới chương này đang có gì?
Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.
Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.