Tiếu Ngạo Giang Hồ - Bản Tân Tu (Mới nhất)

Hồi 7: Trao Phổ

4,5 / 5 (6 lượt)

Lệnh Hồ Xung bị kiếm đâm và chưởng lực chấn động, vết thương tuy nặng nhưng bên ngoài đã được bôi Thiên hương đoạn tục giao, bên trong đã được uống Bạch vân hùng đảm hoàn là hai thánh dược trị thương của phái Hằng Sơn. Vả lại chàng đang độ thanh niên cường tráng, nội công đạt hỏa hầu tương đối, nên sau khi ngủ một ngày một đêm bên thác nước thì vết thương đã gần khép miệng. Suốt một ngày một đêm chàng chỉ toàn ăn dưa hấu. Lệnh Hồ Xung bảo Nghi Lâm đi bắt cá bắn thỏ, nhưng năn nỉ kiểu gì cô cũng không chịu. Cô nói Lệnh Hồ Xung nhiều lần thoát chết đều là nhờ Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ, tốt nhất nên ăn chay trường một hai năm để cảm tạ ân đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Còn như muốn cô phá giới sát sinh thì tuyệt đối không thể. Lệnh Hồ Xung cười cô hủ lậu tẻ nhạt nhưng cũng không có cách nào ép buộc, nên đành phải chấp nhận.

Hôm ấy trời đã chạng vạng tối, hai người dựa vào vách đá, nhìn trong bụi cỏ thấy những con đom đóm lập lòe bay qua bay lại như những đốm lửa nhỏ, trông rất đẹp mắt.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Mùa hè năm ngoái, ta từng bắt mấy ngàn con đom đóm bỏ vào mười mấy túi vải the treo trong phòng, thú vị lắm.

Nghi Lâm nghĩ với tính tình của chàng ắt không thể tự may mười mấy cái túi vải the được. Cô hỏi:

– Có phải tiểu sư muội của huynh bảo huynh bắt không?

Lệnh Hồ Xung cười đáp:

– Muội thông minh ghê, đoán trúng phóc. Sao muội biết do tiểu sư muội bảo ta bắt?

Nghi Lâm mỉm cười nói:

– Huynh hiếu động như vậy, lại không phải là con nít, sao có thể kiên nhẫn đi bắt mấy ngàn con đom đóm để chơi được?

Cô hỏi tiếp:

– Sau đó thì sao?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Sư muội treo ở trong màn, nói là khắp giường đầy ánh sao lấp lánh giống như đang ngủ giữa đám mây, khi mở mắt ra thì xung quanh đều là những vì sao.

Nghi Lâm nói:

– Tiểu sư muội của huynh thật biết chơi đùa, lại có một đại sư ca hết mực chiều chuộng chịu góp vui. Nhỡ chị ấy muốn huynh hái sao trên trời xuống, chắc huynh cũng sẽ đồng ý.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Chuyện bắt đom đóm vốn cũng xuất phát từ việc muốn hái sao trên trời. Có một tối ta và tiểu sư muội cùng hóng mát, ngắm những vì sao lấp lánh trên bầu trời. Tiểu sư muội bỗng thở dài nói: “Tiếc quá, sắp phải đi ngủ rồi. Muội muốn ngủ ngoài trời, nửa đêm tỉnh dậy thấy được bầu trời đầy sao đang lấp lánh nhìn mình thì thú vị biết mấy. Nhưng mẹ nhất định sẽ không cho”. Ta mới nói: “Chúng ta đi bắt đom đóm treo vào trong màn của muội, cũng giống như các ngôi sao đó”.

Nghi Lâm nhẹ nhàng nói:

– Thì ra là ý tưởng của huynh.

Lệnh Hồ Xung tủm tỉm cười nói:

– Tiểu sư muội nói: “Đom đóm bay tới bay lui, đậu lên người lên mặt mình thì khó chịu chết mất. Đúng rồi, muội sẽ may mấy cái túi vải the, bỏ đom đóm vào trong”. Thế là muội ấy ngồi may túi còn ta đi bắt đom đóm, bận rộn suốt một ngày một đêm. Đáng tiếc chỉ chơi được có một đêm, sang hôm sau tất cả đom đóm đều chết hết.

Nghi Lâm thất kinh, run giọng hỏi:

– Mấy ngàn con đom đóm đều chết hết ư? Hai người… hai người sao lại…

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Muội nói bọn ta quá tàn nhẫn đúng không? Ôi, muội là đệ tử Phật môn, lương tâm tốt quá. Thật ra khi trời lạnh, đom đóm đều sẽ chết cóng. Chẳng qua chúng chết sớm hơn mấy ngày thôi, quan trọng gì đâu?

Nghi Lâm lặng yên hồi lâu rồi mới tần ngần nói:

– Thật ra mỗi người sống trên thế gian này cũng đều như vậy, có người chết sớm, có người chết muộn. Dù sớm hay muộn thì cuối cùng đều phải chết. Vô thường, khổ, đức Phật dạy rằng con người không thoát khỏi nỗi khổ sinh lão bệnh tử. Nhưng đại triệt đại ngộ, giải thoát luân hồi đâu phải việc dễ dàng?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Đúng vậy, nên muội cần gì phải canh cánh nhớ mãi những thanh quy giới luật kia? Nào là không thể sát sinh, rồi không thể trộm cắp. Nếu chuyện gì Bồ Tát cũng phải quản thì làm phiền ngài ấy quá.

Nghi Lâm quay đầu đi, không biết nên nói gì cho phải. Đúng lúc ấy, một ngôi sao băng xẹt rất nhanh qua vùng trời phía trên ngọn núi mé tay trái, vạch thành một vệt sáng dài giữa không trung. Nghi Lâm nói:

– Nghi Tĩnh sư tỷ từng nói, người nào thấy được sao băng, nếu thắt một cái nút bằng vạt áo, đồng thời trong lòng ước nguyện một điều, chỉ cần thắt xong trước khi sao băng biến mất thì điều tâm nguyện ắt sẽ đạt được. Theo huynh có thật vậy không?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Ta không biết. Chúng ta cứ thử xem sao, nhưng chỉ sợ động tác không đủ nhanh thôi.

Chàng nói xong cầm vạt áo lên, nói:

– Muội cũng chuẩn bị đi, chậm một chút là không kịp đâu.

Nghi Lâm cầm vạt áo, ngơ ngẩn nhìn lên trời. Đêm mùa hè rất nhiều sao băng, trong chốc lát có thêm một ngôi sao băng vạch ngang bầu trời. Nhưng sao băng chỉ xẹt qua trong nháy mắt, ngón tay Nghi Lâm vừa động đậy thì sao băng đã tắt rồi. Cô khẽ kêu ối một tiếng rồi tiếp tục đợi. Ngôi sao băng thứ hai kéo một đường dài từ phía tây sang phía đông. Động tác của Nghi Lâm rất mau lẹ, kịp thắt được vạt áo.

Lệnh Hồ Xung vui mừng nói:

– Hay lắm, hay lắm! Thành công rồi! Nhất định Quan Thế Âm Bồ Tát sẽ phù hộ cho muội đạt được ước nguyện.

Nghi Lâm thở dài nói:

– Muội mải lo thắt nút chưa kịp nghĩ ước nguyện gì cả.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Vậy muội mau nghĩ trước đi, lẩm nhẩm trước mấy lần cho chắc, không thôi đến lúc đó lại mải thắt vạt áo mà quên cầu nguyện.

Nghi Lâm cầm vạt áo, tự hỏi: “Mình biết ước gì đây? Mình biết ước gì đây?”. Cô nhìn Lệnh Hồ Xung, hai má bỗng ửng hồng, vội quay đầu đi.

Lúc này trên bầu trời liên tục có mấy ngôi sao băng xẹt qua. Lệnh Hồ Xung luôn miệng kêu không ngớt:

– Một ngôi sao nữa kìa. A, sao này dài thật, muội thắt xong chưa? Lần này lại không kịp à?

Tâm sự Nghi Lâm rối như tơ vò. Sâu tận đáy lòng dường như đang có một nguyện vọng thiết tha, nhưng chính cô cũng không dám nghĩ đến chứ đừng nói đến chuyện cầu xin Quan Thế Âm Bồ Tát. Tim cô đập thình thịch, cảm thấy vừa sợ hãi khôn xiết, vừa sung sướng khó tả. Lệnh Hồ Xung lại hỏi:

– Muội nghĩ kỹ điều ước chưa?

Trong sâu thẳm Nghi Lâm đang khẽ hỏi: “Mình muốn ước điều gì? Mình muốn ước điều gì?”. Từng ngôi sao băng trên trời cứ lần lượt xẹt qua, cô ngẩng đầu nhìn lên rồi lại càng ngây dại.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Muội không nói thì để ta đoán thử xem.

Nghi Lâm vội nói:

– Không, không, huynh đừng đoán.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Làm gì mà muội hoảng lên thế? Ta đoán ba lần xem thử có trúng không thôi.

Nghi Lâm đứng dậy nói:

– Huynh còn nói nữa là muội bỏ đi đó.

Lệnh Hồ Xung cười ha hả nói:

– Được rồi, ta không nói nữa. Kể ra trong lòng muội muốn làm chưởng môn phái Hằng Sơn thì có gì đáng xấu hổ đâu.

Nghi Lâm ngẩn ra, thầm nghĩ: “Huynh ấy… huynh ấy đoán mình muốn làm chưởng môn phái Hằng Sơn ư? Mình chưa bao giờ có suy nghĩ đó. Mình sao làm nổi chưởng môn nhân?”.

Bỗng nghe từ xa vọng tới mấy tiếng tình tang, dường như có ai đó đang đánh đàn. Lệnh Hồ Xung và Nghi Lâm nhìn nhau, cùng cảm thấy thắc mắc: “Nơi hoang sơn dã lĩnh này sao lại có người đến đánh đàn?”. Tiếng đàn không ngớt vọng lại nghe rất u nhã. Một lúc sau, có tiếng tiêu êm ái dìu dặt nổi lên hòa với tiếng đàn. Tiếng đàn thất huyền ôn hòa trung chính xen với tiếng tiêu thanh tao càng thêm rung động lòng người. Cầm vang tiêu hót tựa hồ một bên hỏi, một bên đáp, đồng thời âm thanh từ từ đến gần. Lệnh Hồ Xung nhích người qua, nói khẽ vào tai Nghi Lâm:

– Thứ âm nhạc này thật cổ quái, e rằng sẽ bất lợi cho chúng ta. Bất luận xảy ra chuyện gì, muội tuyệt đối đừng lên tiếng.

Nghi Lâm gật đầu. Tiếng đàn dần dần cao vút lên, tiếng tiêu lại từ từ trầm xuống. Nhưng tiếng tiêu hạ thấp mà không dứt, giống như sợi tơ phất phơ theo làn gió liên miên không đứt, càng khiến cho lòng bồi hồi bâng khuâng.

Từ sau núi đá lờ mờ xuất hiện ba cái bóng. Lúc này mặt trăng đang bị áng mây che khuất, dưới ánh sáng mờ ảo thấp thoáng trông thấy ba người, hai cao một thấp. Hai người cao là đàn ông, người thấp là một phụ nữ. Hai người đàn ông khoan thai bước đến bên một tảng đá to rồi ngồi xuống, một người gảy đàn, một người thổi tiêu. Còn thiếu nữ đứng bên cạnh người gảy đàn. Lệnh Hồ Xung nép mình vào sau tảng đá, không dám nhìn ra vì sợ bị ba người kia phát hiện. Chỉ nghe cầm tiêu vang lên du dương, vô cùng hài hòa. Lệnh Hồ Xung nghĩ: “Thác nước ở ngay bên cạnh, nhưng tiếng nước chảy ầm ầm vẫn không át được thanh âm cầm tiêu nhu hòa, xem ra nội công của hai người đánh đàn thổi tiêu cực kỳ thâm hậu. Đúng rồi, họ đến chỗ này tấu nhạc chính vì ở đây có thêm âm vang của thác đổ. Vậy thì không liên can gì đến bọn mình rồi”. Chàng cảm thấy yên tâm hẳn.

Tiếng đàn đột nhiên phát ra những âm điệu gào thét như có ý sát phạt, nhưng tiếng tiêu vẫn êm dịu uyển chuyển. Một lúc sau, tiếng đàn cũng chuyển sang êm dịu, hai âm chợt trầm chợt bổng. Bỗng nhiên tiếng cầm tiêu bất ngờ thay đổi như thể có bảy tám cây đàn và bảy tám ống tiêu cùng đồng thời tấu nhạc. Âm điệu cầm tiêu biến ảo vô cùng phức tạp, mỗi âm thanh phát ra trầm bổng khoan nhặt khác nhau, thánh thót bắt tai mà cũng kinh tâm động phách. Lệnh Hồ Xung tưởng chừng như mạch máu căng tràn, không kiềm được muốn đứng dậy ngay. Nghe thêm một hồi, âm thanh cầm tiêu lại bất chợt biến đổi, tiếng tiêu trở thành giai điệu chính, thất huyền cầm phụ họa đệm theo tình tang tình tang. Thế rồi tiếng tiêu càng lúc càng cao vút lên. Lệnh Hồ Xung không hiểu sao lòng bỗng cảm thấy chua xót. Chàng nghiêng đầu nhìn Nghi Lâm, thấy cô đã rơi nước mắt lã chã. Đột nhiên một tiếng rít vang lên, tiếng đàn lập tức dừng lại, tiếng tiêu cũng ngưng bặt. Trong phút chốc bốn bề trở lại tĩnh mịch, chỉ còn vầng trăng sáng trên cao chiếu đến hàng cây đổ bóng xuống mặt đất.

Chỉ nghe một người từ tốn nói:

– Lưu hiền đệ, hôm nay hai ta cùng chết ở đây, âu cũng là số phận định sẵn. Đều tại ngu huynh không ra tay sớm hơn một chút, liên lụy gia quyến và đệ tử của đệ tuẫn nạn bỏ mình. Ngu huynh thật sự không yên lòng.

Người kia nói:

– Chúng ta đã là tri giao, còn nói mấy lời đó làm chi…

Nghi Lâm nghe giọng nói của người này thì giật mình. Cô nói khẽ vào tai Lệnh Hồ Xung:

– Là Lưu Chính Phong sư thúc.

Hai người hoàn toàn không hay biết chuyện tày đình xảy ra trong phủ của Lưu Chính Phong. Bây giờ đột nhiên thấy Lưu Chính Phong xuất hiện ở nơi hoang vu, lại nghe người kia nói nào là “hôm nay hai ta cùng chết ở đây”, rồi “gia quyến và đệ tử của đệ tuẫn nạn bỏ mình”, khiến cả hai cùng hết sức kinh ngạc.

Chỉ nghe Lưu Chính Phong nói tiếp:

– Con người sinh ra ai mà không chết. Có được một tri kỷ thì chết cũng không tiếc.

Người kia nói:

– Lưu hiền đệ, trong tiếng tiêu của đệ có chút phần di hận, phải chăng do lệnh lang gặp lúc nguy nan đã tham sống sợ chết, làm hoen ố thanh danh của đệ?

Lưu Chính Phong thở dài nói:

– Khúc đại ca đoán không sai. Cần nhi là đứa con mà ngày thường đệ quá nuông chiều, thiếu sự bảo ban, không ngờ lại trở nên hèn yếu không còn chút khí tiết nào.

Khúc Dương nói:

– Có khí tiết cũng được, không có khí tiết cũng được, trăm năm sau cũng thành cát bụi, có gì khác biệt đâu? Ngu huynh nằm phục trên nóc nhà từ sớm, đáng lẽ nên mau chóng xuất thủ, nhưng huynh cứ tưởng rằng đệ sẽ không vì tình bạn hai ta mà làm tổn thương hòa khí với cố nhân trong Ngũ Nhạc kiếm phái. Vả lại ngu huynh từng vì hiền đệ mà lập lời thề độc, quyết không làm phương hại nhân sĩ hiệp nghĩa chính đạo, nên mới chần chừ chưa ra tay. Ngờ đâu phái Tung Sơn là minh chủ Ngũ Nhạc mà lại hạ thủ độc ác như vậy.

Lưu Chính Phong im lặng hồi lâu rồi buông tiếng thở dài, nói:

– Họ là người thế tục, làm sao hiểu được chúng ta kết giao nhờ âm luật, tao nhã sâu sắc biết bao? Họ cứ lấy lẽ thường tình mà xét đoán, cứ đinh ninh huynh đệ ta kết giao để gây bất lợi cho Ngũ Nhạc kiếm phái và hiệp nghĩa chính đạo. Ôi, họ đã không hiểu thì trách cũng bằng thừa. Khúc đại ca, huynh bị thương ở huyệt Đại truy làm chấn động tâm mạch phải không?

Khúc Dương nói:

– Phải. Nội công phái Tung Sơn quả nhiên lợi hại. Không ngờ ta đưa lưng ra nhận chưởng nhưng nội lực đánh tới quá mạnh làm chấn động đứt cả tâm mạch của đệ. Sớm biết hiền đệ cũng không thoát thì lẽ ra không cần ném nắm Hắc huyết thần châm đó. Đả thương nhiều người vô tội cũng chẳng để làm gì. May mà trên kim không tẩm độc.

Lệnh Hồ Xung nghe tới bốn chữ “Hắc huyết thần châm” thì lòng chấn động: “Lẽ nào y là cao thủ trong Ma giáo? Vì sao Lưu sư thúc lại kết giao với y?”.

Lưu Chính Phong cười nhẹ, nói:

– Nhưng nhờ vậy mà chúng ta mới có dịp hợp tấu khúc nhạc này. Từ nay về sau, trên đời sẽ không còn tiếng cầm tiêu như thế nữa.

