Tiếu Ngạo Giang Hồ - Bản Tân Tu (Mới nhất)

Hồi 8: Sám Hối

4,5 / 5 (6 lượt)

Chạng vạng tối hôm đó, Lệnh Hồ Xung bái biệt sư phụ, sư nương và bọn sư đệ, sư muội, mang một thanh trường kiếm tự đi lên ngọn Ngọc Nữ cao vút hiểm trở.

Đỉnh núi có một sơn động làm nơi giam cầm đệ tử các đời của phái Hoa Sơn vi phạm môn quy. Đỉnh núi này nhẵn nhụi, không một ngọn cỏ, càng không có một gốc cây nào sống được; ngoài sơn động ra, không còn cái gì khác. Hoa Sơn vốn cây cỏ xanh um, cảnh sắc tuyệt đẹp nhưng trên đỉnh núi lại khác hẳn. Từ ngàn xưa tương truyền rằng nơi đây là một hạt trân châu đính trên cây thoa của nàng Ngọc Nữ. Năm xưa, tổ sư phái Hoa Sơn dùng đỉnh núi này làm nơi phạt bọn đệ tử, chủ yếu vì chỗ này không có cây cỏ, không có côn trùng chim muông. Bọn đệ tử bị phạt phải diện bích ăn năn hối lỗi không bị ngoại cảnh chi phối, tâm cũng sẽ không xao nhãng..

Lệnh Hồ Xung đi vào sơn động nhìn thấy dưới đất có một tảng đá to bóng loáng, nghĩ bụng: Mấy trăm năm nay, không biết đã có bao nhiêu vị tiền bối phái Hoa Sơn đã từng ngồi lên khiến cho tảng đá này trơn bóng thế này. Lệnh Hồ Xung ngày nay là tên đệ tử Hoa Sơn đệ nhất gây chuyện quỷ, tảng đá này mà ta không ngồi lên thì còn ai xứng đáng ngồi nữa? Mà đợi đến ngày hôm nay sư phụ mới phái ta đến ngồi trên tảng đá này thì cũng là đối với ta tử tế cực kỳ rồi.

Chàng giơ tay vỗ vỗ vào tảng đá, nói:

– Tảng đá ơi là tảng đá, ngươi đã chịu tịch mịch nhiều năm. Hôm nay đã có Lệnh Hồ Xung đến làm bạn với ngươi đây.

Lệnh Hồ Xung ngồi lên tảng đá, đối diện vách tường đá không quá một thước. Hắn thấy bên trái vách đá ai đó đã khắc ba chữ to “Phong Thanh Dương”, chắc là dùng kiếm để khắc. Nét khắc cứng cáp, sâu vào đến nửa tấc. Hắn nghĩ thầm: Phong Thanh Dương là ai? Có lẽ là một vị tiền bối của bổn phái, đã từng bị phạt quay mặt vào tường. A, đúng rồi, tổ sư gia của ta thuộc hàng chữ “Phong”, vị Phong tiền bối này là thái sư bá hoặc là thái sư thúc tổ của ta. Ba chữ này được khắc bằng kình lực phi phàm như vậy, thì võ công của người nhất định thập phần lợi hại. Tại sao sư phụ sư nương trước giờ không đề cập qua chuyện này? Chắc là vị tiền bối ấy không còn trên đời này nữa.

Chàng nhắm mắt tọa công được hơn nửa canh giờ, đứng dậy thư giãn một chút rồi đi vào thạch động, quay mặt vào tường trầm tư: Sau này ta gặp người trong Ma giáo thì có nên hỏi chuyện thị phi cho rõ ràng hay rút kiếm giết chúng ngay? Chẳng lẽ trong Ma giáo thực sự không có người tốt ư? Nhưng nếu đã là người tốt, tại sao lại gia nhập Ma giáo? Nếu coi như nhất thời lầm đường lạc lối thì cũng nên lập tức rút khỏi Ma giáo mới phải; đã không rút lui là cam tâm cùng với gian tà gây tai họa cho thế nhân.

Lúc này, đầu óc của Lệnh Hồ Xung lại hiện lên rất nhiều tình cảnh, đều là những chuyện ác mà bình thường sư phụ sư nương cùng với các vị tiền bối trên giang hồ kể lại những hành động người trong Ma giáo hại người. Cả nhà Vu lão quyền sư ở Giang Tây gồm hai mươi ba người bị Ma giáo bắt rồi đem đóng đinh lên cây cổ thụ, ngay cả đứa bé ba tuổi cũng không tha. Hai người con trai của Vu lão quyền sư đau đớn suốt ba ngày ba đêm mới chết. Chưởng môn nhân Long Phụng đao ở phủ Tế Nam là Triệu Đăng Khôi cưới con dâu, lúc tân khách đến đầy sảnh, người Ma giáo xông vào cùng lúc cắt thủ cấp của cặp vợ chồng tân nhân đặt ở giữa sảnh đường, nói là làm quà chúc lễ. Hắc lão anh hùng ở Hán Dương mừng đại thọ bảy mươi tuổi, các hảo hán khắp nơi đều đến chúc thọ, không ngờ bị bọn Ma giáo chôn thuốc nổ dưới đại sảnh, châm lửa đốt ngòi dẫn vào cho nổ lớn bất ngờ; anh hùng hảo hán lớp chết lớp bị thương vô số kể. Kỷ sư thúc phái Thái Sơn trong vụ này bị mất một cánh tay, chuyện này do chính miệng Kỷ sư thúc nói ra, tất nhiên tuyệt đối không thể là bịa đặt được. Chàng lại nghĩ đến hai năm trước, trên đại lộ ở Trịnh Châu gặp Tôn sư thúc phái Tung Sơn; hai tay hai chân của lão đều bị chặt đứt hết, hai mắt cũng bị khoét đi, không ngừng kêu la: “Ma giáo hại ta, nhất định phải báo thù! Ma giáo hại ta, nhất định phải báo thù!” Lúc đó phái Tung Sơn đã có người đến tiếp ứng, nhưng Tôn sư thúc bị thương nặng như vậy thì làm sao có thể chữa trị được? Lệnh Hồ Xung nhớ đến chỗ hai mắt bị khoét của lão chảy ra máu tươi, bất giác thấy lạnh xương sống, nghĩ thầm: Người trong Ma giáo làm nhiều chuyện ác như vậy, ông cháu Khúc Dương ra tay cứu mình, nhất định không phải là do lòng tốt. Sư phụ hỏi ta sau này gặp người trong Ma giáo có nên hạ sát bất luận không, hay còn do dự gì nữa? Đương nhiên là phải rút kiếm ra giết liền.

Lệnh Hồ Xung đả thông được vấn đề này, tâm tình nhất thời mười phần thoải mái. Chàng thét dài một tiếng, nhắm mắt nhảy lộn ra ngoài động, lúc đang lơ lửng trong không, chàng nhẹ nhàng xoay người hướng ra phía trước rồi hạ xuống, đứng vững lại, trố mắt nhìn thì thấy hai chân mình vừa vặn đạp xuống mép sườn núi cheo leo, cách bờ vực không đầy hai thước. Vừa rồi nếu chàng dùng lực nhảy mạnh hơn một chút, vượt quá hai thước thì sẽ bị rơi xuống vực sâu vạn trượng, xương thịt đã nát như tương. Lúc nhắm mắt quay người, chàng đã tính toán trước rồi. Ấy là do khi đã quyết định chủ ý gặp người trong Ma giáo thì ra tay giết ngay, lòng không còn phiền não gì nữa, liền chơi một trò mạo hiểm.

Lệnh Hồ Xung lại nghĩ: Lá gan ta chắc chưa lớn lắm, ít ra nên nhảy ra xa một thước nữa mới thú vị.

Bỗng nghe sau lưng có người vỗ tay, cười nói:

– Đại sư ca, hay thật đó nha!

Đó chính là giọng nói của Nhạc Linh San. Lệnh Hồ Xung vui mừng quay người lại, thấy Nhạc Linh San tay xách một thùng cơm, cười hì hì nói:

– Đại sư ca, tiểu muội đem cơm đến cho đại sư ca đây!

Cô để thùng cơm xuống, đi vào thạch động, xoay người ngồi xuống tảng đá to, rồi nói:

– Đại sư ca ở đây nhắm mắt xoay mình nhảy trông rất thú vị; tiểu muội cũng muốn làm thử xem.

Lệnh Hồ Xung nghĩ trò chơi này nguy hiểm vô cùng, hành động của mình vừa rồi cũng do nhất thời liều mạng mà ra. Võ công của Nhạc Linh San còn thua xa mình, nếu tính trật một chút thì thật là tai hại. Nhưng chàng thấy cô đang cao hứng, cũng không dám ngăn cản, lập tức đứng bên sườn núi để đề phòng.

Nhạc Linh San trong lòng muốn hơn đại sư ca, ngấm ngầm tính luồng lực đạo cùng bộ vị, điểm hai chân xuống đất, phóng người lên khoảng không rồi nhẹ nhàng khinh khinh xảo xảo xoay người một cái, phóng ra phía trước. Cô muốn mình nhảy xa ra gần bờ vực hơn Lệnh Hồ Xung. Lúc vọt người lên, cô vận lực mạnh hơn một chút, nên khi thân người rơi xuống, đột nhiên cô sợ hãi mở mắt nhìn, chỉ thấy trước mắt là vực thẳm không đáy. Cô sợ hãi thét to lên.

Lệnh Hồ Xung đưa tay ra nắm chặt cánh tay trái của cô lại. Nhạc Linh San rơi xuống đất, thấy hai chân cách bờ vực chỉ khoảng một thước, đúng là xa hơn Lệnh Hồ Xung. Cô định thần lại, cười nói:

– Đại sư ca, tiểu muội rơi xa hơn đại ca nhiều.

Lệnh Hồ Xung thấy cô ta sợ hãi đến nỗi mặt không còn chút máu, liền vỗ nhẹ lưng cô, cười nói:

– Lần sau chúng ta đừng chơi trò này nữa. Sư phụ sư nương mà biết được sẽ mắng ta một trận, phạt ta phải quay mặt vào tường thêm một năm nữa đó.

Nhạc Linh San đã định thần lại, lùi ra sau hai bước, cười nói:

– Vậy thì tiểu muội cũng bị phạt. Cả hai chúng ta ở đây cùng quay mặt vào tường há chẳng thú vị lắm sao? Ngày ngày, chúng ta có thể thi với nhau xem ai nhảy xa hơn.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Chúng ta ngày ngày ở đây quay mặt vào tường ư?

Chàng nói xong, đưa mắt nhìn vào thạch động, bất giác trong đầu bâng khuâng, thầm nghĩ: Nếu ta được cùng tiểu sư muội ở đây ngày đêm không rời nhau trong một năm thì ngay cả thần tiên cũng không hạnh phúc bằng ta. Ôi, làm gì có chuyện đó được!

Hắn bèn nói:

– Chỉ sợ sư phụ bắt sư muội quay mặt vào tường ở Chính Khí Hiên, không cho rời một bước. Vậy thì chúng ta cả năm không thể gặp nhau được.

Nhạc Linh San nói:

– Như vậy không công bằng. Tại sao đại sư ca có thể ở đây chơi mà lại bắt tiểu muội giam mình ở Chính Khí Hiên?

Nhưng cô nghĩ phụ mẫu quyết không cho phép mình ngày đêm ở trên đỉnh núi bầu bạn với đại sư ca, liền nói lảng sang chuyện khác:

– Đại sư ca, má má đã phái Lục hầu nhi đưa cơm đến cho đại sư ca. Tiểu muội nói với hầu nhi: “Lục sư ca, mỗi ngày sư ca phải gian nan trèo lên xuống Tư Quá Nhai này, dù sư ca có là hầu nhi thì cũng rất vất vả. Chi bằng để tiểu muội tới “đại lao” đi, nhưng sư ca trả công cho tiểu muội cái gì?” Lục hầu nhi nói: “Sư nương phái ta làm việc này, ta đâu dám trốn tránh trách nhiệm. Vả lại, đại sư ca rất yêu thương ta, ta đem cơm cho đại ca một năm, mỗi ngày được gặp đại ca một lần thì mới sảng khoái, có gì đâu mà gọi là vất vả?” Đại sư ca, đại sư ca thấy Lục hầu nhi nói vậy có tệ hại không?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Hắn nói như vậy là thật lòng đó.

Nhạc Linh San nói:

– Lục hầu nhi còn nói: “Bình thường, ta vẫn muốn nhờ đại sư ca dạy cho vài chiêu công phu, tiểu muội mà đến thì ta bị đuổi đi không được nói chuyện nhiều với đại sư ca nữa”. Sao lại có chuyện đó được, Lục hầu nhi thật là nói hươu nói vượn. Y lại còn nói: “Trong vòng một năm bắt đầu từ hôm nay, chỉ còn một mình ta có thể lên núi gặp đại sư ca còn sư muội thì không được gặp đại sư ca nữa”. Tiểu muội tức muốn điên vì Lục sư ca không đếm xỉa gì đến tiểu muội. Sau đó… sau đó…

Lệnh Hồ Xung nói:

– Sau đó tiểu muội rút kiếm ra dọa hắn phải không?

Nhạc Linh San lắc đầu nói:

– Không phải, sau đó tiểu muội tức quá khóc òa lên. Lục hầu nhi mới năn nỉ tiểu muội, nhường cho tiểu muội được đem cơm lên cho đại sư ca.

Lệnh Hồ Xung nhìn gương mặt xinh xắn của cô, thấy đôi mắt còn hơi sưng, quả nhiên cô đã khóc thật. Bất giác lòng chàng thấy thương cảm vô cùng. Lệnh Hồ Xung nghĩ: Sư muội đối với ta nặng tình như vậy thì ta có vì cô ta mà chết đến trăm ngàn lần cũng cam nguyện.

Nhạc Linh San mở thùng đựng cơm, lấy hai chiếc đĩa thức ăn, hai cái bát, hai đôi đũa để trên tảng đá. Lệnh Hồ Xung nói:

– Có đến hai cái bát và hai đôi đũa ư?

Nhạc Linh San cười nói:

– Tiểu muội cũng ăn một chút với đại sư ca. Đại sư ca xem thử đây là cái gì?

Từ trong thùng, cô lấy ra một cái bình rượu hồ lô nho nhỏ. Lệnh Hồ Xung quý rượu như tính mạng của mình, vừa thấy có rượu, hắn liền đứng dậy xá dài Nhạc Linh San rồi nói:

– Đa tạ sư muội. Ta đang buồn vì sợ suốt năm không có một hớp rượu để uống.

Nhạc Linh San rút nút bình hồ lô ra, đưa bình hồ lô cho Lệnh Hồ Xung rồi cười nói:

– Đại sư ca không được uống nhiều. Mỗi ngày tiểu muội chỉ có thể đánh cắp một bình hồ lô rượu nhỏ cho đại sư ca; lấy nhiều sợ bị má má biết.

Lệnh Hồ Xung uống cạn bình rượu hồ lô nhỏ rồi mới ăn cơm. Theo quy củ của phái Hoa Sơn, tên đệ tử nào lên đỉnh núi quay mặt vào tường sám hối thì chỉ được ăn chay. Vì vậy, nhà bếp chỉ nấu chay cho Lệnh Hồ Xung gồm một đĩa rau xanh, một bát đậu hũ. Nhạc Linh San nghĩ mình và đại sư ca đã cùng qua cơn hoạn nạn, cô ăn uống rất ngon lành. Hai người ăn cơm xong, Nhạc Linh San ngồi lại trò chuyện cùng Lệnh Hồ Xung đến nửa canh giờ, khi thấy gần tối mới thu dọn bát đĩa xuống núi.

Từ đó mỗi ngày vào lúc hoàng hôn, Nhạc Linh San đem cơm lên đỉnh núi và hai người cùng ăn cơm. Buổi trưa Lệnh Hồ Xung ăn cơm rau còn lại của ngày hôm trước.

Lệnh Hồ Xung tuy ở một mình trên đỉnh núi cao nhưng không cảm thấy tịch mịch. Sáng sớm dậy, chàng đả tọa luyện công, ôn lại khí công, kiếm pháp mà sư phụ đã truyền, còn ngấm ngầm suy nghĩ đao pháp của Điền Bá Quang và chiêu “Vô song vô đối, Ninh thị nhất kiếm”. “Ninh thị nhất kiếm” tuy chỉ có một chiêu nhưng tích tụ cả tuyệt chỉ khí công và tuyệt nghệ kiếm pháp của phái Hoa Sơn. Lệnh Hồ Xung tự biết tu vi của mình chưa đạt được cảnh giới đó, cứ miễn cưỡng tập luyện thì chỉ có biến khéo thành vụng, cho nên mỗi ngày, chàng tăng cường dụng công. Cứ như vậy, tuy gọi là bị phạt quay mặt vào tường ăn năn sám hối nhưng thật ra chẳng quay mặt vào tường, và cũng chẳng phải ăn năn sám hối gì. Ngoài lúc hoàng hôn cùng với Nhạc Linh San nói chuyện ra, thì mỗi ngày chàng không phải lo điều gì, chỉ chuyên chú luyện công thôi.

Cứ như thế qua hơn hai tháng, đỉnh Hoa Sơn càng ngày càng lạnh lẽo. Lại trải qua một thời gian, Nhạc phu nhân đan cho Lệnh Hồ Xung một chiếc áo bông mới, rồi sai Lục Đại Hữu đem lên đỉnh núi cho chàng. Sáng sớm hôm ấy trời lại nổi cơn gió bấc, đến giờ Ngọ thì tuyết rơi xuống.

Lệnh Hồ Xung thấy trời đầy mây trắng như chì, trận tuyết này chắc không nhỏ , liền nghĩ: Đường lên đỉnh núi hiểm trở, tuyết rơi đến chiều tối cũng không ngớt, đường trơn vô cùng. Tiểu sư muội không nên đem cơm lên cho ta nữa.

Nhưng chàng không có cách nào báo tin xuống núi được nên lòng rất lo lắng, chỉ mong sư phụ và sư nương biết chuyện này đưa lời ngăn cản. Chàng lại nghĩ: Ngày nào tiểu sư muội cũng thay Lục Đại Hữu đem cơm lên cho ta, lẽ nào sư phụ và sư nương chẳng biết? Chắc tại hai vị làm ngơ mà thôi. Nếu hôm nay tiểu sư muội lại lên núi nữa, lỡ trượt chân thì nguy tính mạng, mong rằng sư nương nhất định không cho sư muội lên núi.

Đến chiều, chốc chốc hắn lại nhìn xuống núi. Sắc trời tối dần, quả nhiên Nhạc Linh San không lên núi. Lệnh Hồ Xung thấy lòng nhẹ nhõm, tự nhủ: Đến bình minh, Lục sư đệ nhất định sẽ mang cơm lên cho mình; chỉ mong sao sư muội đừng mạo hiểm.

Chàng định vào động nằm ngủ, bỗng nghe trên đường lên núi có tiếng chân sột soạt rồi tiếng Nhạc Linh San gọi:

– Đại sư ca, đại sư ca!

Lệnh Hồ Xung vừa kinh hãi vừa vui mừng, vội chạy ra bên sườn núi. Trong màn tuyết rơi giống như từng đám lông ngỗng bay phất phơ, Nhạc Linh San lần từng bước vừa trượt mà đi lên chỗ vách núi.

Lệnh Hồ Xung vì sư mệnh ngăn cản, không dám bước xuống núi một bước, chỉ vươn dài tay ra đón cô. Khi tay trái của Nhạc Linh San đụng đến tay phải của chàng, Lệnh Hồ Xung nắm chặt tay cô, nhấc bổng lên đỉnh núi.

Trong ánh sáng chiều hôm mông lung, chàng thấy toàn thân cô phủ đầy tuyết, ngay cả đầu tóc cũng trắng xóa. Trên trán bên trái bị sưng lên một cục giống cái trứng gà nhỏ, máu vẫn còn đang rướm ra. Lệnh Hồ Xung lắp bắp:

– Sư muội… sư muội…

Miệng Nhạc Linh San méo xệch, cô nói như muốn khóc:

– Tiểu muội bị trượt chân té ngã, làm rớt thùng cơm của đại sư ca xuống vực thẳm rồi. Đại sư ca… đại sư ca tối nay phải nhịn đói.

Lệnh Hồ Xung vừa xúc động vừa thương cảm, giơ tay áo lên nhè nhẹ chấm vào vết thương của cô rồi dịu dàng nói:

– Tiểu sư muội, đường lên núi trơn như vậy, tiểu sư muội không nên lên đây nữa.

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội chỉ lo đại ca không có cơm ăn, vả lại… vả lại tiểu muội muốn gặp đại sư ca.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Nếu tiểu muội lỡ trượt chân rớt xuống vực thẳm thì làm sao ta dám nhìn mặt sư phụ và sư nương nữa.

Nhạc Linh San mỉm cười nói:

– Coi đại ca lo lắng chưa kìa, chẳng phải tiểu muội vẫn đang êm đẹp ở đây sao? Nhưng đáng tiếc là tiểu muội vô dụng, lúc vội leo lên núi lại làm rơi mất cơm rượu.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Cầu mong cho sư muội được bình an thì ta có nhịn ăn mười ngày cũng chẳng sao.

Nhạc Linh San nói:

– Lúc lên được nửa núi thì đường đi trơn ướt quá chừng; tiểu muội nhảy lên, chỗ năm gốc cây tùng chỗ đường dốc. Lúc đó tiểu muội sợ té xuống vực thẳm vô cùng.

Lệnh Hồ Xung năn nỉ:

– Tiểu sư muội, sư muội nghe lời ta đi. Sau này sư muội đừng vì ta mà mạo hiểm nữa. Nếu tiểu sư muội lỡ trượt chân té xuống vực thẳm thì ta đây chắc phải nhảy theo tiểu muội.

Ánh mắt của Nhạc Linh San lộ vẻ vui mừng vô hạn, nói:

– Đại sư ca, thật ra đại sư ca không nên lo lắng như vậy. Tiểu muội đem cơm lên cho đại sư ca lỡ trượt chân té xuống là do tại mình không cẩn thận, đại sư ca hà tất phải lo lắng làm chi?

Lệnh Hồ Xung lắc đầu chầm chậm nói:

– Không phải vì lòng ta lo lắng. Nếu người đem cơm là Lục hầu nhi thì dù sư đệ có trượt chân té xuống nguy hiểm đến tính mạng, liệu ta có nhảy theo hắn hay không?

Lệnh Hồ Xung chậm rãi lắc đầu, nói tiếp:

– Ta chỉ tận lực phụng dưỡng phụ mẫu của hắn, chiếu cố người nhà của hắn, chớ không vì chuyện này mà chết theo Lục sư đệ được.

Nhạc Linh San nói nhỏ:

– Nhưng nếu người bị chết là tiểu muội thì đại sư ca không muốn sống nữa ư?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Đúng vậy, tiểu sư muội. Nhưng đó không phải là vì tiểu sư muội đem cơm cho ta. Nếu tiểu sư muội đem cơm cho người khác mà gặp chuyện nguy hiểm thì ta đây cũng quyết không sống nữa.

Nhạc Linh San nắm chặt lấy tay của Lệnh Hồ Xung, trong lòng nhu tình vô hạn. Cô gọi khẽ:

– Đại sư ca!

Lệnh Hồ Xung muốn dang tay ra ôm cô vào lòng nhưng không dám. Hai người bốn mắt nhìn nhau, chàng nhìn cô, cô nhìn chàng, đều không nhúc nhích, tuyết vẫn rơi xuống mỗi lúc một nhiều, dần dần tựa hồ như cả hai đã biến thành hai người tuyết.

Một lúc sau, Lệnh Hồ Xung mới nói:

– Tối nay một mình tiểu sư muội không thể xuống núi được nữa. Sư phụ và sư nương có biết tiểu muội lên đây không? Nếu hai vị phái người lên đây đưa tiểu muội xuống núi thì hay quá.

Nhạc Linh San nói:

– Sáng nay, gia gia vừa nhận được thư của Tả minh chủ phái Tung Sơn nói là có chuyện cần thương nghị nên gia gia và má má xuống núi đi rồi.

Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Vậy có ai biết tiểu muội lên đây không?

Nhạc Linh San cười nói:

– Không. Không ai biết cả. Nhị sư ca, tam sư ca, tứ sư ca và Lục hầu nhi; cả bốn người theo gia gia má má đi Tung Sơn, không ai biết tiểu muội lên đây với đại sư ca cả. Nếu không thì Lục hầu nhi nhất định giành mang cơm với tiểu muội rồi, thật là phiền phức. A, đúng rồi, có tiểu tử Lâm Bình Chi thấy tiểu muội lên đây nhưng tiểu muội đã dọa hắn không được bép xép, nếu không thì ngày mai tiểu muội sẽ đánh cho hắn một trận nên thân.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Ui chao, sư tỷ oai phong quá chừng!

Nhạc Linh San cười nói:

– Tất nhiên rồi. Dễ gì có người gọi tiểu muội bằng tỷ tỷ, không làm oai làm giá há không uổng lắm ư? Không giống như đại sư ca, ai cũng gọi là “đại sư ca” thì còn gì thú vị nữa.

Cả hai cùng cười. Lệnh Hồ Xung nói:

– Tối nay tiểu muội không thể về được rồi, đành phải tá túc lại trong thạch động này một đêm, sáng mai hãy xuống núi.

Nói xong Lệnh Hồ Xung liền nắm tay cô dẫn vào trong động.

Thạch động nhỏ hẹp, chỉ vừa đủ cho hai người dung thân, khó bề xoay xở. Cả hai ngồi đối mặt nhau nói chuyện trên trời dưới đất cho đến nửa đêm. Nhạc Linh San nói càng lúc càng nhỏ dần rồi thiếp đi.

Lệnh Hồ Xung sợ cô ta bị lạnh, bèn cởi cái áo bông của mình đắp lên người cô. Ngoài động ánh tuyết phản chiếu, thấy lờ mờ nét mặt xinh xắn của Linh San. Lệnh Hồ Xung nghĩ thầm: Ân tình của sư muội đối với ta trọng tình như vậy thì ta có vì sư muội mà tan xương nát thịt cũng nguyện cam lòng.

Chàng lặng lẽ trầm tư. Từ nhỏ ta đã không có cha mẹ, hoàn toàn nhờ sư phụ sư nương nuôi dưỡng đến lớn, thương yêu như con ruột. Ta là đại đệ tử của chưởng môn phái Hoa Sơn, không những nhập môn sớm nhất mà võ công cũng cao cường hơn bọn sư đệ, sau này chắc chắn là người kế thừa y bát của sư phụ, chấp chưởng phái Hoa Sơn. Mà tiểu sư muội lại đối với mình nặng ân tình như vậy thì ân đức sâu dày của sư môn thật khó báo đáp. Chỉ vì tính tình ta nóng nảy không biết tự kìm chế, không tuân thủ quy củ, lúc nào cũng làm cho sư phụ và sư mẫu tức giận, phụ lòng kỳ vọng của hai vị. Từ nay về sau, ta phải sửa đổi tính nết, nếu không thì không những có lỗi với sư phụ và sư mẫu mà còn có lỗi ngay cả tiểu sư muội nữa.

Lệnh Hồ Xung nhìn mái tóc của Nhạc Linh San bay phất phơ, đang lúc ngơ ngẩn xuất thần, bỗng nghe cô ta kêu khẽ:

– Tiểu Lâm tử, ngươi không nghe lời ta, lại đây ta đánh ngươi mới được.

Lệnh Hồ Xung sửng sốt, nhưng thấy mắt cô vẫn nhắm nghiền. Chàng bèn nghiêng người lắng nghe, hơi thở cô vẫn đều đều, biết là cô đang nằm mơ. Chàng cười thầm trong bụng, nghĩ: Sư muội được làm sư tỷ nên ra vẻ oai phong lắm. Chắc mấy ngày nay, Lâm sư đệ bị sư muội quát mắng, phải chịu ấm ức nhiều phen. Trong giấc mơ, tiểu muội cũng không quên quát mắng hắn.

Lệnh Hồ Xung ngồi cạnh bảo hộ cho Nhạc Linh San cho đến sáng, không chợp mắt chút nào. Sau đêm qua, Nhạc Linh San vì quá mệt nên ngủ đến giờ Thìn mới tỉnh dậy. Thấy Lệnh Hồ Xung đang nhìn mình mỉm cười, cô vươn vai ngáp dài một cái rồi cười nói:

– Đại sư ca dậy sớm vậy?

Lệnh Hồ Xung không cho cô biết suốt đêm mình thức trắng, chỉ cười nói:

– Tiểu sư muội nằm mơ thấy gì vậy? Lâm sư đệ bị tiểu sư muội đánh đòn phải không?

Nhạc Linh San ngoẹo đầu suy nghĩ một lúc rồi cười nói:

– Đại sư ca nghe tiểu muội nói mớ phải không? Tiểu tử Lâm Bình Chi này bướng bỉnh lắm, hắn không nghe lời tiểu muội. Hi hi, tiểu muội ban ngày mắng hắn, khi ngủ cũng mắng hắn nữa.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Hắn đã đắc tội ra sao với tiểu muội?

Nhạc Linh San cười nói:

– Trong mơ tiểu muội bảo hắn đi luyện kiếm với tiểu muội bên thác nước; hắn từ chối ba lần bảy lượt không chịu đi. Tiểu muội lừa hắn đến bên thác nước rồi xô hắn xuống.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Ui chao, sao tiểu muội làm vậy, lỡ xảy ra án mạng thì sao?

Nhạc Linh San cười nói:

– Là mơ chứ đâu có phải là thật, đại sư ca lo lắng làm gì? Hay là đại sư ca sợ tiểu muội giết tiểu tử này thật?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Ngày nghĩ sao đêm chiêm bao làm vậy. Ban ngày tiểu muội muốn giết Lâm sư đệ lắm rồi nên nghĩ quanh nghĩ quẩn, tối ngủ mới nằm mơ như vậy.

Nhạc Linh San bĩu môi nói:

– Tiểu tử này thật vô dụng, chỉ một bộ kiếm pháp nhập môn đã luyện ba tháng rồi mà chẳng ra làm sao cả. Hắn dụng công dữ lắm, luyện ngày luyện đêm khiến cho ai thấy cũng phát bực. Tiểu muội muốn giết hắn thì cần gì phải suy nghĩ, chỉ giơ kiếm lên một cái là giết hắn ngay.

Tay cô giơ ngang quơ một cái làm thế đánh một chiêu Hoa Sơn kiếm pháp.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Bạch vân xuất tụ mà phát ra thì đầu của gã họ Lâm rơi xuống đất ngay.

Nhạc Linh San cười khanh khách nói:

– Nếu tiểu muội sử chiêu Bạch vân xuất tụ này thì nhất định cái đầu của hắn rơi xuống đất thật cũng không chừng.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Tiểu sư muội được làm sư tỷ, thấy kiếm pháp của sư đệ kém cỏi thì nên chỉ điểm cho hắn mới phải, sao động một tí là đòi vung kiếm giết? Sau này sư phụ nhận thêm đệ tử, đều là sư đệ của sư muội. Sư phụ nhận thêm một trăm đệ tử, chỉ trong vòng mấy ngày bị sư muội giết hết chín mươi chín người, vậy thì làm sao đây?

Nhạc Linh San vịn vào vách đá, cười ngặt nghẹo nói:

– Đại ca nói đúng lắm. Tiểu muội chỉ giết chín mươi chín người thôi, phải chừa lại một tên mới được. Nếu giết hết thì ai gọi tiểu muội bằng sư tỷ nữa?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Nếu sư muội giết hết chín mươi chín tên sư đệ thì tên thứ một trăm chắc cũng bỏ trốn đi luôn, tiểu muội đâu còn làm sư tỷ được nữa?

Nhạc Linh San cười nói:

– Lúc đó tiểu muội bắt đại sư ca gọi tiểu muội là sư tỷ.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Ta gọi sư muội là sư tỷ cũng không sao, nhưng sư muội có giết ta không?

Nhạc Linh San cười nói:

– Nếu nghe lời thì không giết, còn không nghe lời thì sẽ giết.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Tiểu sư tỷ, cầu xin tiểu sư tỷ hạ kiếm lưu tình.

Lệnh Hồ Xung thấy tuyết đã ngừng rơi, sợ bọn sư đệ sư muội phát hiện không thấy Nhạc Linh San đâu, sẽ nói bóng nói gió thì sẽ vô cùng có lỗi với Nhạc Linh San. Chàng nói đùa một lúc nữa rồi hối thúc cô xuống núi. Nhạc Linh San quyến luyến chưa muốn đi, bèn nói:

– Tiểu muội muốn ở đây chơi thêm một chút nữa; gia gia má má đều không có ở nhà, buồn chết đi được.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Sư muội ngoan, mấy ngày nay ta đã nghĩ ra mấy chiêu Xung Linh kiếm pháp, đợi sau khi ta xuống núi, sẽ cùng tiểu muội đến thác nước luyện kiếm.

Chàng dỗ dành một lúc lâu, cô mới chịu xuống núi.



Chiều hôm đó, Cao Căn Minh đem cơm lên núi, nói rằng Nhạc Linh San bị phong hàn, sốt li bì, đang nằm trên giường, lúc nào cũng nghĩ đến đại sư ca, bảo gã lúc đem cơm lên phải nhớ mang thêm rượu. Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, vô cùng lo lắng, biết chiều hôm qua cô ta bị trượt ngã, đã bị ảnh hưởng, hận không được chạy xuống núi để thăm cô. Tuy đã nhịn đói hai ngày một đêm, nhưng bưng bát cơm lên, chàng cảm thấy yết hầu nghèn nghẹn khó nuốt. Cao Căn Minh biết đại sư ca và tiểu sư muội yêu thương nhau thắm thiết, vừa nghe nói sư muội bị bệnh, đại sư ca đã lo âu vạn phần, gã khuyên:

– Đại sư ca không nên lo lắng quá. Hôm qua tuyết rơi nhiều, chắc tiểu sư muội ham chơi tuyết nên bị cảm lạnh. Chúng ta đều là người tu luyện nội công, một chút cảm mạo như vậy không có gì đáng ngại, chỉ uống một hai thang thuốc thì sẽ khỏi ngay.

Nào ngờ Nhạc Linh San bệnh đến hơn mười ngày, cho đến lúc hai vợ chồng Nhạc Bất Quần trở về, dùng nội công để loại bỏ phong hàn trong người nàng, cô mới dần dần khỏi hẳn. Đến lúc cô lên núi lại thì đã trải qua hai mươi mấy ngày.



Hai người xa nhau lâu giờ mới gặp lại nhau, đều vui buồn lẫn lộn. Nhạc Linh San nhìn sắc mặt Lệnh Hồ Xung, kinh hãi nói:

– Đại sư ca, đại sư ca cũng bị bệnh sao? Sao lại ốm nhom như vậy?

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

– Ta đâu có bệnh. Ta… ta…

Nhạc Linh San chợt hiểu ra, bỗng òa lên khóc, nói:

– Đại sư ca, đại sư ca vì thương nhớ tiểu muội đến nỗi ốm nhom như vậy ư? Đại sư ca, tiểu muội đã khỏe rồi đây.

Lệnh Hồ Xung nắm lấy tay nàng khẽ nói:

– Mấy ngày nay, ta ngày đêm nhìn theo con đường xuống núi, mong sư muội từng giờ từng khắc. Tạ ơn trời đất, cuối cùng tiểu sư muội cũng đến đây.

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội lúc nào cũng thấy hình ảnh đại sư ca.

Lệnh Hồ Xung lấy làm lạ hỏi:

– Tiểu muội lúc nào cũng thấy được ta ư?

Nhạc Linh San nói:

– Đúng vậy, lúc tiểu muội bệnh, hễ nhắm mắt lại là thấy ngay đại sư ca. Ngày hôm đó, tiểu muội phát sốt dữ dội, má má nói tiểu muội nói nhảm, toàn là trò chuyện với đại ca. Đại sư ca, má má biết chuyện tối hôm đó tiểu muội lên đây ở lại với đại sư ca rồi.

Lệnh Hồ Xung đỏ mặt, lòng hắn có chút sợ hãi, hỏi:

– Sư nương có nổi giận không?

Nhạc Linh San đáp:

– Má má không nổi giận, nhưng… nhưng…

Cô nói đến đây, hai má bỗng nhiên ửng hồng, không nói tiếp nữa. Lệnh Hồ Xung nói:

– Nhưng làm sao?

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội không nói đâu.

Lệnh Hồ Xung thấy cô e thẹn, lòng liền rung động, vội định thần lại, nói:

– Tiểu sư muội, tiểu sư muội bệnh nặng mới đỡ một chút, không nên lên đây sớm như vậy. Ta biết bệnh tiểu muội đã thuyên giảm, lúc ngũ sư đệ và lục sư đệ đem cơm lên cho ta ăn đều nói cho ta nghe hết rồi.

Nhạc Linh San hỏi:

– Vậy sao đại sư ca lại ốm đến như vậy?

Lệnh Hồ Xung cười cười nói:

– Tiểu muội mà hết bệnh thì ta lập tức mập ra ngay.

Nhạc Linh San nói:

– Đại sư ca nói thật với tiểu muội, trong mấy ngày nay, mỗi bữa đại sư ca ăn được mấy bát cơm? Lục hầu nhi nói đại sư ca chỉ uống rượu chứ không ăn cơm, có khuyên đại sư ca, đại sư ca cũng không nghe. Đại sư ca, đại sư ca… tại sao không bảo trọng thân mình?

Cô nói đến đây thì hai mắt đỏ lên.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Hắn nói lung tung, tiểu muội đừng thèm nghe. Bất luận nói chuyện gì, Lục hầu nhi đều dặm mắm thêm muối hơn ba phần, ta đâu chỉ có uống rượu mà không ăn cơm?