Khúc Dương thở dài nói:

– Thời xưa, khi Kê Khang sắp bị hành hình đã gảy một khúc nhạc, than rằng “Quảng Lăng tán” thất truyền từ đây. Ha ha, “Quảng Lăng tán” tuy tinh diệu nhưng làm sao so được với khúc “Tiếu ngạo giang hồ” của chúng ta? Có điều tâm tình của Kê Khang năm xưa cũng giống như huynh đệ ta lúc này.

Lưu Chính Phong cười nói:

– Vừa rồi Khúc đại ca còn rất khoát đạt cơ mà, sao giờ lại câu nệ thế? Đêm nay hai ta hợp tấu, phát huy khúc “Tiếu ngạo giang hồ” đến chỗ tận cùng. Thế gian đã có khúc nhạc này, huynh đệ ta đã cùng hợp tấu. Đời người như thế còn ân hận gì nữa?

Khúc Dương nhẹ vỗ tay nói:

– Hiền đệ nói đúng lắm.

Một lúc sau y lại thở dài. Lưu Chính Phong nói:

– Sao đại ca lại thở dài? Đúng rồi, nhất định huynh đang lo lắng cho Phi Phi.

Nghi Lâm giật mình, nghĩ thầm: “Phi Phi, là cô bé Phi Phi đó ư?”. Quả nhiên nghe tiếng Khúc Phi Yên nói:

– Ông ơi, ông và Lưu công công cứ từ từ tịnh dưỡng lành hẳn rồi chúng ta sẽ đuổi cùng giết tận bọn ác đồ phái Tung Sơn, trả thù cho Lưu bà bà và mọi người.

Đột nhiên, phía sau vách núi vang lên một tràng cười dài. Tràng cười chưa dứt, một bóng đen từ sau vách núi nhảy ra. Thanh quang lấp loáng, một người đã đứng trước mặt Khúc Dương và Lưu Chính Phong, tay lăm lăm trường kiếm, đó chính là Tung Dương cao thủ Phí Bân của phái Tung Sơn. Hắn lạnh lùng cười ha hả, nói:

– Con ranh kia mạnh mồm quá nhỉ? Đuổi cùng giết tận phái Tung Sơn ư, trên đời đâu có chuyện dễ dàng như vậy?

Lưu Chính Phong đứng dậy nói:

– Phí Bân, ngươi đã giết cả nhà ta, Lưu mỗ cũng đã trúng chưởng lực của hai sư huynh ngươi, tính mạng chỉ còn trong khoảnh khắc. Ngươi còn muốn gì nữa?

Phí Bân cười hô hố, nghênh ngang nói:

– Con ranh kia nói muốn đuổi cùng giết tận nên tại hạ đến đây để đuổi cùng giết tận. Nhãi ranh, qua đây chịu chết trước đi.

Nghi Lâm nói khẽ với Lệnh Hồ Xung:

– Phi Phi và gia gia cô bé đã cứu huynh, chúng ta hãy mau nghĩ cách để cứu họ được không?

Lệnh Hồ Xung không đợi cô nói đã ngầm tính kế giải vây để báo đáp ơn cứu mạng của hai ông cháu bọn họ. Nhưng thứ nhất, đối phương là cao thủ phái Tung Sơn, kể cả khi mình chưa bị trọng thương cũng hoàn toàn không phải đối thủ của hắn. Thứ hai, bây giờ đã biết Khúc Dương là người trong Ma giáo, phái Hoa Sơn với Ma giáo là cừu địch, sao có thể quay sang giúp đỡ? Chàng hết sức phân vân chưa thể quyết định.

Chỉ nghe Lưu Chính Phong nói:

– Họ Phí kia, ngươi cũng được coi là nhân vật có tiếng tăm trong danh môn chính phái. Hôm nay, Khúc Dương và Lưu Chính Phong rơi vào tay ngươi, muốn chém muốn giết tùy ý, bọn ta chết không oán thán. Nhưng ngươi hà hiếp một cô bé thì còn gì là anh hùng hảo hán? Phi Phi, cháu chạy đi!

Khúc Phi Yên nói:

– Cháu nguyện chết cùng gia gia và Lưu công, quyết không sống một mình.

Lưu Chính Phong giục:

– Chạy mau! Chạy mau đi! Chuyện của người lớn, không liên quan tới con nít như cháu.

Khúc Phi Yên nói:

– Cháu không đi!

Loảng xoảng hai tiếng, cô rút hai thanh đoản kiếm bên hông ra, lạng người đứng chắn trước Lưu Chính Phong, la lên:

– Phí Bân, trước đây Lưu công tha chết cho ngươi, vậy mà ngươi lại lấy oán báo ân. Ngươi có biết xấu hổ không?

Phí Bân hầm hầm nói:

– Con ranh này nói rằng muốn đuổi cùng giết tận phái Tung Sơn bọn ta. Ngươi vừa bắt đầu đuổi cùng giết tận đấy thôi? Lẽ nào họ Phí ta phải ngồi yên cho ngươi phanh thây, hay là ta phải quay đầu bỏ trốn?

Lưu Chính Phong kéo cánh tay Khúc Phi Yên, vội vàng kêu:

– Chạy mau! Chạy mau!

Nhưng ông bị nội lực phái Tung Sơn làm chấn động, tâm mạch đứt đoạn, lại vừa diễn tấu khúc “Tiếu ngạo giang hồ” khiến tâm lực hao tổn dữ dội, tay không còn chút sức nào. Khúc Phi Yên cựa nhẹ một cái đã thoát khỏi tay Lưu Chính Phong. Đúng lúc đó ánh xanh lóe lên, trường kiếm của Phí Bân đã đâm tới trước mặt.

Tay trái Khúc Phi Yên giơ đoản kiếm lên đỡ, tay phải phóng kiếm ra. Phí Bân cười gằn một tiếng, huơ trường kiếm xoay vòng. Chát một tiếng, hắn đánh xuống đoản kiếm trên tay phải cô bé. Cánh tay phải của Khúc Phi Yên tê dại, hổ khẩu đau buốt, đoản kiếm trên tay phải rơi xuống đất. Phí Bân nghiêng chếch trường kiếm đánh ngược lại, chát thêm một tiếng, đoản kiếm bên tay trái cô bé lại bị hất văng, bay xa tận mấy trượng. Phí Bân chĩa trường kiếm vào yết hầu cô bé, nhìn Khúc Dương cười nói:

– Khúc trưởng lão, trước hết ta sẽ đâm mù mắt trái của cháu gái ngươi, sau đó xẻo mũi, rồi lại xẻo tai nó…

Khúc Phi Yên thét to, nhảy bổ về phía trước, lao tới mũi kiếm của hắn. Phí Bân rút trường kiếm lại rất nhanh, ngón trỏ tay trái điểm ra, Khúc Phi Yên lập tức ngã xuống. Phí Bân cười hô hố rồi nói:

– Tà ma ngoại đạo làm nhiều việc ác, muốn chết cũng không dễ dàng như thế đâu. Để ta đâm mù mắt trái của ngươi trước đã.

Hắn giơ trường kiếm lên toan đâm vào mắt trái của Khúc Phi Yên.

Bỗng nghe đằng sau có tiếng người quát:

– Dừng tay!

Phí Bân giật mình kinh hãi, vội vàng xoay người, huơ kiếm hộ thân. Hắn không biết Lệnh Hồ Xung và Nghi Lâm đã sớm nấp sau tảng đá không nhúc nhích, bằng không với trình độ công phu của hắn, nếu có ai đến gần thì chắc chắn đã có thể phát hiện. Dưới ánh trăng chỉ thấy một thanh niên trẻ tuổi đang đứng đó, hai tay chống nạnh.

Phí Bân quát hỏi:

– Ngươi là ai?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu điệt là Lệnh Hồ Xung phái Hoa Sơn tham kiến Phí sư thúc.

Chàng nói xong khom người hành lễ, thân hình loạng choạng đứng không vững. Phí Bân gật đầu nói:

– À! Thì ra đại đệ tử của Nhạc sư huynh. Ngươi ở đây làm gì?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu điệt bị đệ tử phái Thanh Thành đánh bị thương nên ở đây dưỡng thương, may mắn được bái kiến Phí sư thúc.

Phí Bân hừ một tiếng, nói:

– Ngươi tới đúng lúc lắm. Con ranh này là tà ma ngoại đạo trong Ma giáo, cần phải tiêu diệt. Nếu ta ra tay thì khó tránh bị nói là ỷ lớn hiếp nhỏ. Ngươi hãy giết nó đi.

Hắn nói xong chỉ tay vào Khúc Phi Yên.

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

– Gia gia cô bé này và Lưu sư thúc phái Hành Sơn kết giao với nhau, tính theo vai vế thì cô bé này thấp hơn tiểu điệt một bậc. Nếu tiểu điệt giết cô ấy thì giang hồ sẽ bảo phái Hoa Sơn ỷ lớn hiếp nhỏ, lỡ truyền rộng ra thì rất ảnh hưởng tới thanh danh. Vả lại, vị Khúc tiền bối này và Lưu sư thúc đều đã bị trọng thương, nếu làm nhục tiểu bối của họ ngay trước mặt họ thì rõ ràng không phải hành vi của anh hùng hảo hán. Những chuyện như thế phái Hoa Sơn của cháu quyết không làm. Xin Phí sư thúc lượng thứ.

Ý tứ trong lời nói rất rõ ràng. Chuyện phái Hoa Sơn không thèm làm mà phái Tung Sơn cứ làm, vậy hiển nhiên phái Tung Sơn không thể sánh bằng phái Hoa Sơn.

Hai hàng lông mày của Phí Bân dựng ngược, mắt lộ hung quang. Hắn gằn giọng:

– Thì ra ngươi và yêu nhân Ma giáo cũng đã ngầm cấu kết với nhau. Phải rồi, ban nãy Lưu Chính Phong có nói tên yêu nhân họ Khúc đã trị thương cho ngươi, cứu tính mạng ngươi. Không ngờ đường đường đại đệ tử phái Hoa Sơn mà lại ngã theo Ma giáo nhanh như vậy.

Trường kiếm trong tay hắn rung động, ánh sáng đầu mũi kiếm lấp loáng như sắp sửa đâm tới Lệnh Hồ Xung.

Lưu Chính Phong giục:

– Lệnh Hồ hiền điệt, chuyện này không liên quan gì tới cậu, cậu không cần dây vào vũng nước đục này. Đi mau lên để tránh sau này khiến cho sư phụ cháu phải khó xử.

Lệnh Hồ Xung cười ha hả nói:

– Lưu sư thúc, chúng ta tự cho mình là hiệp nghĩa chính đạo, thề không đội trời chung với tà ma ngoại đạo. Hai chữ “hiệp nghĩa” có ý nghĩa thế nào? Ức hiếp người đang bị trọng thương cũng được coi là hiệp nghĩa ư? Tàn sát đứa bé gái vô tội cũng được coi là hiệp nghĩa ư? Nếu những chuyện như thế mà cũng dám làm thì có khác gì tà ma ngoại đạo?

Khúc Dương thở dài:

– Những chuyện như thế, Nhật Nguyệt giáo bọn ta cũng không làm. Lệnh Hồ huynh đệ, cậu cứ đi đi, phái Tung Sơn thích làm mấy trò đó thì cứ để hắn làm là được.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Cháu cứ không đi đấy. Tung Dương cao thủ Phí Bân danh tiếng lừng lẫy trên giang hồ, là bậc anh hùng hảo hán nhất nhì trong phái Tung Sơn. Chẳng qua ông ấy chỉ hăm dọa cô bé mấy câu thôi, chứ sao có thể làm những chuyện muối mặt như vậy được. Phí sư thúc quyết không phải hạng người đó đâu.

Chàng nói xong khoanh hai tay trước ngực, dựa lưng vào gốc cây tùng.

Phí Bân bừng bừng sát khí, cười gằn nói:

– Ngươi tưởng dùng lời lẽ chặn họng ta thì có thể ép ta tha cho ba tên yêu nhân này ư? Ha ha, đúng là nằm mơ. Ngươi đã ngã theo Ma giáo, Phí mỗ này giết ba người cũng là giết, giết bốn người cũng là giết.

Dứt lời hắn tiến lên một bước.

Lệnh Hồ Xung thấy vẻ mặt hung ác của hắn thì không khỏi kinh hãi, nhưng chàng vẫn âm thầm tìm kế sách giải vây nên cố ra vẻ bình thản, nói:

– Phí sư thúc, người định giết cả tiểu điệt để bịt miệng phải không?

Phí Bân nói:

– Ngươi thông minh lắm, câu này không sai.

Hắn vừa nói vừa tiến lên trước thêm một bước.

Bỗng nhiên, từ sau tảng đá xuất hiện một nữ ni nhỏ tuổi. Cô nói:

– Phí sư thúc, bể khổ mênh mông, quay đầu là bờ. Bây giờ người chỉ mới nảy ý định làm chuyện xấu nhưng vẫn chưa ra tay làm chuyện xấu, hãy gò cương trước vực thẳm vẫn chưa muộn.

Người vừa nói chính là Nghi Lâm. Lệnh Hồ Xung dặn cô cứ nấp sau tảng đá, không được để ai nhìn thấy. Nhưng cô thấy Lệnh Hồ Xung đang lâm vào tình thế nguy cấp nên không kịp nghĩ nhiều, muốn dùng lời hay lẽ phải để khuyên Phí Bân dừng tay.

Phí Bân giật mình, hỏi:

– Ngươi thuộc phái Hằng Sơn đúng không? Sao lại lén lút nấp ở đây?

Mặt Nghi Lâm ửng hồng, cô ấp úng:

– Cháu… cháu…

Khúc Phi Yên bị điểm huyệt đạo, nằm dưới đất không thể nhúc nhích, nhưng vẫn nói chuyện được:

– Nghi Lâm tỷ tỷ, muội biết ngay chị đi chung với Lệnh Hồ đại ca mà. Quả nhiên chị đã trị khỏi vết thương cho huynh ấy, chỉ tiếc… chỉ tiếc chúng ta sắp chết hết rồi.

Nghi Lâm lắc đầu nói:

– Không đâu, Phí sư thúc là bậc anh hùng hào kiệt nổi danh trong võ lâm, sao có thể làm hại người đang bị trọng thương và một cô bé như cô chứ?

Khúc Phi Yên cười ha ha nói:

– Hắn có thật là đại anh hùng, đại hào kiệt không?

Nghi Lâm đáp:

– Phái Tung Sơn là minh chủ của Ngũ Nhạc kiếm phái, là thủ lĩnh của hiệp nghĩa chính đạo trên giang hồ, bất luận làm gì cũng phải cân nhắc đạo hiệp nghĩa.

Mấy câu này của cô xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhưng lọt vào tai Phí Bân lại hóa thành lời chế giễu mỉa mai. Hắn nghĩ: “Một là không làm, hai là làm tới cùng. Nếu hôm nay còn một tên sống sót thì từ đây Phí mỗ ắt bị ô danh. Tuy ta giết yêu nhân Ma giáo nhưng sát hại kẻ bị trọng thương không phải là hành vi của bậc anh hùng hào kiệt, tất sẽ bị người ta coi thường”. Hắn chĩa trường kiếm vào Nghi Lâm, nói:

– Ngươi không bị trọng thương, cũng không phải con nhóc không thể cử động, ta giết ngươi được chứ?

Nghi Lâm giật mình sợ hãi, lùi lại mấy bước, run run hỏi:

– Cháu… cháu… cháu ạ? Sao người lại muốn giết cháu?

Phí Bân nói:

– Ngươi cấu kết với yêu nhân Ma giáo, xưng hô tỷ muội, cũng cùng một giuộc với bọn yêu nhân, đương nhiên không thể dung tha được.

Hắn nói xong tiến lên một bước, giơ kiếm đâm thẳng vào Nghi Lâm.

Lệnh Hồ Xung vội lạng người cản trước mặt Nghi Lâm, la lên:

– Sư muội chạy mau, đi mời sư phụ muội tới cứu mạng.

Chàng tự biết nước xa khó cứu được lửa gần, chàng bảo Nghi Lâm đi gọi cứu binh chẳng qua để cô rời xa khỏi đây, đỡ phải uổng mạng.

Trường kiếm của Phí Bân lay động, mũi kiếm đâm về phía bên phải Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung vội nghiêng người né tránh. Phí Bân đánh ba kiếm liên hoàn véo véo, thế tấn công rất nguy hiểm. Nghi Lâm vội vàng rút thanh kiếm gãy bên hông ra đâm tới vai Phí Bân, la lên:

– Lệnh Hồ sư huynh, huynh đang bị thương, mau lùi lại đi.

Phí Bân cười ha hả nói:

– Tiểu ni cô động lòng phàm rồi, thấy thiếu niên anh tuấn thì không tiếc cả sinh mạng.

Hắn huơ kiếm chém tới, choang một tiếng, hai kiếm giao nhau, thanh kiếm gãy trong tay Nghi Lâm bị hất văng đi. Trường kiếm của Phí Bân phóng tới ngực cô. Phí Bân muốn giết cả năm người, tuy người nào cũng chẳng còn sức chống cự nhưng hắn sợ đêm dài lắm mộng, chỉ cần một người chạy thoát thì tai họa vô cùng, nên xuất thủ toàn là sát chiêu.

Lệnh Hồ Xung nhào người tới, hai ngón tay trái đâm vào mắt Phí Bân. Phí Bân vội khựng lại rồi nhảy lùi ra sau. Lúc rút trường kiếm về, hắn thừa thế lia một cái, vạch một đường dài lên cánh tay trái Lệnh Hồ Xung.

Lệnh Hồ Xung liều mình tấn công đã cứu nguy được cho Nghi Lâm, nhưng chàng không thở nổi nữa, thân hình lảo đảo muốn đổ nhào. Nghi Lâm lao tới trước đỡ lấy chàng, thổn thức nói:

– Để y giết hết chúng ta đi.