Chàng nói đến đây, một trận gió thổi đến, Nhạc Linh San bị lạnh run lên cầm cập. Trời đang vào lúc trọng đông, trên đỉnh núi gió lộng bốn bề, không một cành cây cản gió. Hoa Sơn vốn đã vô cùng rét lạnh, ở trên đỉnh núi càng rét lạnh hơn. Lệnh Hồ Xung trong lòng thấy thương xót, muốn giang tay ôm lấy tiểu sư muội vào lòng, nhưng ngay sau đó nghĩ đến sư phụ và sư nương, nên liền rụt tay lại, nói:

– Tiểu sư muội, tiểu sư muội chưa được khỏe hẳn, lúc này ngàn lần không thể để bị lạnh nữa. Mau mau xuống núi đi; đợi hôm nào có nắng, tiểu muội hoàn toàn bình phục hãy lên thăm ta.

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội đâu có lạnh. Mấy ngày nay nếu trời không nổi gió thì tuyết vẫn rơi, nếu đợi lúc có nắng thì không biết đến bao giờ mới có.

Lệnh Hồ Xung vội nói:

– Muội muội lại bị bệnh thì biết làm sao? Ta… ta…

Nhạc Linh San thấy dáng vẻ Lệnh Hồ Xung tiều tụy, nghĩ bụng: Nếu ta lại bệnh nữa thì chắc đại sư ca có thể bệnh theo. Trên đỉnh núi cao vút không có người chăm nom, như vậy không phải là ta làm nguy hiểm đến tính mạng của đại ca sao?

Cô liền nói:

– Được, tiểu muội đi đây. Đại ca phải bảo trọng, uống ít rượu một chút, mỗi bữa phải ăn ba bát cơm. Tiểu muội sẽ nói với gia gia là đại ca không được khỏe, nên cần tẩm bổ một chút mới được, không nên ăn chay mãi.

Lệnh Hồ Xung mỉm cười nói:

– Ta không dám phạm giới ăn mặn. Ta thấy tiểu sư muội hết bệnh thì lòng vui mừng lắm, không đầy ba ngày, lập tức sẽ mập lên cho mà coi. Hảo muội tử, hảo muội tử xuống núi đi thôi.

Ánh mắt Nhạc Linh San chứa chan tình cảm, hai má ửng hồng, cô khẽ hỏi:

– Đại sư ca kêu tiểu muội bằng gì?

Lệnh Hồ Xung cảm thấy ngại ngùng nói:

– Ta chỉ buột miệng nói ra. Tiểu sư muội, tiểu sư muội đừng trách.

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu muội làm sao mà trách được? Tiểu muội rất thích đại sư ca gọi tiểu muội như vậy.

Lệnh Hồ Xung cảm thấy nóng ran, chỉ muốn dang hai tay ra ôm cô vào lòng, nhưng lập tức nghĩ lại: Tiểu sư muội đối đãi với ta nặng tình như vậy, đương nhiên ta phải kính trọng cô ta, tại sao ta có thể mạo phạm cô ta được? Chàng nghĩ vậy rồi quay người đi, dịu dàng hỏi:

– Lúc tiểu muội xuống núi nhớ đi chầm chậm từng bước một, nếu mệt thì nghỉ một chút, đừng giống như lúc bình thường cứ chạy một mạch.

Nhạc Linh San dạ rồi quay người đi, đến bên sườn núi.

Lệnh Hồ Xung nghe tiếng bước chân của cô xa dần, mới quay người lại, thấy Nhạc Linh San đứng cách đỉnh núi mấy trượng, chàng đứng trân người nhìn cô. Hai người bốn mắt nhìn nhau rất lâu.

Lệnh Hồ Xung nói to:

– Tiểu muội đi chầm chậm thôi, nên về đi.

Nhạc Linh San đáp dạ rồi mới quay người đi thẳng xuống núi.

Ngày hôm đó, Lệnh Hồ Xung cảm thấy chưa bao giờ được hạnh phúc như vậy. Chàng ngồi trên tảng đá, nhịn không được bật cười lên. Đột nhiên chàng huýt dài một tiếng vang dội cả sơn cốc, tiếng huýt tựa hồ như muốn la to:

– Ta hạnh phúc quá, ta hạnh phúc quá!

Ngày hôm sau, tuyết lại rơi, quả nhiên Nhạc Linh San không đến. Nghe Lục Đại Hữu nói, Lệnh Hồ Xung biết cô bình phục rất nhanh, càng ngày càng khỏe ra, lòng vui mừng khôn tả.

Qua hơn hai mươi ngày sau, Nhạc Linh San xách một thùng bánh nếp lên đỉnh núi, nhìn Lệnh Hồ Xung một lúc rồi mỉm cười nói:

– Quả nhiên đại sư ca không gạt tiểu muội, đã mập ra nhiều.

Lệnh Hồ Xung thấy mặt cô hồng hào, cũng cười nói:

– Tiểu muội cũng khỏe lắm rồi, ta thật vui mừng.

Nhạc Linh San nói:

– Ngày nào tiểu muội cũng đòi đem cơm lên cho đại sư ca, nhưng nói sao má má cũng không cho, lại nói nào là trời đang lạnh, rồi nào là khí hậu không tốt, làm như lên đến đỉnh núi sẽ chết ngay không bằng. Tiểu muội nói đại sư ca ngày đêm ở trên đỉnh núi nhưng đại sư ca có bệnh đâu. Má má nói nội công của đại sư ca cao cường, tiểu muội làm sao có thể bì được với đại sư ca. Sau lưng, má má khen đại sư ca, đại sư ca có khoái không?

Lệnh Hồ Xung cười rồi gật đầu nói:

– Ta lúc nào cũng nhớ đến sư phụ sư nương, chỉ mong sớm được gặp mặt hai vị.

Nhạc Linh San nói:

– Cả ngày hôm qua tiểu muội giúp má má làm bánh nếp. Tiểu muội muốn lấy mấy cái bánh nếp đem cho đại ca ăn, nào ngờ không đợi tiểu muội mở miệng, má má đã nói: “Hài nhi đem thùng bánh này lên cho Xung nhi ăn”. Tiểu muội quả thật không ngờ.

Cổ họng Lệnh Hồ Xung nghẹn ngào, nghĩ thầm: Sư nương đối với ta thật tốt.

Nhạc Linh San nói:

– Bánh nếp mới vừa nấu xong, vẫn còn nóng, tiểu muội lột hai cái cho đại sư ca ăn.

Nói rồi cô xách thùng bánh nếp đi vào thạch động, mở dây cột bánh, lột lá ra.

Lệnh Hồ Xung ngửi thấy mùi thơm, thấy Nhạc Linh San đã lột xong bánh rồi liền cầm lấy, cắn một miếng. Bánh này tuy là bánh chay nhưng có nấm rơm, nấm hương, đậu phộng, hạt sen, đậu nành, các thứ này trộn lẫn với nhau, thêm gia vị rất ngon. Nhạc Linh San nói:

– Nấm rơm này là do Tiểu Lâm tử và tiểu muội ngày hôm kia đi hái đấy…

Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Tiểu Lâm tử là ai?

Nhạc Linh San cười cười nói:

– Chính là Lâm sư đệ đó. Gần đây tiểu muội cứ gọi hắn là Tiểu Lâm tử. Ngày hôm kia, hắn nói với tiểu muội dưới gốc tùng ở sườn núi phía Đông có nấm rơm. Hắn cùng tiểu muội đi hái cả nửa ngày nhưng chỉ được có nửa thùng. Tuy không hái được nhiều, nhưng gia vị nêm ngon, phải vậy không?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Bánh thật ngon, suýt chút nữa ta nuốt cả cái lưỡi vào bụng. Tiểu sư muội, tiểu sư muội đừng mắng mỏ Lâm sư đệ nữa.

Nhạc Linh San nói:

– Tại sao không mắng mỏ? Hắn không nghe lời thì bị mắng ngay. Gần đây, hắn ngoan được một chút, tiểu muội bớt mắng hắn vài câu. Lúc hắn dụng công luyện kiếm có tiến bộ thì tiểu muội cũng khen hắn: “Này, này, Tiểu Lâm tử, chiêu này sử rất đúng, giỏi hơn ngày hôm qua nhiều nhưng còn hơi chậm. Luyện lại, luyện lại”. Hi hi.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu muội đang dạy hắn luyện kiếm ư?

Nhạc Linh San nói:

– Đúng, có điều hắn nói tiếng Phúc Kiến, bọn sư huynh sư tỷ nghe không hiểu gì cả. Tiểu muội đã đến Phúc Châu, nên hiểu được tiếng của hắn, gia gia bảo tiểu muội lúc rảnh thì chỉ bảo cho hắn. Đại sư ca, tiểu muội không thể lên đỉnh núi thăm đại sư ca nên buồn muốn chết, không có chuyện gì làm thì dạy hắn vài chiêu. Tiểu Lâm tử cũng không đến nỗi ngu, học cũng rất nhanh.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Thì ra tiểu muội làm sư tỷ rồi kiêm luôn sư phụ; tất nhiên hắn không dám không nghe lời sư muội.

Nhạc Linh San nói:

– Chưa chắc đúng như vậy đâu. Hôm qua tiểu muội bảo hắn đi săn gà rừng với tiểu muội, hắn không chịu, nói là hai chiêu Bạch hồng quán nhật và Thiên thân đảo huyền còn chưa học xong, muốn luyện thêm nữa.

Lệnh Hồ Xung lấy làm lạ nói:

– Hắn lên Hoa Sơn mới có mấy tháng mà đã luyện đến Bạch hồng quán nhật và Thiên thân đảo huyền rồi ư? Tiểu sư muội, kiếm pháp của bổn phái nên luyện theo thứ tự, không thể nhảy vọt như vậy.

Nhạc Linh San nói:

– Đại ca đừng lo, tiểu muội không muốn dạy lung tung cho hắn như vậy đâu. Tiểu Lâm tử rất kiên cường hiếu thắng, hắn luyện cả ngày lẫn đêm. Lúc rảnh muốn nói chuyện với hắn một chút, hắn nói không được ba câu thì liền hỏi ngay đến kiếm pháp. Người ta luyện kiếm pháp trong ba tháng thì hắn chỉ học khoảng nửa tháng là xong. Tiểu muội bảo hắn đi chơi, hắn cũng chẳng bao giờ chiều ý tiểu muội.

Lệnh Hồ Xung trầm ngâm không nói, bỗng nhiên lòng dâng lên một nỗi phiền nhiễu không thể tả được; cái bánh nếp chỉ ăn mới hai miếng còn cả nửa cái. Chàng cảm thấy mờ mịt đi.

Nhạc Linh San kéo tay áo của Lệnh Hồ Xung, cười nói:

– Đại sư ca, đại sư ca nuốt nhầm lưỡi vào bụng rồi ư? Sao đại sư ca không nói gì cả?

Lệnh Hồ Xung giật mình, đút luôn nửa cái bánh vào miệng. Cái bánh nếp vốn mười phần thơm ngon nhưng cứ nằm dính trong họng, không cách nào nuốt trôi xuống được.

Nhạc Linh San chỉ tay, cười duyên khanh khách rồi nói:

– Đại sư ca ăn mà cũng vội vàng, để bánh dính chặt vào răng rồi.

Lệnh Hồ Xung cười gượng, cố gắng nuốt miếng bánh xuống cổ họng, nghĩ bụng: Ta ngu thật! Tiểu sư muội thích chơi đùa, ta lại không thể xuống núi được, cô ta bèn kéo Lâm sư đệ để bầu bạn, đó cũng là chuyện bình thường thôi. Sao ta lại nhỏ nhen, để tâm như vậy?

Nghĩ đến đây,chàng cảm thấy bình thường trở lại, cười nói:

– Cái bánh này chắc do tiểu sư muội gói, gói kiểu gì dính dữ quá, làm cả răng và lưỡi của ta đều dính lại rồi.

Nhạc Linh San cười ha hả, một lúc sau mới nói:

– Đại sư ca thật đáng thương, bị giam ở trên đỉnh núi trọc lóc này nên mới háu ăn như vậy.

Lần này cô xuống núi, mười mấy ngày sau mới lên lại, ngoài cơm rượu ra còn đem thêm một cái giỏ tre nho nhỏ đựng một ít trái tùng khô và hạt dẻ.

Lệnh Hồ Xung mong ngóng cô đến dài cả cổ. Trong mười mấy ngày này, khi Lục Đại Hữu đem cơm lên, hắn hỏi thăm tiểu sư muội thì thấy thần sắc của Lục Đại Hữu hơi kỳ lạ, nói chuyện không tự nhiên. Lệnh Hồ Xung trong lòng nghi ngờ, hỏi mãi cũng không biết được chút gì. Hắn hỏi riết, Lục Đại Hữu bèn nói:

– Tiểu sư muội vẫn rất khỏe, mỗi ngày đều siêng năng dụng công luyện kiếm. Sư phụ không cho cô ta lên đỉnh núi nữa, sợ cô ta quấy rầy làm ảnh hưởng đến việc công khóa của đại sư ca. (Công khóa là thành quả tu luyện)

Lệnh Hồ Xung ngày đêm mong nhớ, đột nhiên thấy Nhạc Linh San, lòng không vui sao được? Hắn thấy cô tinh thần phấn chấn, kiều diễm thướt tha hơn trước lúc bị bệnh, không kìm được hoài nghi, tự hỏi: Cô ta đã sớm mạnh khỏe rồi, mà sao lâu ngày mới lên đỉnh núi thăm ta? Chẳng lẽ sư phụ sư nương cấm đoán thật ư?

Nhạc Linh San thấy thần sắc Lệnh Hồ Xung lộ vẻ lúng túng, mặt cô chợt hồng lên. Cô nói:

– Đại sư ca, đã lâu ngày không lên thăm đại sư ca, đại sư ca có trách tiểu muội không?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ta sao trách tiểu muội được? Chắc sư phụ, sư nương không cho tiểu muội lên đây nữa, có phải không?

Nhạc Linh San nói:

– Đúng vậy, má má dạy tiểu muội luyện một bộ kiếm pháp mới, nói rằng kiếm pháp này biến hóa rất phức tạp, nếu tiểu muội lên đỉnh núi chuyện trò với đại sư ca thì sẽ bị phân tâm ngay.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Bộ kiếm pháp gì vậy?

Nhạc Linh San nói:

– Đại ca thử đoán xem.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Dưỡng ngô kiếm phải không?

Nhạc Linh San nói:

– Không phải.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Hy di kiếm phải không?

Nhạc Linh San lắc đầu nói:

– Đoán sai nữa rồi.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Chẳng lẽ là Thục nữ kiếm?

Nhạc Linh San lè lưỡi nói:

– Đây là bản lĩnh sở trường của má má, tiểu muội chưa có tư cách để luyện Thục nữ kiếm đâu. Nói cho đại sư ca nghe, đó là Ngọc nữ kiếm thập cửu thức đó.

Cô nói với vẻ rất đắc ý. Lệnh Hồ Xung hơi kinh ngạc, vui vẻ nói:

– Tiểu sư muội đã bắt đầu luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức rồi ư? Bộ kiếm pháp này vô cùng phức tạp.

Chàng nói xong, lòng nhất thời thoải mái hẳn. Bộ Ngọc nữ kiếm này tuy chỉ có mười chín chiêu thức, nhưng mỗi chiêu thức đều biến hóa phức tạp, nếu nhớ không rõ ràng thì ngay cả một chiêu thức cũng không sử được. Chàng từng nghe sư phụ nói: “Bộ Ngọc nữ kiếm thập cửu thức này ý nghĩa là ở chỗ biến ảo kỳ diệu, rất khác với pháp môn dùng khí ngự kiếm của bản phái”. Sức lực của nữ đệ tử tương đối yếu, lúc gặp phải kình địch, có thể dùng kiếm pháp này lấy xảo thắng vụng, nhưng nam đệ tử thì không cần phải học.

Lệnh Hồ Xung cũng không học qua bộ kiếm pháp này. Công lực của Nhạc Linh San dường như cũng chưa đủ để luyện. Nhưng ngày trước Lệnh Hồ Xung và Nhạc Linh San cùng với các sư huynh sư muội cùng xem sư phụ và sư nương chiết giải bộ kiếm pháp này, sư phụ sử cả kiếm pháp tấn công của các môn phái khác nhau, sư nương trước sau vẫn sử Ngọc nữ kiếm thập cửu thức để chống đỡ. Mười chín chiêu Ngọc nữ kiếm vẫn đấu ngang cơ với mấy trăm chiêu kiếm cao minh của hơn mười môn kiếm pháp khác nhau. Lúc đó bọn đệ tử nhìn hoa cả mắt, vô cùng kinh ngạc và thán phục. Nhạc Linh San bèn năn nỉ mẫu thân dạy cho. Nhạc phu nhân nói: “Tuổi hài nhi còn nhỏ , thứ nhất là công lực chưa đủ, thứ hai là luyện bộ kiếm này sẽ làm tổn thương tinh thần, hãy đợi đến hai mươi tuổi mới học. Vả lại, bộ kiếm pháp này chuyên dùng để khắc chế và phá giải kiếm chiêu, nếu để sư huynh sư muội của bổn môn chiết chiêu với hài nhi, luyện đi luyện lại sẽ biến thành một thứ kiếm pháp chuyên chế ngự kiếm pháp của phái Hoa Sơn. Xung nhi đã học rất nhiều, nhớ được nhiều kiếm pháp bên ngoài, đợi Xung nhi rảnh rỗi cùng với hài nhi chiết chiêu luyện tập”. Chuyện này đã qua gần hai năm, từ đó về sau không ai nhắc đến nữa, không ngờ sư nương lại dạy cho cô.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Lúc này chắc sư phụ cao hứng lắm, mỗi ngày cùng với tiểu muội chiết chiêu.

Bộ kiếm pháp này quan trọng ở chỗ tùy cơ ứng biến, quyết không thể câu nệ ở chiêu thức, hễ ra tay luyện thì phải chiết chiêu. Trong phái Hoa Sơn, chỉ có Nhạc Bất Quần và Lệnh Hồ Xung am hiểu nhiều thứ kiếm pháp của các phái khác. Nhạc Linh San muốn luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức thì phải chính Nhạc Bất Quần phải tự thân xuất mã; mỗi ngày cô cùng với lão chiết chiêu.

Mặt Nhạc Linh San lại ửng hồng, e thẹn nói:

– Gia gia có rảnh đâu. Chính Lâm Bình Chi mỗi ngày cùng với tiểu muội chiết chiêu đó.

Lệnh Hồ Xung lấy làm lạ hỏi:

– Lâm sư đệ ư? Hắn hiểu được nhiều kiếm pháp của các phái khác ư?

Nhạc Linh San cười nói:

– Hắn chỉ hiểu được có một thứ Tịch tà kiếm pháp gia truyền của nhà hắn mà thôi. Gia gia nói bộ Tịch tà kiếm pháp này uy lực tuy không mạnh nhưng biến chiêu kỳ ảo, có thể mượn để làm gương luyện tập. Tiểu muội luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức có thể bắt đầu đối kháng với Tịch tà kiếm pháp của hắn được rồi.