Lệnh Hồ Xung thở hổn hển, giục:

– Muội… muội chạy mau lên…

Khúc Phi Yên cười nói:

– Chàng ngốc ơi, đến nước này mà vẫn chưa hiểu tâm ý người ta hả? Chị ấy muốn chết chung một chỗ với huynh…

Câu nói chưa kịp dứt thì trường kiếm của Phí Bân đã phóng đến, đâm thẳng vào tim cô bé.

Khúc Dương, Lưu Chính Phong, Lệnh Hồ Xung, Nghi Lâm cùng hét lên kinh hoàng.

Phí Bân nở một nụ cười man rợ. Hắn chậm rãi tiến lên một bước về phía Lệnh Hồ Xung và Nghi Lâm, rồi lại thêm một bước nữa. Từng giọt máu tươi tí tách nhỏ xuống từ đầu mũi kiếm của hắn.

Lệnh Hồ Xung suy nghĩ loạn xạ: “Hắn… hắn giết cả một cô bé, thật quá độc ác! Mình cũng sắp chết rồi. Tại sao sư muội Nghi Lâm lại muốn chết chung với mình? Tuy mình đã cứu cô ấy nhưng cô ấy cũng đã cứu mình, xem như đã báo ân tình rồi. Trước đây mình và cô ấy chưa từng quen biết, chẳng qua chỉ là sư huynh muội trong Ngũ Nhạc kiếm phái, dù là đạo nghĩa trên giang hồ cũng đâu cần lấy tính mạng đền đáp. Không ngờ đệ tử môn hạ phái Hằng Sơn lại vẹn toàn nghĩa khí võ lâm đến vậy. Định Dật sư thái quả là một nhân vật hiếm có. Ôi, Nghi Lâm sư muội muốn chết chung với mình, tại sao không phải là tiểu sư muội Linh San của mình? muội ấy… muội ấy đang làm gì nhỉ?”. Nhìn thấy nụ cười hung tợn của Phí Bân đang tiến đến gần, Lệnh Hồ Xung mỉm cười, thở dài nhắm mắt lại.

Đột nhiên từ xa xa truyền lại mấy tiếng hồ cầm tỉ tê. Tiếng đàn thê lương tựa tiếng thở dài ai oán, lại như tiếng than khóc nghẹn ngào. Tiếp đó tiếng đàn run bần bật, phát ra những âm thanh ngắt quãng tựa hồ những hạt mưa nhỏ đang rơi xuống tàn lá. Lệnh Hồ Xung cực kỳ sửng sốt, mở mắt ra.

Phí Bân trong lòng chấn động: “Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh đến rồi”. Chỉ nghe giai điệu hồ cầm càng lúc càng não nuột, nhưng Mạc Đại tiên sinh thủy chung vẫn đứng sau gốc cây không lộ diện. Phí Bân gọi to:

– Mạc Đại tiên sinh, sao không hiện thân tương kiến?

Tiếng đàn chợt im bặt. Từ sau gốc cây tùng, một bóng người gầy gò bước ra. Lệnh Hồ Xung đã nghe danh “Tiêu Tương dạ vũ” Mạc Đại tiên sinh nhưng chưa từng thấy mặt. Lúc này dưới ánh trăng, chàng chỉ thấy lão gầy như que củi, hai vai nhô lên giống như người mắc bệnh lao nặng có thể ngã ra chết bất cứ lúc nào. Chàng không ngờ chưởng môn phái Hành Sơn lừng danh khắp giang hồ lại là một người có bộ dạng hèn mọn như vậy. Tay trái Mạc Đại tiên sinh kẹp cây hồ cầm, cung hai tay hướng về Phí Bân nói:

– Phí sư huynh, Tả minh chủ vẫn khỏe chứ?

Phí Bân thấy lão không có ác ý, lại biết lão và Lưu Chính Phong bất hòa, bèn nói:

– Đa tạ Mạc Đại tiên sinh, sư ca vẫn khỏe. Lưu Chính Phong của quý phái kết giao với yêu nhân Ma giáo, định gây bất lợi cho Ngũ Nhạc kiếm phái chúng ta. Mạc Đại tiên sinh, ngài thấy nên xử trí thế nào?

Mạc Đại tiên sinh chậm rãi tiến hai bước đến gần Lưu Chính Phong, thản nhiên nói:

– Nên giết!

Chữ “giết” vừa ra khỏi miệng thì hàn quang lóe lên, trong tay lão đã cầm một thanh trường kiếm mỏng dẹt, bất thình lình đâm ngược ra sau, nhắm thẳng vào ngực Phí Bân. Lần xuất chiêu này cực nhanh như mộng như ảo, chính là tuyệt chiêu trong “Bách biến thiên ảo Hành Sơn vân vụ thập tam thức”. Ở trong Lưu phủ, Phí Bân từng nếm qua môn võ công này của Lưu Chính Phong, bây giờ lại trúng kế lần thứ hai. Trong lúc hoảng hốt, hắn vội lùi gấp ra sau, chỉ nghe xoẹt một tiếng, ngực đã bị lưỡi kiếm sắc vạch một đường dài, áo bị rách toạc, dạ thịt cũng bị rạch vào. Tuy vết thương không nặng nhưng đủ khiến hắn kinh hồn táng đởm, nhuệ khí sụt giảm trầm trọng.

Phí Bân lập tức xoay kiếm đâm trả nhưng Mạc Đại tiên sinh đã chiếm được tiên cơ nên cứ liên tiếp đánh tới. Thanh kiếm mỏng dẹt như con linh xà chuyển động không ngừng, luồn lách giữa làn kiếm quang của Phí Bân mà đâm, ép Phí Bân phải liên tục thoái lui, đến nửa câu chửi cũng không thể phát ra nổi.

Khúc Dương, Lưu Chính Phong, Lệnh Hồ Xung thấy kiếm chiêu của Mạc Đại tiên sinh biến ảo tựa như ma quỷ đều không khỏi kinh tâm động phách. Lưu Chính Phong là đồng môn học nghệ cùng lão, là sư huynh đệ mấy mươi năm mà cũng không ngờ kiếm thuật của sư huynh lại tinh diệu đến thế.

Từng giọt máu tươi bắn ra từ giữa hai thanh trường kiếm. Phí Bân không ngớt di chuyển, cố sức chống đỡ nhưng trước sau vẫn không thoát khỏi làn kiếm quang bao vây của Mạc Đại tiên sinh. Máu tươi bắn tung tóe tạo một vòng tròn đỏ xung quanh hai người. Bỗng nghe Phí Bân thét lên thê thảm, nhảy vọt lên cao. Mạc Đại tiên sinh lùi về sau hai bước, nhét trường kiếm vào đáy hồ cầm rồi quay người bỏ đi. Khúc “Tiêu Tương dạ vũ” vọng lại từ sau cây tùng, cứ thế xa dần.

Phí Bân vọt lên rồi lập tức ngã xuống, máu từ vết thương trước ngực phun ra như suối. Suốt trận kịch chiến vừa rồi, hắn vận nội lực phái Tung Sơn, sau khi ngực bị trúng kiếm đâm thì nội lực vẫn chưa tan, ép máu tươi trong vết thương phun ra ngoài, trông vừa kỳ dị vừa đáng sợ.

Nghi Lâm đỡ cánh tay Lệnh Hồ Xung, tim cô vẫn đập thình thịch vì sợ hãi. Cô hỏi khẽ:

– Huynh không bị thương chứ?



Khúc Dương than:

– Lưu hiền đệ, đệ nói hai sư huynh đệ bất hòa, nào ngờ đúng lúc đệ gặp nguy thì ông ấy lại ra tay cứu giúp.

Lưu Chính Phong nói:

– Sư ca hành động cổ quái khiến người khác khó mà hiểu được. Hai sư huynh đệ bất đồng hoàn toàn không phải vì định kiến giàu nghèo, chẳng qua do tính nết không hợp nhau thôi.

Khúc Dương lắc đầu nói:

– Kiếm pháp của ông ấy cao siêu như vậy nhưng tiếng hồ cầm lại thê lương đau khổ khiến người nghe phải rơi lệ, không khỏi quá tục khí, chưa thoát được âm sắc nơi phố chợ.

Lưu Chính Phong nói:

– Đúng vậy, sư ca đánh đàn có đi mà không có về, khúc điệu bi ai cứ thế mà đi mãi. Thơ từ hay phải diễn đạt cái vui vẻ nhưng không dâm tục, buồn bã nhưng không bi lụy, khúc nhạc hay chẳng phải cũng nên thế sao? đệ vừa nghe tiếng hồ cầm của ông ấy thì chỉ muốn tránh xa.

Lệnh Hồ Xung nghĩ thầm: “Hai người này mê nhạc phát điên rồi, đang lúc sống chết mà còn bàn luận dăm ba cái buồn bã nhưng không bi lụy, phong nhã với chả tục khí. May mà Mạc Đại sư bá kịp thời đến cứu tính mạng chúng ta”.

Lại nghe Lưu Chính Phong nói:

– Nhưng nói về kiếm pháp võ công thì đệ chắc chắn không bì kịp. Bình thường đệ hay thất kính với sư ca, bây giờ nghĩ lại thật hết sức hổ thẹn.

Khúc Dương gật đầu nói:

– Chưởng môn Hành Sơn quả nhiên danh bất hư truyền.

Nói xong y quay đầu nhìn Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiểu huynh đệ, cậu xả thân cứu cháu gái ta, phong độ hiệp nghĩa quả thật hiếm có. Ta có một chuyện muốn thỉnh cầu, không biết cậu có thể đồng ý không?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tiếc rằng Khúc cô nương vẫn bị Phí Bân sát hại. Tiền bối có gì sai bảo, đương nhiên cháu sẽ nghe theo.

Khúc Dương liếc nhìn Lưu Chính Phong rồi nói:

– Ta và Lưu hiền đệ say mê âm luật, bỏ công sức mấy chục năm sáng tác ra khúc “Tiếu ngạo giang hồ”, tự tin rằng đây là khúc nhạc kỳ diệu cổ kim chưa từng có. Mai này trên thế gian này, dẫu có Khúc Dương cũng chưa chắc có Lưu Chính Phong, có Lưu Chính Phong cũng chưa chắc có Khúc Dương. Cho dù có cả Khúc Dương lẫn Lưu Chính Phong, nhưng chưa chắc hai người họ đã sinh cùng thời, gặp gỡ kết giao với nhau. Muốn tìm được hai người vừa tinh thông âm luật, vừa tinh thông nội công, sở thích hợp nhau, học vấn tương đương để cùng sáng tác nên khúc nhạc này thì thật muôn trùng khó khăn. Nếu khúc nhạc này thất truyền thì ta và Lưu hiền đệ không khỏi ngậm ngùi nơi chín suối.

Y nói đến đây, lấy từ trong túi áo ra một cuốn sách rồi nói:

– Đây là cầm phổ tiêu phổ của “Tiếu ngạo giang hồ”, xin tiểu huynh đệ hãy niệm tình tâm huyết cả đời của hai ta mà đem cầm phổ tiêu phổ này đi khắp thế gian kiếm tìm truyền nhân.

Lưu Chính Phong nói:

– Nếu khúc “Tiếu ngạo giang hồ” này có thể lưu truyền thế gian thì ta và Khúc đại ca mới yên lòng nhắm mắt.

Lệnh Hồ Xung khom người nhận lấy khúc phổ từ tay Khúc Dương, cất vào túi áo mình rồi nói:

– Hai vị hãy an tâm, vãn bối xin tận lực.

Trước đó nghe Khúc Dương nói có chuyện khẩn cầu, chàng còn tưởng là chuyện gì hết sức khó khăn nguy hiểm, càng lo lắng lỡ như chuyện đó vi phạm môn quy, đắc tội với đồng đạo chính phái, nhưng tình thế lúc ấy chàng không tiện từ chối. Nào ngờ yêu cầu chỉ là muốn chàng tìm hai người học đàn học tiêu. Chàng lập tức yên tâm, nhẹ thở phào một cái.

Lưu Chính Phong nói:

– Lệnh Hồ hiền điệt, khúc nhạc này không những là tâm huyết gửi gắm cả đời của hai chúng ta, mà còn liên quan đến một cổ nhân. Một đoạn dài phần viết cho đàn trong “Tiếu ngạo giang hồ” là do Khúc đại ca cải biên dựa vào khúc “Quảng Lăng tán” của Kê Khang đời Tấn.

Khúc Dương rất đắc ý về chuyện này, mỉm cười nói:

– Tương truyền rằng, sau khi Kê Khang chết, “Quảng Lăng tán” không còn nữa. Cậu có đoán được ta tìm ra nó ở đâu không?

Lệnh Hồ Xung nghĩ thầm: “Đạo lý âm luật mình chẳng hiểu chút nào cả, huống hồ hai người này hành sự khác thường, mình làm sao đoán nổi”. Chàng bèn nói:

– Xin tiền bối chỉ giáo.

Khúc Dương cười nói:

– Kê Khang là một người rất thú vị. Sách sử khen y “Văn từ trang nghiêm, thích luận Lão, Trang, chuộng điều hiệp nghĩa”. Tính cách này rất hợp khẩu vị của ta. Khi ấy Chung Hội đang làm quan lớn, mộ danh nên đến gặp. Kê Khang cứ mải rèn sắt, không để ý tới. Chung Hội bị bẽ mặt, đành phải bỏ đi. Kê Khang hỏi y: “Nghe cái gì mà đến, thấy cái gì mà đi?”. Chung Hội đáp: “Nghe cái đã nghe mà đến, thấy cái đã thấy mà đi”. Tên Chung Hội đó cũng được coi là kẻ sĩ thông minh tài trí, tiếc rằng lòng dạ quá hẹp hòi. Hắn vì chuyện này mà nảy sinh căm hận, sàm tấu Kê Khang với Tư Mã Chiêu. Tư Mã Chiêu bèn xử tử Kê Khang. Lúc Kê Khang sắp bị hành hình đã gảy một bản đàn tràn đầy khí phách, nhưng lại nói: “Quảng Lăng tán thất truyền từ đây”. Câu này không khỏi quá xem thường hậu thế. Vốn dĩ khúc nhạc đó không phải do y sáng tác. Y là người thời Tây Tấn, khúc nhạc này sau đời Tây Tấn thì thất truyền, nhưng chẳng lẽ trước thời Tây Tấn cũng không có?

Lệnh Hồ Xung không hiểu bèn hỏi:

– Trước đời Tây Tấn ư?

Khúc Dương nói:

– Phải. Ta không phục câu nói đó của Kê Khang, bèn đi quật mộ các hoàng đế và đại thần hai triều Tây Hán, Đông Hán, liên tục quật hai mươi chín ngôi mộ cổ. Cuối cùng trong mộ của Thái Ung đã tìm thấy khúc phổ “Quảng Lăng tán”.

Y nói xong cười ha hả, vô cùng đắc ý.

Lệnh Hồ Xung cảm thấy kinh hãi: “Vị tiền bối này chỉ vì một khúc đàn mà dám to gan đi quật hai mươi chín ngôi mộ cổ”.

Chỉ nghe Khúc Dương nói tiếp:

– Tiểu huynh đệ, cậu là đại đệ tử trong danh môn chính phái, ta vốn không muốn phó thác chuyện này cho cậu. Nhưng bây giờ tình thế nguy cấp, bất đắc dĩ phải làm phiền cậu, mong cậu đừng trách. Khúc “Quảng Lăng tán” kể câu chuyện Nhiếp Chính đâm Hàn vương. Toàn bộ khúc nhạc rất dài, còn khúc “Tiếu ngạo giang hồ” của bọn ta chỉ trích một đoạn tinh diệu nhất trong đó. Phần thổi tiêu do Lưu huynh đệ thêm vào chính là tình cảnh chị của Nhiếp Chính chôn cất em mình. Những nhân vật như Nhiếp Chính, Kinh Kha khảng khái trượng nghĩa, là bậc tiền bối của chúng ta. Ta trao lại khúc nhạc này cho cậu cũng vì xem trọng lòng hiệp nghĩa của cậu.

Lệnh Hồ Xung cúi người đáp:

– Cháu không dám!

Khúc Dương tắt nụ cười, thần sắc ảm đạm, quay lại nói với Lưu Chính Phong:

– Người huynh đệ, chúng ta có thể đi rồi.

Lưu Chính Phong đáp:

– Phải!

Ông đưa tay ra, cả hai nắm chặt lấy tay nhau. Họ cùng cất lên một tràng cười dài, vận nội lực làm đứt đoạn toàn bộ mạch chủ nội tức. Hai người đã nhắm mắt đi về thế giới bên kia.

Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, la lớn:

– Tiền bối, Lưu sư thúc!

Chàng sờ tay lên mũi hai người thì thấy không còn hơi thở nữa.

Nghi Lâm sợ hãi lắp bắp:

– Họ… họ chết rồi ư?

Lệnh Hồ Xung gật đầu, nói:

– Sư muội, chúng ta mau chôn bốn thi thể này đi, tránh bị người ta tìm lại sinh thêm chuyện. Chuyện Phí Bân bị Mạc Đại tiên sinh giết tuyệt đối không được tiết lộ ra ngoài.

Lệnh Hồ Xung nói đến đây, hạ nhỏ giọng:

– Nếu chuyện này bị tiết lộ, Mạc Đại tiên sinh đương nhiên sẽ biết do hai chúng ta nói ra thì tai họa không nhỏ đâu.

Nghi Lâm đáp:

– Vâng. Nếu sư phụ hỏi, muội có nên nói không?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Ai hỏi cũng không được nói. Nếu muội nói ra, lỡ Mạc Đại tiên sinh đến đấu kiếm với sư phụ muội thì chẳng hỏng bét sao?