Lệnh Hồ Xung gật đầu nói:

– Thì ra là như vậy.

Nhạc Linh San nói:

– Đại sư ca, hình như đại sư ca không vui?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Đâu có! Ta làm sao mà không vui? Tiểu sư muội luyện được bộ kiếm pháp thượng thừa của bổn môn, ta vui mừng không hết, làm sao mà không vui được!

Nhạc Linh San nói:

– Nhưng tiểu muội thấy vẻ mặt của đại sư ca rõ ràng là không vui chút nào.

Lệnh Hồ Xung gượng cười, nói:

– Tiểu sư muội luyện đến chiêu thứ mấy rồi?

Nhạc Linh San không đáp, một lúc sau mới nói:

– Đúng rồi, thì ra má má nói để đại sư ca giúp tiểu muội chiết chiêu cho, vậy mà bây giờ tiểu muội lại nhờ Tiểu Lâm tử chiết chiêu, cho nên đại ca không bằng lòng, phải vậy không? Nhưng đại ca ơi, đại sư ca ở trên đỉnh núi này không thể xuống được; tiểu muội lại rất nóng lòng muốn sớm luyện kiếm pháp, vì vậy không thể đợi đại sư ca được.

Lệnh Hồ Xung cười ha hả nói:

– Tiểu muội lại nói chuyện như con nít rồi. Sư huynh sư muội đồng môn ai chiết chiêu giúp tiểu sư muội cũng vậy thôi.

Chàng ngừng một lúc, rồi cười nói tiếp:

– Ta biết tiểu sư muội thà rằng để Lâm sư đệ chiết chiêu với tiểu muội, chứ không muốn chiết chiêu với ta chứ gì.

Mặt Nhạc Linh San ửng hồng, nói:

– Đừng nói vớ vẩn! Bản lĩnh của Tiểu Lâm tử so với đại sư ca cách nhau vạn dặm, muốn cùng hắn chiết chiêu có gì hay ho đâu?

Lệnh Hồ Xung nghĩ bụng: Lâm sư đệ mới nhập môn có vài tháng, dù hắn có thực sự thông minh đến đâu cũng chẳng đáng là bao, bèn nói:

– Muốn hắn chiết chiêu tất nhiên vẫn có chỗ hay. Mỗi chiêu của tiểu muội đều có thể giết được hắn mà hắn không có cách nào trở tay, há không phải là điều thích thú sao?

Nhạc Linh San cười khanh khách rồi nói:

– Cái món Tịch tà kiếm pháp như mèo ba chân của hắn làm sao chống đỡ nổi?

Lệnh Hồ Xung biết rõ tính khí tiểu sư muội vô cùng hiếu thắng, đoán rằng cô ta cùng với Lâm Bình Chi chiết chiêu, bộ kiếm pháp mới luyện này tự nhiên dùng đến thì lòng ứng với tay, chiêu kiếm nào cũng chiếm được thượng phong. Võ công đối thủ lại thấp, quả thực là điều kiện để tập luyện tốt. Những buồn phiền lập tức tan biến, Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Vậy thì để ta giúp tiểu muội chiết giải mấy chiêu, xem Ngọc nữ kiếm thập cửu thức của tiểu sư muội đã luyện được tới đâu rồi.

Nhạc Linh San vui mừng, cười nói:

– Hay quá, hôm nay… hôm nay tiểu muội lên đỉnh núi là muốn…

Cô bẽn lẽn rút thanh trường kiếm ra. Lệnh Hồ Xung nói:

– Hôm nay tiểu sư muội lên đây là muốn thi triển kiếm pháp mới học cho ta xem chứ gì. Nào, xuất chiêu đi!

Nhạc Linh San cười nói:

– Đại sư ca, kiếm pháp của đại sư ca trước nay vẫn hơn tiểu muội, nhưng khi tiểu muội đã luyện xong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức thì không sợ đại sư ca ăn hiếp đâu.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Có bao giờ ta ăn hiếp tiểu sư muội đâu? Thật là nói oan cho người tốt.

Nhạc Linh San dựng thanh trường kiếm lên nói:

– Sao đại sư ca còn chưa rút kiếm ra?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Không cần vội vàng thế!

Chàng nói rồi tay trái thủ thế theo kiếm quyết, đồng thời chưởng tay phải phóng ra, nói:

– Đây là Tùng Phong kiếm pháp của phái Thanh Thành. Chiêu này gọi là Tùng đào như lôi.

Lệnh Hồ Xung dùng chưởng làm kiếm đâm thẳng vào đầu vai của Nhạc Linh San.

Nhạc Linh San nghiêng người lùi lại, vung kiếm đỡ chưởng của Lệnh Hồ Xung rồi la lên:

– Cẩn thận đó!

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Không cần khách khí, lúc đỡ không được thì ta sẽ rút kiếm ra.

Nhạc Linh San giận dỗi nói:

– Đại sư ca dám dùng tay không đấu với Ngọc nữ kiếm thập cửu thức của tiểu muội sao?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Bây giờ tiểu muội chưa luyện xong. Sau khi luyện xong, ta đây đâu dám đấu tay không.

Trong mấy ngày nay, Nhạc Linh San khổ luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức, tự cảm thấy kiếm thuật của mình tiến bộ rất nhanh, nếu so sánh với các tay cao thủ nhất lưu trên giang hồ, cũng không thua kém người ta. Mười mấy ngày cô không lên đỉnh núi vì dụng ý không muốn tiết lộ cho đại sư ca biết, hy vọng chàng nghe đến là phải kinh sợ, khiến chàng phải khâm phục. Không ngờ đại sư ca lại vô cùng khinh thị, chỉ dùng song chưởng để đỡ Ngọc nữ kiếm thập cửu thức của mình. Cô nghiêm mặt nói:

– Nếu kiếm của tiểu muội làm đại sư ca bị thương thì đại sư ca đừng trách, và cũng đừng mách lẻo lại cho gia gia má má hay nghen.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Dĩ nhiên rồi, tiểu sư muội tận lực thi triển. Nếu ra tay mà nương tình thì không thể nào phát huy được bản lĩnh vốn có.

Lệnh Hồ Xung nói xong chưởng tay trái đột nhiên phát ra nghe vù một tiếng, la lên:

– Cẩn thận!

Nhạc Linh San giật mình sợ hãi, la lên:

– Sao… sao? Đại sư ca cũng dùng tay trái làm kiếm?

Chưởng vừa rồi của Lệnh Hồ Xung nếu phách ra thực sự thì đầu vai của Nhạc Linh San sẽ bị thương.

Chàng hồi lực không phát, rồi cười nói:

– Phái Thanh Thành có mấy người sử dụng song kiếm.

Nhạc Linh San nói:

– Đúng! Tiểu muội đã từng thấy mấy tên đệ tử phái Thanh Thành mang song kiếm, nhưng quên xem chúng ra chiêu thế nào.

Cô nói xong liền rút kiếm lại. Lệnh Hồ Xung thấy thế kiếm đánh tới giống như chiêu số thượng thừa trong Ngọc nữ kiếm, liền khen:

– Chiêu kiếm này rất tốt, nhưng xem ra vẫn chưa nhanh lắm.

Nhạc Linh San nói:

– Chưa nhanh lắm ư? Nếu nhanh nữa thì tiểu muội đã chặt đứt cánh tay của đại sư ca rồi.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Tiểu sư muội chặt thử xem.

Nói rồi hắn vung tay phải thành kiếm, đâm thẳng vào vai trái cô.

Nhạc Linh San trong lòng buồn bực, liền vung kiếm như gió, đem từng thức vừa luyện được trong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức sử ra hết. Kiếm pháp thập cửu thức này, cô chỉ còn nhớ chín thức, mà trong chín thức này cô thực sự có thể dùng được không quá sáu thức, nhưng sáu thức của kiếm pháp này đã rất có uy lực rồi. Mũi kiếm chĩa tới đâu, Lệnh Hồ Xung không thể đến gần được tới đó. Lệnh Hồ Xung quay quanh cô ta đấu giỡn chơi, mỗi lần chàng đâm ra phía trước đều bị chiêu kiếm lợi hại của cô ta bức văng ra, có lần chàng vội nhảy về phía sau, lưng bị đụng mạnh vào những mỏm đá lồi ra trên vách núi. Nhạc Linh San rất khoái chí, cười nói:

– Còn chưa rút kiếm ra ư?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Đợi một chút.

Chàng dẫn dụ cô ta đem từng chiêu Ngọc nữ kiếm sử ra hết, lại đấu thêm một lúc nữa, thấy cô ta giở đi giở lại cũng chỉ có thể sử được sáu thức, hắn đã tỏ tường hết rồi liền phóng về trước, chưởng tay phải đánh ra, miệng la lên:

– Sát thủ Tùng Phong kiếm, cẩn thận!

Thế chưởng đánh ra rất mạnh. Nhạc Linh San thấy hắn vung chưởng đánh xuống đầu mình, vội giơ kiếm lên đỡ. Chiêu này đúng vào ý nghĩ của Lệnh Hồ Xung, tay trái hắn phóng về phía trước, ngón giữa búng ra, keng một tiếng, hắn búng đúng vào sống của thanh trường kiếm. Hổ khẩu của Nhạc Linh San đau buốt, cầm kiếm không vững, trường kiếm bay đi, rơi thẳng xuống vực thẳm.

Sắc mặt của Nhạc Linh San tái xanh, trừng mắt nhìn Lệnh Hồ Xung, mím môi cắn chặt răng, không nói nên lời nào.

Lệnh Hồ Xung kêu lên:

– Trời ơi!

Chàng vội xông đến bên sườn núi, thanh kiếm đã rơi xuống vực sâu ngàn trượng rồi, không còn thấy gì cả. Bỗng trong lúc đó, bên sườn núi thấp thoáng một bóng xanh, tựa hồ như hình ảnh một tà áo. Lệnh Hồ Xung định thần nhìn lại thì chẳng thấy gì nữa. Trống ngực chàng đập thình thịch, thầm nghĩ:

– Ta làm sao vậy? Ta làm sao vậy? Ta cùng với tiểu sư muội tỉ kiếm với nhau không biết đã mấy trăm lần, lúc nào cũng nhường nhịn cô ta, nhưng lần này lại ra tay không nương tình. Ta hành động càng lúc càng kỳ cục.

Nhạc Linh San quay người nhìn xuống vực thẳm rồi kêu lên:

– Thanh kiếm, thanh kiếm ấy!

Lệnh Hồ Xung càng lo lắng, biết trường kiếm của tiểu sư muội là thứ vũ khí sắc bén tan vàng nát ngọc, gọi là Bích thủy kiếm. Ba năm trước, sư phụ đến Long Tuyền tỉnh Triết Giang tìm được; tiểu sư muội vừa trông thấy thanh kiếm đã thích ngay không muốn rời tay. Cô xin sư phụ mấy lần, sư phụ vẫn không cho; đợi đến sinh nhật lần thứ mười tám của cô, sư phụ mới lấy ra tặng cô làm quà. Bây giờ thanh kiếm rơi xuống vực thẳm không thể lấy lại được nữa. Chàng quá sai lầm rồi.

Chân trái của Nhạc Linh San dẫm xuống đất, nước mắt lăn dài trên má, quay người toan xuống núi. Lệnh Hồ Xung gọi:

– Tiểu sư muội!

Nhạc Linh San không thèm nghe, chạy thẳng xuống núi.

Lệnh Hồ Xung đuổi theo đến bên sườn núi, định nắm tay cô. Ngón tay hắn mới chạm đến ống tay áo cô, lại rút về. Cô không hề quay lại mà đi thẳng xuống núi.

Lệnh Hồ Xung buồn bã, nghĩ bụng: Trước đây đối với sư muội, bất cứ chuyện gì ta cũng hết sức nhường nhịn, tại sao hôm nay lại lấy ngón tay bật văng thanh bảo kiếm của sư muội đi? Chẳng lẽ sư nương đã truyền cho sư muội Ngọc nữ kiếm thập cửu thức thì ta lại có ý đố kỵ với sư muội sao? Không, quyết không phải như vậy. Ngọc nữ kiếm thập cửu thức vốn là công phu của nữ đệ tử phái Hoa Sơn, huống hồ bản lĩnh của tiểu sư muội càng cao bao nhiêu thì ta càng vui sướng bấy nhiêu. Ôi, vì ta ở một mình trên đỉnh núi này quá lâu nên tính khí thất thường. Chỉ mong ngày mai tiểu sư muội lại lên đỉnh núi này, ta sẽ xin lỗi cô ta, tốt nhất là nàng lại đến tỷ đấu kiếm, ta sẽ để nàng thi triển chiêu thức hay, đâm vào tay ta một nhát. Chỉ cần ta chảy máu nhiều, thì nàng sẽ ngượng ngùng mà không giận ta nữa.

Tối hôm đó chàng không sao ngủ được, ngồi xếp bằng trên tảng đá luyện khí công một lúc, cảm thấy tinh thần khó an định, nên không dám luyện công nữa. Ánh trăng soi vào động tỏa sáng trên vách đá. Lệnh Hồ Xung thấy ba chữ lớn “Phong Thanh Dương” trên vách, liền giơ ngón tay ra, lần theo vết khắc của chữ lồi lõm trên vách, viết lại từng nét.

Ngay lúc đó, trước mặt chợt tối đen; một cái bóng in lên vách đá. Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, thuận tay chụp thanh trường kiếm bên mình, chưa kịp rút kiếm ra khỏi vỏ đã lập tức xoay tay đâm ngược về phía sau. Kiếm đâm đến giữa chừng, chàng mừng rỡ gọi:

– Tiểu sư muội!

Lệnh Hồ Xung dừng tay không phóng kiếm ra nữa, quay người lại, chỉ thấy một người đàn ông đang đứng cách cửa động hơn một trượng, thân hình ốm nhách, mình mặc thanh bào. Người này quay lưng về hướng ánh trăng, mặt quấn tấm vải xanh, chỉ để lộ ra hai mắt, hiển nhiên là chàng chưa bao giờ thấy qua. Lệnh Hồ Xung lớn tiếng hỏi:

– Các hạ là ai?

Rồi liền phóng khỏi thạch động, rút trường kiếm ra. Người đó không đáp, đưa tay phải ra đánh liền hai chưởng về phía phải. Đó lại là hai chiêu trong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức mà Nhạc Linh San đã sử. Lệnh Hồ Xung ngạc nhiên, ý nghĩ thù địch biến mất, bèn hỏi:

– Các hạ là tiền bối của môn phái nào?

Đột nhiên, một luồng kình phong xông thẳng đến, tạt vào mặt Lệnh Hồ Xung. Không kịp nghĩ ngợi, chàng vung kiếm ra nhưng đã cảm thấy đầu vai trái hơi đau. Chàng đã bị trúng một chưởng của người đó, nhưng dường như người đó chưa vận nội kình. Lệnh Hồ Xung vô cùng kinh sợ, vội lùi sang trái mấy bước. Người đó không truy kích, biến chưởng thành kiếm, trong khoảnh khắc đã sử đủ sáu chiêu trong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức đến mấy chục lần. Mấy chiêu này được nối liền như một chiêu duy nhất, thủ pháp cực kỳ mau lẹ, thật ngoài sức tưởng tượng. Mỗi chiêu đều lấy từ các chiêu mà ban ngày Nhạc Linh San cùng với Lệnh Hồ Xung đã chiết giải qua, bây giờ dưới ánh trăng Lệnh Hồ Xung mới nhìn thấy rõ. Nhưng làm sao có thể đem mấy chục chiêu kiếm pháp nối liền lại giống như chỉ sử một chiêu? Nhất thời chàng há hốc miệng, toàn thân cứng đờ ra.

Người đó phất tay áo rồi quay người đi thẳng xuống núi.

Lệnh Hồ Xung gọi lớn:

– Tiền bối, tiền bối!

Chàng nhìn xuống núi, nhưng chỉ thấy một làn ánh sáng xanh lè, rồi chẳng thấy gì nữa.

Lệnh Hồ Xung hít một luồng khí lạnh, nghĩ: Lão là ai? Sao lại sử đúng các chiêu trong Ngọc nữ kiếm thập cửu thức? Ta vạn lần cũng không thể búng trúng trường kiếm trong tay lão; ngược lại mỗi chiêu của lão đều có thể chém đứt tay ta. Không, đâu phải chỉ chém đứt được tay ta, mà có muốn chém ta chỗ nào cũng chém được, có đâm ta chỗ nào cũng sẽ trúng? Sáu chiêu thức của Ngọc nữ kiếm thập cửu thức này, Lệnh Hồ Xung chỉ có nghe luyện từng chiêu mà thôi. Thì ra bộ kiếm pháp này lại có đại uy lực như vậy. Chàng lại chuyển ý nghĩ: Hiển nhiên uy lực không phải ở chiêu kiếm mà do phương pháp sử kiếm của lão. Lão sử kiếm như vậy, bất luận chiêu thức dù bình thường nhất ta vẫn không đối phó được. Vậy lão là ai? Sao lại lên được trên đỉnh Hoa Sơn này?

Chàng suy nghĩ đến bể đầu cũng chẳng giải đáp được gì nhưng vẫn cho rằng sư phụ và sư nương chắc biết lai lịch của người này. Ngày mai tiểu sư muội lên đây, nhờ sư muội chuyển lời hỏi sư phụ và sư nương thì rõ.

Nhưng ngày sau đó Nhạc Linh San không lên đỉnh núi, ngày thứ ba, ngày thứ tư cũng không lên. Cho đến ngày thứ mười tám cô ta mới cùng với Lục Đại Hữu lên núi. Lệnh Hồ Xung mong chờ mười tám ngày đêm mới thấy cô đến, chàng có nhiều điều muốn thổ lộ với cô, nhưng có Lục Đại Hữu bên cạnh nên không tiện nói ra.

Sau khi ăn cơm xong, Lục Đại Hữu hiểu tâm ý của Lệnh Hồ Xung bèn nói:

– Đại sư ca, tiểu sư muội, hai người đã lâu không gặp nhau nên chuyện trò thêm một lúc. Tiểu đệ đem thùng cơm về trước đây.

Nhạc Linh San cười nói:

– Lục hầu nhi, sư huynh muốn trốn ư? Đi cùng nhau thì phải về cùng nhau chứ?

Cô nói xong liền đứng dậy.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu sư muội, ta có chuyện muốn nói với sư muội.

Nhạc Linh San nói:

– Được rồi, đại sư ca muốn nói gì thì Lục hầu nhi cũng đứng đây để nghe đại sư ca giáo huấn.

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

– Không phải ta muốn giáo huấn. Thanh Bích thủy kiếm của tiểu muội…

Nhạc Linh San ngắt lời, nói:

– Tiểu muội nói với má má là lúc luyện Ngọc nữ kiếm thập cửu thức vì không cẩn thận nên tuột tay làm rơi xuống vực thẳm không tìm thấy được. Tiểu muội khóc một trận, má má không trách mắng tiểu muội mà còn an ủi mấy câu, lại nói lần sau sẽ tìm cho tiểu muội một thanh kiếm tốt hơn. Chuyện đã qua rồi, đại sư ca nhắc lại làm chi?