Nghi Lâm nghĩ đến kiếm pháp của Mạc Đại tiên sinh mà cô vừa chứng kiến ban nãy thì không nén nổi rùng mình, vội nói:

– Muội không nói đâu.

Lệnh Hồ Xung từ từ cúi xuống nhặt trường kiếm của Phí Bân, liên tiếp đâm mười bảy mười tám nhát lên thi thể hắn. Nghi Lâm cảm thấy bất nhẫn, bèn nói:

– Lệnh Hồ sư huynh, người đã chết rồi, hà tất còn ghi hận mà giày xéo thi thể y như vậy?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Lưỡi kiếm của Mạc Đại tiên sinh vừa dẹt vừa mỏng, người có hiểu biết nhìn thấy vết thương của Phí sư thúc sẽ biết ngay ai đã hạ thủ. Ta không phải giày xéo thi thể y mà chỉ muốn chém loạn xạ lên các vết thương trên người y để người khác không thể tìm ra manh mối nữa.

Nghi Lâm thở dài nghĩ: “Giang hồ có nhiều chuyện xảo trá quá, thật… thật là khó khăn”. Cô thấy Lệnh Hồ Xung quăng trường kiếm xuống, nhặt một hòn đá ném lên thi thể Phí Bân, liền nói:

– Huynh đừng cử động, ngồi xuống nghỉ ngơi đi.

Cô nhặt từng hòn đá đặt nhè nhẹ lên xác Phí Bân như thể tử thi vẫn còn tri giác, sợ làm hắn bị đau.

Nghi Lâm nhặt đá lần lượt lấp hết bốn thi thể của bọn Lưu Chính Phong, sau đó hướng về phần mộ của Khúc Phi Yên khấn rằng:

– Tiểu muội tử, nếu không phải vì tôi thì cô đâu đến nỗi gặp nguy nan. Mong cô được lên trời hưởng phúc, kiếp sau đầu thai làm phận trai, tích nhiều công đức, cuối cùng có thể đến được cõi Tây phương cực lạc. Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát…

Lệnh Hồ Xung ngồi dựa tảng đá, nhớ đến ơn cứu mạng của Khúc Phi Yên, nghĩ cô bé tuổi còn nhỏ mà sớm gặp bất hạnh, lòng rất thương cảm. Chàng vốn không tin thần Phật, nhưng bất giác cũng niệm vài câu “Nam mô A Di Đà Phật” theo Nghi Lâm.

Nghỉ ngơi một lúc, vết thương của Lệnh Hồ Xung đã bớt đau. Chàng lấy khúc phổ “Tiếu ngạo giang hồ” trong túi mở ra xem, chỉ thấy toàn là những ký hiệu cổ quái, hoàn toàn không đọc được chữ nào. Kiến thức văn tự của chàng vốn có hạn, không biết rằng cầm phổ thất huyền cầm vốn là ký tự hình thù kỳ quái, còn tưởng đó là những chữ cổ cao siêu mà mình chưa từng nhìn thấy. Chàng tiện tay cất cuốn phổ vào túi áo, ngẩng đầu thở dài nghĩ: “Lưu sư thúc kết giao bằng hữu, tính mạng toàn bộ người thân đều hi sinh vì bằng hữu. Tuy ông ấy kết giao với trưởng lão trong Ma giáo nhưng cả hai đều can đảm nghĩa khí, không hổ là hảo hán hiên ngang oanh liệt, thật khiến người ta khâm phục. Hôm nay Lưu sư thúc rửa tay chậu vàng muốn rút khỏi võ lâm, không biết tại sao lại kết oán với phái Tung Sơn, thật là kỳ lạ”.

Đang nghĩ đến đây, bỗng thấy ở góc tây bắc lấp loáng ánh xanh binh khí, đường kiếm ngang dọc trông rất quen thuộc, có vẻ như cao thủ của bản môn đang đấu kiếm với người khác. Chàng thấy lo lắng, nói:

– Tiểu sư muội, muội ở đây đợi ta một lát, ta đi rồi về ngay.

Nghi Lâm đang đắp mộ đá nên không thấy được ánh xanh kia, cô tưởng chàng muốn đi ngoài bèn gật đầu.

Lệnh Hồ Xung chống cành cây đi được mười mấy bước, nhặt lấy trường kiếm của Phí Bân đeo vào hông rồi tiến về hướng phát ra ánh xanh. Đi một lúc, đã nghe được loáng thoáng tiếng binh khí va chạm kịch liệt. Âm thanh dày đặc như pháo liên châu, hiển nhiên cuộc đấu rất dữ dội. Chàng tự hỏi: “Lẽ nào sư phụ đang động thủ với người ta? Đấu lâu như vậy, rõ ràng đối phương cũng là cao thủ”.

Chàng rùn người thấp xuống, từ từ di chuyển đến gần. Khi nghe tiếng binh khí giao đấu không còn xa, chàng nấp vào sau một gốc đại thụ rồi nhìn ra. Dưới ánh trăng chỉ thấy một nho sinh tay cầm trường kiếm đứng yên một chỗ, chính là sư phụ Nhạc Bất Quần. Một đạo nhân thấp bé chạy vòng quanh Nhạc Bất Quần vô cùng mau lẹ, trường kiếm trong tay lão đâm rất nhanh, mỗi vòng chạy đâm hơn mười kiếm. Đó chính là chưởng môn Dư Thương Hải phái Thanh Thành.

Lệnh Hồ Xung bất ngờ thấy sư phụ động thủ với người ta, đối phương lại là chưởng môn phái Thanh Thành, tự nhiên cảm thấy rất hưng phấn. Chàng thấy sư phụ vẫn giữ khí độ nhàn nhã, mỗi kiếm của Dư Thương Hải đâm tới ông chỉ tiện tay gạt ra. Dư Thương Hải di chuyển đến phía sau, ông cũng không xoay người mà chỉ huơ kiếm bảo vệ sau lưng. Dư Thương Hải phóng kiếm càng lúc càng nhanh, Nhạc Bất Quần vẫn chỉ thủ không công. Lệnh Hồ Xung rất khâm phục, thầm nghĩ: “Sư phụ được người trong võ lâm tôn xưng là “Quân tử kiếm”, quả nhiên ung dung nho nhã, dù động thủ so chiêu với người cũng không có chút bá đạo nào”. Chàng xem một hồi lại nghĩ: “Sở dĩ sư phụ không nổi nóng, ngoài việc phong độ thanh cao thì còn bởi võ công cực kỳ cao cường”.

Nhạc Bất Quần rất ít khi động thủ với người ta. Bình thường Lệnh Hồ Xung chỉ thấy ông xuất thủ để so chiêu với sư mẫu hoặc biểu diễn cho đệ tử trong môn phái, đó chẳng qua là đánh giả. Phen này là cuộc đấu thật sự, đương nhiên vô cùng khác biệt. Chàng lại thấy mỗi nhát kiếm của Dư Thương Hải đều phát ra tiếng rít vun vút, đủ biết lực kiếm cực mạnh. Lệnh Hồ Xung trong lòng hoảng sợ: “Mình trước nay vẫn coi thường phái Thanh Thành, nào ngờ đạo sĩ lùn này lại lợi hại như vậy. Dù mình không bị thương cũng quyết không phải đối thủ của lão. Lần sau lỡ chạm trán cần phải hết sức cẩn thận, hoặc tránh xa ra thì tốt hơn”.

Xem thêm một lúc, chàng thấy Dư Thương Hải càng di chuyển càng mau lẹ, tựa hồ hóa thành một cái vòng màu xanh chuyển động quanh Nhạc Bất Quần. Hai kiếm giao nhau rất nhanh, tiếng trước tiếng sau nối thành một chuỗi, không phát ra âm thanh leng keng loảng xoảng mà kéo dài liên miên bất tận. Lệnh Hồ Xung nghĩ: “Nếu mấy chục chiêu kiếm kia đều nhắm vào mình thì e rằng một chiêu mình cũng không đỡ nổi, khắp người sẽ bị lão đâm cho mấy chục vết. Đạo sĩ lùn này so với Điền Bá Quang dường như còn cao hơn nửa bậc”. Chàng thấy sư phụ vẫn không chuyển sang thế công, bất giác lo lắng: “Kiếm pháp của đạo sĩ lùn này thật lợi hại, sư phụ chỉ sơ xuất một chút thì sẽ bại dưới kiếm của lão ngay”. Bỗng nghe một tiếng choang rất nhanh, Dư Thương Hải như mũi tên bay vọt về sau hơn một trượng rồi lập tức đứng vững. Không rõ trường kiếm đã tra vào vỏ từ lúc nào. Lệnh Hồ Xung giật mình nhìn qua sư phụ, thấy trường kiếm của ông cũng đã tra vào vỏ, đứng yên chỗ cũ không một tiếng động. Sự việc này diễn ra quá nhanh. Lệnh Hồ Xung không nhìn ra ai thắng ai bại, cũng không biết có người nào bị nội thương hay không.

Hai bên đứng yên một hồi lâu, rồi Dư Thương Hải hừ một tiếng lạnh lùng, nói:

– Được, sau này gặp lại!

Thân hình lão vọt lên, chạy về mé bên phải. Nhạc Bất Quần lớn tiếng nói:

– Dư quán chủ gượm đã! Vợ chồng Lâm Chấn Nam thế nào rồi?

Dứt lời thân hình vọt đuổi theo. Dư âm chưa dứt mà bóng của hai người đã mất hút.

Dựa vào lời nói của hai người, Lệnh Hồ Xung biết sư phụ đã thắng Dư Thương Hải nên lòng thầm vui mừng. Sau khi chàng bị trọng thương lại đứng lâu nên rất mệt mỏi, nghĩ bụng: “Sư phụ đuổi theo Dư Thương Hải rồi. Cả hai triển khai khinh công, trong nháy mắt chắc đã chạy hơn mấy dặm!”. Lệnh Hồ Xung chống cành cây định quay về chỗ Nghi Lâm, đột nhiên nghe thấy trong khu rừng mé trái vang lên một tiếng thét thảm thiết, thanh âm rất thê lương. Lệnh Hồ Xung giật mình, đi vài bước về hướng khu rừng. Qua các kẽ lá chàng thấp thoáng trông thấy một bức tường vàng, hình như là một ngôi miếu. Chàng lo bọn sư đệ muội đồng môn tranh đấu với đệ tử phái Thanh Thành bị thương, liền bước nhanh về phía bức tường vàng.

Đến cách miếu khoảng vài trượng, chàng nghe trong miếu có một giọng nói chát chúa già nua:

– Tịch tà kiếm phổ đang ở đâu? Chỉ cần ngươi ngoan ngoãn cho ta biết, ta tận diệt toàn bộ phái Thanh Thành báo thù cho vợ chồng ngươi.

Lúc Lệnh Hồ Xung nằm trên giường ở Quần Ngọc viện đã từng nghe giọng người này qua cửa sổ. Chàng biết kẻ đang nói là Tái bắc minh đà Mộc Cao Phong, thầm nghĩ: “Sư phụ đang đi tìm vợ chồng Lâm Chấn Nam, hóa ra hai người họ đã rơi vào tay Mộc Cao Phong”.

Lại nghe tiếng một người đàn ông nói:

– Ta không biết Tịch tà kiếm phổ gì cả. Tịch tà kiếm pháp nhà họ Lâm ta qua mấy đời đều là truyền miệng chứ không có kiếm phổ.

Lệnh Hồ Xung nghĩ: “Người nói câu này hẳn là phụ thân của Lâm sư đệ, tổng tiêu đầu Lâm Chấn Nam của tiêu cục Phước Oai”.

Lại nghe Lâm Chấn Nam nói:

– Tiền bối chịu báo thù cho tại hạ, thật cảm kích vô cùng. Dư Thương Hải phái Thanh Thành làm nhiều chuyện bất nghĩa, ngày sau tất gặp báo ứng. Dù hắn không bị tiền bối giết thì cũng sẽ chết dưới đao kiếm của một vị anh hùng hảo hán khác.

Mộc Cao Phong nói:

– Vậy là ngươi không chịu nói hả? Cái danh “Tái Bắc minh đà” chắc ngươi đã từng nghe qua.

Lâm Chấn Nam nói:

– Mộc tiền bối uy trấn giang hồ, không ai không biết, không ai không rõ.

Mộc Cao Phong nói:

– Hay lắm, hay lắm! Uy trấn giang hồ thì chưa chắc, nhưng họ Mộc ta hạ thủ tàn độc, trước nay không hề nhân từ, hẳn ngươi cũng từng nghe qua.

Lâm Chấn Nam nói:

– Mộc tiền bối muốn dùng sức mạnh bức ép Lâm mỗ, chuyện này ta đã dự liệu rồi. Đừng nói nhà họ Lâm ta không có Tịch tà kiếm phổ, kể cả có thật thì bất luận người khác uy hiếp dụ dỗ thế nào, ta cũng quyết không nói. Từ khi Lâm mỗ bị phái Thanh Thành bắt giữ, không ngày nào mà không phải chịu cực hình. Võ công của Lâm mỗ tuy thấp kém nhưng xương cốt còn cứng lắm.

Mộc Cao Phong nói:

– Phải, phải rồi!

Lệnh Hồ Xung đứng ngoài miếu nghe vậy, tự hỏi: “Cái gì mà “Phải, phải rồi! À, phải rồi, thì ra là vậy”.

Quả nhiên nghe Mộc Cao Phong nói tiếp:

– Ngươi khoe khoang xương cốt cứng rắn chịu được cực hình, bất luận lão mũi trâu lùn phái Thanh Thành bức ép thế nào vẫn kiên quyết không nói. Nếu nhà họ Lâm ngươi thật sự không có Tịch tà kiếm phổ thì khi việc ngươi không nói chẳng qua là bởi không thể nói, đâu cần nhắc chuyện xương cốt cứng hay không. Phải rồi, Tịch tà kiếm phổ của ngươi là có thật, nhưng nói sao cũng không chịu giao ra.

Qua hồi lâu, hắn thở dài nói:

– Ta thấy thật ra ngươi rất ngu xuẩn. Lâm tổng tiêu đầu, tại sao ngươi thà chết không chịu giao kiếm phổ? Chính ra kiếm phổ này có ích lợi gì cho ngươi đâu. Theo ta thấy, khả năng cao kiếm pháp ghi trên kiếm phổ này rất tầm thường, nếu không thì tại sao ngươi còn không đấu lại nổi mấy tên đệ tử phái Thanh Thành? Võ công cỡ đó không nhắc cũng được.

Lâm Chấn Nam nói:

– Đúng thế, Mộc tiền bối nói không sai. Đừng nói ta không có Tịch tà kiếm phổ, kể cả có thật thì bộ kiếm pháp mèo què này cũng tầm thường thôi. Ngay tính mạng người thân của mình còn không bảo vệ được, Mộc tiền bối cần gì để mắt tới nó?

Mộc Cao Phong cười nói:

– Ta chỉ hiếu kỳ thôi. Lão mũi trâu lùn huy động nhiều người khổ sở bức ép ngươi như vậy, trong đó tất có điều cổ quái. Nói không chừng kiếm pháp ghi trong kiếm phổ rất cao thâm, chẳng qua tư chất của ngươi ngu muội nên không lĩnh ngộ được, làm ô nhục thanh danh tổ tiên nhà họ Lâm. Ngươi mau lấy ra cho lão nhân gia ta xem một chút, ta sẽ chỉ ra những chỗ kỳ diệu của Tịch tà kiếm pháp nhà họ Lâm để tất cả anh hùng thiên hạ đều biết, há chẳng phải rất có ích cho thanh danh nhà họ Lâm ư?

Lâm Chấn Nam nói:

– Ý tốt của Mộc tiền bối, tại hạ xin nhận. Ngươi cứ việc lục soát khắp người ta xem có Tịch tà kiếm phổ hay không?

Mộc Cao Phong nói:

– Không cần làm thế. Ngươi bị phái Thanh Thành giam cầm đã nhiều ngày, e rằng chúng đã lục soát trên người của ngươi không mười lần thì cũng tám lần. Lâm tổng tiêu đầu, ta cảm thấy ngươi cực kỳ ngu xuẩn, ngươi có biết không?

Lâm Chấn Nam nói:

– Tại hạ quả thật cực kỳ ngu xuẩn. Không cần phiền tiền bối chỉ điểm, tại hạ đã biết rõ từ lâu.

Mộc Cao Phong nói:

– Sai, ngươi chưa biết rõ đâu. Hoặc không chừng Lâm phu nhân có thể biết rõ đấy. Tấm lòng thương con của từ mẫu thường lớn hơn nghiêm phụ mà.

Lâm phu nhân hét lên:

– Ông nói gì? Chuyện đó liên quan gì tới Bình nhi của tôi? Bình nhi thế nào rồi? Nó… nó đang ở đâu?

Mộc Cao Phong nói:

– Tiểu tử Lâm Bình Chi thông minh lanh lợi, lão phu vừa gặp đã yêu mến. Đứa nhỏ này cũng là kẻ thức thời, biết công phu của lão phu lợi hại nên đã bái ta làm thầy.

Lâm Chấn Nam nói:

– Thì ra con trai ta đã bái Mộc tiền bối làm thầy, thật may mắn cho nó. Vợ chồng ta chịu nhiều cực hình, thân bị trọng thương, tính mạng chỉ còn trong khoảnh khắc. Mong Mộc tiền bối cho gọi con ta đến đây để vợ chồng ta được gặp lần cuối.

Mộc Cao Phong nói:

– Ngươi muốn con trai đến đưa tiễn cũng là chuyện thường tình của con người, việc ấy không khó.

Lâm phu nhân nói:

– Bình nhi ở đâu? Mộc tiền bối, cầu xin ông hãy mau gọi con ta đến đây, đại ân đại đức này vĩnh viễn không dám quên.

Mộc Cao Phong nói:

– Được, ta sẽ đi kêu nó. Có điều xưa nay Mộc Cao Phong không chịu để bất kỳ ai sai khiến, ta đi gọi con của ngươi đến dễ như trở bàn tay, nhưng trước hết các ngươi hãy ngoan ngoãn nói cho ta biết chỗ cất giấu Tịch tà kiếm phổ.

Lâm Chấn Nam thở dài nói:

– Mộc tiền bối vẫn không tin thì ta cũng hết cách. Tính mạng vợ chồng ta như chỉ mành treo chuông, muốn gặp mặt con lần cuối chắc khó đạt được ý nguyện. Nếu quả thật có Tịch tà kiếm phổ, cho dù ngươi không hỏi thì ta cũng sẽ cầu xin tiền bối chuyển lời cho con trai ta.

Mộc Cao Phong nói:

– Đúng vậy. Ta nói ngươi ngu xuẩn chính là ở điểm này. Tâm mạch của ngươi đã đứt hết, ta không cần đụng một đầu ngón tay út lên thân thể ngươi thì ngươi cũng không sống thêm nổi một giờ ba khắc nữa. Ngươi thà chết không chịu nói chỗ cất giấu kiếm phổ, đó là vì sao? Tất nhiên là vì muốn bảo toàn công phu tổ truyền nhà họ Lâm. Nhưng sau khi ngươi chết, họ Lâm chỉ còn lại một đứa con là Lâm Bình Chi. Nếu nó cũng chết thì dù có kiếm phổ trên đời này thì cũng không còn con cháu họ Lâm để luyện kiếm. Kiếm phổ tồn tại trên thế gian còn giá trị gì cho nhà họ Lâm ngươi nữa?

Lâm phu nhân sợ hãi nói:

– Con của tôi… con của tôi bình an chứ?

Mộc Cao Phong nói:

– Hiện giờ tất nhiên là bình an vô sự. Các ngươi hãy nói chỗ cất giấu kiếm phổ, sau khi ta lấy được, ta bảo đảm sẽ giao lại cho con trai các ngươi. Nếu nó không hiểu rõ, ta có thể ở bên cạnh chỉ điểm, tránh giống như Lâm tổng tiêu đầu nghiên cứu Tịch tà kiếm pháp cả đời mà đến lúc già vẫn mù mờ chưa hiểu thông suốt. Thế chẳng hay hơn một chưởng đánh chết con trai ngươi ư?

Tiếp theo nghe rầm một tiếng, hiển nhiên hắn đã vung chưởng đánh đổ một vật lớn gì đó ở trong miếu.

Lâm phu nhân kinh hãi hỏi:

– Sao… sao ông lại muốn một chưởng đánh chết con trai tôi?

Mộc Cao Phong cười ha hả nói:

– Lâm Bình Chi là đồ nhi của ta, ta muốn nó sống thì sống, muốn nó chết thì chết. Lúc nào ta thích một chưởng đánh chết nó thì sẽ vung chưởng lên.

Lại nghe mấy tiếng loảng xoảng, hắn lại dùng chưởng lực đánh đổ vật gì đó.

Lâm Chấn Nam nói:

– Nương tử, không cần nói nhiều. Con chúng ta không ở trong tay hắn đâu. Bằng không tại sao hắn không đưa con nó đến trước mặt chúng ta để uy hiếp?

Mộc Cao Phong ha hả nói:

– Ta bảo ngươi ngu, quả nhiên ngươi ngu hết chỗ nói. Tái bắc minh đà muốn giết con ngươi phỏng có khó gì. Cho dù hiện giờ nó không ở trong tay ta, nhưng nếu ta quyết chí tìm giết thì lẽ nào không làm được?

Lâm phu nhân nói nhỏ:

– Tướng công, nhỡ hắn muốn tìm con mình trút giận thật…

Mộc Cao Phong nói tiếp:

– Đúng vậy, các ngươi mau nói đi, nếu tính mạng hai vợ chồng khó bảo đảm thì vẫn còn thằng nhỏ Lâm Bình Chi giữ mạch hương khói, chẳng tốt hơn à?

Lâm Chấn Nam cười ha hả, nói:

– Phu nhân, nếu chúng ta nói chỗ cất giấu Tịch tà kiếm phổ cho hắn thì việc đầu tiên lão gù này làm là đi lấy kiếm phổ, việc thứ hai chính là giết chết con chúng ta. Nếu chúng ta không nói thì lão gù này muốn có kiếm phổ ắt phải bảo vệ chu toàn tính mạng của Bình nhi. Ngày nào Bình nhi chưa nói thì ngày đó hắn không dám làm hại nó. Điều mấu chốt ấy không thể không biết.

Lâm phu nhân nói:

– Đúng! Lão gù kia, mau giết vợ chồng ta đi!

Lệnh Hồ Xung nghe tới đây, nghĩ rằng Mộc Cao Phong hẳn rất tức giận, nếu không tìm cách dẫn dụ hắn đi thì khó bảo toàn tính mạng vợ chồng Lâm Chấn Nam. Chàng gọi to:

– Mộc tiền bối, đệ tử Lệnh Hồ Xung phái Hoa Sơn phụng mệnh sư phụ mời Mộc tiền bối dời gót ra đây có chuyện cần bàn.

Mộc Cao Phong đang bừng bừng lửa giận, vung chưởng lên định đánh vào đầu Lâm Chấn Nam. Đột nhiên nghe tiếng Lệnh Hồ Xung nói ngoài miếu, hắn không kiềm được kinh sợ. Bình sinh hắn rất ít nhún nhường với ai, nhưng đối với chưởng môn Nhạc Bất Quần phái Hoa Sơn thì lại khá kiêng dè, nhất là khi đã nếm qua “Tử hà thần công” lợi hại của Nhạc Bất Quần tại Quần Ngọc viện. Hắn uy hiếp vợ chồng Lâm Chấn Nam, đó là hành động bị danh môn chính phái khinh thường. Sư đồ Nhạc Bất Quần quá nửa đã đứng ngoài miếu nghe hết nãy giờ. Hắn nghĩ: “Nhạc Bất Quần kêu ta ra bàn cái gì? Chắc lại ra vẻ dùng lời hay ý đẹp khuyên bảo, thực tế là mỉa mai châm chích để sỉ nhục ta. Hảo hán không chịu thiệt trước mắt, tốt nhất nên chuồn ngay”. Hắn liền nói:

– Mộc mỗ đang bận việc quan trọng, không thể nhận lời. Hãy bẩm báo với tôn sư, lúc nào rảnh rỗi mời đến Tái Bắc chơi, Mộc mỗ sẽ dọn dẹp sạch sẽ chờ đón tiếp.

Nói xong hai chân nhún một cái nhảy từ trong miếu ra ngoài sân, chân trái điểm nhẹ xuống đất bật lên trên nóc rồi nhảy ra phía sau miếu. Hắn sợ bị Nhạc Bất Quần cản lại chất vấn nên vọt đi như một làn khói.

Lệnh Hồ Xung nghe tiếng biết hắn đã đi xa, lòng vui mừng nghĩ thầm: “Thì ra lão gù này sợ sư phụ ta gần chết. Nếu hắn không chịu đi mà kiếm chuyện với mình thì thật nguy hiểm vô cùng”. Lệnh Hồ Xung chống cành cây đi vào miếu thổ địa. Trong điện tối đen không một ánh đèn, nhưng chàng vẫn thấy hai bóng người một nam một nữ nửa nằm nửa ngồi tựa lưng cùng một chỗ. Chàng khom lưng nói:

– Tiểu điệt là Lệnh Hồ Xung, môn hạ phái Hoa Sơn, hiện là đồng môn với Bình Chi sư đệ, xin ra mắt Lâm bá phụ và Lâm bá mẫu.

Lâm Chấn Nam vui mừng nói:

– Thiếu hiệp chớ đa lễ, thật không dám nhận. Vợ chồng ta đang bị trọng thương, khó lòng đáp lễ, xin thứ lỗi. Có thật con trai ta đã làm môn hạ của Nhạc đại hiệp phái Hoa Sơn không?

Ông nói đến câu cuối thì giọng đã run lên. Danh tiếng của Nhạc Bất Quần trong võ lâm cao hơn Dư Thương Hải gấp bội. Lâm Chấn Nam vì muốn kết thân với Dư Thương Hải nên hàng năm đều phái người tặng lễ vật, nhưng đối với các chưởng môn Ngũ Nhạc kiếm phái như Nhạc Bất Quần thì ông tự biết mình không xứng kết giao, ngay lễ vật cũng không dám đưa tặng. Lại thấy Mộc Cao Phong như hung thần ác sát mà vừa nghe đến phái Hoa Sơn đã vội bỏ trốn mất dạng. Con trai ông may mắn được làm môn hạ phái Hoa Sơn, thật không còn gì vui bằng.

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Vâng. Lão gù Mộc Cao Phong từng cưỡng ép lệnh lang làm đồ đệ nhưng lệnh lang nhất quyết không chịu. Lão gù đó đang muốn gia hại cậu ấy thì sư phụ cháu kịp đến giải cứu. Lệnh lang tha thiết cầu xin, mong được gia nhập vào môn phái của cháu. Sư phụ thấy cậu ấy rất thành khẩn, lại có khả năng trở thành nhân tài nên đã nhận lời. Vừa rồi sư phụ cháu đấu kiếm với Dư Thương Hải, đánh cho lão thua phải bỏ chạy. Sư phụ đang đuổi theo muốn hỏi lão chỗ giam giữ bá phụ bá mẫu. Nào ngờ hai bác lại ở đây.

Lâm Chấn Nam nói:

– Chỉ mong… chỉ mong gặp Bình nhi ngay mới được, chậm… chậm nữa thì không kịp.

Lệnh Hồ Xung nghe ông nói chuyện thở ra nhiều mà hít vào ít, rõ ràng tính mạng chỉ còn trong khoảnh khắc, bèn nói:

– Lâm bá phụ, xin bác đừng nói nữa. Sau khi sư phụ cháu giải quyết xong Dư Thương Hải sẽ đến tìm bác ngay. Lão nhân gia tất có cách trị thương cho bác.

Lâm Chấn Nam cười đau đớn, nhắm nghiền đôi mắt, một lúc sau thều thào nói:

– Lệnh Hồ hiền điệt, ta… ta… không xong rồi. Bình nhi được làm môn hạ phái Hoa Sơn, ta hết sức vui sướng. Xin… xin cậu mai này chăm… chăm sóc chỉ điểm thêm cho nó.

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Bá phụ hãy an tâm, bọn cháu là đồng môn học nghệ thì sẽ thân thiết như huynh đệ, đương nhiên cháu sẽ trông nom Lâm sư đệ.

Lâm phu nhân xen vào:

– Đại ân đại đức của Lệnh Hồ thiếu hiệp, vợ chồng ta dẫu về nơi chín suối cũng mãi khắc ghi.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Xin hai bác ngưng thần tĩnh dưỡng, đừng nói nữa.

Lâm Chấn Nam thở dốc, nói năng ngắt quãng:

– Xin… xin cậu nói lại với con trai ta: Trong căn nhà cũ ngõ Hướng Dương thành Phúc Châu, có… có vật tổ truyền nhà họ Lâm ta, cần phải… phải giữ gìn cẩn thận. Nhưng… nhưng ông cố Viễn Đồ công của nó có di huấn: “Phàm con cháu ta thì tuyệt đối không được mở ra xem, nếu không tai họa khôn cùng”. Nó phải… phải nhớ cho kỹ.

Lệnh Hồ Xung gật đầu đáp:

– Vâng, cháu sẽ chuyển lời cho cậu ấy.

Lâm Chấn Nam nói:

– Cảm… cảm… cảm…

Chữ “ơn” cuối cùng chưa kịp thốt ra thì đã tắt thở. Trước đây ông gắng gượng chống chọi, chỉ mong gặp được con để nói những câu quan trọng này. Bây giờ Lệnh Hồ Xung đã đồng ý chuyển lời, lại biết con mình đã có nơi nương tựa tốt thì rất vui mừng, lòng ông không còn lo lắng gì nữa nên yên tâm ra đi.

Lâm phu nhân nói:

– Lệnh Hồ thiếu hiệp, nhờ cậu nhắn lại con trai ta đừng quên mối thù sâu của phụ mẫu.

Bà nghiêng người dùng hết sức đập đầu vào bệ đá của cột trụ. Bà vốn đã bị thương nặng, một cái đập đầu như thế lập tức qua đời.

Lệnh Hồ Xung thở dài nghĩ thầm: “Dư Thương Hải và Mộc Cao Phong ép ông ấy nói ra chỗ cất giấu Tịch tà kiếm phổ nhưng ông ấy thà chịu chết không chịu nói. Đến bây giờ tự biết sắp chết nên mới bất đắc dĩ nhờ mình chuyển lời. Nhưng rốt cuộc ông ấy vẫn sợ mình lấy mất kiếm phổ nhà họ Lâm nên bảo rằng “tuyệt đối không được mở ra xem, nếu không tai họa khôn cùng”. Ha ha, bác nghĩ Lệnh Hồ Xung này là ai, cháu cần gì nhòm ngó kiếm phổ nhà họ Lâm? Đúng là lấy dạ tiểu nhân…”. Lúc này chàng đã kiệt sức, liền ngồi phệt xuống dựa vào cột, nhắm mắt dưỡng thần.

Qua hồi lâu, nghe tiếng Nhạc Bất Quần ở ngoài miếu nói:

– Chúng ta vào trong miếu xem thử.

Lệnh Hồ Xung gọi:

– Sư phụ, sư phụ!

Nhạc Bất Quần vui mừng hỏi:

– Xung nhi phải không?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Vâng!

Rồi chống cành cây chầm chậm đứng dậy.

Lúc này trời đã bình minh, chỉ thấy Nhạc Bất Quần tiến vào trong miếu đầu tiên, đi cùng là thất đệ tử Đào Quân và bát đệ tử Anh Bạch La. Nhạc Bất Quần nhìn thấy thi thể vợ chồng Lâm Chấn Nam, chau mày hỏi:

– Vợ chồng Lâm tổng tiêu đầu đây ư?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Vâng!

Chàng lập tức kể lại chuyện Mộc Cao Phong bức bách vợ chồng Lâm Chấn Nam, mình lấy tên sư phụ ra dọa hắn bỏ chạy, vợ chồng Lâm Chấn Nam qua đời như thế nào, lần lượt kể hết ra. Lời trăng trối cuối cùng của Lâm Chấn Nam cũng được chàng nói nhỏ bẩm báo cho sư phụ.

Nhạc Bất Quần trầm ngâm nói:

– Hừ, phen này Dư Thương Hải đã uổng công phí sức, còn gây nên tội nghiệt không nhỏ.

Lệnh Hồ Xung hỏi:

– Sư phụ, lão lùn họ Dư đền tội cho người thế nào?

Nhạc Bất Quần nói:

– Dư quán chủ chạy cực nhanh, ta đuổi rất lâu mà không thể theo kịp, càng lúc càng cách xa. Khinh công phái Thanh Thành của y quả thật cao hơn phái Hoa Sơn ta một bậc.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Nhưng kiếm pháp của lão lùn họ Dư kém xa sư phụ, đấu một hồi phải dùng thượng sách trong ba mươi sáu kế. Công phu Mông chổng ra sau, bỏ trốn mất dạng của phái Thanh Thành vốn cao hơn hẳn các phái khác.

Nhạc Bất Quần sa sầm nét mặt, mắng:

– Xung nhi, con ăn nói khinh bạc, lời lẽ chẳng đứng đắn chút nào, sao có thể làm gương cho các sư đệ, sư muội?

Lệnh Hồ Xung quay đầu, lè lưỡi với Đào Quân và Anh Bạch La rồi đáp:

– Vâng!

Hai gã Đào, Anh thấy sư phụ đứng bên cạnh nên phải cố nín cười.

Nhạc Bất Quần nói:

– Trả lời thì trả lời, sao còn phải lè lưỡi, hóa ra không thành thật à?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Dạ!

Chàng được Nhạc Bất Quần nuôi dưỡng từ nhỏ đến lớn, tình cảm như cha con nên mặc dù kính sợ sư phụ nhưng cũng không quá câu nệ. Chàng cười hỏi:

– Sư phụ, sao người biết con lè lưỡi?

Nhạc Bất Quần hừ một tiếng, nói:

– Da dưới tai con rung động, không phải lè lưỡi thì là gì? Con vô pháp vô thiên, lần này được bài học nhớ đời rồi. Thương thế đỡ hơn chưa?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Dạ, đã đỡ nhiều rồi.

Chàng lại nói:

– Một lần thất bại là một lần khôn ra.

Nhạc Bất Quần hừ một tiếng, nói:

– Con khôn quá thành tinh rồi, còn chưa đủ khôn sao?

Ông lấy trong túi ra cây hỏa pháo, ra giữa sân bật lửa châm ngòi rồi ném lên trời.

Hỏa pháo bay vút lên, nổ đùng một cái giữa lưng chừng rồi biến thành một thanh trường kiếm sắc bạc, lơ lửng trong không trung hồi lâu rồi mới từ từ rơi xuống. Khi rơi xuống cách mặt đất khoảng hơn mươi trượng thì hóa thành sao xẹt khắp một vùng trời. Đây là tín hiệu hỏa pháo triệu tập đệ tử của chưởng môn phái Hoa Sơn.

Thời gian qua chừng một bữa ăn, nghe xa xa có tiếng bước chân người chạy về hướng miếu thổ địa. Không bao lâu, Cao Căn Minh gọi to ở ngoài miếu:

– Sư phụ, lão nhân gia có ở đây không?