Nói xong cô giang hai tay ra cười.

Nhạc Linh San càng không để chuyện đó trong lòng, Lệnh Hồ Xung càng cảm thấy bất an. Chàng nói:

– Sau khi mãn hạn phạt xuống núi, nhất định ta sẽ đi khắp giang hồ tìm một thanh bảo kiếm đền cho tiểu sư muội.

Nhạc Linh San cười nói:

– Mình là sư huynh sư muội với nhau, còn nhắc đến thanh kiếm để làm gì? Huống hồ thanh kiếm đó đích xác là do tiểu muội vuột tay làm rơi xuống vực thẳm, chỉ giận tiểu muội học nghệ không thông, chứ trách ai được? Ai cũng “Làm hết sức mình, ra sao thì ra” mà thôi!

Cô nói xong cười lên khanh khách. Lệnh Hồ Xung không hiểu hỏi:

– Tiểu muội nói cái gì vậy?

Nhạc Linh San cười nói:

– A, đại sư ca không biết, đây là câu mà Tiểu Lâm tử thường nói, nó có nghĩa gần như “Làm hết sức lực của mình, còn bao nhiêu dựa vào mệnh trời”. Hắn nói huyên thuyên không ngừng, tiểu muội học lấy câu đó để làm trò cười hắn. Ha ha “Làm hết sức mình, ra sao thì ra”!

Lệnh Hồ Xung hơi cười khổ, bỗng nhớ tới: Hôm đó tiểu sư muội sử Ngọc nữ kiếm thập cửu thức, tại sao ta lại dùng Tùng Phong kiếm pháp của phái Thanh Thành để chiết giải với sư muội? Phải chăng là ta có chủ tâm đối phó với Tịch tà kiếm pháp của Lâm sư đệ? Họ Lâm ở Phước Oai tiêu cục đều bị nhà tan cửa nát dưới tay của phái Thanh Thành, mà ta lại cố ý châm biếm hắn, ta là hạng nhỏ nhen ích kỷ vậy sao?

Lệnh Hồ Xung xoay chuyển ý nghĩ: Hôm ở trong Quần Ngọc viện thành Hành Sơn, ta xém chút nữa mất mạng dưới chưởng của Dư Thương Hải, may nhờ Lâm sư đệ không màng đến sự an nguy tính mệnh, la lên: “Ỷ lớn hiếp nhỏ, cái đồ mặt mâm” nên Dư Thương Hải mới không phóng chưởng ra. Tóm lại Lâm sư đệ có thể nói là có ân cứu mạng ta.

Lệnh Hồ Xung nghĩ đến đây, bất giác cảm thấy hổ thẹn, thở phào một cái rồi nói:

– Lâm sư đệ tư chất thông minh, lại chịu khó rèn luyện, mấy tháng nay lại được tiểu sư muội chỉ điểm kiếm pháp, chắc võ công của y tiến cảnh thập phần nhanh chóng. Nhưng đáng tiếc là trong một năm ta không xuống núi được, nếu không y đã có ân với ta thì ta cần giúp đỡ y luyện kiếm mới phải.

Nhạc Linh San nhướng mày hỏi:

– Tiểu Lâm tử sao lại có ân với đại sư ca? Tiểu muội chưa từng nghe hắn nhắc qua bao giờ.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Dĩ nhiên y không tự nói ra đâu.

Rồi Lệnh Hồ Xung đem tình cảnh ngày hôm đó kể tỉ mỉ lại. Nhạc Linh San nghe xong, nói:

– Thảo nào gia gia cứ khen hắn là người có hiệp khí, cho nên mới cứu hắn ra khỏi tay Tái Bắc minh đà. Tiểu muội thấy hắn ngu ngốc, nào ngờ hắn cũng đã từng cứu mạng đại sư ca.

Cô nói đến đây, không nhịn được nữa bèn cười lên rồi nói tiếp:

– Chỉ có một chút bản lĩnh nhỏ nhoi, hắn lại cứu được đại sư huynh phái Hoa Sơn và cũng từng vì đứa con gái của chưởng môn phái Hoa Sơn mà ra tay giết đứa con cưng của chưởng môn phái Thanh Thành. Hai việc này đã đủ để hắn nổi tiếng oanh liệt trong võ lâm một thời. Nhưng không ai ngờ anh chàng đại hiệp thích ôm chuyện bất bình quyết ra tay, hi hi, Lâm Bình Chi, Lâm đại hiệp mà võ công lại quá tầm thường như vậy.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Võ công có thể luyện thành nhưng nghĩa khí hào hiệp thì do trời sinh ra; nhân phẩm cao hay thấp là ở chỗ này.

Nhạc Linh San mỉm cười nói:

– Lúc tiểu muội nghe gia gia và má má đề cập đến Tiểu Lâm tử cũng nói như vậy. Đại sư ca, ngoài tính nghĩa hiệp ra, về mặt khí phách, đại sư ca và Tiểu Lâm tử cũng giống nhau đó.

Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Cái gì, còn khí phách nữa ư? Nóng tính phải không?

Nhạc Linh San cười nói:

– Đâu phải, đó là sự cao ngạo. Hai người cao ngạo quá mức.

Lục Đại Hữu bỗng nhiên nói xen vào:

– Đại sư ca là thủ lĩnh của bọn sư huynh sư muội, có một chút cao ngạo cũng phải, ở Hoa Sơn này, gã họ Lâm kia là cái thá gì mà cũng đòi vênh mặt cao ngạo?

Giọng nói của Lục Đại Hữu đầy vẻ căm ghét Lâm Bình Chi. Lệnh Hồ Xung ngây người ra, hỏi:

– Lục sư đệ, Lâm sư đệ có khi nào đắc tội với sư đệ không?

Lục Đại Hữu hậm hực nói:

– Hắn không đắc tội với tiểu đệ, nhưng các sư huynh sư đệ không ưa tính tình của hắn.

Nhạc Linh San nói:

– Lục sư ca làm sao vậy? Vì lẽ gì Lục sư ca lại hằn học với Tiểu Lâm tử dữ vậy? Người ta là sư đệ, Lục sư ca làm sư ca thì nên rộng lượng một chút mới phải chứ.

Lục Đại Hữu hừ lên một tiếng rồi nói:

– Nếu hắn biết an phận thủ thường thì thôi, còn không thì họ Lục này là người đầu tiên không dung tha hắn.

Nhạc Linh San nói:

– Sao hắn lại không an phận thủ thường?

Lục Đại Hữu nói:

– Hắn… hắn… hắn…

Hắn nói ba chữ “hắn” thì không nói nữa.

Nhạc Linh San nói:

– Rốt cuộc là chuyện gì mà sư ca ấp a ấp úng hoài vậy?

Lục Đại Hữu nói:

– Ta mong rằng Lục hầu nhi này bị đui mắt nên nhìn lầm mà thôi.

Đôi má Nhạc Linh San ửng hồng, không hỏi nữa. Lục Đại Hữu đòi về, Nhạc Linh San cùng theo hắn xuống núi.

Lệnh Hồ Xung đứng bên sườn núi trân trân nhìn theo sau lưng hai người cho đến lúc cả hai rẽ vào khúc quanh. Bỗng nhiên, từ sau khúc quanh vọng lại tiếng hát trong trẻo của Nhạc Linh San; khúc hát rất nhẹ nhàng, lưu loát. Lệnh Hồ Xung và cô ta sống chung nhà từ nhỏ đến lúc trưởng thành, đã nhiều lần chàng được nghe cô hát, nhưng chưa hề nghe qua khúc hát này. Trước đây, Nhạc Linh San thường hát những tiểu khúc Thiểm Tây, âm cuối cùng thường kéo thật dài, ở khe núi nghe càng lảnh lót. Khúc hát này lại giống như châu rơi nước chảy, từng chữ nhả ra tròn trĩnh.

Lệnh Hồ Xung nghiêng đầu lắng nghe lời ca, nghe được mang máng mấy chữ: “Chị em lên núi hái chè”. Nhưng giọng hát cô ta rất kỳ lạ, mười phần thì có đến tám chín chỉ nghe âm mà không hiểu nghĩa. Chàng nghĩ thầm: Tiểu sư muội học khúc tân ca này lúc nào mà hát nghe rất hay. Lần sau tiểu sư muội lên núi mình mời cô ta hát lại một lần nữa nghe xem sao.

Bỗng nhiên, ngực chàng đau nhói giống như bị ai đó đánh một chùy thật mạnh. Hắn bỗng hiểu ra: Đây là sơn ca ở Phúc Kiến do Lâm sư đệ dạy cho cô ta hát!

Đêm hôm đó, tâm tư Lệnh Hồ Xung dậy sóng, không cách nào ngủ được, bên tai như vẫn nghe tiếng hát nhẹ nhàng văng vẳng của Nhạc Linh San với âm sắc sơn ca Phúc Kiến khó hiểu. Mấy lần chàng tự oán trách mình: Lệnh Hồ Xung ơi Lệnh Hồ Xung! Trước kia ngươi tiêu dao tự tại biết chừng nào, hôm nay chỉ vì một khúc hát mà lòng ngươi lại day dứt mãi không thôi, thật uổng cho ngươi là một bậc nam tử hán đại trượng phu quá đỗi.

Dù rằng biết mình không nên nghĩ ngợi như vậy, nhưng âm điệu bài sơn ca Phúc Kiến mà Nhạc Linh San hát cứ văng vẳng bên tai không dứt. Lòng đau đớn vô cùng, chàng cầm trường kiếm lên, đâm chém loạn xạ vào vách đá. Lệnh Hồ Xung cảm thấy một luồng nội lực từ huyệt Đan điền xông lên, bèn vận hết nội lực vung kiếm đâm ra, dường như giống chiêu Vô song vô đối, Ninh thị nhất kiếm của Nhạc phu nhân. Soạt một tiếng, trường kiếm đâm vào vách đá ngập đến tận chuôi.

Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, không hiểu do đâu công lực trong mấy tháng vừa qua lại tiến nhanh đến nỗi kiếm đâm sâu vào vách đá ngập đến tận chuôi. Nội lực trên lưỡi kiếm phải cao thâm đến bậc nào mới có thể sử kiếm đâm vào đá như đâm vào cây mục chứ? Cả sư phụ sư nương cũng chưa chắc sử kiếm được như vậy. Chàng ngây người một lúc rồi rút lưỡi kiếm ra, có cảm giác như vách đá này rất mỏng, chỉ dày khoảng hai ba tấc là đến khoảng không, sau vách đá là một hang động.

Lệnh Hồ Xung nổi tính hiếu kỳ, liền vung kiếm đâm thêm một nhát nữa. Cách một tiếng, lưỡi kiếm gãy làm hai. Thì ra lần này hắn vận nội kình không đủ, ngay cả vách đá khoảng hai ba tấc cũng không cách nào đâm xuyên qua được. Hắn chửi tục một câu, ra ngoài động ôm lấy một tảng đá to vận lực ném vào vách đá. Tảng đá ném thật mạnh, sau vách đá nghe loáng thoáng có tiếng động truyền đến, hiển nhiên ở sau là một khoảng không khá rộng. Hắn vận nội lực ném tiếp, bỗng nghe đùng một tiếng, tảng đá bay xuyên qua vách đá rớt xuống nghe tiếng lạch cạch không dứt, hình như tảng đá không ngừng lăn đi.

Lệnh Hồ Xung phát hiện sau vách đá còn có một cái động khác, trong thoáng chốc nỗi phiền muộn chất chứa đầy lòng đều tan mất. Chàng lại đi bê đá ném vào mấy lần nữa, vách đá bị thủng một lỗ lớn, có thể chui đầu qua. Chàng lại bê đá ném thêm lên vách đá cho cái lỗ rộng ra rồi đốt lửa lên, chui sang. Hóa ra bên trong là một cái hang hẹp. Lúc chàng cúi đầu nhìn, đột nhiên toàn thân toát mồ hôi. Dưới chân có một bộ xương khô nằm đó.

Tình cảnh này vượt quá sức liệu đoán. Chàng định thần lại, nghĩ thầm: Lẽ nào đây là ngôi mộ cổ của tiền nhân? Nhưng sao bộ xương này không nằm ngay mà lại phủ phục xuống như thế này? Nhìn kiểu dáng bộ xương như vậy thì cái hang nhỏ hẹp này quyết không phải là lối vào nhà mồ.

Lệnh Hồ Xung cúi xuống nhìn bộ xương, thấy áo của người chết đã mục nát hết, bên bộ xương còn đặt hai cây búa to phản chiếu ánh sáng khi ánh lửa rọi vào.

Lệnh Hồ Xung nhặt cây búa lên, thấy nặng khoảng hơn bốn mươi cân. Chàng nhấc búa chém vào vách đá bên cạnh; cạch một tiếng, một tảng đá to rơi xuống. Chàng ngẩn người ra, nghĩ: Cây búa này bén như vậy, không phải là vật tầm thường, nhất định là khí giới của một vị tiền bối trong võ lâm.

Lệnh Hồ Xung lại thấy chỗ vết búa chém rất ngọt, ngoài ra, vách đá còn có nhiều vết đao, vết búa khác chém vào. Chàng tập trung suy nghĩ một lát, bất giác ngẩn người ra, rồi cầm đuốc theo con đường đi xuống. Trong hang đầy những vết búa chém, Lệnh Hồ Xung kinh hãi nghĩ: Thì ra hang này là do người dùng búa phá để mở đường ra. Đúng rồi, người này bị giam cầm trong lòng núi, nên dùng búa phá núi để thoát thân, nhưng không đủ sức, chỉ còn cách động vài tấc thì đã kiệt sức mà chết. Ôi, quả là số mệnh người này rất xui xẻo.

Chàng đi thêm mười trượng nữa, vẫn chưa tới đầu hang bên kia, lại nghĩ: Người này phá núi mở đường được thì chắc chắn nghị lực rất sắt đá, võ công rất cao cường, thật xưa nay hiếm có.

Bất giác chàng sinh lòng khâm phục. Chàng đi thêm vài bước nữa, thấy dưới đất có hai bộ xương khô, một bộ ngồi tựa vào vách, bộ kia nằm khoanh tròn lại. Lệnh Hồ Xung thầm nghĩ: Thì ra bị giam trong núi không phải chỉ có một người.

Lệnh Hồ Xung lại nghĩ: Nơi này là đất cấm của phái Hoa Sơn ta, người ngoài không dễ đến được. Chẳng lẽ các bộ xương này đều là các vị tiền bối vi phạm môn quy của phái Hoa Sơn bị giam cho đến chết ở đây?

Lệnh Hồ Xung đi thêm vài trượng rồi thuận đường quay người sang hướng trái. Trước mắt chàng hiện ra một thạch động rất lớn có thể chứa đủ một ngàn người, trong động lại có bảy bộ xương ngồi nằm khác nhau, bên cạnh bộ xương nào cũng có khí giới. Khí giới gồm một cặp thiết bài, một cặp phán quan bút, một cây thiết côn, một cây thục đồng côn, một thứ giống như lưỡi tầm sét, một thứ là thanh đao hai lưỡi có ba răng nhọn hoắt như răng chó sói, một thứ có lưỡi không giống đao cũng chẳng giống kiếm, xưa nay chàng chưa bao giờ gặp qua. Lệnh Hồ Xung nghĩ thầm: Những người sử dụng các thứ khí giới kỳ lạ và người sử dụng hai cây búa quyết không phải là đệ tử của bổn môn.

Cách đó không xa, dưới đất có khoảng mười thanh trường kiếm. Lệnh Hồ Xung nhặt lên một thanh, thấy cây kiếm ngắn hơn kiếm thường nhưng lưỡi lại lớn gấp đôi, cầm lên thấy rất nặng. Chàng nghĩ: Đây là kiếm của phái Thái Sơn.

Lệnh Hồ Xung xem một thanh khác thấy nhẹ và mềm, chính là khí giới của phái Hằng Sơn; có thanh hình bán nguyệt, là một trong ba loại trường kiếm mà phái Hành Sơn sử dụng; có thanh lưỡi không có sống, mũi kiếm rất nhọn và vô cùng sắc bén, là thứ khí giới mà vài vị tiền bối của phái Tung Sơn thích dùng. Còn ba thanh kiếm kia xem chiều dài, độ nặng chính là kiếm của bổn môn. Chàng càng lúc càng hoang mang: Tại sao ở đây có nhiều khí giới của Ngũ Nhạc kiếm phái?

Lệnh Hồ Xung cầm đuốc soi bốn vách động, chỉ thấy trên vách đá bên phải cách mặt đất mấy trượng có một tảng đá lớn giống như một cái bệ, trên vách có khắc mười sáu chữ lớn:

Ngũ Nhạc kiếm phái

Vô sỉ hạ lưu

Luận võ không thắng

Ám toán hại người

Bốn chữ xếp thành một hàng, tất cả có bốn hàng, mỗi chữ dài hơn một thước được khắc sâu vào vách đá. Người xưa đã dùng thứ khí giới cực kỳ bén nhọn để khắc, vết khắc sâu đến mấy tấc. Mười sáu chữ này góc cạnh oai phong tứ bề, tựa hồ như bạt kiếm giương cung. Lại thấy bên cạnh mười sáu chữ lớn khắc vô số chữ nhỏ, nào là: “Đê hèn vô lại; thật đáng sỉ nhục; khiếp nhược; hèn hạ…” toàn là những câu nguyền rủa hoặc thóa mạ. Lệnh Hồ Xung xem xong, tức cành hông, nghĩ bụng: Thì ra những người này bị Ngũ Nhạc kiếm phái ta giam cầm ở đây. Họ quá phẫn uất, không thể chửi cho ai nghe được bèn khắc lên vách đá những lời thóa mạ người khác. Hành động này mới đúng là quân đê hèn vô sỉ.

Chàng lại nghĩ tiếp: Không biết họ là người như thế nào? Đã là thù địch với Ngũ Nhạc kiếm phái tất chẳng phải người tốt lành gì.

Lúc Lệnh Hồ Xung cầm đuốc rọi lên vách đá còn thấy khắc một hàng chữ: “Phạm Tùng, Triệu Hạt phá kiếm pháp Hằng Sơn ở đây”. Bên hàng chữ này có vô số đồ hình: cứ hai người là một đồ hình, một người sử kiếm còn người kia sử búa. Chỉ đếm sơ qua, ít nhất cũng có năm sáu trăm đồ hình, hiển nhiên là người sử búa đang phá giải kiếm pháp của người sử kiếm.

Bên cạnh những đồ hình lại xuất hiện một hàng chữ: “Trương Thừa Vân, Trương Thừa Phong tận phá Hoa Sơn kiếm pháp”. Lệnh Hồ Xung đùng đùng nổi giận, chửi thầm: Quả là bọn chuột nhắt vô liêm sỉ, to gan ngông cuồng! Kiếm pháp Hoa Sơn ta tinh vi ảo diệu, trong thiên hạ mấy ai có thể chống đỡ được, một chữ “phá” cũng không dám nói, càng không có ai dám nói hai chữ “tận phá” bao giờ.