Nhạc Bất Quần nói:

– Ta ở trong miếu.

Cao Căn Minh chạy vào trong miếu, khom người chào:

– Sư phụ!

Gã thấy Lệnh Hồ Xung ở bên cạnh thì vui mừng nói:

– Đại sư ca, vẫn khỏe chứ? Mọi người nghe nói huynh bị trọng thương đều rất lo lắng.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Coi như mạng lớn, lần này thoát chết.

Trong lúc nói chuyện lại nghe thấp thoáng tiếng bước chân từ xa, lần này là Lao Đức Nặc và Lục Đại Hữu. Lục Đại Hữu vừa thấy Lệnh Hồ Xung, chưa kịp chào hỏi sư phụ, đã lao tới ôm đại sư ca, kêu réo ầm ĩ vui mừng khôn xiết. Kế tiếp là tam đệ tử Lương Phát và tứ đệ tử Thi Đới Tử đi vào miếu. Qua thêm khoảng thời gian chừng một tuần trà, con gái Nhạc Bất Quần là Nhạc Linh San và đệ tử vừa nhập môn là Lâm Bình Chi cùng kéo đến.

Lâm Bình Chi trông thấy thi thể song thân liền nhào tới, phủ phục ôm thi thể khóc lóc thảm thiết. Các đồng môn đều thương xót.

Nhạc Linh San thấy Lệnh Hồ Xung bình an vô sự thì rất đỗi mừng rỡ, nhưng nàng thấy Lâm Bình Chi đau khổ như vậy nên không tiện nói lời vui đùa với Lệnh Hồ Xung. Nàng đến gần, nhẹ nhàng nắm tay phải của sư ca hỏi khẽ:

– Huynh… anh không sao chứ?

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Không sao!

Mấy hôm nay, Nhạc Linh San lo lắng đủ điều cho đại sư ca, bây giờ bất ngờ gặp lại, những buồn tủi chất chứa suốt bấy lâu không thể kiềm nén nữa. Nàng đột nhiên nắm tay áo Lệnh Hồ Xung khóc òa lên.

Lệnh Hồ Xung nhẹ nhàng vỗ vai nàng, hỏi nhỏ:

– Tiểu sư muội, muội sao vậy? Ai ăn hiếp muội, huynh sẽ đi trút giận cho muội!

Nhạc Linh San không trả lời mà cứ khóc thút thít. Khóc một hồi thấy lòng đã nhẹ hơn, nàng kéo tay áo Lệnh Hồ Xung lên lau nước mắt rồi nói:

– Huynh không chết, huynh không chết!

Lệnh Hồ Xung lắc đầu nói:

– Ta không chết đâu.

Nhạc Linh San nói:

– Muội nghe nói huynh bị Dư Thương Hải phái Thanh Thành đánh một chưởng. Tồi tâm chưởng của lão giết người không thấy máu, muội đã tận mắt thấy lão giết rất nhiều người, nên muội sợ… sợ lắm…

Nàng nghĩ tới mấy ngày vừa rồi ruột gan quặn thắt, tinh thần khổ sở, không nén được dòng nước mắt lại trào ra.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– May mà chưởng đó của lão không đánh trúng ta. Vừa rồi sư phụ đánh cho Dư Thương Hải chạy thục mạng, vụ đó mới hay, tiếc là muội không được chứng kiến.

Nhạc Bất Quần nói:

– Về chuyện đó, các con không được tiết lộ cho người ngoài biết.

Lệnh Hồ Xung và các đệ tử cùng vâng dạ.

Nhạc Linh San nước mắt đầm đìa nhìn Lệnh Hồ Xung, chỉ lờ mờ thấy gương mặt tiều tụy nhợt nhạt của chàng. Nàng rất xót xa, nói:

– Đại sư ca, lần này… lần này huynh bị thương không nhẹ đâu. Sau khi về núi phải tĩnh dưỡng thật tốt mới được.

Nhạc Bất Quần thấy Lâm Bình Chi vẫn còn nằm phục ôm thi thể cha mẹ khóc lóc thống thiết bi ai, bèn nói:

– Bình nhi đừng khóc nữa, lo liệu hậu sự cho cha mẹ con quan trọng hơn.

Lâm Bình Chi đứng dậy, đáp:

– Dạ!

Chàng thấy mặt của mẫu thân đầy máu thì không kiềm lòng được, nước mắt lại chảy dài, nghẹn ngào nói:

– Cha mẹ lâm chung, ngay cả gặp mặt con lần cuối cũng không được, không biết… không biết cha mẹ có điều gì trăng trối cho con không?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Lâm sư đệ, lúc lệnh tôn và lệnh đường tạ thế, ta đã ở đây. Hai vị lão nhân gia muốn ta chăm sóc tốt cho đệ. Đó vốn là điều nên làm, không cần hai bác phải nhờ cậy. Ngoài ra lệnh tôn còn mấy câu nhờ ta chuyển lời cho.

Lâm Bình Chi cúi người nói:

– Đại sư ca… Khi cha mẹ đệ qua đời có huynh ở bên bầu bạn, không đến nỗi cô độc lẻ loi. Tiểu đệ… tiểu đệ cảm kích vô cùng.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Lệnh tôn và lệnh đường bị bọn ác đồ phái Thanh Thành tra tấn ép cung, buộc họ nói ra chỗ giấu Tịch tà kiếm phổ. Hai vị lão nhân gia quyết không khuất phục nên bị chúng làm chấn động đứt gãy tâm mạch. Sau đó lại tới Mộc Cao Phong bức bách hai vị lão nhân gia. Mộc Cao Phong vốn là tiểu nhân không có đức hạnh thì cũng thôi đi. Nhưng uổng cho Dư Thương Hải là tông sư một phái, làm ra hành vi đê tiện như thế thật khiến anh hùng thiên hạ khinh bỉ.

Lâm Bình Chi nghiến răng nói:

– Thù này không báo thì Lâm Bình Chi không bằng cầm thú!

Chàng vung quyền đấm thật mạnh vào cột miếu. Tuy võ công chàng bình thường nhưng lòng đầy căm phẫn nên một quyền xuất ra dồn lực rất lớn, cát bụi trên xà nhà bị chấn động rơi xuống mù mịt.

Nhạc Linh San nói:

– Lâm sư đệ, tai họa này có thể nói vì ta mà nên. Sau này ngươi muốn báo thù, sư tỷ ta quyết không ngồi yên.

Lâm Bình Chi cúi người nói:

– Cảm ơn sư tỷ.

Nhạc Bất Quần thở dài nói:

– Tôn chỉ xưa nay của phái Hoa Sơn là “Người không phạm ta thì ta không phạm người”. Trừ việc đối đầu sống chết với Ma giáo ra, chúng ta không có hiềm khích với các môn phái trong võ lâm. Nhưng từ bây giờ, phái Thanh Thành… phái Thanh Thành… Ôi, đã dấn thân vào giang hồ, muốn không đắc tội với người khác thật chẳng dễ dàng!

Lao Đức Nặc nói:

– Lâm sư đệ, tai họa này vốn không phải do Lâm sư đệ bất bình giết con trai của Dư Thương Hải. Hoàn toàn đều do Dư Thương Hải nhòm ngó Tịch tà kiếm phổ gia truyền nhà họ Lâm thôi. Năm xưa, chưởng môn Trường Thanh Tử phái Thanh Thành bị thua dưới Tịch tà kiếm pháp của ông cố Viễn Đồ công của Lâm sư đệ, từ đó gieo nên mầm họa.

Nhạc Bất Quần nói:

– Đúng vậy, xưa nay chuyện tranh cường hiếu thắng trong võ lâm khó tránh khỏi. Vừa nghe tới bí kíp võ lâm gì đó thì chẳng cần quan tâm thật giả mà cứ liều mạng cướp đoạt. Kỳ thực, hảo thủ võ công cao cường như Dư quán chủ và Tái bắc minh đà càng không nên tham lam chiếm kiếm phổ nhà họ Lâm mới phải.

Lâm Bình Chi nói:

– Sư phụ, trong nhà đệ tử thật sự không có Tịch tà kiếm phổ gì cả. Bảy mươi hai đường Tịch tà kiếm pháp đều do cha con truyền miệng dạy trực tiếp, muốn đệ tử phải chú ý ghi nhớ. Nếu quả có kiếm phổ thì dù cha con không tiết lộ cho người ngoài nhưng chắc chắn không có lý do gì lại giữ bí mật với con.

Nhạc Bất Quần gật đầu nói:

– Ta vốn cũng không tin có Tịch tà kiếm phổ gì đó, bằng không Dư quán chủ đã không phải đối thủ của cha con rồi. Chuyện này rõ ràng là không đúng.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Lâm sư đệ, di ngôn của lệnh tôn là: “Trong căn nhà cũ ngõ Hướng Dương thành Phúc Châu…”

Nhạc Bất Quần khoát tay nói:

– Đây là di ngôn của cha Bình nhi, con nói riêng với Bình nhi là được, người ngoài không cần biết.

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Vâng.

Nhạc Bất Quần nói:

– Đức Nặc, Căn Minh, hai con hãy vào thành Hành Sơn mua hai cỗ quan tài.

Sau khi khâm liệm vợ chồng Lâm Chấn Nam, phái Hoa Sơn thuê người khiêng hai cỗ quan tài ra bờ sông. Cả đoàn mướn một chiếc thuyền lớn đi lên phía bắc.

Khi đến Dự Tây, mọi người đổi sang đường bộ. Lệnh Hồ Xung nằm trong cỗ xe ngựa lớn để dưỡng thương, thương thế ngày càng thuyên giảm.

Chưa tới một ngày, tất cả đã đến dưới chân đỉnh Ngọc Nữ núi Hoa Sơn. Núi cao hiểm trở nên họ tạm quàn quan tài vợ chồng Lâm Chấn Nam trong một ngôi miếu nhỏ bên núi rồi sẽ định ngày mai táng sau. Cao Căn Minh và Lục Đại Hữu lên núi báo tin trước, hơn hai mươi đệ tử phái Hoa Sơn xuống núi nghênh đón bái kiến sư phụ. Lâm Bình Chi trông những đệ tử này, người lớn nhất đã quá tam tuần, người nhỏ nhất chưa tới mười lăm mười sáu. Trong số này có sáu nữ đệ tử, vừa thấy Nhạc Linh San là ríu rít nói cười không ngớt. Lao Đức Nặc giới thiệu Lâm Bình Chi với từng người. Quy củ phái Hoa Sơn xét lớn nhỏ dựa trên thứ tự nhập môn, vì thế Thư Kỳ là người nhỏ tuổi nhất nhưng Lâm Bình Chi cũng phải gọi cậu ta bằng sư huynh. Riêng Lao Đức Nặc tuổi tác quá cao, tuy nhập môn khá trễ nhưng nếu phải gọi Thư Kỳ mới mười mấy tuổi là sư huynh thì cũng bất ổn, vì thế Nhạc Bất Quần cho lão làm nhị sư huynh. Nhạc Linh San là con gái Nhạc Bất Quần nên không thể xếp theo thứ tự nhập môn, đành phải dựa vào tuổi mà xưng hô, ai lớn hơn nàng thì gọi nàng là “sư muội”. Nàng vốn nhỏ hơn Lâm Bình Chi một hai tuổi nhưng nằng nặc đòi làm sư tỷ, Nhạc Bất Quần cũng không cản nên Lâm Bình Chi phải gọi nàng bằng “sư tỷ”.

Trong năm ngọn núi ngũ nhạc, địa thế của Hoa Sơn cheo leo nguy hiểm nhất. May mà mọi người đều có võ công, nếu đổi lại là người thường, e rằng lên núi còn khó. Lâm Bình Chi theo sau các sư huynh sư tỷ, trèo hơn nửa ngày mới lên đến đỉnh. Chàng thấy thế núi hiểm trở, cây cối um tùm, chim hót líu lo, nước chảy róc rách, bốn năm tòa nhà lớn sơn trắng được xây men theo sườn núi, cái cao cái thấp.

Một thiếu phụ trung niên xinh đẹp khoan thai đến gần. Nhạc Linh San chạy tới nhảy vào lòng bà gọi:

– Mẹ, con vừa có thêm một sư đệ.

Nàng vừa cười vừa chỉ vào Lâm Bình Chi.

Lâm Bình Chi đã nghe các sư huynh nói sư nương Nhạc phu nhân Ninh Trung Tắc và sư phụ vốn là sư huynh muội đồng môn, kiếm thuật của bà tinh thâm chẳng kém gì sư phụ. Chàng bước lên phía trước khấu đầu nói:

– Đệ tử Lâm Bình Chi khấu kiến sư nương.

Nhạc phu nhân tươi cười nói:

– Giỏi lắm! Đứng dậy, đứng dậy đi.

Bà quay sang Nhạc Bất Quần, cười nói:

– Mỗi lần chàng xuống núi, nếu không mang về vài món bảo bối thì nhất định không bằng lòng. Lần này đến đại hội ở Hành Sơn, thiếp đoán chàng phải thu được ít nhất ba bốn đệ tử, sao chỉ có một người thế?

Nhạc Bất Quần cười nói:

– Người ta thường nói binh quý ở tinh nhuệ chứ không ở số đông. Nàng thấy cậu ta thế nào?

Nhạc phu nhân cười nói:

– Tướng mạo quá tuấn tú, không giống người luyện võ. Chi bằng cho nó theo chàng học Tứ thư, Ngũ kinh, sau này biết đâu có thể thi tú tài, đỗ trạng nguyên.

Lâm Bình Chi đỏ mặt, thầm nghĩ: “Sư nương thấy mình yếu ớt nên có ý khinh thường. Mình phải nỗ lực tập luyện, quyết tâm bắt kịp các sư huynh để đừng ai xem thường nữa”. Nhạc Bất Quần cười nói:

– Thế cũng hay. Nếu phái Hoa Sơn có được một trạng nguyên thì sẽ là giai thoại thiên cổ đấy.

Nhạc phu nhân trừng mắt nhìn Lệnh Hồ Xung, hỏi:

– Lại gây sự đánh lộn nên bị thương đúng không? Sao sắc mặt khó coi thế? Bị thương có nặng không?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Con đỡ nhiều rồi. Lần này may mà mạng lớn, không thì suýt nữa khỏi gặp lại sư nương.

Nhạc phu nhân lại trừng mắt hỏi:

– Để con biết ngoài trời còn có trời, trên người có người. Thua rồi đã chịu phục chưa?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Khoái đao của Điền Bá Quang, Xung nhi đỡ không nổi. Con đang muốn xin sư nương chỉ điểm.

Nhạc phu nhân nghe chàng nói bị thương dưới tay Điền Bá Quang thì sắc mặt lập tức chuyển vui, gật đầu nói:

– Hóa ra con đánh nhau với ác tặc Điền Bá Quang, vậy thì tốt lắm. Ta cứ tưởng con đi sinh sự thị phi rồi tự chuốc họa. Khoái đao của hắn thế nào? Chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng, lần sau tái đấu với hắn.

Trên đường đi, Lệnh Hồ Xung đã mấy lần hỏi sư phụ cách thức phá giải khoái đao của Điền Bá Quang nhưng Nhạc Bất Quần nhất định không nói, bảo về tới Hoa Sơn hãy thỉnh giáo sư nương. Quả nhiên Nhạc phu nhân vừa nghe thì rất hứng khởi.

Mọi người đi vào “Hữu sở bất vi hiên” là nơi đọc sách của Nhạc Bất Quần, tíu tít kể lại những chuyện đã xảy ra. Sáu nữ đệ tử nghe Nhạc Linh San thuật lại chuyện ở Phúc Châu và Hành Sơn thì đều trầm trồ. Lục Đại Hữu khoa trương với các sư đệ về cuộc đấu giữa đại sư ca và Điền Bá Quang, việc đại sư ca đâm La Nhân Kiệt. Gã thêm mắm dặm muối như thể Điền Bá Quang bị đại sư ca đánh bại chứ không phải đại sư ca bị hắn đánh thua te tua. Mọi người ăn điểm tâm rồi uống trà. Nhạc phu nhân muốn Lệnh Hồ Xung diễn lại đao pháp của Điền Bá Quang, đồng thời hỏi chàng phá giải thế nào.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Đao pháp của Điền Bá Quang lợi hại vô cùng. Lúc đó đệ tử bị đánh hoa cả mắt, dốc sức chống đỡ còn không xong, còn nói chi đến phá giải?

Nhạc phu nhân nói:

– Thằng nhõi này chống đỡ không nổi thì nhất định đã giở trò ma, dùng quỷ kế để chuồn đi.

Lệnh Hồ Xung được bà nuôi từ nhỏ đến lớn, bản lĩnh tính cách của chàng đều hiểu quá rõ.