Chàng lượm thanh trường kiếm của phái Thái Sơn lên, vận nội lực để chém bạt hàng chữ xấc láo này. Choang một tiếng, tia lửa văng tung tóe, chữ “tận” bị chém mất một góc, nhưng từ nhát kiếm này, chàng nhận ra vách đá vô cùng cứng rắn, muốn xóa những đồ hình và chữ khắc trên vách đá dù có lợi khí cũng không dễ xóa được.

Lệnh Hồ Xung định thần lại, nhìn hàng chữ bên đồ hình. Hình người sử kiếm tuy chỉ được phác họa vài nét rất sơ sài, nhưng cũng có thể nhận ra chính là chiêu Hữu phụng lai nghi thuộc kiếm pháp căn bản của bổn môn; thế kiếm bay lượn phát ra nhẹ nhàng linh động. Chiêu này đang chiết giải với hình người trong tay cầm một thứ khí giới thẳng đuột, không biết nó là côn hay là trường mâu. Thứ khí giới thẳng đuột này chỉ vào mũi kiếm của đối phương với tư thế chậm chạp dị thường. Lệnh Hồ Xung lạnh lùng cười hề hề, thầm nghĩ: Chiêu Hữu phụng lai nghi này của bổn môn còn ẩn giấu năm tuyệt chiêu nữa, chiêu thức vụng về của ngươi làm sao có thể phá giải được?

Nhưng chàng xem lại hình người trong bức đồ hình cầm khí giới thẳng đuột giống như cây côn đang thuận thế phóng vào mũi kiếm của người ra chiêu Hữu phụng lai nghi. Chiêu Hữu phụng lai nghi cứ một chiêu thì có năm chiêu kế tiếp nhưng cây côn của người kia dường như tiềm ẩn đến sáu bảy chiêu kế tiếp, rất có khả năng đối phó với những chiêu tiếp theo của Hữu phụng lai nghi.

Lệnh Hồ Xung chăm chú nhìn những nét khắc sơ sài tạc hình người giao đấu, vừa sợ hãi vừa kỳ dị, nghĩ: Chiêu Hữu phụng lai nghi của bổn môn, chiêu số rất tầm thường nhưng đằng sau đó là uy lực cực đại; địch thủ biết mà đỡ gạt né tránh thì không sao, nếu họ cố gắng chiết giải tất sẽ thất bại. Nhưng chiêu côn kia của đối phương thực sự có thể phá được chiêu Hữu phụng lai nghi của phái ta. Đây… đây… đây…

Lệnh Hồ Xung từ chỗ kinh hãi ngạc nhiên chuyển sang khâm phục, lòng không kìm được nỗi lo sợ.

Chàng ngây người nhìn hai đồ hình này không biết bao lâu, bỗng nhiên cảm thấy tay phải đau rát. Thì ra bó đuốc đã cháy đến tận tay. Chàng vội liệng bó đuốc đi, nghĩ bụng: Bó đuốc đã cháy hết rồi, trong động tối đen như mực.

Lệnh Hồ Xung vội chạy đến trước động, lấy mười mấy nhánh tùng khô làm đuốc rồi chạy vào trong động, đốt lửa lên. Chàng vẫn nhìn hai hình người này rồi nghĩ thầm: Nếu công lực của người sử côn kia tương đương với người sử kiếm của bổn môn thì người sử kiếm của bổn môn không khéo sẽ bị thương mất. Nếu công lực của đối phương cao hơn thì lúc hai thứ khí giới giao nhau, người sử kiếm bổn môn lập tức mất mạng ngay. Chiêu Hữu phụng lai nghi của phái ta… đích thực đã bị người ta phá rồi, không còn nghi ngờ gì nữa.

Lệnh Hồ Xung nghiêng đầu nhìn đồ hình thứ hai, thấy người sử kiếm của bổn môn sử chiêu Thương tùng nghênh khách. Tinh thần chàng chấn động. Năm xưa, Lệnh Hồ Xung luyện chiêu này mất một tháng mới xong, trở thành một tuyệt chiêu lúc lâm địch. Chàng có chút hoảng sợ, chỉ e chiêu này lại bị người phá giải được. Chàng nhìn hình người sử côn lại thấy trong tay y có đến năm cây côn phân ra đánh vào năm bộ vị dưới hạ bàn của hình người sử kiếm. Lệnh Hồ Xung ngây người ra hỏi: Sao lại có đến năm cây côn? Nhưng khi xem kỹ tư thế của hình người sử côn, hắn liền hiểu ra: Đây không phải là năm cây côn mà vì trong nháy mắt y liên tục phóng ra năm phát nhắm vào năm chỗ trong hạ bàn của đối phương. Nhưng y nhanh ta cũng nhanh, chưa chắc kịp phóng ra liên tiếp năm côn được đâu. Chiêu Thương tùng nghênh khách chắc y phá giải không nổi.

Chàng đang ra chiều tự đắc, bỗng nhiên lại ngẩn người ra rồi tự hỏi: Nếu y không liên tục xuất ra năm côn mà chỉ đánh một côn vào một phương vị nào đó thì ta làm sao né tránh đây?

Lệnh Hồ Xung nhặt một thanh trường kiếm của bổn môn, sử chiêu Thương tùng nghênh khách, lại xem kỹ đồ hình trên vách đá, tưởng tượng bị côn của đối phương đánh đến. Nếu biết được đối phương đánh vào chỗ nào thì tự mình có cách để đối phó, nhưng cây côn của đối phương có thể đánh vào bất kỳ bộ vị nào cũng được, lúc đó trường kiếm của mình đã đâm ra ngoài thì chắc thu về không kịp. Trừ khi chiêu kiếm này phóng ra đâm chết đối phương trước, nếu không thì hạ bàn của mình tất bị đánh trúng. Nhưng đối phương đã là cao thủ, há có thể hy vọng một kiếm mà đâm chết được sao? Nhìn thấy thế địch nhân hạ thấp vai xuống, chân bước tới thì nhất định trong đường tơ kẽ tóc, sẽ né được chiêu kiếm của mình. Chiêu kiếm này mà bị đối phương né được rồi phản công lại thì không thể tránh vào đâu được. Như vậy tuyệt chiêu Thương tùng nghênh khách của phái Hoa Sơn há không phải đã bị người phá được rồi sao?

Lệnh Hồ Xung hồi tưởng lại ba lần ra chiêu Thương tùng nghênh khách đều thủ thắng. Nếu đối phương thấy đồ hình trên vách đá, biết dùng chiêu này mà phản kích, dù sử côn, sử thương, sử mâu, sử gậy thì mình cũng đã mất mạng rồi, còn đâu thằng Lệnh Hồ Xung tồn tại trên thế gian này nữa?

Lệnh Hồ Xung càng nghĩ càng kinh hãi, trán toát mồ hôi hột, lẩm bẩm: Không phải, không phải. Nếu chiêu Thương tùng nghênh khách thật sự có cách phá giải như thế này thì sao sư phụ không biết? Sao sư phụ không cho ta biết trước?

Đối với chiêu Thương tùng nghênh khách, chàng rất tinh thục yếu quyết song nhìn thấy hình người sử năm cây côn cực kỳ lợi hại, tuy trên vách chỉ vẽ hình năm cây côn rất ngắn nhưng mỗi cây lại dường như đánh mạnh vào đùi, vào chân. Đột nhiên, trên đùi chợt co rút đau đớn, không nhịn nỗi nên ngã ngồi ra đất.

Chàng từ từ đứng lên, lại xem phía dưới, thấy vách đá khắc toàn những tuyệt chiêu của bổn môn mà đối phương cũng sử toàn chiêu xảo diệu vô luân, cực kỳ hiểm ác để phá. Lệnh Hồ Xung càng xem càng sợ hãi. Lúc xem đến chiêu Vô biên lạc mộc thấy cây côn của đối phương phản chiêu yếu ớt như không có chút sức lực nào, chỉ thủ chứ không công, bất giác chàng thở phào một cái rồi nghĩ: Chiêu này ngươi phá không được rồi.

Lệnh Hồ Xung nhớ lại tháng chạp năm ngoái, sư phụ thấy tuyết rơi phất phơ nhiều nên rất cao hứng, bèn tập hợp bọn đệ tử lại để giảng luận về kiếm pháp. Sau cùng, sư phụ thi triển chiêu Vô biên lạc mộc, chiêu kiếm của sư phụ rất thần tốc, đường kiếm lấp loáng trên không giống như những đóa hoa tuyết tung bay, ngay cả đến sư nương cũng vỗ tay khen ngợi. Bà nói: “Sư ca, tiểu muội chịu phục sư ca chiêu kiếm này rồi; phái Hoa Sơn phải có sư ca làm chưởng môn nhân là đúng rồi”. Sư phụ cười nói: “Người đứng đầu phái Hoa Sơn phải dựa vào đức chứ không dựa vào lực, chưa chắc sử được một chiêu kiếm thuần thục như vậy thì có thể làm được chưởng môn nhân”. Sư nương cười nói: “Xấu hổ quá! Đức hạnh của sư ca cao hơn tiểu muội sao?” Sư phụ cười cười không nói nữa. Sư nương hiếm khi chịu phục ai, thường thích cùng với sư phụ tranh thắng, thế mà bà phải phục chiêu Vô biên lạc mộc thì phải biết nó lợi hại biết chừng nào. Sau đó, sư phụ giảng giải chiêu thức này được đặt tên từ một câu trong Đường thi, gọi là Vô biên lạc mộc gì gì đó, sư phụ có đọc qua nhưng chàng không nhớ rõ. Lá trên trăm ngàn cây cổ thụ rơi xuống bay chầm chậm trong gió, chiêu kiếm pháp này hầu như chiếu cố đến cả bốn phương tám hướng.

Chàng lại nhìn tiếp hình người sử côn nhưng thấy y đứng ở tư thế co rúm trông rất khó coi, chiêu số cũng chẳng ra chương pháp nào cả. Lệnh Hồ Xung cảm thấy nực cười. Bỗng nhiên, nét mặt đang tươi cười của chàng sựng lại; hắn thấy lạnh đến tận xương tủy. Lệnh Hồ Xung nhìn chằm chằm vào cây côn trong tay người đó, càng nhìn càng cảm thấy đầu côn ra chiêu cực kỳ xảo diệu. Chiêu Vô biên lạc mộc phóng ra chín chiêu, mười chiêu, mười một, mười hai chiêu; mỗi thế kiếm đều nhằm đâm vào côn. Ngược lại, cây côn này lúc mới nhìn qua thấy ra chiêu rất vụng về, nhìn kỹ lại rất xảo diệu; hình người trông yếu ớt nhưng thực ra rất mạnh mẽ. Người sử côn dùng cách lấy tĩnh chế động, lấy vụng ngự xảo cực điệu nghệ.

Trong chốc lát, niềm tin của chàng đối với võ công bổn phái hoàn toàn mất hết. Lệnh Hồ Xung cảm thấy dù mình có luyện được kiếm thuật đến lô hỏa thuần thanh giống như sư phụ mà gặp phải người sử côn này cũng chẳng khác gì bị người khác cột tay trói chân không còn cách gì để kháng cự, vậy thì kiếm thuật của bổn môn có học đến đâu cũng vô dụng thôi. Chẳng lẽ kiếm thuật của phái Hoa Sơn thực không thể chống nổi một đòn của đối phương sao? Trước mắt, những bộ xương ở trong động đã mục rã lâu rồi, ít nhất cũng ba bốn chục năm, vậy mà sao đến nay Ngũ Nhạc kiếm phái vẫn còn xưng hùng trên giang hồ, chưa từng nghe nói đến kiếm pháp của một phái nào bị người khác phá giải? Nhưng nếu nói những đồ hình trên vách đá chẳng qua chỉ là đấu nhau trên giấy thì cũng không phải. Để xem kiếm pháp của phái Tung Sơn có bị người khác phá hay không. Nhưng chàng biết rõ kiếm pháp phái Hoa Sơn nếu bất ngờ gặp phải những chiêu số cực kỳ cao minh của đối phương thì cũng chỉ còn con đường thất bại mà thôi.

Lệnh Hồ Xung như bị ai điểm trúng huyệt đạo. Chàng đứng trơ bất động, từng ý nghĩ xuất hiện rồi lại tan biến ngay. Không biết trải qua bao lâu, bỗng nghe tiếng người gọi:

– Đại sư ca, đại sư ca! Đại sư ca đang ở đâu vậy?

Lệnh Hồ Xung giật mình, từ trong thạch động vội chạy ra con đường hẹp rồi chui qua lỗ hổng, trở lại sơn động của mình. Nghe tiếng Lục Đại Hữu từ ngoài sườn núi vọng lại, Lệnh Hồ Xung từ trong động chạy ra, đi vòng về phía sau sườn núi đến tảng đá lớn, ngồi khoanh chân xếp bằng rồi nói:

– Ta đang đả tọa ở đây. Lục sư đệ, có chuyện gì vậy?

Lục Đại Hữu nghe tiếng liền chạy đến, vui mừng nói:

– Đại sư ca ở đây ư? Tiểu đệ đem cơm lên cho đại sư ca đây.

Lệnh Hồ Xung quan sát các chiêu số trên vách đá từ lúc bình minh. Chàng để hết tâm trí vào các bức đồ hình, không biết thời gian trôi qua nhanh, bây giờ đã sau giờ Ngọ rồi. Sơn động là nơi chàng đến để tĩnh tâm ăn năn sám hối tội lỗi của mình; Lục Đại Hữu không dám tự tiện đi vào. Sơn động này rất hẹp, vừa nhìn không thấy Lệnh Hồ Xung ở trong, gã liền đến bên sườn núi tìm kiếm.

Lệnh Hồ Xung thấy trên trán của Lục Đại Hữu có dán một miếng thuốc lớn, máu rỉ ra thấm qua miếng thuốc dán, rõ ràng là gã bị thương không nhẹ, vội hỏi:

– Ui chao! Mặt mũi sư đệ bị sao vậy?

Lục Đại Hữu nói:

– Sáng nay tiểu đệ luyện kiếm không cẩn thận, lúc rút kiếm lại lỡ rạch một đường, thật đáng xấu hổ.

Lệnh Hồ Xung thấy vẻ mặt của gã tức giận nhiều hơn hổ thẹn, đoán rằng có lý do khác, bèn nói:

– Lục sư đệ, sư đệ bị thương ra sao? Chẳng lẽ ngay cả ta, sư đệ cũng muốn nói dối sao?

Lục Đại Hữu đùng đùng nổi giận nói:

– Đại sư ca, tiểu đệ đâu dám nói dối đại sư ca, chỉ vì sợ đại sư ca nổi nóng nên không dám nói thật mà thôi.

Lệnh Hồ Xung lấy làm lạ. Sư huynh sư đệ trong bổn môn xưa nay đối với nhau rất hòa nhã, không bao giờ có chuyện đánh lộn hoặc tỉ đấu đến đổ máu. Lẽ nào có địch nhân bên ngoài lên núi?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ai đã làm cho sư đệ bị thương?

Lục Đại Hữu nói:

– Sáng nay, tiểu đệ và Lâm sư đệ luyện kiếm. Hắn mới vừa học xong chiêu Hữu phụng lai nghi, tiểu đệ sơ ý bị hắn vạch kiếm lên mặt làm bị thương.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Bọn sư huynh sư đệ tập dượt kiếm pháp với nhau, gặp lúc lỡ tay làm bị thương là chuyện bình thường, không nên để bụng làm gì. Lâm sư đệ mới học kiếm pháp nên thu phát chiêu chưa theo ý muốn, trách hắn làm sao được, chắc tại Lục sư đệ vô ý mà thôi. Uy lực của chiêu Hữu phụng lai nghi không nhỏ, phải cẩn thận ứng phó mới được.

Lục Đại Hữu nói:

– Đúng vậy, nhưng tiểu đệ làm sao ngờ được… Gã họ Lâm nhập môn mới được vài tháng mà đã luyện được chiêu Hữu phụng lai nghi; còn tiểu đệ bái sư đã trên năm năm rồi, sư phụ mới bảo đại sư ca truyền cho tiểu đệ một chiêu.

Lệnh Hồ Xung hơi sững sờ, lòng nghĩ Lâm sư đệ mới nhập môn mấy tháng mà đã được học xong chiêu Hữu phụng lai nghi thì quả là hắn tiến bộ quá nhanh. Nếu không phải trời phú cho hắn thông minh tài trí hơn người, hắn chưa học xong căn bản đã cầu sự thành đạt nhanh như vậy thì ngày sau sẽ rất tai hại cho việc luyện công. Không biết tại sao sư phụ lại truyền cho hắn nhanh như vậy?

Lục Đại Hữu lại nói:

– Tiểu đệ thấy chiêu này thì giật mình kinh hãi liền bị hắn đả thương. Đã vậy tiểu sư muội còn đứng bên cạnh vỗ tay reo lên: “Lục hầu nhi, ngay cả đồ đệ của tiểu muội mà Lục sư ca cũng đánh không lại, sau này còn dám ra oai trước mặt tiểu muội nữa không?” Gã tiểu tử họ Lâm đó tự biết mình có lỗi nên chạy đến định buộc vết thương cho tiểu đệ liền bị tiểu đệ đá cho lộn nhào. Tiểu sư muội giận nói: “Lục hầu nhi, người ta có lòng tốt muốn băng bó vết thương cho Lục sư ca, sao Lục sư ca lại đánh người ta? Phải chăng Lục sư ca thẹn quá mà hóa giận?” Đại sư ca, thì ra tiểu sư muội lén lút truyền cho hắn chiêu Hữu phụng lai nghi này.

Lệnh Hồ Xung nghe đến đây, lòng đau như cắt. Chiêu Hữu phụng lai nghi này rất khó luyện vì nó biến hóa rất phức tạp, lại tiềm tàng nhiều bí quyết. Tiểu sư muội đã dạy Lâm sư đệ chiêu kiếm pháp này nhất định cô rất hao tâm tổn sức, mất nhiều công phu. Hóa ra những ngày cô ta không lên núi là những ngày ở bên Lâm sư đệ.

Nhạc Linh San trời sinh tính cách hiếu động, không bao giờ chịu nhẫn nại làm những công phu tỉ mỉ. Cô ta lại cương cường hiếu thắng, tự luyện kiếm cho mình thì được còn muốn dạy cho ai thì người đó khó mà mong được cô ta hết lòng chỉ điểm. Vậy mà bây giờ, cô lại đem chiêu Hữu phụng lai nghi biến hóa phức tạp truyền cho Lâm Bình Chi đủ biết cô ta yêu mến gã sư đệ này biết chừng nào. Trải qua một lúc lâu, Lệnh Hồ Xung mới bình tĩnh lại, thản nhiên hỏi:

– Sư đệ sao lại đi luyện kiếm với Lâm sư đệ?

Lục Đại Hữu đáp:

– Ngày hôm qua, tiểu đệ và đại sư ca nói với nhau mấy câu đó, tiểu sư muội có vẻ không vui, dọc đường xuống núi cô ta cứ cằn nhằn tiểu đệ, sáng sớm hôm nay lại kéo tiểu đệ đi cùng với Lâm sư đệ chiết chiêu. Tiểu đệ không chút cảnh giác, cứ nghĩ chiết chiêu là chuyện bình thường. Nào ngờ tiểu sư muội ngấm ngầm dạy cho tên tiểu tử họ Lâm mấy tuyệt chiêu; tiểu đệ xuất kỳ bất ý nên bị hắn ám toán.

Lệnh Hồ Xung càng nghe càng hiểu rõ mọi chuyện. Nhất định là trong những ngày này, Nhạc Linh San và Lâm Bình Chi rất thân thiết với nhau mà Lục Đại Hữu lại rất yêu mến mình nên gã thấy chướng mắt; không kìm được giận đã thốt ra những lời châm chọc, thậm chí còn sinh sự nhục mạ Lâm Bình Chi. Chàng bèn hỏi:

– Sư đệ thóa mạ Lâm sư đệ mấy lần rồi phải không?

Lục Đại Hữu hằn học đáp:

– Tiểu đệ không chửi cái thứ mặt trắng đê tiện vô liêm sỉ đó thì còn chửi ai? Hắn thấy tiểu đệ thì sợ lắm; tiểu đệ chửi hắn, hắn không bao giờ dám mở miệng cãi lại, vừa thấy tiểu đệ liền lủi đi chỗ khác. Không ngờ tên tiểu tử này lại âm độc như vậy. Hừ, hắn thì có được mấy hơi, nếu không có tiểu sư muội đứng sau lưng làm hậu thuẫn thì tên tiểu tử này làm sao đả thương tiểu đệ nổi?

Lệnh Hồ Xung trong lòng nảy lên một nỗi chua xót không thể hình dung. Chàng nhớ lại chiêu côn chuyên đả phá tuyệt chiêu Hữu phụng lai nghi khắc trên vách đá trong hậu động, liền lượm một cành cây dưới đất, tiện tay đưa ra một tư thế ra hiệu, định truyền lại chiêu này cho Lục Đại Hữu. Nhưng chàng lại chuyển ý, nghĩ bụng: Lục sư đệ đang căm hận tên tiểu tử họ Lâm. Nếu lục sư đệ ra chiêu nhất định sẽ làm gã họ Lâm bị trọng thương; sư phụ và sư nương sẽ truy xét ra thì cả mình và Lục sư đệ nhất định sẽ bị trừng phạt nặng. Chuyện này trăm triệu lần không thể làm được.

Lệnh Hồ Xung liền nói:

– Một lần thất bại, một lần khôn ra, về sau đừng mắc bẫy hắn nữa là yên thân. Mình là sư huynh sư đệ với nhau, lúc cùng nhau chiết chiêu, những chuyện thắng bại nho nhỏ đừng để bụng làm gì.

Lục Đại Hữu nói:

– Đúng. Nhưng đại sư ca ơi, tiểu đệ có thể không để bụng, còn đại sư ca… đại sư ca lại có thể làm ngơ được sao?

Lệnh Hồ Xung biết gã nói đến chuyện Nhạc Linh San, lại cảm thấy trong lòng quặn đau dữ dội, da mặt co rúm lại.

Lục Đại Hữu vừa nói ra liền biết câu nói của mình đã khiến cho đại sư ca đau lòng. Gã cuống quýt:

– Tiểu đệ… tiểu đệ đã nói sai rồi.

Lệnh Hồ Xung cầm tay gã ôn tồn nói:

– Lục sư đệ đâu có nói sai. Sao ta có thể làm ngơ được? Nhưng… nhưng…

Chàng ngừng một lát rồi nói tiếp:

– Lục sư đệ! Từ nay về sau, chúng ta đừng đề cập đến chuyện này nữa.

Lục Đại Hữu nói:

– Dạ! Đại sư ca, đại sư ca đã từng dạy cho tiểu đệ chiêu Hữu phụng lai nghi này rồi, nhưng lúc đó tiểu đệ không chú ý lắm nên mới bị mắc bẫy của tiểu tử họ Lâm. Tiểu đệ nhất định dụng hết tâm sức luyện cho thật giỏi, thật tinh thông để tiểu tử này biết đại sư ca dạy giỏi hay tiểu sư muội dạy giỏi.

Lệnh Hồ Xung cười đau đớn, nói:

– Ha ha, chiêu Hữu phụng lai nghi đó thực ra chẳng là cái cóc gì cả.

Lục Đại Hữu thấy tinh thần của Lệnh Hồ Xung suy sụp thì cho rằng tại tiểu sư muội lãnh đạm nên đại sư ca đâm ra buồn chán. Gã không dám nói thêm gì nữa, bày cơm rượu chờ Lệnh Hồ Xung ăn xong rồi thu dọn cáo từ xuống núi.

Lệnh Hồ Xung nhắm mắt dưỡng thần một lúc, rồi đốt một cành thông, đến hậu động xem tiếp những chiêu kiếm trên vách đá. Lúc đầu, chàng chỉ nghĩ đến chuyện Nhạc Linh San truyền thụ kiếm thuật cho Lâm Bình Chi nên không thể chú tâm đến các đồ hình trên vách đá được, những nét khắc sơ sài vạch thành hình người trên vách tựa hồ từng hình đều hóa thành Nhạc Linh San và Lâm Bình Chi. Một người đang dạy, một người đang học, vẻ mặt họ rất tình tứ. Trước mắt Lệnh Hồ Xung cứ thấp thoáng tướng mạo tuấn tú của Lâm Bình Chi, bất giác chàng thở dài, nghĩ bụng: Tướng mạo Lâm sư đệ vốn tuấn tú hơn ta gấp mười lần, tuổi lại nhỏ hơn ta khá nhiều và chỉ lớn hơn tiểu sư muội một hai tuổi, hèn gì hai người dễ thân nhau đến như vậy.

Đột nhiên, Lệnh Hồ Xung bỗng chăm chú nhìn người sử kiếm trong đồ hình trên vách xuất ra một chiêu kiếm. Người sử kiếm từ tư thế vận kình lực, đường chiêu kiếm đi, lại giống hệt chiêu Vô song vô đối Ninh thị nhất kiếm của Nhạc phu nhân. Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, nghĩ bụng: Chiêu kiếm này là do sư nương ta lâm thời tự sáng chế ra, sao trên vách đá lại sớm có người khắc ra? Chuyện này quả thật cổ quái.

Lệnh Hồ Xung quan sát tỉ mỉ đồ hình, mới phát hiện những chiêu trên vách đá có chỗ khác biệt những chiêu kiếm của Nhạc phu nhân sáng chế ra. Chiêu kiếm trên vách đá càng có lực hùng hậu thì càng giản dị tự nhiên, hiển nhiên là do đàn ông xuất chiêu, đúng là những chiêu kiếm không giống như chiêu thức của Nhạc phu nhân vì còn ngấm ngầm ẩn tàng vô số những biến hóa về sau. Bởi vì nó đơn giản nên càng lợi hại. Lệnh Hồ Xung gật đầu lẩm bẩm: Chiêu kiếm do sư nương ta sáng chế cũng không bàn mà trùng với kiếm ý của tiền nhân. Điều này cũng không có gì lạ vì cả hai cũng lấy kiếm pháp Hoa Sơn làm căn bản mà biến hóa ra, công lực và trí tuệ của hai người này chẳng kém nhau bao nhiêu, tất nhiên trong cách sáng chế chiêu thức phải có đại đồng tiểu dị.

Chàng lại nghĩ tiếp: Nếu nói như vậy thì những chiêu kiếm trên vách đá có rất nhiều điểm mà ngay cả sư phụ và sư nương đều không biết. Chẳng lẽ sư phụ lại chưa học hết những kiếm pháp cao thâm của bổn môn?

Chàng thấy cây côn trong tay đối thủ điểm thẳng tới, đầu côn điểm chuẩn xác vào mũi kiếm, cả kiếm và côn hợp thành một đường thẳng.

Lệnh Hồ Xung vừa thấy đường thẳng này không kìm chế được, phải la hoảng lên:

– Không xong rồi!

Cây đuốc trong tay rơi xuống đất, trong động tối thui. Chàng hoảng sợ vô cùng, tự hỏi: Phải làm sao đây? Phải làm sao đây?

Lệnh Hồ Xung nhìn rất rõ từng côn từng kiếm chạm nhau; côn cứng mà kiếm thì mềm, đôi bên lại vận toàn lực thì trường kiếm chắc sẽ bị gãy. Kình lực của đôi bên đều liên miên bất tuyệt; cây côn thừa thế đâm thẳng tới, còn hậu kình trên kiếm sẽ đánh phản kích chính mình, thật là không có cách nào phá giải được.

Trong đầu Lệnh Hồ Xung lại lóe lên một ý nghĩ: Có thật là không có cách nào phá giải được sao? Cũng chưa chắc đâu. Lưỡi kiếm bị gãy, còn cây côn của đối phương phóng nhanh đến thì chỉ còn cách liệng cây kiếm gãy đi mà quỳ phục xuống, nếu không thì nằm xoài về phía trước mới có thể tránh được thế đánh của côn. Nhưng sư phụ và sư nương đều là những kiếm thuật danh gia, có địa vị lẫy lừng liệu có thể chịu làm tư thế đó không? Tất nhiên họ thà chết chứ không chịu nhục, ôi, thất bại thê thảm! Thất bại thê thảm rồi!

Một lúc lâu sau, Lệnh Hồ Xung lấy đao và đá đánh lửa đốt đuốc lên, lại tiếp tục quan sát vách đá, chỉ thấy kiếm càng xuất càng kỳ diệu, càng lúc càng tinh thâm, mấy chục chiêu sau biến ảo khôn cùng, kỳ bí vô phương. Nhưng bất luận chiêu kiếm lợi hại ra sao, cây côn của đối phương vẫn có cách chế ngự. Đồ hình kiếm pháp của phái Hoa Sơn ở khắp nơi đều khắc hình người sử kiếm liệng trường kiếm đi mà quỳ gối phủ phục trước mặt người sử côn. Bao nhiêu căm phẫn trong lòng Lệnh Hồ Xung đều tan biến, chỉ còn lại một nỗi buồn man mác. Tuy hắn cảm thấy đồ hình người sử côn đầy sự kiêu ngạo khinh bạc, nhưng kiếm pháp của phái Hoa Sơn bị tận phá sạch sành sanh không còn cách gì để tranh hùng nữa là thiên chân vạn xác, không còn nghi ngờ nữa.

Tối hôm đó, Lệnh Hồ Xung đi quanh quẩn tới lui không biết bao nhiêu lần. Trong đời mình, chưa bao giờ chàng bị hụt hẫng trầm trọng như vậy. Chàng nghĩ thầm: Phái Hoa Sơn ta được liệt vào Ngũ Nhạc kiếm phái, là một danh môn chánh phái tiếng tăm lẫy lừng từ lâu trong võ lâm mà sao võ công lại tệ hại như vậy? Trên vách đá, ít nhất có đến hơn một trăm chiêu kiếm ngay cả sư phụ và sư nương cũng chưa biết đến, nhưng giả sử có luyện kiếm pháp của bổn môn cao thâm đến đâu thì bản thân sư phụ cũng thua kém xa, như vậy thì còn dùng làm được gì nữa? Chỉ cần đối phương biết cách phá giải thì ngay cả cao thủ mạnh nhất của bổn môn cũng phải liệng kiếm đầu hàng; nếu không chịu thua thì chỉ còn tự sát mà thôi.

Lệnh Hồ Xung đi lại loanh quanh càng thấy lo lắng khổ não. Cây đuốc đã tắt rụi. Không biết trải qua bao lâu, chàng lại đốt cây đuốc khác, nhìn hình người quỳ gối đầu hàng, càng nghĩ càng tức giận, vung trường kiếm lên đâm thẳng vào vách đá, nhưng khi mũi kiếm vừa đụng đến vách đá, chàng bỗng nghĩ: Bậc đại trượng phu phải quang minh lỗi lạc, thua thì chịu thua, thắng thì bảo thắng. Phái Hoa Sơn ta đã không bằng người thì còn gì để nói nữa? Chàng bèn liệng trường kiếm, thở dài.

Chàng lại đi xem những đồ hình khác trên vách đá, thấy kiếm pháp của bốn phái Tung Sơn, Hành Sơn, Thái Sơn, Hằng Sơn cũng hoàn toàn bị đối thủ phá sạch, không thể cứu vãn nổi, sau cùng cũng quỳ xuống đầu hàng.

Lệnh Hồ Xung ở sư môn đã lâu ngày nên hiểu biết rất rộng, chiêu kiếm của các phái tuy chàng không hiểu rõ chỗ tinh thâm nhưng những điều cốt yếu đều đã được nghe qua. Vách tường bên phải khắc những chiêu kiếm của bốn phái không có chiêu nào là không cao minh lợi hại nhưng mỗi chiêu rốt cuộc cũng bị đối phương phá sạch.

Ngoài sự kinh hãi, lòng Lệnh Hồ Xung còn tràn ngập mối nghi ngờ: Lai lịch của Phạm Tùng, Triệu Hạt, Trương Thừa Phong, Trương Thừa Vân thế nào? Sao họ lại nghĩ ra được mà khắc lên vách đá những cách phá giải các loại kiếm pháp của Ngũ Nhạc kiếm phái, mà mình lại chưa từng nghe người trong võ lâm nói tới họ? Sao Ngũ Nhạc kiếm phái ta lại giữ được oai danh cho đến ngày nay?

Lệnh Hồ Xung nhận thấy Ngũ Nhạc kiếm phái ngày nay vẫn còn oai danh lừng lẫy, thực không có chút gì là lừa đời lấy tiếng. Trong Ngũ Nhạc kiếm phái mấy nghìn người từ sư trưởng đến đệ tử sở dĩ có thể đứng vững được trong võ lâm hoàn toàn là nhờ các đồ hình trên vách đá chưa bị bại lộ ra ngoài. Chàng lại nghĩ: Sao ta không giơ búa lên chém vào các đồ hình trên vách đá để xóa hết đi, không để lại một vết tích gì trên thế gian này? Như vậy sẽ làm cho oai danh của Ngũ Nhạc kiếm phái được bảo toàn, cứ coi như trước nay ta chưa phát hiện ra hậu động này là được.

Lệnh Hồ Xung quay người nhặt cây búa to lên, xoay lại đứng trước vách đá. Nhưng khi xem đến những chiêu số kỳ diệu trên vách thì lại không nỡ phá đi. Chàng trầm ngâm một hồi rồi lớn tiếng nói:

– Lệnh Hồ Xung đâu phải là kẻ có thể làm những hành vi đê tiện vô liêm sỉ này.

Bỗng nhiên chàng lại nghĩ đến vị tiên sinh mặc áo bào xanh bịt mặt: Kiếm thuật của người đó cao thâm như vậy, chắc có liên quan đến các đồ hình trong động này. Người này là ai? Người này là ai?

Lệnh Hồ Xung trở về động suy nghĩ cả nửa ngày, lại đến hậu động quan sát các đồ hình trên vách đá; hết đi ra rồi lại đi vào không biết bao nhiêu lần. Trời đã xế chiều, bỗng nghe tiếng bước chân vọng lại, Nhạc Linh San xách thùng cơm đi lên. Lệnh Hồ Xung vui mừng, vội chạy đến sườn núi đón rồi gọi:

– Tiểu sư muội!

Giọng chàng run run vì quá xúc động.

Nhạc Linh San không đáp. Cô lên tới đỉnh núi, đặt mạnh thùng cơm lên tảng đá to, không thèm liếc nhìn Lệnh Hồ Xung một cái liền quay người bỏ xuống núi.

Lệnh Hồ Xung vội gọi:

– Tiểu sư muội, tiểu sư muội làm sao vậy?

Nhạc Linh San hừ một tiếng, chân phải bước nhanh xuống núi. Mặc cho Lệnh Hồ Xung gọi hoài, cô vẫn không đáp một tiếng, cũng không thèm quay đầu lại liếc nhìn. Lệnh Hồ Xung hoang mang không biết phải làm sao; mở thùng cơm ra thấy có đủ cơm trắng, hai đĩa rau nhưng không có bình hồ lô rượu nhỏ. Chàng ngơ ngẩn nhìn thùng cơm hồi lâu rồi bất giác đờ người ra.

Mấy lần Lệnh Hồ Xung muốn ăn cơm nhưng chỉ ăn được một miếng thì cảm thấy miệng khô lưỡi đắng, không sao nuốt nổi nên không ăn nữa. Chàng tự hỏi: Nếu tiểu sư muội giận ta, sao lại đích thân đem cơm lên cho ta? Còn nếu muội ấy không giận ta, sao một tiếng cũng không nói, mắt cũng không thèm liếc nhìn ta một chút? Chẳng lẽ Lục sư đệ bị bệnh nên muội ấy phải đem cơm lên? Nhưng nếu Lục sư đệ không đem cơm lên thì bọn ngũ sư đệ, thất sư đệ, bát sư đệ… đều có thể đem cơm lên được, tại sao tiểu sư muội lại muốn tự mình đem cơm?

Những suy nghĩ của Lệnh Hồ Xung như thủy triều lên xuống từng đợt nối tiếp. Mải suy đoán những tâm tình của Nhạc Linh San, chàng dẹp hết những suy nghĩ về võ công trên vách đá ở hậu động.

Chiều hôm sau, Nhạc Linh San lại đem cơm lên. Cô ta vẫn không thèm liếc chàng một cái, một câu cũng không nói, lúc xuống núi cô ta còn hát vang bài sơn ca Phúc Kiến. Lòng Lệnh Hồ Xung đau như dao cắt, thầm nghĩ: Thì ra cô ta cố ý chọc tức mình.

Chiều ngày thứ ba, Nhạc Linh San lại đem thùng cơm đặt mạnh lên trên tảng đá rồi quay người bỏ đi. Lệnh Hồ Xung không nhịn được nữa bèn gọi:

– Tiểu sư muội, xin dừng bước, ta có chuyện muốn nói với sư muội.

Nhạc Linh San quay người lại nói:

– Có chuyện gì, cứ nói ra đi!

Lệnh Hồ Xung thấy vẻ mặt cô ta lạnh lùng như bao phủ một lớp sương dày đặc, không một chút tươi cười, chàng lẩm bẩm nói:

– Tiểu sư muội… sư muội… sư muội…

Nhạc Linh San nói:

– Tiểu sư muội làm sao?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ta… ta…

Bình thường chàng rất tự nhiên, miệng lưỡi lanh lợi nhưng lúc này lại nói không nên lời.

Nhạc Linh San nói:

– Đại sư ca không nói được, tiểu muội đi đây.

Cô nói xong liền quay người bỏ đi.

Lệnh Hồ Xung sốt ruột, nghĩ rằng cô xuống núi thì đến chiều mai mới lên lại, hôm nay không hỏi cho rõ ràng thì đêm nay lại đau khổ dằn vặt, làm sao ta có thể chịu đựng nổi? Huống chi nhìn vẻ mặt cô như vậy, không chừng chiều mai cô ta sẽ không lên nữa, thậm chí có thể một tháng cũng không lên. Tình hình cấp bách, hắn bèn giơ tay kéo tay áo bên trái của cô lại. Nhạc Linh San giận nói:

– Buông tay ra!