Lệnh Hồ Xung đỏ mặt, mỉm cười nói:

– Lúc đánh nhau trong sơn động, vị sư muội phái Hằng Sơn đã chạy rồi, đệ tử không còn lo lắng nữa bèn dốc toàn lực giao đấu với Điền Bá Quang. Nào ngờ đấu chưa bao lâu, hắn đã sử dụng đao pháp khoái đao. Đệ tử mới đỡ hai chiêu thì bụng đã kêu khổ: “Lần này tiêu rồi!”. Con liền cười lên ha hả. Điền Bá Quang thu đao không chém nữa, hỏi: “Có gì mà cười? Nhắm đỡ nổi mười ba thức đao pháp “Phi sa tẩu thạch” của ta không?”. Đệ tử cười nói: “Thì ra Điền Bá Quang tiếng tăm lừng lẫy lại là môn đồ bỏ đi của phái Hoa Sơn ta. Quả thật không ngờ, đúng là không ngờ! Đúng rồi, nhất định do ngươi độc ác bất lương nên đã bị bản phái trục xuất”. Điền Bá Quang nói: “Cái gì mà môn đồ bỏ đi của phái Hoa Sơn? Nói năng nhảm nhí. Võ công của Điền mỗ thuộc một nhà riêng, liên quan gì phái Hoa Sơn thối hoắc của ngươi?”. Đệ tử cười nói: “Lộ đao pháp này của ngươi tổng cộng có mười ba thức phải không? Bày đặt “Cát đá tung bay”, tự bịa ra cái tên dễ nghe gớm. Ta từng thấy sư phụ và sư nương chiết giải rồi. Đây là do sư nương ngồi thêu bất chợt nghĩ ra. Trên Hoa Sơn có đỉnh Ngọc Nữ, ngươi đã nghe qua chưa?”. Điền Bá Quang nói: “Đỉnh Ngọc Nữ ở Hoa Sơn ai mà không biết. Vậy thì sao?”. Con nói: “Kiếm pháp do sư nương ta sáng tạo tên là “Ngọc nữ kim châm thập tam kiếm”, trong đó gồm các chiêu “Xuyên châm dẫn tuyến”, “hiên y vô phùng”, “Dạ tú uyên ương”. Đệ tử vừa kể vừa ra vẻ bấm đốt tay tính toán, nói: “Đúng rồi, hai chiêu đao pháp vừa rồi của ngươi là biến hóa từ chiêu thứ tám “Chức Nữ xuyên thoa” mà sư nương ta tạo ra. Ngươi đường đường một trang nam nhi oai phong lẫm liệt, lại đi học dáng vẻ thướt tha của sư nương ta, giống như Chức Nữ như hoa như ngọc trên trời ngồi dệt vải bên khung cửi. Tay ngọc thon thả đưa con thoi từ bên này sang bên kia, từ bên kia ném sang bên này, thiên kiều bá mị, bộ không tức cười hay sao…”. Chàng nói chưa dứt thì Nhạc Linh San và các nữ đệ tử đã bật cười khanh khách.

Nhạc Bất Quần mỉm cười mắng:

– Vớ vẩn, vớ vẩn!

Nhạc phu nhân hừ một tiếng, nói:

– Mồm mép tép nhảy, cái gì cũng nói được, còn dám kéo cả sư nương vào? Thật đáng đánh đòn.

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Sư nương chưa biết chứ, Điền Bá Quang kia rất tự phụ, nghe đệ tử so hắn với phụ nữ, còn bảo bộ đao pháp thần kỳ của hắn là do sư nương sáng tạo thì hắn nhất định tìm cách giải thích, không giết đệ tử ngay. Quả nhiên hắn lần lượt biểu diễn từng chiêu một trong bộ đao pháp ấy, cứ mỗi chiêu lại hỏi một câu: “Đây có phải do sư nương ngươi sáng tạo ra không?”. Đệ tử làm ra vẻ thần bí, trầm ngâm không đáp, ngấm ngầm ghi nhớ đao pháp của hắn. Đợi hắn diễn hết mười ba chiêu rồi, con mới nói: “Bộ đao pháp của ngươi và môn do sư nương ta sáng tạo tuy có chút khác biệt nhưng tổng thể giống nhau. Sao ngươi lại học lỏm được kiếm pháp phái Hoa Sơn thế, đúng là kỳ lạ”. Điền Bá Quang giận dữ nói: “Ngươi đỡ không nổi bộ đao pháp này của ta nên khua môi múa mép kéo dài thời gian, muốn xem rõ chiêu thức đao pháp của ta chứ gì, tưởng ta không biết hả? Ngươi nói phái Hoa Sơn cũng có đao pháp này, vậy hãy thi triển ra để Điền mỗ được mở rộng tầm mắt”.

Đệ tử cười nói: “Tệ phái dùng kiếm chứ không dùng đao. Vả lại, bộ kiếm pháp “Ngọc nữ kim châm” của sư nương chỉ truyền cho nữ đệ tử chứ không truyền cho nam đệ tử. Chúng ta đường đường là nam tử hán đại trượng phu, tự nhiên lại dùng kiếm pháp của các chị em, há chẳng khiến bằng hữu trong võ lâm chế giễu ư?”. Điền Bá Quang càng tức giận, nói: “Chế giễu cũng được mà không chế giễu cũng được. Hôm nay ta nhất quyết bắt ngươi thừa nhận phái Hoa Sơn hoàn toàn không có võ công nào như thế. Lao huynh, Điền mỗ khâm phục ngươi là hảo hán nên không dùng khoái đao giết ngươi, ngươi không nên nói năng xằng bậy bỡn cợt ta”.

Nhạc Linh San nói xen vào:

– Ác tặc vô liêm sỉ đó, ai cần hắn khâm phục? Bỡn cợt hắn một phen cũng đáng đời.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Nhưng với tình hình lúc đó, nếu ta không bịa ra một bộ kiếm pháp “Kim vàng Ngọc Nữ” để biểu diễn thì tính mạng sẽ lâm nguy ngay. Thế là ta đành dựa vào đao pháp của hắn, õng à õng ẹo huơ chiêu loạn xạ cả lên.

Nhạc Linh San cười nói:

– Huynh õng à õng ẹo huơ chiêu như vậy có giống không?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Bình thường ta nhìn muội luyện kiếm rất nhiều, có lý nào lại không giống?

Nhạc Linh San nói:

– Hứ, dám cười người ta luyện kiếm õng à õng ẹo hả, muội mặc kệ huynh ba ngày cho coi.

Nhạc phu nhân nãy giờ vẫn trầm ngâm, lúc này mới lên tiếng:

– San nhi, con đưa kiếm cho đại sư ca đi.

Nhạc Linh San rút thanh trường kiếm, đảo chuôi kiếm lại đưa cho Lệnh Hồ Xung, cười nói:

– Mẹ muốn xem bộ dạng sử kiếm õng à õng ẹo của huynh kìa.

Nhạc phu nhân nói:

– Xung nhi, đừng để ý mấy trò nhộn của San nhi nữa. Lúc đó con diễn thế nào?

Lệnh Hồ Xung biết sư nương muốn xem đao pháp của Điền Bá Quang, liền nhận lấy trường kiếm, cúi mình hành lễ với sư phụ sư nương:

– Sư phụ, sư nương, đệ tử xin thử diễn đao chiêu của Điền Bá Quang.

Nhạc Bất Quần gật đầu.

Lục Đại Hữu nói với Lâm Bình Chi:

– Lâm sư đệ, theo quy củ môn phái chúng ta, tiểu bối muốn đánh quyền động kiếm trước mặt tôn trưởng thì phải xin phép trước.

Lâm Bình Chi đáp:

– Vâng. Cảm ơn Lục sư ca đã dạy bảo.

Lệnh Hồ Xung mặt mày tươi cười, giả bộ uể oải ngáp dài, hai tay giơ lên yếu ớt tựa hồ muốn vươn vai, đột nhiên cổ tay phải chàng rung lên, liên tục chém ra ba kiếm nhanh như chớp nghe vun vút. Các đệ tử giật mình kinh hãi, mấy nữ đệ tử không hẹn mà cùng la lên một tiếng. Lệnh Hồ Xung vung trường kiếm dường như chẳng theo chương pháp nào cả, nhưng trong mắt Nhạc Bất Quần và Nhạc phu nhân, mấy mươi chiêu này đều rất rõ ràng. Chỉ thấy mỗi nhát đâm, mỗi đường chém vừa hung hiểm vừa chuẩn xác. Chỉ trong phút chốc, Lệnh Hồ Xung đã thu kiếm đứng lại, cúi mình hành lễ với sư phụ và sư nương.

Nhạc Linh San hơi thất vọng, hỏi:

– Nhanh vậy sao?

Nhạc phu nhân gật đầu nói:

– Phải nhanh vậy mới được. Mười ba thức khoái đao này, mỗi thức có ba bốn chiêu biến hóa, chỉ trong khoảnh khắc đã dùng tới hơn bốn mươi chiêu. Quả là khoái đao hiếm có trên thế gian.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Tên Điền Bá Quang kia ra đao còn nhanh hơn đệ tử nhiều.

Nhạc phu nhân và Nhạc Bất Quần nhìn nhau, cùng có ý thán phục.

Nhạc Linh San nói:

– Đại sư ca, sao không thấy huynh õng ẹo gì hết?

Lệnh Hồ Xung cười nói:

– Mấy hôm nay, lúc nào ta cũng nghĩ đến bộ khoái đao này nên lúc ra chiêu dĩ nhiên sẽ mau lẹ hơn. Chứ lúc ở trong núi hoang biểu diễn cho Điền Bá Quang thì không nhanh như vậy. Hơn nữa ta vừa cố ý bắt chước đao pháp của hắn, vừa thêm vào điệu bộ yểu điệu của phụ nữ nên càng chậm hơn.

Nhạc Linh San cười nói:

– Hôm đó huynh làm điệu bộ thế nào vậy? Mau diễn lại cho muội xem đi.

Nhạc phu nhân nghiêng người, rút thanh trường kiếm bên hông một nữ đệ tử, nói với Lệnh Hồ Xung:

– Sử khoái đao đi!

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Dạ!

Vút một tiếng, trường kiếm xoay một vòng quanh thân Nhạc phu nhân, mũi kiếm hướng ra sau lưng bà rồi móc ngược lại. Nhạc Linh San la hoảng:

– Mẹ, cẩn thận!

Nhạc phu nhân tung người nhảy vọt, không thèm để ý gì tới nhát kiếm móc ngược của Lệnh Hồ Xung. Trường kiếm trong tay bà đâm vào ngực Lệnh Hồ Xung rất nhanh. Nhạc Linh San lại la hoảng:

– Đại sư ca, cẩn thận!

Lệnh Hồ Xung cũng không đỡ gạt mà đâm ngược lại một kiếm, nói:

– Sư nương, hắn còn nhanh hơn nhiều.

Nhạc phu nhân đâm vun vút ba kiếm, Lệnh Hồ Xung cũng trả lại ba kiếm. Hai người lấy nhanh đấu nhanh, đều dùng chiêu số tấn công, không có chiêu nào gạt đỡ phòng thân. Trong nháy mắt, hai sư đồ đã qua lại hơn hai mươi chiêu.

Lâm Bình Chi nhìn đến há hốc miệng, nghĩ thầm: “Đại sư ca ăn nói hành động có vẻ điên khùng nhưng võ công lại tuyệt diệu. Sau này mình phải ra sức luyện công không ngừng nghỉ mới khỏi bị người ta xem thường”.

Giữa lúc ấy, Nhạc phu nhân phóng kiếm vèo một cái, mũi kiếm đã chĩa vào yết hầu của Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung không còn cách nào né tránh, bèn nói:

– Hắn đỡ được chiêu này.

Nhạc phu nhân nói:

– Được!

Trường kiếm trong tay bà như lay động, sau vài chiêu lại chĩa vào ngực Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung lại nói:

– Hắn vẫn đỡ được.

Ý rằng mặc dù chàng không cản nổi nhưng đao pháp của Điền Bá Quang nhanh hơn chàng nhiều, hai chiêu này hắn có thể gạt được.

Hai người càng đấu càng nhanh, càng về sau Lệnh Hồ Xung không rảnh để nói câu “Hắn vẫn đỡ được”, mỗi khi bị Nhạc phu nhân dùng kiếm chế ngự, chàng chỉ lắc đầu ra hiệu rằng chiêu kiếm này vẫn không thể giết chết được Điền Bá Quang. Trường kiếm của Nhạc phu nhân càng đánh càng hứng khởi, đột nhiên bà quát to một tiếng, mũi kiếm lấp loáng bất định, vây quanh người Lệnh Hồ Xung mà đâm tới, ánh bạc nhảy múa khiến mọi người nhìn đến hoa cả mắt. Bà phóng mạnh ra một kiếm, đâm thẳng vào ngực Lệnh Hồ Xung, thế kiếm như sấm rung chớp giật. Lệnh Hồ Xung thất kinh la lên:

– Sư nương!

Lúc đó mũi kiếm đã đâm rách áo chàng. Tay phải Nhạc phu nhân đâm thẳng về trước, trường kiếm đã đụng đến ngực Lệnh Hồ Xung. Chỉ thấy kiếm đâm xuyên vào ngực chàng thấu đến tận chuôi.

Nhạc Linh San kinh hoàng:

– Mẹ!

Chỉ nghe tiếng loảng xoảng không dứt, từng mảnh kiếm gãy dài khoảng một tấc rớt xuống bên chân Lệnh Hồ Xung. Nhạc phu nhân cười vang, rút tay về, thanh trường kiếm trong tay bà chỉ còn lại phần chuôi.

Nhạc Bất Quần cười nói:

– Sư muội, nội lực của nàng tinh tiến đến vậy khiến ta cũng bị lừa.

Vợ chồng ông vốn là đồng môn kết thành phu phụ, thời trẻ đã quen gọi như vậy, sau khi thành hôn vẫn xưng hô với nhau là sư huynh muội. Nhạc phu nhân cười nói:

– Đại sư huynh quá khen, chút tài mọn này có chi đáng kể!

Lệnh Hồ Xung nhìn những đoạn kiếm gãy dưới đất, lòng còn kinh hãi, mới hay lúc sư nương phóng kiếm đâm tới đã sử dụng toàn lực, nếu nội lực không đủ thì khó mà xuất kiếm thần tốc như vậy. Nhưng mũi kiếm vừa đụng đến da, bà lập tức chuyển luồng nội lực hùng hậu từ thế đâm thẳng thành thế quét ngang làm cho trường kiếm bị chấn động gãy thành từng đoạn. Trong nháy mắt đã vận kình kịp thời, thật đã đến cảnh giới tuyệt luân. Chàng hết sức khâm phục, bèn nói:

– Đao pháp của Điền Bá Quang nhanh cách mấy cũng không thể thoát khỏi chiêu kiếm này của sư nương.

Lâm Bình Chi thấy áo của Lệnh Hồ Xung bị thủng lỗ chỗ, toàn bộ đều do trường kiếm của Nhạc phu nhân đâm rách. Chàng nghĩ: “Thế gian lại có kiếm thuật cao minh đến vậy sao? Chỉ cần mình học được mấy thành thì sẽ có thể báo thù cho cha mẹ”. Chàng lại nghĩ: “Phái Thanh Thành và Mộc Cao Phong đều ham muốn chiếm đoạt Tịch tà kiếm phổ của nhà mình. Kỳ thực Tịch tà kiếm pháp của nhà mình so với kiếm pháp của sư nương cách nhau một trời một vực”.

Nhạc phu nhân rất đắc ý nói:

– Xung nhi, con đã nói chiêu này có thể đâm chết được Điền Bá Quang, vậy thì phải tập luyện cho tốt rồi ta sẽ truyền thụ cho.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Đa tạ sư nương.

Nhạc Linh San nói:

– Mẹ, con cũng muốn học.

Nhạc phu nhân lắc đầu nói:

– Nội công của con chưa đủ trình độ, không học được đâu.

Nhạc Linh San trề môi, trong lòng rất bất mãn, nói:

– Nội công của đại sư ca hơn con bao nhiêu đâu, sao huynh ấy có thể học mà con thì không ạ?

Nhạc phu nhân chỉ mỉm cười. Nhạc Linh San kéo tay áo phụ thân, nói:

– Cha, cha truyền cho con công phu phá giải kiếm pháp này đi, để đại sư ca học xong chiêu đó sẽ không ăn hiếp được con.

Nhạc Bất Quần lắc đầu cười nói:

– Chiêu kiếm này của mẹ con gọi là “Vô song vô đối Ninh thị nhất kiếm” vô địch thiên hạ. Cha làm sao có cách phá giải được?

Nhạc phu nhân cười nói:

– Chàng cứ nói linh tinh. Chàng khen thiếp cũng không sao, nhưng nếu truyền ra ngoài chẳng khiến cho đồng đạo võ lâm cười sái quai hàm.

Chiêu kiếm này do Nhạc phu nhân nhất thời sáng tạo ra, trong đó bao hàm nội công và kiếm pháp tuyệt nghệ của phái Hoa Sơn cộng thêm sự thông minh tài trí của riêng bà, lợi hại vô cùng. Nhưng do vừa tạo ra nên chưa kịp đặt tên. Nhạc Bất Quần vốn định đặt cho nó cái tên “Nhạc phu nhân vô địch kiếm”. Nhưng ông nghĩ lại vợ mình tính khí cao ngạo, sau khi thành hôn vẫn thích đồng đạo võ lâm gọi bà là “Ninh nữ hiệp”, chứ không thích cái danh “Nhạc phu nhân”. Nên biết ba chữ “Ninh nữ hiệp” thể hiện bản lãnh hành vi của chính bà, còn ba chữ “Nhạc phu nhân” thì không tránh khỏi mang tiếng dựa vào thanh danh lừng lẫy của chồng. Tuy ngoài miệng bà trách trượng phu nhưng trong lòng rất thích thú với tám chữ “Vô song vô đối, Ninh thị nhất kiếm”, thầm khen chồng là người đọc nhiều hiểu rộng đặt cho chiêu kiếm của mình một cái tên rất hay. Lời nói có vẻ giận dỗi nhưng trong lòng lại vui sướng.

Nhạc Linh San nói:

– Cha, khi nào đó cha cũng sáng tạo vài chiêu “Vô tỷ vô địch, Nhạc gia thập kiếm” truyền cho con, để con và đại sư ca đấu với nhau.

Nhạc Bất Quần lắc đầu cười nói:

– Không được đâu. Cha không thông minh bằng mẹ con, làm sao sáng tạo được chiêu kiếm mới!

Nhạc Linh San kề sát tai phụ thân nói nhỏ:

– Không phải cha không sáng tạo được, mà vì cha sợ vợ nên không dám sáng tạo.

Nhạc Bất Quần cười ha hả, đưa tay bẹo nhẹ má con rồi cười nói:

– Nói nhăng nói cuội.

Nhạc phu nhân nói:

– San nhi, con đừng làm rộn cha con nữa. Đức Nặc, con đi sắp xếp hương án để Lâm sư đệ bái linh vị liệt đại tổ sư của bản phái.

Lao Đức Nặc đáp:

– Vâng!

Không bao lâu, mọi thứ đã sắp xếp xong. Nhạc Bất Quần dẫn mọi người đến hậu đường. Lâm Bình Chi thấy giữa xà nhà treo một tấm biển đề bốn chữ to “Lấy khí ngự kiếm”. Sảnh đường được bày biện trang nghiêm, hai bên tường treo nhiều thanh trường kiếm, vỏ kiếm đã chuyển đen, tua kiếm đã cũ kỹ. Chàng đoán được đó là bội kiếm của các tông sư đời trước trong phái Hoa Sơn, nghĩ ngợi: “Hiện nay danh tiếng của phái Hoa Sơn vang dội khắp võ lâm, không biết có bao nhiêu gian tà ác tặc đã táng mạng dưới trường kiếm của các vị tông sư đời trước”.

Nhạc Bất Quần quỳ trước hương án khấu đầu bốn cái, khấn rằng:

– Hôm nay đệ tử Nhạc Bất Quần thu nhận Lâm Bình Chi ở Phúc Châu làm đồ đệ, xin liệt đại tổ tông ở trên trời linh thiêng phù hộ cho Lâm Bình Chi gắng công học nghệ, giữ mình trong sạch, tuân thủ nghiêm môn quy bản phái, không làm bại hoại thanh danh phái Hoa Sơn.

Lâm Bình Chi nghe sư phụ nói vậy vội cung kính quỳ xuống.

Nhạc Bất Quần đứng dậy, dõng dạc nói:

– Lâm Bình Chi, hôm nay con trở thành môn hạ phái Hoa Sơn, phải biết giữ nghiêm môn quy, nếu vi phạm sẽ chiếu theo tình tiết nặng nhẹ mà xử phạt, nếu phạm tội ác cùng cực sẽ chém không nương tình. Bản phái đứng vững trong võ lâm mấy trăm năm, tuy võ công có thể tranh cao thấp với phái khác, nhưng mạnh yếu thắng bại trong một lúc không đáng nhắc tới. Quan trọng hơn hết là đệ tử bản phái đều phải trân trọng gìn giữ thanh danh của sư môn, con nên nhớ kỹ điều này.

Lâm Bình Chi đáp:

– Vâng, đệ tử xin ghi nhớ lời dạy của sư phụ.

Nhạc Bất Quần nói:

– Lệnh Hồ Xung, con đọc môn quy của bản phái cho Lâm Bình Chi biết đi.

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Dạ. Lâm sư đệ hãy nghe thật kỹ. Điều cấm thứ nhất của bản phái là khi sư diệt tổ, bất kính tôn trưởng. Thứ hai cấm ỷ mạnh hiếp yếu, hại người vô tội. Thứ ba cấm gian dâm hiếu sắc, trêu ghẹo phụ nữ. Thứ tư cấm đồng môn ghen ghét, tàn sát lẫn nhau. Thứ năm cấm thấy lợi quên nghĩa, trộm cắp tài vật. Thứ sáu cấm kiêu ngạo tự đại, đắc tội đồng đạo. Thứ bảy cấm giao du kẻ địch, cấu kết yêu tà. Đây là bảy điều cấm của Hoa Sơn, đệ tử bản môn đều phải tuân thủ.

Lâm Bình Chi đáp:

– Dạ, tiểu đệ xin ghi nhớ bảy điều cấm của Hoa Sơn mà đại sư ca vừa đọc, hết sức tuân thủ, không dám vi phạm.

Nhạc Bất Quần cười nói:

– Được rồi, chỉ có bấy nhiêu thôi. Bản phái không như các phái khác có lắm thanh quy giới luật. Con chỉ cần giữ nghiêm bảy điều cấm này, luôn phải nhớ rằng nhân nghĩa trên hết, làm một chính nhân quân tử, sư phụ sư nương sẽ rất vui mừng.

Lâm Bình Chi đáp:

– Dạ!

Chàng lại khấu đầu với sư phụ sư nương, tiếp đó quỳ xuống hành lễ với các sư huynh sư tỷ.

Nhạc Bất Quần nói:

– Bình nhi, trước tiên chúng ta hãy an táng cho phụ mẫu con để trọn đạo làm con, sau đó mới truyền thụ công phu căn bản của bản môn cho con.

Lâm Bình Chi lệ nóng tuôn trào, lạy phục xuống nói:

– Đa tạ sư phụ, sư nương.

Nhạc Bất Quần đưa tay đỡ dậy, ôn tồn nói:

– Trong bản phái, mọi người thân thiết như gia đình, bất luận có chuyện gì đều phải chia sẻ giúp đỡ. Sau này con không cần quá đa lễ.

Ông quay lại chăm chăm nhìn Lệnh Hồ Xung từ đầu đến chân, một lúc sau mới hỏi:

– Xung nhi, lần này xuống núi, con đã phạm bao nhiêu điều cấm của Hoa Sơn?

Lệnh Hồ Xung sợ hãi, biết lúc bình thường sư phụ đối với các đệ tử vô cùng thân mật hiền hòa, nhưng nếu vi phạm môn quy thì tất nghiêm trị không tha. Chàng lập tức quỳ xuống trước hương án nói:

– Đệ tử biết tội. Đệ tử không nghe lời răn dạy của sư phụ, sư nương, đã phạm điều cấm thứ sáu kiêu ngạo tự đại, đắc tội đồng đạo, trên lầu Hồi Nhạn thành Hành Sơn đã giết La Nhân Kiệt phái Thanh Thành.

Nhạc Bất Quần hừ một tiếng, sắc mặt cực kỳ nghiêm khắc.

Nhạc Linh San nói:

– Cha, do La Nhân Kiệt uy hiếp đại sư ca mà. Lúc đó đại sư ca vừa ác đấu với Điền Bá Quang, bản thân đã bị trọng thương. La Nhân Kiệt thừa lúc người ta nguy khốn mà uy hiếp thì đại sư ca sao có thể khoanh tay chờ chết?

Nhạc Bất Quần nói:

– Không được ngang nhiên chen vào. Chuyện này là do Xung nhi đá hai đệ tử Thanh Thành mà ra. Nếu không có hiềm khích từ trước thì La Nhân Kiệt sẽ không thừa lúc Xung nhi bị thương mà gây sự.

Nhạc Linh San nói:

– Vụ đại sư ca đá đệ tử Thanh Thành đã bị cha đánh ba mươi côn, xem như đã phạt xong rồi. Chuyện qua rồi không thể tính lại. Đại sư ca đang bị thương nặng, không thể bị đòn được nữa.

Nhạc Bất Quần trừng mắt nhìn con, nghiêm giọng nói:

– Đây là lúc luận xét về giới luật bản môn. Con là đệ tử Hoa Sơn, không được nói leo chen vào.

Nhạc Linh San hiếm khi thấy phụ thân nghiêm khắc với mình như vậy nên rất tủi thân, đôi mắt đỏ hoe chực khóc. Nếu là lúc bình thường thì dù Nhạc Bất Quần không để ý, Nhạc phu nhân cũng sẽ dùng lời dịu dàng vỗ về con. Nhưng hiện tại Nhạc Bất Quần đang lấy thân phận chưởng môn nhân xem xét giới luật của môn phái, Nhạc phu nhân không tiện dỗ dành con gái, đành giả như không thấy.

Nhạc Bất Quần nói với Lệnh Hồ Xung:

– La Nhân Kiệt thừa lúc con gặp nguy mà gây chuyện định làm nhục con, con thà chết không chịu khuất phục, ấy là hành vi hiệp nghĩa của nam tử hán đại trượng phu. Chuyện này xem như bỏ qua. Nhưng tại sao con lại nói những lời vô lễ với phái Hằng Sơn, gì mà “Hễ gặp ni cô, đánh bạc tất thua”? Lại còn nói đến ta cũng sợ gặp ni cô?

Nhạc Linh San cười hinh hích, gọi:

– Cha!

Nhạc Bất Quần xua tay với nàng, nhưng không tỏ vẻ nghiêm khắc nữa.

Lệnh Hồ Xung nói:

– Lúc đó đệ tử chỉ mong vị sư muội phái Hằng Sơn kia mau chạy đi. Đệ tử tự biết mình không phải đối thủ của Điền Bá Quang, không có cách nào cứu sư muội phái Hằng Sơn. Nhưng cô ấy giữ nghĩa khí đồng đạo, không chịu bỏ đi nên đệ tử đành phải ăn nói bậy bạ. Những lời này lọt vào tai các vị sư bá, sư thúc phái Hằng Sơn quả thật quá vô lễ.

Nhạc Bất Quần nói:

– Con muốn Nghi Lâm sư điệt chạy đi, tuy có mục đích tốt nhưng sao không biết lựa lời, lại nói ra những câu xúc phạm như vậy? Lúc nào cũng bừa bãi quá mức. Chuyện này mọi người trong Ngũ Nhạc kiếm phái đều biết, tất sẽ nói sau lưng ta rằng con không phải chính nhân quân tử và trách ta không biết dạy dỗ.

Lệnh Hồ Xung đáp:

– Dạ, đệ tử đã biết tội.

Nhạc Bất Quần lại nói:

– Con dưỡng thương trong Quần Ngọc viện thì có thể xem như hoàn toàn bất đắc dĩ. Nhưng con giấu Nghi Lâm sư điệt và tiểu ma nữ của Ma giáo vào trong chăn, còn nói với Dư quán chủ phái Thanh Thành đó là hai cô gái làng chơi thành Hành Sơn. Con có biết như thế liều lĩnh nguy hiểm thế nào không? Nếu sự việc bại lộ, phái Hoa Sơn bị mất hết thanh danh chỉ là thứ yếu, nhưng còn làm liên lụy đến danh dự mấy trăm năm của phái Hằng Sơn bị hủy hoại trong một chốc. Chúng ta biết ăn nói làm sao với người ta?

Lệnh Hồ Xung lạnh toát sống lưng, run giọng nói:

– Về sau đệ tử nhớ lại chuyện này, thật sự toát mồ hôi lạnh. Thì ra sư phụ đã sớm biết rồi.

Nhạc Bất Quần nói:

– Về sau ta mới biết do Khúc Dương của Ma giáo đưa con đến Quần Ngọc viện dưỡng thương, nhưng lúc con bảo hai đứa con gái chui vào trong chăn, ta đang đứng ngoài cửa sổ.

Lệnh Hồ Xung nói:

– May mà sư phụ biết đệ tử không phải kẻ lãng tử vô hạnh.

Nhạc Bất Quần nghiêm nghị nói:

– Nếu con thực sự vào trong kỹ viện chơi bời thì ta đã sớm lấy cái đầu trên cổ con rồi, đâu có chuyện tha cho sống tới hôm nay?

Lệnh Hồ Xung nói:

– Dạ!

Sắc mặt Nhạc Bất Quần càng lúc càng nghiêm khắc. Một lúc lâu sau ông mới hỏi:

– Con biết rõ thiếu nữ họ Khúc kia là người trong Ma giáo, sao không một kiếm giết ngay đi? Tuy gia gia nó có ơn cứu mạng con, nhưng đó rõ ràng là thủ đoạn mua ơn bán nghĩa của người trong Ma giáo nhằm gây chia rẽ Ngũ Nhạc kiếm phái chúng ta. Con không phải kẻ ngốc, sao lại không hiểu? Chúng cứu tính mạng con, thực chất là che đậy một âm mưu rất lớn. Lưu Chính Phong thông minh tài giỏi biết mấy, vậy mà cũng không tránh khỏi cạm bẫy, để đến nỗi thân bại danh liệt, tan cửa nát nhà. Thủ đoạn độc ác thâm hiểm của Ma giáo, con đã tận mắt trông thấy. Nhưng suốt quãng đường từ Hành Sơn về Hoa Sơn, ta không hề nghe con nói một lời nào lên án Ma giáo. Xung nhi, ta thấy sau khi chúng cứu mạng con, con đã không còn phân biệt được chính tà trung gian nữa, trở nên lú lẫn hết rồi. Chuyện này liên quan rất lớn đến vấn đề an thân lập mệnh của con về sau. Điều cấm thứ bảy của Hoa Sơn chính là điều cấm quan trọng nhất, dứt khoát không được mơ hồ.

Lệnh Hồ Xung hồi tưởng lại buổi đêm hôm ấy ở chốn hoang sơn, lắng tai nghe Khúc Dương và Lưu Chính Phong cầm tiêu hợp tấu. Nếu bảo Khúc Dương mang tâm địa hiểm độc, cố ý hãm hại Lưu Chính Phong thì hoàn toàn không giống.

Nhạc Bất Quần thấy sắc mặt chàng do dự, hiển nhiên vẫn chưa tin lời nói của ông, bèn hỏi tiếp:

– Xung nhi, chuyện này liên quan đến hưng suy vinh nhục của phái Hoa Sơn chúng ta, đồng thời liên quan đến an nguy thành bại cả đời con, con không được giấu giếm ta. Ta chỉ hỏi con: sau này nhìn thấy người trong Ma giáo, con có thể ghét ác như thù, giết không nương tay không?

Lệnh Hồ Xung ngây ra nhìn sư phụ, một suy nghĩ cứ lởn vởn trong đầu chàng: “Sau này nếu mình thấy người trong Ma giáo, phải chăng không cần hỏi rõ thị phi, cứ rút kiếm giết ngay? Nếu Khúc lão tiền bối và cô bé Khúc Phi Yên không chết, liệu mình có giết họ chăng?”. Ngay bản thân chàng cũng không biết, nên quả thật không thể trả lời câu hỏi của sư phụ.

Nhạc Bất Quần chăm chú nhìn Lệnh Hồ Xung hồi lâu, thấy chàng vẫn không đáp. Ông thở dài, nói:

– Lúc này miễn cưỡng bắt con trả lời cũng vô nghĩa. Lần này con xuống núi đã gây tổn hại rất lớn đến thanh danh bản phái, nhưng con dũng cảm cứu được Nghi Lâm sư điệt phái Hằng Sơn, xem như lập được công lao. Lấy công bù tội, ta phạt con quay mặt vào tường một năm để suy nghĩ về mọi chuyện cho thật kỹ.

Lệnh Hồ Xung cúi người đáp:

– Dạ, đệ tử xin kính cẩn nhận hình phạt.

Nhạc Linh San hỏi:

– Quay mặt vào tường một năm ạ? Vậy trong một năm đó, mỗi ngày phải quay mặt vào tường mấy canh giờ?

Nhạc Bất Quần nói:

– Sao lại mấy canh giờ? Mỗi ngày từ sáng đến tối, ngoài lúc ăn cơm đi ngủ thì phải quay mặt vào tường để sám hối.

Nhạc Linh San vội nói:

– Vậy sao mà được ạ? Chẳng phải sẽ khiến người ta buồn chết ư? Lẽ nào ngay cả đại tiểu tiện cũng không được phép?

Nhạc phu nhân quát:

– Con gái con lứa mà nói năng khiếm nhã vậy?

Nhạc Bất Quần nói:

– Quay mặt vào tường một năm có gì lạ chứ? Năm xưa tổ sư của con phạm lỗi đã từng quay mặt vào tường ba năm sáu tháng trên đỉnh Ngọc Nữ không rời một bước.

Nhạc Linh San lè lưỡi nói:

– Hóa ra quay mặt vào tường một năm vẫn là nhẹ ạ? Thật ra đại sư ca nói “Hễ gặp ni cô, đánh bạc tất thua” hoàn toàn xuất phát từ lòng tốt muốn cứu người, đâu phải cố tình chửi đâu?

Nhạc Bất Quần nói:

– Chính vì xuất phát từ lòng tốt nên ta mới phạt nó quay mặt vào tường một năm. Nếu có ác ý thì ta đã đánh nó rụng hết răng, cắt lưỡi nó luôn rồi.

Nhạc phu nhân nói:

– San nhi, không được lý sự với cha nữa. Đại sư ca quay mặt vào tường sám hối trên đỉnh Ngọc Nữ, con đừng có lên đó tán gẫu với nó, nếu không thì ý tốt của cha con đối với nó sẽ bị con làm hỏng đấy.

Nhạc Linh San nói:

– Phạt đại sư ca ngồi tù trên đỉnh Ngọc Nữ mà còn nói ý tốt? Không cho con tán gẫu với huynh ấy thì lúc đại sư ca cảm thấy cô đơn, ai sẽ trò chuyện giải sầu cho huynh ấy? Trong một năm này, ai sẽ luyện kiếm với con?

Nhạc phu nhân nói:

– Con đi tán gẫu với nó, nó còn quay mặt vào tường sám hối sao được? Trên núi có bao nhiêu sư huynh sư tỷ, ai cũng có thể luyện kiếm với con.

Nhạc Linh San nghiêng đầu nghĩ một lát rồi lại hỏi:

– Vậy đại sư ca ở trên đó sẽ ăn gì? Một năm không xuống núi chẳng phải sẽ chết đói sao?

Nhạc phu nhân nói:

– Con không phải lo, sẽ có người đem thức ăn cho nó.

Bình luận chương

Dưới chương này đang có gì?

Để lại cảm nhận, trả lời nhau gọn gàng và thả cảm xúc ngay trên từng ý.

0 ý kiến
Đăng nhập để tham gia bàn luận.

Bạn có thể để lại cảm nhận, trả lời người khác và thả cảm xúc cho từng bình luận.