Cô giật mạnh tay. Roạt một tiếng, tay áo bị rách trễ xuống, để lộ ra nửa cánh tay trắng nõn.

Nhạc Linh San vừa thẹn vừa giận, cảm thấy cánh tay lộ ra không biết giấu vào đâu. Cô tuy là người học võ, nhưng còn câu nệ tiểu tiết theo chuẩn mực của người con gái khuê các, bỗng nhiên bị để lộ ra hơn nửa cánh tay, cô lúng ta lúng túng nói:

– Đại sư ca… cả gan…

Lệnh Hồ Xung vội nói:

– Tiểu sư muội xin… xin lỗi. Ta… ta không cố ý.

Nhạc Linh San lấy tay áo bên phải che cánh tay trái lại rồi lớn tiếng nói:

– Đại sư ca muốn nói cái gì?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ta không hiểu, tại sao tiểu muội đối xử với ta như vậy? Nếu đúng thật ta đắc tội với tiểu sư muội, thì sư muội… sư muội… rút kiếm đâm lên người ta mười bảy mười tám nhát, ta… có chết cũng không oán hận.

Nhạc Linh San cười nhạt nói:

– Đại sư ca là đại sư huynh, chúng tôi làm sao dám đắc tội với đại sư ca, còn nói chi đến chuyện đâm mười bảy mười tám nhát? Chúng tôi là sư đệ sư muội của đại sư ca, đại sư ca không đánh mắng đã là cám ơn trời đất lắm rồi.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ta suy nghĩ nát nước mà không ra, không biết mình có chỗ nào đắc tội với sư muội?

Nhạc Linh San hậm hực nói:

– Đại sư ca không biết ư? Đại sư ca bảo Lục hầu nhi tâu rỗi trước mặt gia gia và má má, đại sư ca đã rõ lắm rồi mà.

Lệnh Hồ Xung rất lấy làm kỳ, hỏi:

– Ta bảo Lục sư đệ tâu rỗi với sư phụ và sư nương ư? Tâu rỗi… tiểu sư muội sao?

Nhạc Linh San nói:

– Đại sư ca biết rõ gia gia và má má rất yêu thương tiểu muội, có tâu tiểu muội cũng uổng công. Đại sư ca lại quỷ quái bảo y đi tâu… hừ hừ. Đại sư ca còn làm bộ giả vờ, chẳng lẽ đại sư ca thật sự không biết?

Lệnh Hồ Xung chấn động tâm thần, lòng càng cảm thấy đau xót, liền nói:

– Lục sư đệ và Lâm sư đệ tỉ kiếm bị thương, sư phụ và sư nương đều biết, vì vậy mà trách phạt Lâm sư đệ có phải không?

Lệnh Hồ Xung nghĩ thầm: Chỉ vì sư phụ và sư nương trách phạt Lâm sư đệ, nên cô ta giận mình như vậy.

Nhạc Linh San nói:

– Sư huynh sư đệ tỉ kiếm với nhau, một người bị thua, một người lại không cố ý đả thương người. Vậy mà gia gia lại thiên vị Lục hầu nhi, trách mắng Tiểu Lâm tử một trận, gia gia còn nói Tiểu Lâm tử công lực chưa đủ, không nên học chiêu Hữu phụng lai nghi và cấm tiểu muội dạy gã luyện kiếm. Hay lắm, đại sư ca thắng rồi! Nhưng… nhưng… tiểu muội… tiểu muội cũng không để ý đến đại sư ca đâu, vĩnh viễn không nhìn mặt sư ca nữa.

Bảy chữ “vĩnh viễn không nhìn mặt sư ca” bình thường cô ta vẫn hay nói với Lệnh Hồ Xung lúc vui đùa nhõng nhẽo, nhưng trước đây cô nói thì cặp mắt đưa đẩy, miệng cười chúm chím, nào có ý “không nhìn đại sư ca” đâu? Nhưng lần này vẻ mặt cô nghiêm khắc, trong lời nói đầy quyết tâm đoạn tuyệt thật rồi.

Lệnh Hồ Xung tiến đến một bước, nói:

– Tiểu sư muội, ta…

Lệnh Hồ Xung muốn nói: "Ta thật không có bảo Lục sư đệ đi thưa gửi sư phụ và sư nương đâu". Nhưng chàng nghĩ lại: "Ta không thẹn với lòng, chuyện này mình không làm thì việc cóc gì mà cầu xin lòng thương hại của sư muội".

Lệnh Hồ Xung nói một chữ “ta” thì không nói nữa. Nhạc Linh San liền hỏi:

– Đại sư ca làm sao?

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

– Ta không sao! Ta chỉ nghĩ: Sư phụ và sư nương cấm tiểu sư muội dạy Lâm sư đệ luyện kiếm cũng không phải là chuyện gì lớn lao, mà sao tiểu sư muội giận ta đến như vậy?

Nhạc Linh San ửng hồng hai má, nói:

– Tiểu muội giận đại sư ca thì tiểu muội cứ giận đại sư ca! Chủ ý của đại sư ca là phá hoại chuyện này, cho rằng tiểu muội không dạy Lâm sư đệ luyện kiếm thì mỗi ngày có thể lên đây bầu bạn với đại sư ca chứ gì? Hừ, tiểu muội vĩnh viễn không nhìn mặt đại sư ca nữa.

Cô nói xong, chân phải dậm mạnh rồi đi thẳng xuống núi.

Lần này Lệnh Hồ Xung không dám đưa tay kéo cô lại nữa. Chàng đau khổ vô cùng, tai lại nghe dưới núi vang lên âm thanh véo von trong trẻo của cô hát khúc sơn ca Phúc Kiến. Lệnh Hồ Xung đi đến bên sườn núi và nhìn xuống thấy cái bóng thướt tha của cô đang chuyển qua thung lũng, thấp thoáng thấy cánh tay trái lồng vào ống tay phải, bất giác lo sợ: Ta đã kéo rách tay áo của sư muội, nếu sư muội nói với sư phụ và sư nương thì hai vị lão nhân gia sẽ bảo ta khinh bạc vô lễ với tiểu sư muội. Vậy… vậy… vậy thì làm sao mới được? Nếu chuyện này đồn đãi ra ngoài thì bọn sư đệ sư muội đều coi thường ta hết ráo.

Lệnh Hồ Xung nghĩ lại: Thật tình ta không hề khinh bạc tiểu sư muội. Người ta thích nghĩ thế nào thì mặc kệ họ, ta giữ làm sao được?

Nhưng Lệnh Hồ Xung nghĩ đến chuyện tiểu sư muội chỉ vì không được dạy kiếm cho Lâm Bình Chi mà lại tức giận như vậy thì không cầm được nỗi xót xa.

Lúc đầu, chàng còn yên tâm lý giải: Tiểu sư muội nhỏ tuổi hiếu động, mà ta phải ở trên này sám hối, không ai chuyện trò giải buồn với tiểu sư muội thì tiểu sư muội tìm Lâm sư đệ tuổi tác suýt soát để bầu bạn là đúng. Kỳ thực hắn có tình ý gì đâu?

Nhưng Lệnh Hồ Xung lại nghĩ: Ta và tiểu sư muội sống cùng một nhà với nhau từ thuở nhỏ, tình nghĩa sâu nặng biết dường nào? Lâm sư đệ đến Hoa Sơn chẳng qua chỉ mới vài tháng, mối thân sơ hậu bạc phải khác nhau chứ. Chàng nghĩ đến đây lòng lại đau đớn như bị dao cắt.

Tối hôm đó, Lệnh Hồ Xung từ trong động đi đến bên sườn núi, rồi từ bên sườn núi đi vào trong động, cứ đi ra đi vào, không biết đến bao nhiêu lần. Hôm sau cũng lại như vậy, lòng chàng chỉ nhớ đến Nhạc Linh San, còn đối với đồ hình trên vách đá ở hậu động và chuyện đêm hôm đó bỗng nhiên xuất hiện người mặc thanh bào đều dẹp qua một bên.

Đến chạng vạng tối Lục Đại Hữu đem cơm đến. Gã để cơm và thức ăn trên tảng đá, dọn ra rồi nói:

– Mời đại sư ca dùng cơm.

Lệnh Hồ Xung ừ một tiếng rồi cầm đũa bát và miếng cơm vào miệng mà không sao nuốt được.

Chàng nhìn xuống núi rồi từ từ để bát cơm xuống. Lục Đại Hữu nói:

– Đại sư ca, sắc mặt đại sư ca khó coi lắm, có phải trong người không được khỏe?

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

– Không sao!

Lục Đại Hữu nói:

– Ngày hôm qua tiểu đệ đi hái mớ nấm này về nấu cho đại sư ca ăn. Đại sư ca nếm mùi vị thế nào?

Lệnh Hồ Xung không nói gì, sợ làm phật ý gã, liền gắp hai miếng nấm lên ăn rồi khen:

– Ngon lắm!

Nấm đông cô có mùi vị thơm ngon, nhưng bây giờ chàng nếm thử cảm thấy không có chút ngon lành gì cả.

Lục Đại Hữu cười hi hi nói:

– Đại sư ca, tiểu đệ báo cho đại sư ca một tin rất hay là bắt đầu từ ngày hôm qua trở đi, sư phụ và sư nương cấm không cho Tiểu Lâm tử theo tiểu sư muội học kiếm nữa.

Lệnh Hồ Xung lạnh lùng nói:

– Sư đệ đấu kiếm không lại Lâm sư đệ, thì khóc lóc nói cho sư phụ và sư nương biết phải không?

Lục Đại Hữu nhảy bổ lên nói:

– Ai nói tiểu đệ đấu không lại? Tiểu đệ… vì tiểu đệ…

Hắn nói đến đây thì im bặt không nói nữa.

Lệnh Hồ Xung đã biết rõ rồi, tuy Lâm Bình Chi nhờ chiêu Hữu phụng lai nghi mà xuất kỳ bất ý đả thương được Lục Đại Hữu, nhưng Lục Đại Hữu đã nhập môn lâu ngày, bất luận thế nào Lâm Bình Chi cũng không phải là đối thủ của hắn. Sở dĩ hắn mách với sư phụ và sư nương thực ra cũng chỉ vì mình. Lệnh Hồ Xung bỗng nghĩ: Thì ra các sư đệ và sư muội đều có lòng thương xót ta, đều biết tiểu sư muội từ nay không còn đến với ta nữa. Chỉ vì Lục sư đệ là sư đệ thâm giao với ta mới nghĩ cách giúp ta cứu vãn tình thế. Hừ hừ, bậc đại trượng phu há chịu ai thương xót?

Bỗng nhiên Lệnh Hồ Xung phát giận như điên, cầm bát cơm và đĩa rau liệng xuống vực thẳm rồi la lên:

– Ai cần ngươi nhiều chuyện? Ai cần ngươi nhiều chuyện?

Lục Đại Hữu giật mình sợ hãi. Hắn đối với đại sư ca trước giờ một lòng kính trọng khâm phục, không ngờ lại khích động cho đại sư ca phẫn nộ như vậy. Hắn hoảng loạn, càng hoảng loạn thì càng thụt lùi, miệng chỉ nói được:

– Đại sư ca, đại… sư ca.

Lệnh Hồ Xung ném hết cơm rau xuống vực thẳm mà nỗi tức giận vẫn chưa nguôi. Tiện tay hắn ném tiếp từng cục đá to xuống vực. Lục Đại Hữu nói:

– Đại sư ca, tiểu đệ làm chuyện không đúng. Đại sư ca… đánh đòn đi.

Trong tay Lệnh Hồ Xung đang cầm cục đá to, nghe hắn nói vậy, quay người lại lớn tiếng nói:

– Tiểu đệ có điều gì không đúng?

Lục Đại Hữu sợ quá thụt lùi một bước, ấp úng nói:

– Tiểu đệ… tiểu đệ… tiểu đệ không biết.

Lệnh Hồ Xung thở dài, ném cục đá ra xa, nắm hai tay Lục Đại Hữu rồi dịu dàng nói:

– Lục sư đệ, ta xin lỗi. Ta đang phiền muộn trong lòng chứ không có liên can gì đến sư đệ đâu.

Lục Đại Hữu thở phào rồi nói:

– Tiểu đệ xuống bới cơm khác cho đại sư ca ăn.

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

– Không. Không cần, ta không muốn ăn.

Lục Đại Hữu thấy trên tảng đá thức ăn trong thùng đem lên ngày hôm qua còn y nguyên. Hắn không khỏi lo âu, bèn nói:

– Đại sư ca, ngày hôm qua đại sư ca cũng không ăn cơm ư?

Lệnh Hồ Xung cười gượng đáp:

– Sư đệ bất tất phải bận lòng. Mấy ngày nay ta đắng miệng, không muốn ăn cơm mà thôi.

Lục Đại Hữu không dám nói nhiều. Hôm sau, chưa đến giờ thì Lục Đại Hữu đã mang cơm lên núi, thầm nghĩ: Hôm nay ta đem lên một bình rượu ngon to lớn, lại nấu hai món thức ăn nóng sốt, bất luận thế nào cũng phải khuyên đại sư ca ăn được vài bát.

Hắn lên đến đỉnh núi, thấy Lệnh Hồ Xung đang nằm trên tảng đá trong động, vẻ mặt rất tiều tụy. Hắn hơi kinh hãi, bèn gọi:

– Đại sư ca, đại sư ca coi thử đây là cái gì?

Hắn lắc bình rượu hồ lô lớn rồi mở nút bình ra, khắp hang động đều thơm lừng mùi rượu.

Lệnh Hồ Xung liền đón bình rượu, uống một hơi hết một nửa, rồi khen:

– Rượu ngon quá!

Lục Đại Hữu khoái chí, nói:

– Để tiểu đệ dọn cơm cho đại sư ca ăn.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Không, mấy ngày nay ta không muốn ăn.

Lục Đại Hữu nói:

– Chỉ ăn một bát thôi mà.

Hắn nói xong, bới một bát cơm đầy đưa cho Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung thấy hắn lo cho mình như vậy, đành nói:

– Được rồi, để ta uống hết rượu rồi hãy ăn cơm.

Nhưng Lệnh Hồ Xung lại không ăn bát cơm này. Ngày hôm sau lúc Lục Đại Hữu đem cơm đến, thấy bát cơm vẫn nguyên vẹn trên tảng đá, Lệnh Hồ Xung lại nằm dưới đất ngủ. Lục Đại Hữu thấy hai má Lệnh Hồ Xung đỏ bừng, bèn đưa tay lên trán hắn, thấy trán nóng hổi, rõ ràng là hắn đang sốt cao. Gã không khỏi lo sợ, hỏi khẽ:

– Đại sư ca, đại sư ca bị bệnh phải không?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Rượu, rượu, đưa rượu cho ta!

Tuy Lục Đại Hữu có mang rượu đến nhưng gã không dám đưa cho đại sư ca; gã chỉ rót một bát nước lạnh đưa tới bên miệng. Lệnh Hồ Xung ngồi dậy, bưng bát nước uống cạn rồi nói:

– Rượu ngon, rượu ngon quá!

Chàng ngã người ngẩng mặt lên trời miệng vẫn lẩm bẩm:

– Rượu ngon, rượu ngon quá!

Lục Đại Hữu biết bệnh tình của Lệnh Hồ Xung khá nặng, rất lo âu. Gã chợt nhớ sư phụ và sư nương sáng sớm nay có việc phải xuống núi, liền chạy xuống núi đi báo cho Lao Đức Nặc và các sư huynh sư đệ biết. Tuy Nhạc Bất Quần có nghiêm huấn ngoài mỗi ngày một lần đem cơm ra không ai được phép lên núi gặp Lệnh Hồ Xung, nên khi biết Lệnh Hồ Xung bị bệnh, bọn họ muốn lên thăm hắn lại sợ phạm môn quy. Vì vậy cả bọn vẫn không dám cùng nhau lên núi mà bàn bạc chia nhau mỗi ngày lên núi thăm bệnh. Trước tiên là Lao Đức Nặc và Lương Phát.

Lục Đại Hữu lại đi báo cho Nhạc Linh San biết Lệnh Hồ Xung bệnh nặng. Cô ta vẫn chưa nguôi giận, lạnh lùng nói:

– Nội công của đại sư ca tinh vi, sao lại bị bệnh được? Tiểu muội không lên đó nữa đâu.

Bệnh tình của Lệnh Hồ Xung rất trầm trọng, liên tiếp bốn ngày bốn đêm hắn hôn mê bất tỉnh. Lục Đại Hữu nài nỉ cầu xin Nhạc Linh San lên núi thăm Lệnh Hồ Xung, suýt chút nữa thì hắn đã quỳ trước mặt cô ta, Nhạc Linh San mới tin Lệnh Hồ Xung bệnh thật, cũng sốt ruột vội cùng với Lục Đại Hữu lên núi. Chỉ thấy hai má của Lệnh Hồ Xung hóp lại, râu mọc xồm xoàm đầy cả mặt, bộ dạng tiêu sái lỗi lạc lúc bình thường dường như không còn nữa. Nhạc Linh San vô cùng áy náy, cô đến bên Lệnh Hồ Xung nhỏ nhẹ nói:

– Đại sư ca, tiểu muội đến thăm đại sư ca đây, đại sư ca đừng giận tiểu muội nữa được không?

Vẻ mặt Lệnh Hồ Xung ngẩn ngơ, mở to mắt nhìn cô ta không chớp, ánh mắt lộ vẻ mơ màng tựa hồ như không hề quen biết cô. Nhạc Linh San nói:

– Đại sư ca, tiểu muội đây mà, sao đại sư ca không nhìn ra tiểu muội?

Ánh mắt Lệnh Hồ Xung vẫn đờ đẫn, một lúc sau hắn mới nhắm mắt lại ngủ vùi, cho đến lúc Lục Đại Hữu và Nhạc Linh San xuống núi hắn vẫn chưa tỉnh lại.

Lệnh Hồ Xung bệnh hơn một tháng mới thuyên giảm dần. Trong hơn một tháng này, Nhạc Linh San đến thăm ba lần. Lần thứ hai thần trí Lệnh Hồ Xung đã bình phục, thấy cô thì chàng thập phần vui sướng. Lần thứ ba lúc cô ta đến thăm, Lệnh Hồ Xung đã ngồi dậy được, ăn chút thức ăn điểm tâm mà cô đem đến.

Nhưng từ lần đó trở đi, cô ta không hề lên núi nữa. Sau khi Lệnh Hồ Xung tự mình có thể đứng dậy, ngày nào chàng cũng đứng hơn cả buổi bên sườn núi trông ngóng hình bóng xinh đẹp của tiểu sư muội, nhưng mỗi lần chỉ thấy nếu không phải là vực thẳm tịch mịch thì là hình dáng Lục Đại Hữu đang leo lên núi.

Bình luận chương

Dưới chương này đang có gì?

Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.

0 ý kiến
Đăng nhập để tham gia bàn luận.

Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.